I. NHỮNG CHỨNG NHÂN TẬN MẮT NHÌN THẤY SỰ CAO CẢ CỦA CHÚA

Tiếp cận nhiệm tính cuộc Biến Hình

1. Cuộc Biến Hình bên Đông phương và Tây phương

Trong Mùa Chay, bốn trình thuật Phúc Âm có một chỗ đứng đặc biệt và có thể được sử dụng mỗi năm trong ba chu kỳ phụng vụ; đó là cuộc Biến Hình, người phụ nữ xứ Samari, người mù bẩm sinh, sự sống lại của Ladarô. Tuy nhiên, trong số các câu chuyện này, chỉ có cuộc Biến Hình có thể được gọi là một mầu nhiệm về cuộc đời Đức Kitô. Tại sao vậy? Là vì, trong những trường hợp khác, Đức Giêsu làm một điều gì đó (Ngài hứa ban nước hằng sống, chữa lành một người mù, làm cho một người chết sống lại); nói cách khác, Ngài giảng dạy và làm một phép lạ. Trong cuộc Biến Hình, một điều gì đó được thực hiện nơi Đức Giêsu. Ngài không chỉ là chủ thể của một hành động lạ lùng, mà còn là đối tượng của hành động ấy. Cũng như khi Chúa giáng sinh, chịu phép rửa, chết và sống lại, không chỉ có điều gì đó được Ngài thực hiện, mà còn có điều gì đó được thực hiện nơi Ngài, là điều định hướng cho cuộc đời của Ngài cũng như làm rõ nét ý nghĩa sứ mệnh của Ngài.

Giống như tất cả các mầu nhiệm của cuộc đời Đức Kitô, cuộc Biến Hình cũng được hiện tại hóa mang tính cộng đồng trong phụng vụ của Giáo Hội. Về chủ đề này, một số thông tin sẽ hữu ích cho phần suy niệm tiếp theo của chúng ta. Ngay từ thế kỷ VIII, thậm chí rất lâu trước đó, bên Đông phương, trong một số miền, đã có một ngày lễ đặc biệt về cuộc Biến Hình. Chỉ đến năm 1457, ở Tây phương, Đức Giáo hoàng Callixtô III mới du nhập lễ Chúa Biến Hình (ngày 5 tháng 8), với một lý do rất ngẫu nhiên: đó là tạ ơn vì cuộc chiến thắng năm trước ở Bêôgrad, chống lại người Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy nhiên, trong truyền thống Latinh, ngay từ thời thánh Lêô Cả (+461), sự kiện Chúa Biến Hình đã được chọn làm bài Phúc Âm Chúa Nhật thứ II Mùa Chay.

Điều này đã gây ảnh hưởng sâu sắc đến cách đọc câu chuyện Phúc Âm này bên Tây phương. Cuộc Biến Hình luôn được hiểu tiên vàn trong viễn tượng sư phạm:

“Chắc hẳn cuộc Biến Hình này trước hết nhằm xóa bỏ khỏi tâm hồn các môn đệ cớ vấp phạm về thập giá, để sự khiêm nhường của cuộc khổ nạn mà Chúa tự nguyện cam chịu không làm xáo trộn đức tin của những người mà sự trổi vượt về phẩm giá ẩn giấu đã được mạc khải cho họ.”[1]

Trong linh đạo Latinh, cuộc Biến Hình chưa bao giờ được hiểu như một mầu nhiệm tự thân, được phú cho một ý nghĩa riêng; nó đã luôn được sử dụng chỉ để phục vụ cho lễ Vượt Qua, như một phương dược chống lại cớ vấp phạm của cuộc khổ nạn và như một lời hứa về sự phục sinh. Trước khi dấn thân vào con đường đầy nguy hiểm, người ta phải biết mục tiêu; trước khi phóng tên, cung thủ xác định rõ đích nhắm. Trong tư tưởng của thánh Tôma,[2] cuộc Biến Hình đáp ứng một mục tiêu tương tự.

Trong linh đạo Chính thống giáo thì khác. Ngay từ đầu, cuộc Biến Hình đã là đối tượng của một lễ đặc biệt; người ta đã coi nó như một mầu nhiệm tự nó có ý nghĩa, chứ không chỉ liên quan đến lễ Vượt Qua. Anastasiô ở Sinai viết:

“Trên núi Tabor, các biểu tượng của Vương quốc đã được tiên trưng, mầu nhiệm đóng đinh thập giá được loan báo trước, vẻ đẹp của Vương quốc được mạc khải, việc Đức Kitô xuống thế lần thứ hai và đến trong vinh quang được bày tỏ […] Qua đám mây bao phủ, ngọn núi này mạc khải cho thấy những người công chính được mang đi sau này trên những đám mây, và ngày nay nó thật sự báo trước hình ảnh tương lai của chúng ta, cũng như sự đồng hình đồng dạng của chúng ta với Đức Kitô. Chính ngày hôm nay, trên núi Tabor, Đức Kitô đã canh tân và biến đổi hình ảnh vẻ đẹp trần gian thành hình ảnh vẻ đẹp thiên quốc […]. Ngày lễ hôm nay mạc khải một Sinai khác, một núi quý giá hơn biết bao do những việc lạ lùng và những biến cố của nó…”[3]

Chắc chắn không phải là không có khía cạnh sư phạm ở đây, nhưng chính khía cạnh nhiệm tính (mystagogique) mới chiếm ưu thế. Cũng theo thánh Lêô, sự Biến Hình “tạo nên niềm hy vọng của Giáo Hội”. Nhưng tất cả được hiểu như một giáo huấn khi đó Thiên Chúa ban cho Giáo Hội. Chẳng hạn, sự hiện diện của Môsê và Êlia là “một giáo huấn” nhằm “củng cố niềm tin của các Tông Đồ và khai tâm họ để hiểu biết về mọi sự việc”.[4]         

Đối với người Đông phương, Đức Giêsu khi đó không phải là bậc thầy giảng dạy, cho bằng là Con Thiên Chúa, Đấng tự mạc khải cho những người thuộc về Ngài. Biến Hình là một sự thần hiện của Thiên Chúa, hoặc đúng hơn, một sự thần hiện của Đức Kitô. Nó không chỉ xuất hiện như một mầu nhiệm tự nó có ý nghĩa, nhưng một cách nào đó, nó còn là một loại đầu mối nơi tụ hội mọi mầu nhiệm, một đỉnh cao ở trên chóp hai sườn của Lịch sử cứu độ, Cựu Ước và Tân Ước. Nó hoàn tất quá khứ: hoàn tất công cuộc tạo dựng, vì hình ảnh thật của Thiên Chúa, núi Sinai, Lề Luật, các Tiên Tri được bày tỏ nơi nó; nó dự báo tương lai: dự báo sự huy hoàng cuối cùng của những người công chính.

Nếu có một lúc Đức Kitô xuất hiện với tư cách là “trung tâm của Lịch sử”, thì chính là lúc biến hình. Và không chỉ là “trung tâm của Lịch sử” mà còn là trung tâm của “các thế giới”, thế giới thần linh và thế giới con người. Đức Giêsu của các linh ảnh (icônes), Đấng đứng trên đỉnh núi, ở cực đỉnh của tảng đá, nơi trái đất chấm dứt và bầu trời bắt đầu, Đấng ấy là một lời quả quyết hùng hồn tín điều được Công đồng Calcêđônia công bố (năm 451): Đức Giêsu Kitô vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật”, Thiên Chúa và con người kết hợp trong một ngôi vị duy nhất. Biến hình là một cách rao giảng học thuyết Kitô trung tâm (christocentrisme), hoàn toàn mang tính Phúc Âm.

Tất nhiên, mầu nhiệm vượt qua của sự chết và sự sống lại sẽ vĩnh viễn thâu tóm tất cả điều đó, nhưng sự biến hình mạc khải mầu nhiệm này bằng cách báo trước, như một loại cử chỉ tiên tri. Cũng như lúc lập phép Thánh Thể, khi bẻ bánh và dâng chén, Đức Giêsu báo trước cái chết của mình và mạc khải ý nghĩa của nó, cũng vậy, tuy bằng cách không phải bí tích, Ngài dùng sự biến hình để loan báo và báo trước vinh quang sẽ rạng ngời buổi sáng ngày Phục Sinh. Theo cách một số hành động biểu trưng của các tiên tri thời Cựu Ước, thì như G. von Rad viết, Biến Hình là “một sự tiên trưng có tính sáng tạo của thực tại sẽ đến”, cùng với nó “chính tương lai bắt đầu được hiện tại hóa”[5]. Nói cách khác, sự tôn vinh Đức Kitô không chỉ được tiên trưng, nhưng đã được khai mào.

2. Chiêm ngắm làm chúng ta biến hình

Để một biến cố trong cuộc đời của Đức Kitô là một mầu nhiệm, “một sự gì đó được thực hiện trong Đức Kitô” mà thôi chưa đủ, biến cố này còn phải mạc khải một ý nghĩa cứu độ cho toàn thân thể, và như tôi đã nói, nó có giá trị gương mẫu và nguồn mạch cho Giáo Hội. Theo thánh Augustinô, đó là điều tạo ra sự khác biệt giữa một “kỷ niệm” thuần túy và một cử hành phụng vụ (in sacramento). Vào ngày kỷ niệm, chúng ta long trọng cử hành hàng năm ngày biến cố xẩy ra. Ngược lại, một cử hành bí tích làm cho biến cố đó có tác động cụ thể trong ngày hôm nay của chúng ta và chúng ta có liên quan.[6] Ngày lễ Biến Hình, Giáo Hội không chỉ cử hành cuộc Biến Hình của Đức Kitô, mà còn cử hành cuộc biến hình của chúng ta.

Cuộc biến hình nào? Trước hết theo nghĩa cánh chung, tức cuộc biến hình sẽ xẩy ra ngày tận thế, lúc Đức Giêsu “biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người”, như thánh Tông Đồ nói (Pl 3,21). Proclus thành Constantinôpôli viết: “Đức Kitô đã biến hình, để cho chúng ta thấy sự biến hình mai sau của bản tính chúng ta và lần đến thứ hai của Ngài.”[7] Viễn tượng này cũng thấy có trong truyền thống Latinh; thánh Lêô nói: cuộc Biến Hình đã xẩy ra để “tất cả thân thể Đức Kitô biết sẽ được biến hình ra sao, và các chi thể được hứa sẽ tham dự vào vinh dự rạng rỡ của đầu”.[8]

Thời Thượng cổ, một số người muốn không những sự biến đổi cuối cùng của chúng ta, mà cả sự biến đổi của toàn thể vũ trụ, được tiên trưng trong cuộc Biến Hình của Chúa. Anastasiô nói: Trên núi Tabor “Đức Kitô đã làm biến hình theo hình ảnh của Ngài toàn thể tạo thành và tái tạo nó theo cách còn cao cả hơn.”[9] Trong thời đại chúng ta, người đã đưa ra một hình thức mới và hiện đại cho viễn tượng này chính là cha Teilhard de Chardin. Dưới mắt ngài, cuộc Biến Hình tạo nên “mầu nhiệm đẹp đẽ nhất của Kitô giáo”, là ngày lễ diễn tả hay nhất tất cả những gì ngài tin, những gì ngài hy vọng, nghĩa là một vũ trụ được biến hình, mang “tính Kitô” (christique), nơi mà cuối cùng yếu tố thần linh lộ ra trong tất cả tạo thành, hơi giống như được bày tỏ qua thân thể Đức Kitô trên núi Tabor.[10]

Tuy nhiên, cuộc Biến Hình của Đức Kitô không chỉ liên hệ đến nhiệm thể của Ngài trong cuộc sống khác mà thôi, nhưng còn liên hệ với Ngài trong cuộc sống ở trần gian này. Thánh Phaolô hai lần liên tiếp sử dụng động từ được biến hình (trong tiếng Hylạp cùng một từ được sử dụng để chỉ được biến đổi [être transformé] và được biến hình [être transfiguré]) khi nói về các Kitô hữu; và cả hai lần, ngài gợi lên một điều gì đó được thực hiện ở đây và lúc này: “Anh em hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần” (Rm 12,2). Trong bản văn thứ hai, ngài còn giải thích điều đó xẩy ra như thế nào:

“Tất cả chúng ta, mặt không màn che, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cùng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí” (2Cr 3,18).

Kể từ lúc này, nhờ chiêm ngắm, chúng ta có thể đi sâu vào mầu nhiệm Chúa Biến Hình, biến mầu nhiệm đó thành của chúng ta, dự phần vào mầu nhiệm đó. “Phản ánh vinh quang” có thể được hiểu theo hai cách. Cách thứ nhất, được người thời Thượng cổ chủ trương, có nghĩa là: “chiêm ngắm như trong một bức gương” (x. bản dịch Kinh Thánh Giêrusalem, 1998); cách thứ hai, được người thời nay ưa thích hơn, có nghĩa: “phản chiếu như trong một bức gương”. Trong trường hợp đầu tiên, Đức Kitô là tấm gương nơi chúng ta chiêm ngắm vinh quang Thiên Chúa; trong trường hợp thứ hai, chính chúng ta là tấm gương; khi chiêm ngắm Đức Kitô, chúng ta phản chiếu vinh quang Thiên Chúa.

Đôi khi người ta phê bình bản dịch cũ, dường như qua đó Đức Kitô được đồng hóa với phần còn lại của tạo thành, mà tạo thành này cũng được định nghĩa như một tấm gương (“Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương”, 1Cr 13,12); tuy vậy, không có gì buộc chúng ta nghĩ rằng thánh Tông Đồ sử dụng từ này với cùng ý nghĩa trong cả hai bản văn. Con người là hình ảnh của Thiên Chúa; điều đó không ngăn cản thánh Tông Đồ cũng định nghĩa Đức Kitô là “hình ảnh của Thiên Chúa” theo một nghĩa khác và mạnh hơn nhiều. Do đó, chúng ta phải duy trì cả hai sắc thái, như TOB (Bản dịch đại kết Kinh Thánh) đã làm, “chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa”, như vậy gợi ý rằng “chúng ta chiêm ngắm và phản chiếu”, nghĩa là “chúng ta phản chiếu điều chúng ta chiêm ngắm”.

Nhưng thánh Tông Đồ còn muốn nói nhiều hơn. Con người không chỉ phản chiếu điều mình chiêm ngắm, mà còn trở thành điều mình chiêm ngắm. Chiêm ngắm làm chúng ta biến hình theo hình ảnh những gì chúng ta chiêm ngắm. Đây là một sự thật sâu sắc mà có lẽ chúng ta đang dần dần hiểu rõ hơn ngày hôm nay. Đã có thời, lúc bắt đầu xuất hiện chủ thuyết vô thần khoa học, người ta quả quyết: “Con người là cái mà nó ăn”; Nhưng, giờ đây, trong một văn minh hoàn toàn bị hình ảnh và truyền thông thị giác chi phối, người ta phải nói: “Con người là cái mà nó nhìn.” Hình ảnh có khả năng không chỉ đi vào thân thể qua các giác quan, mà còn đi vào tâm hồn, qua trí tưởng tượng. Mắt là “đèn của linh hồn” (x. Mt 6,22); nó cũng là cửa sổ của tâm hồn.

Như vậy, theo thánh Tông Đồ, nhờ chiêm ngắm Đức Kitô, chúng ta trở nên giống Ngài, chúng ta để cho mình đồng hình đồng dạng với Ngài, cho phép thế giới của Ngài, ý định của Ngài, tình cảm của Ngài in dấu trong ta, thay thế cho những suy nghĩ của ta, ước muốn của ta, tình cảm của ta, đồng hóa ta với Ngài. Điều xẩy ra trong chiêm niệm cũng giống như trong nhiếp ảnh; thật lý thú khi khám phá ra rằng cùng một động từ “chụp ảnh” dường như xuất hiện lần đầu tiên nơi một tác giả byzantin ở thế kỷ XII, chính xác để gợi lên những gì xảy ra trong tâm hồn người chiêm ngắm Đức Kitô. “Chúng tôi cẩn thận gìn giữ tấm gương linh hồn, nơi Đức Giêsu Kitô, là sự khôn ngoan và quyền năng Thiên Chúa, thường in dấu và chụp ảnh mình (photeinographein) ở đó”.[11] Đây không phải là điều đôi khi chúng ta cảm thấy do kinh nghiệm của chúng ta sao? Một số hình ảnh có khả năng in dấu trong tâm trí chúng ta và còn ở đó giống như những hình vẽ trên tường.

3. Lên núi Tabor

Tabor khai mào việc chiêm ngắm Đức Kitô, Đấng biến đổi chúng ta, và vẫn còn là lời mời gọi cấp bách nhất làm công việc này. Nó biểu thị cách cao cả mầu nhiệm chiêm ngắm Đức Giêsu. Trên “núi thánh”, như cách gọi của thánh Phêrô, các tông đồ là epoptai, nghĩa là những khán giả chiêm ngắm, những chứng nhân tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Đức Giêsu (x. 2Pr 1,16-18). Đối với các mầu nhiệm khác, việc hiện tại hóa bí tích hoặc phụng vụ chiếm ưu thế; đối với cuộc Biến Hình, chính là sự chiêm ngắm. Thực ra, không có bí tích nào để hiện tại hóa sự Biến Hình, như trường hợp lễ rửa của Đức Kitô hay sự chết và sự sống lại của Ngài.

Nhưng chúng ta không muốn thỏa mãn với một suy tư đơn thuần về đề tài chiêm ngắm Đức Kitô; chúng ta mong muốn – trong chừng mực có thể làm ở đây, trong những trang này – sống một kinh nghiệm về chiêm ngắm, vượt ra ngoài ý tưởng đi đến chính thực tại được chiêm ngắm. Những bài suy niệm, được tập hợp trong cuốn sách này, chúng ta quan niệm chúng giống như bao nhiêu lần leo núi Tabor vào buổi sáng, dành nửa giờ ở đó, “mắt hướng về Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin” (Dt 12,2); sau đó, được đầy sức mạnh mà trở về với các hoạt động hàng ngày của chúng ta.

Đức Phaolô VI, người rất thích mầu nhiệm Biến Hình, đã ghi nhận những lời sau đây trong một lần tĩnh tâm cá nhân:

“Để biết Đức Kitô, phải tin vào Ngài. Sự tấn công của các chú giải thiên vị hoặc sai lầm, thói quen sử dụng các công thức thuần túy bằng lời nói, sự mệt mỏi gây ra cho tâm trí vì tuổi tác rất nhiều sai lệch khác, rất nhiều khánh kiệt tinh thần khác đi đến chỗ làm suy giảm và đôi khi làm biến mất, ngay cả nơi người môn đệ trung thành, sự hiểu biết đã được biến đổi về Đức Giêsu, sự kinh ngạc tràn đầy niềm vui trước sự khám phá không ngừng tiến bộ về thực tại nhân thần của Ngài. Chính vì thế, bao lâu cảnh mờ tối của cuộc sống hiện tại còn kéo dài, phải không ngừng làm sống lại sự chiêm ngắm của chúng ta về Đức Giêsu Kitô.”[12]

Vào một thời mà việc tìm kiếm gia tăng những điều chắc chắn “khách quan”, Lịch sử và ngữ học đang chiếm ưu thế liên quan đến Đức Giêsu, Giáo Hội có một nhu cầu thiết yếu là phải tìm lại được một điều gì đó của “sự hiểu biết được biến đổi” này về Đức Kitô để sống, mà không phủ nhận sự hiểu biết “có tính khoa học”, nhưng bằng cách vượt qua nó.

Những sự kiện Phúc Âm đang bị đe dọa nghiêm trọng, khi chúng bị “mổ xẻ”, giản lược đến mức trần trụi khi mất đi sự sống mà chúng chứa đựng. Khi đó, có gợi ra hay cử hành cuộc Biến Hình, người ta cũng chỉ giữ lại được những gì xuất hiện bên ngoài trong “văn tự”; người ta không còn nhận thấy những trái tim đang đập sau những cử chỉ và lời nói. Mục đích của việc chiêm niệm chính xác là vượt lên trên văn tự và làm sống lại nơi mình những tình cảm, những hoạt động thân mật của Đức Giêsu, của các Tông Đồ, của chính Cha trên trời đang nói: “Đây là Con yêu dấu của Ta.” Khi họa sĩ vẽ bức linh ảnh miêu tả Môsê và Êlia nghiêng mình về phía Đức Giêsu và tạo thành một kiểu vòng cung, ông mời chúng ta bắt chước các ngài, biến thái độ thờ phượng ngây ngất của các ngài thành của chúng ta. Tất cả những điều đó trở nên khả thi, khi việc chiêm ngắm sự Biến Hình được thực hiện trong cùng “đám mây sáng ngời” nơi nó đã xẩy ra, nghĩa là “trong Chúa Thánh Thần”.

Như vậy, sự chiêm niệm của chúng ta sẽ không thuần túy chủ quan, chỉ phụ thuộc vào khả năng của chúng ta trong lúc này. Ngược lại, chúng ta sẽ cố gắng thâm nhập vào bên trong sự chiêm niệm tuyệt vời về Đức Kitô đã bắt đầu trong Sách Thánh, và không ngừng tiếp tục trong Truyền Thống. Thế thì chúng ta có thể nói rằng có mối quan hệ sâu xa giữa một suy niệm về cuộc Biến Hình và một linh ảnh về cảnh này. Chúng ta biết thế giới Đông phương coi linh ảnh về cuộc Biến Hình là quan trọng. Vào một thời kỳ nào đó, người vẽ linh ảnh phải bắt đầu hoạt động vẽ của mình bằng cuộc Biến Hình, vì cảnh này là mẹ của mọi linh ảnh, theo nghĩa là mỗi linh ảnh được kêu gọi trở thành nơi phản chiếu chính ánh sáng đã chói lọi trên núi Tabor. Bất cứ hình ảnh nào về Đức Kitô cũng đều phải cho thoáng thấy yếu tố vô hình qua yếu tố hữu hình, hệt như trên Tabor, nơi thần tính Đức Kitô chiếu qua tấm màn là xác thịt riêng của Ngài.

Nhưng họa sĩ vẽ cuộc Biến Hình đã làm gì? Ông không muốn phát minh ra bất cứ điều gì, không tìm kiếm sự độc đáo, giống như một họa sĩ thế tục. Ngược lại, ông tiếp nhận mô hình được truyền thống ấn định và cố mang lại cho nó sự sống; ông không “sao chép” nó, nhưng “tái tạo nó”. Chính như vậy mà ông có thể thay đổi màu sắc, cách sắp đặt các yếu tố này khác; thường xuyên hơn, ông sẽ đi theo hướng đơn giản hóa, hướng tới những gì thiết yếu nhất.

4. Cuộc Biến Hình, một biến cố “Lịch sử”

Tôi vừa nói: chúng ta sẽ dựa trên những gì mà những người đi trước chúng ta trong đức tin đã chiêm ngắm Đức Kitô; hiển nhiên chúng ta sẽ bắt đầu từ ba Tông Đồ, những người đã chiêm ngắm chính biến cố đó, hoặc đúng hơn, có lẽ từ ba thánh sử đã kể lại câu chuyện, trong đó người đầu tiên, Marcô, đã có thể hưởng lợi từ chứng từ đầu tiên của Phêrô.

Các trình thuật của Phúc Âm về cuộc Biến Hình đã tạo nên, theo cách riêng của chúng, một sự chiêm ngắm mầu nhiệm, nghĩa là, cố gắng hiểu được ý nghĩa sâu xa hơn của nó, như thấy rõ qua cách mỗi trình thuật nhấn mạnh các khía cạnh khác nhau của câu chuyện. Người ta hẳn có thể phản đối: làm như vậy, chúng ta lại không có nguy cơ rời bỏ lãnh vực vững chắc của Lịch sử để xây dựng trên lãnh vực không ổn định của các diễn giải thần học sau lễ Vượt Qua sao? Không phải thế! Là vì những diễn giải thần học này cũng thuộc về cốt lõi Lịch sử của biến cố, nếu qua “sự kiện Lịch sử”, chúng ta không chỉ hiểu những gì mà biên niên sử tường thuật một cách thô thiển và trần trụi, mà còn chính sự kiện và ý nghĩa của nó. Tuy nhiên, có vô số biến cố không phải là “Lịch sử”, vì không để lại dấu vết nào trong Lịch sử, không đem lại lợi ích nào, không làm phát sinh điều gì mới mẻ. C. H. Dodd viết: “Một biến cố có tính Lịch sử khi đáp ứng hai điều kiện: phải đã xảy ra và thêm vào đó phải có nét nổi bật có ý nghĩa, mang tính quyết định cho những người đã tham gia vào đó và làm ra câu truyện.”[13]

Theo nghĩa này, chúng ta có thể quả quyết rằng cuộc Biến Hình, như các sách Phúc Âm kể lại, hoàn toàn xứng đáng là một biến cố Lịch sử. Chúng ta có thể đối chiếu với sự trở lại của Phaolô, một sự đối chiếu mang tính giáo huấn. Giả sử một người nào đó, hoặc chính Phaolô, mô tả ngay sau đó những chi tiết đã xảy ra trên đường đi Đamas. Sau đó, chúng ta hãy xem biến cố trở lại đã được xuất hiện cho Phaolô mãi sau này như thế nào và ngài đã kể lại nó ra sao. Chúng ta hãy đọc trong thư gửi tín hữu Galat và những chỗ khác, tất cả những gì ngài kết nối và liên quan đến thời điểm quan trọng này của cuộc đời ngài. Chúng ta cũng hãy nghĩ đến những ảnh hưởng của biến cố này trong sách Công vụ và trong Giáo Hội sơ khai. Bài nào trong hai trình thuật này sẽ đúng hơn với những gì đã xảy ra, bài nào sẽ chứa đựng sự thật Lịch sử nhất? Việc diễn giải Kinh Thánh gặp nhiều khó khăn do sự thiếu hiểu biết về các hiện tượng tâm linh và về các đặc điểm riêng biệt của chúng.

Chúng ta có nên không thực hiện một phán xét tương tự khi muốn nói về tính Lịch sử, nếu không nói về cuộc Biến Hình thì ít nhất là về mối liên hệ được  các trình thuật Phúc Âm đưa ra? Đây là lý do tại sao tôi thấy đầy đủ chính xác và cân bằng những gì một nhà chú giải nổi tiếng đương thời viết ở phần kết luận về sự kiện Biến Hình:

“Ý nghĩa rõ ràng nhất của cách giải thích cần giữ lại là một biến cố như vậy trong cuộc đời Đức Giêsu đã được hiểu và diễn đạt, theo ý nghĩa riêng và độc đáo của nó, bằng cách nại tới các quan niệm khác nhau và thay đổi của Cựu Ước và của khải huyền (…). Trình thuật này khiến chúng ta liên tưởng đến một biến cố có thật trong cuộc đời Đức Giêsu hơn là một cái nhìn chủ quan của ba môn đệ hoặc của một trong số họ”.[14]

Khi đó phải nói ra điều này: điều mà các thánh sử đã đưa ra ánh sáng bằng cách nại tới “những quan niệm khác nhau của Cựu Ước”, nói đúng ra, không “thêm” gì mới mẻ và xa lạ với thực tế; nhưng các ngài “trích xuất” một cái gì đó từ nội dung vô tận của nó và đưa ra ánh sáng. Trong hạnh các thánh hay những tín hữu vĩ đại, chúng ta thường thấy một khoảnh khắc của mạc khải, của tiếp xúc sâu xa và mang tính quyết định với Đấng thần linh; những hậu quả từ những việc đó chỉ dần dần xuất hiện, tùy theo sự xuất hiện dần dần của hoa trái; hoặc người ta nhận ra sự phong phú của chúng trong suốt cuộc đời. Phủ nhận giá trị Lịch sử của cuộc Biến Hình, đặc tính siêu nhiên và khách quan của nó được các Phúc Âm chứng thực, sẽ đi đến chỗ quả quyết rằng cuộc đời Đức Kitô đã không thể biết những gì người ta quan sát thấy – tất nhiên, ở cấp độ thấp hơn – trong đời sống các thánh. Lịch sử linh đạo cho chúng ta thấy hai trường hợp, đã được chứng thực rất rõ, về sự biến hình cá nhân thực sự của các thánh, chẳng hạn thánh Seraphim Sarov, mà môn đệ của ông là Motovilov đã kể cho chúng ta nghe.[15]

5. Đức Giêsu, được biến hình trong Kinh Thánh

Đối với chúng ta, trình thuật nhất lãm về cuộc Biến Hình tự nó là núi Tabor phải leo lên, là đám mây phải đi vào, là bức màn được kéo ra để có thể chiêm ngắm Đức Kitô trong mầu nhiệm của Ngài. Chúng ta không bàn đến từng trình thuật riêng biệt – tức Mc 9,2-9; Mt 17,1-9; và Lc 9,28-36 – nhưng chúng ta xem xét theo kiểu nhất lãm, nghĩa là bằng một cái nhìn toàn bộ. Thực ra, việc chiêm ngắm không quá chú trọng nhấn mạnh những khác biệt và đặc thù của mỗi bản văn, nhưng thích chọn sự thống nhất là kết quả của sự kết hợp cả ba trình thuật. (Dừng lại ở những chi tiết nhỏ của bản văn trong khi chúng ta đang chiêm ngắm sẽ giống như thể đang lúc Chúa Biến Hình thì các tông đồ lại trao đổi với nhau xem đôi dép của Êli làm bằng gì!).

Chúng ta có thể chiêm ngắm cuộc Biến Hình từ các màu sắc của linh ảnh hoặc từ các lời Phúc Âm, hoặc tốt hơn, cùng một lúc từ hai yếu tố này. Diễn giải rộng hơn những gì Augustinô bàn về lời và bí tích, chúng ta có thể nói rằng linh ảnh là một lời có thể thấy và lời là một hình ảnh có thể nghe.

Trái với những gì xảy ra trong các linh ảnh khác, trong linh ảnh Biến Hình, hiệu lực không tỏa ra từ cái nhìn của Đức Giêsu Kitô (người ta khó nhận ra cái nhìn này do không gian thu hẹp của nơi xẩy ra câu truyện), nhưng tỏa ra từ toàn bộ, và đặc biệt hơn, từ y phục của Ngài. Thật vậy, “màu trắng” thậm chí còn cho thấy mầu nhiệm của ánh sáng thần linh từ sự thân mật của Đức Kitô. Và như Origen nói, bây giờ những lời Phúc Âm, theo cách của chúng, cũng là y phục của Đức Kitô:

“Khi bạn thấy một người nào đó không chỉ biết hoàn toàn thần tính của Đức Giêsu, mà còn soi sáng bất cứ bản văn nào của Phúc Âm, đừng ngần ngại khẳng định rằng, đối với một người như vậy, y phục của Đức Giêsu trở nên trắng như ánh sáng.”[16]

Ngày nay Đức Giêsu còn biến hình trong Kinh Thánh, và trí khôn con người không đủ để làm cho lời của Ngài trở nên rõ ràng và có thể hiểu được, để làm cho y phục của Ngài sáng lên. Thánh sử Maccô lưu ý: Y phục của Đức Giêsu trở nên chói lọi trắng tinh trên núi Tabor, đến nỗi “không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy”. Và chúng ta nói rằng không một cách đọc khoa học nào tự nó có thể làm sáng tỏ điều mầu nhiệm ẩn chứa trong Kinh Thánh, và, trong những gì liên quan đến chúng ta, trong cuộc Biến Hình. Chỉ mình Chúa Thánh Thần mới có thể làm được. Trình thuật Phúc Âm mà chúng ta muốn chiêm niệm có thể trở thành một bụi cây cháy đối với chúng ta, nơi Thiên Chúa dứt khoát mạc khải khuôn mặt thật của Người, hoặc trái lại, vẫn là một bản văn khô cằn chẳng nói lên điều gì. Chính xác giống như Tabor, khô cằn và trơ trụi, hôm trước và hôm sau ngày xẩy ra biến cố đáng ghi nhớ.

Phần trước Phần tiếp