II. “NGƯỜI BIẾN HÌNH TRƯỚC MẮT CÁC ÔNG”
Trên núi Tabor, cùng với ba Tông Đồ
1. “Đức Giêsu đem Phêrô, Giacôbê và Gioan đi theo mình”
Hãy bắt đầu chuyến đi đầu tiên của chúng ta lên núi Tabor. Sáu ngày sau khi nhận lời tuyên tín của Phêrô ở Cêsarê Philípphê, Đức Giêsu đem Phêrô, Giacôbê và Gioan đi theo mình và “đưa các ông đi riêng ra một chỗ, chỉ mình các ông thôi, tới một ngọn núi cao” (Máccô). Ba chi tiết này nhấn mạnh khía cạnh khác thường của biến cố, nó tách khỏi lãnh vực tự nhiên và nhịp sống hàng ngày, và trong một chiều kích khác, được tạo ra do sự thinh lặng, quạnh hiu, cách xa mọi sự.
Đoạn đầu tiên của bài thơ Đường lên núi Cát minh của thánh Gioan Thánh Giá giúp chúng ta cũng đặt mình vào những chuẩn bị nội tâm của người bỏ lại sau lưng mọi sự, hầu như không giữ lại gì có thể quấy rầy mình; người ấy rời khỏi nhà trong đêm khuya, đáp lại tiếng gọi của người yêu:
Vào một đêm sâu
Đầy lo âu và nóng bỏng tình yêu,
Ôi! Người hạnh phúc bước ra!
Tôi đi ra ngoài mà không ai nhìn thấy
Trong khi chỗ ở của tôi đã yên ổn.“[17]
Vậy đâu là “chỗ ở” của chúng ta mà chúng ta phải ra khỏi, đâu là những thực tại và bận tâm mà chúng ta phải loại bỏ? Mỗi người sẽ không khó để xác định, cho chính mình. Nhưng cần có điểm dừng. Hãy xem Giacob: trước khi vật lộn với Thiên Chúa, ông đã một mình vượt qua sông Yabboq, để các bà vợ, các nữ tỳ, các đàn vật và mọi sự khác ở bên kia (x. St 32, 23).
Như chúng ta thấy, Đức Giêsu biến hình “trước mặt các ông”. Ngài đã không biến hình trước mặt mọi người, không phân biệt, trong tiếng ồn ào của đám đông, mà chỉ trước một vài người, trước những người đã bỏ lại dưới chân núi cha mẹ, bạn bè, công việc, và đã đáp lại lời kêu gọi nhập đoàn với Ngài, tách riêng. Các ông thuộc vào số những người có thể cùng với tác giả Thánh vịnh thưa lên rằng: “Lạy Chúa, con tìm thánh nhan Ngài, xin Ngài đừng ẩn mặt” (Tv 27,8-9), hoặc thậm chí: “Con an lòng, lạy Thiên Chúa, con vững dạ an lòng” (Tv 57,8).
Đọc tiếp câu truyện, chúng ta thấy: “Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục của Người trở nên trắng tinh như ánh sáng” (Matthêu). Chúng ta có thể rõ ràng rút ra một điều từ bản văn này, đó là ánh sáng không chạm vào Đức Giêsu từ bên ngoài, nhưng đến từ nơi sâu kín của chính Ngài. Khuôn mặt của Ngài không chỉ “được chiếu sáng”, mà còn “tỏa sáng”. Y phục của Ngài cũng vậy: chúng trở nên tỏa sáng. So với các cuộc thần hiện tương tự trong Cựu Ước, ở đây người ta nhấn mạnh điều chủ yếu khác với những thần hiện đó. Đức Giêsu rực rỡ bằng ánh sáng riêng của Ngài; khuôn mặt Ngài phản chiếu vinh quang riêng của Ngài chứ không chỉ vinh quang của Thiên Chúa như trên khuôn mặt của Môsê (x. 2Cr 3,13). Nói đúng hơn, khuôn mặt của Ngài tỏa chiếu chính vinh quang của Thiên Chúa, là vinh quang riêng của Ngài, vì Ngài là “phản ánh vinh quang của Người, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa” (x. Dt 1,3).
Chủ yếu của những gì mà cuộc Biến Hình biểu thị để hiểu biết con người của Đức Kitô, đã được bày tỏ như thế. Đức Giêsu không nằm trong loạt các đại nhân vật của Cựu Ước, những người đã nhìn thấy vinh quang Thiên Chúa và được thấy Người tỏ mình ra; Ngài thậm chí không phải là người lẫy lừng nhất trong số đó; Ngài đứng riêng một bên. Ngài không thấy Thiên Chúa, nhưng đúng hơn được thấy như là Thiên Chúa. Trên núi Tabor, chúng ta chứng kiến một loại thần hiện mới: thần hiện của Đức Kitô (christophanie).
Các Giáo Phụ chỉ có việc khai triển dữ kiện Phúc Âm này. Gioan Kim Khẩu tự hỏi “”Ngài biến hình” nghĩa là gì?” Và thánh nhân trả lời: “Ngài đã mạc khải điều gì đó về thần tính của mình và đã cho các Tông Đồ thấy Thiên Chúa ngự trong xác thịt Ngài.”[18] Thánh Gioan Đamas xác định rõ: “Đức Giêsu biến hình không phải bằng cách đảm nhận điều Ngài đã không là, nhưng bằng cách chỉ cho các môn đệ thấy điều Người thực sự đã là.”[19]
2. “Đang lúc Người cầu nguyện”, dung nhan Người chói lọi như mặt trời
Không thể giản lược cuộc Biến Hình thành khía cạnh khách quan và mạc khải, vốn chỉ mang lại lợi ích cho người khác chứ không phải cho chính Đức Giêsu. Cuộc Biến Hình, cũng như sự Phục Sinh sau này, tiên vàn không phải là một sự kiện hộ giáo; nó có một giá trị bí nhiệm. Trên hết, đó là một quà tặng mà Chúa Cha ban cho Chúa Con, một cách cho thấy Người hài lòng về Chúa Con. Trên núi Tabor, Đức Giêsu không phải là bậc thầy giảng dạy, cho các môn đệ thấy bằng chứng về thần tính của mình, cho bằng là Người Con đón nhận trong chốc lát các bạn hữu của mình vào trong cuộc sống thân mật của mình với Cha trên trời, để họ có thể làm chứng và tham dự vào vinh quang của Người.
Đức Giêsu không đóng vai trò diễn viên trước sự chứng kiến của các môn đệ. Ở đó mọi sự đều thật, cũng như tất cả những gì sẽ xảy ra ít lâu nữa, cũng trước ba môn đệ đó ở Ghếtsêmani, cũng sẽ là thật, chứ không chỉ nhằm mục đích sư phạm. Ngày đó Đức Giêsu, trong nhân tính của mình, đã xuất thần! Đây có lẽ là phạm trù bất cân xứng nhất mà chúng ta có, để mô tả những gì khi đó đã xảy ra nơi Đức Giêsu. Một sự xuất thần đặc biệt, vì trên thực tế, Đức Giêsu là hữu thế độc nhất không cần phải “ra khỏi chính mình” để vào trong Thiên Chúa. Nếu bạn cho phép dùng hình ảnh này, thì đó là một sự chập mạch bên trong giữa thần tính và nhân tính. “Chất cách ly”, là xác thịt con người của Ngài, có thể nói là đã tan chảy, để đến lượt mình trở thành năng lượng và ánh sáng.
Đức Giêsu thật hạnh phúc. Cuộc Biến Hình là một mầu nhiệm của hạnh phúc thần linh. Tất cả dòng chảy niềm vui tuôn trào từ Chúa Cha đến Chúa Con và từ Chúa Con đến Chúa Cha, và là chính Chúa Thánh Thần, khi đó đã “tràn ra” ngoài bình là nhân tính Đức Kitô.
Điều gì cho phép chúng ta suy ra khía cạnh chủ quan này từ cuộc Biến Hình? Luca cẩn thận đưa ra lời minh xác: Đức Giêsu lên núi cầu nguyện, và đang khi cầu nguyện thì sắc mặt Ngài thay đổi. Biến Hình là kết quả trực tiếp của lời cầu nguyện của Đức Giêsu. Nhưng Ngài cầu nguyện với ai, trò chuyện với ai, nếu không phải là với Chúa Cha? Về điểm này, các sách Phúc Âm đều đồng loạt cho rằng tất cả những lời cầu nguyện của Đức Giêsu đều bắt đầu bằng một tiếng kêu đầy tình con thảo: Abba! Và những kinh nguyện này là một cuộc đối thoại tự do đầy yêu mến với Chúa Cha. Vào một dịp khác, Đức Giêsu đã gần như xuất thần khi cầu nguyện. Đó là lúc “Ngài hớn hở vui mừng và nói:…”Con xin ngợi khen Cha…” (Lc 10,21).
Trong cuộc Biến Hình, chuyện xẩy ra y như lúc Ngài chịu phép rửa. Cũng ở đó, chính lời cầu nguyện của Đức Giêsu đã xé các tầng trời và làm cho Thần Khí ngự xuống: “Đức Giêsu cũng chịu phép rửa, và đang khi Người cầu nguyện, thì trời mở ra” (Lc 3,21)
Ngày hôm đó, Đức Giêsu đã không lên núi Tabor để biến hình ở đó. Ngài không hề nghĩ đến điều này. Biến Hình là điều bất ngờ mà Chúa Cha bí mật dành cho Ngài. Như chúng ta vừa nói, Ngài đã lên núi để cầu nguyện, để đáp lại lời mời gọi thúc giục Ngài đối thoại với Chúa Cha.
“Đang lúc Ngài cầu nguyện, dung mạo Ngài thay đổi”: đặc điểm này không phải là sự bổ sung thứ yếu thuần túy, riêng của Luca; Luca giúp chúng ta cách hiểu mọi điều đã xảy ra; đó là điều cũng làm cho cuộc Biến Hình rất gần gũi với chúng ta, dĩ nhiên như một mầu nhiệm để chiêm niệm, nhưng cũng là một mầu nhiệm để bắt chước. Nếu, như thánh Phaolô nói, mục đích của việc chiêm ngắm Đức Kitô là biến chúng ta thành Đấng mà chúng ta chiêm ngắm, nếu chúng ta cũng được kêu gọi biến hình, thì cầu nguyện là con đường ưu đãi của việc đó.
Trong tất cả Phúc Âm, không có cảnh nào lôi cuốn hơn cảnh chúng ta thấy Đức Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha, khi chiều tối, hoặc ban đêm, hoặc lúc bình minh khi tất cả vẫn còn tối, trên núi, hoặc bên bờ hồ. Đó là một hình ảnh thân thương, vì nó có sức mạnh thu hút tâm trí và con tim, thanh tẩy những ý nghĩ và ước muốn. Hình ảnh đó lôi cuốn chúng ta.
Các sách Phúc Âm không nói gì về nội dung kinh nguyện của Đức Giêsu, kéo dài hàng giờ hoặc suốt đêm. Tuy nhiên, có điều chắc chắn: từ góc này của trái đất, nơi Con Thiên Chúa cầu nguyện, một luồng mãnh liệt vươn lên tới trời; liên lạc trực tiếp giữa hai bên được thiết lập. Đó là những giây phút ứng nghiệm lời Đức Giêsu nói với Natanael: “Các anh sẽ thấy trời rộng mở, và các thiên thần của Thiên Chúa lên xuống trên Con Người” (Ga 1,51). Tất cả tình yêu và đời sống Ba Ngôi được thấy trong cơn lốc này. Và chính chúng ta, chúng ta đã không vắng mặt ở đó. Đức Giêsu nói với các Tông Đồ: “Thầy đã cầu nguyện cho anh em”; Ngài nói với Phêrô: “Thầy đã cầu nguyện cho anh. Thầy cũng cầu nguyện cho những ai nhờ lời họ mà tin vào Thầy”, tức là cầu nguyện cho chúng ta, những môn đệ của Ngài ngày hôm nay.
Tại núi Athos, có một bức tiểu họa của thế kỷ XI, vẽ Đức Giêsu cầu nguyện dưới chân một ngọn núi. Trước mặt Ngài, nhưng ở cao hơn, người ta thấy hình ảnh của Chúa Cha được vẽ trong hình bán nguyệt, và đằng sau Đức Giêsu là các Tông Đồ, đang im lặng nhìn nhau như muốn nói: “trông Thầy cầu nguyện kìa!” Chắc hẳn trong một cơ hội tương tự, họ xúc động xin với Đức Giêsu “Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện” (Lc 11,1). Và chính chúng ta, trước khi đi xa hơn, cũng xin Đức Giêsu như vậy: “Lạy Chúa, xin dạy chúng con cầu nguyện.”
3. “Và này đây các ông thấy ông Môsê và ông Êlia hiện ra”
Ý nghĩa mà chúng ta gọi là “khách quan” của cuộc Biến Hình – tức là nói lên điều nó biểu thị đối với Lịch sử cứu độ và sự hiểu biết về con người Đức Kitô – ý nghĩa ấy được khám phá đặc biệt nhờ sự hiện diện của Môsê và Elia. Ngay từ đầu, hai ông đã được coi là đại diện cho Lề Luật (Môsê) và các Tiên Tri (Elia). Nhưng có lẽ các ông cũng ở đó để cùng nhau gợi lại một biến cố, núi Sinai, nơi cả hai nhận được từ Thiên Chúa một mạc khải[20]. Rất sớm người ta đã đối chiếu Tabor với Sinai; điều này quá đúng đến nỗi, vào thế kỷ XVI, nhân lễ khánh thành đan viện Sainte-Catherine ở Sinai, người ta vẽ một cách tự phát trên vòm hậu cung cảnh núi Tabor, bức tranh khảm này đã trở thành kiểu mẫu cho tất cả các linh ảnh về cuộc Biến Hình. Một Giáo Phụ xưa trình bày mối tương quan giữa hai ngọn núi như sau:
“Ôi, viễn ảnh tuyệt vời và không thể hiểu được mà những tiên tri này và các Tông Đồ đã có ở núi Tabor; vì nó vượt quá viễn ảnh ở núi Sinai: ở đó là ngọn lửa (Xh 3,2), ở đây là ánh sáng của thần tính (Mt 17,2); ở đó là bụi cây, ở đây là đám mây; ở đó Môsê bị lôi cuốn, ở đây Môsê hiện diện và trò chuyện; ở đó là người tôi tớ vinh quang, ở đây là ông chủ của vinh quang; ở đó là biểu mẫu, ở đây là sự thật; không còn là luật của Môsê nữa, nhưng là ân sủng và chân lý được Đức Giêsu xác nhận (x Ga 1,14).”[21]
Cuối cùng, Môsê thực sự đứng trước “bụi cây cháy”; cuối cùng, ông nghe “Đấng Tự Hữu” nói; cuối cùng mong muốn của ông được thỏa mãn là “nhìn thấy vinh quang Thiên Chúa”. Ông không chỉ ẩn mình trong hốc đá để thấy “lưng” của Thiên Chúa nữa, “bàn tay” bảo vệ đôi mắt của Môsê bây giờ là xác thịt của Đức Kitô mà Thiên Chúa đã ẩn nấp.[22]
Có gì giống và khác nhau giữa Sinai và Tabor? Phần còn lại của câu truyện sẽ làm cho người ta thấy rõ hơn khi nghe tiếng nói của Chúa Cha. Còn lúc này, chúng ta hãy dừng lại ở một chi tiết quan trọng. Máccô và Matthêu chỉ đơn giản nói rằng Môsê và Êlia “đàm đạo” với Đức Giêsu; nhưng Luca xác định rõ khi còn cho biết thêm đối tượng của cuộc đàm đạo này: “các ông nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn tất tại Giêrusalem”.
Họ không cho Đức Giêsu biết Ngài sẽ chịu Khổ Nạn, vì chính Ngài vừa báo trước điều đó cho các môn đệ (x. Lc 9,22.44). Đúng hơn, họ từ trời đến để xác nhận những chủ định của Đức Giêsu. Sau khi Phục Sinh, Đức Giêsu “bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ giải thích cho hai ông (hai môn đệ Emmau) những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh” (Lc 24,27). Trong cảnh tượng của chúng ta, một điều gì đó tương tự được hoàn thành cách mặc nhiên, trước khi những sự kiện được thực hiện.
Cuộc Khổ Nạn được xen vào chính tâm điểm của mầu nhiệm Biến Hình. Vinh quang của Đức Giêsu không thể tách khỏi thập giá, dù chỉ một tích tắc. Cuộc Biến Hình hoàn toàn khác với những cảnh phong thần ngoại giáo. Nó bày tỏ một kiểu vinh quang và quyền lực mới phát sinh chính xác từ việc từ bỏ mọi quyền lực cũng như mọi vinh quang. “Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ (…). Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết (…). Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người” (Pl 2,6tt).
Một cách mặc nhiên, Luca bổ túc việc nhắc tới cuộc Khổ Nạn khi lưu ý rằng “Phêrô và đồng bạn ngủ mê mệt”; ở đây chúng ta có một chi tiết tiên trưng những gì sẽ xảy ra trong vườn Ghếtsêmani. Chúng ta cần dừng lại một chút trước hình ảnh ba môn đệ, những người, cũng vào giờ này, đang đứng từ xa và buồn ngủ; điều này sẽ mở mắt chúng ta, cho phép chúng ta nhận ra rằng rất thường xuyên những môn đệ đang ngủ và vắng mặt này là chính chúng ta. Chúng ta cử hành Thánh Thể, Đức Giêsu ở đó không chỉ biến hình, mà còn trở thành bánh và rượu trước mắt chúng ta. Không chỉ Môsê và Êlia, mà tất cả vô số thiên thần ở đó đều không dám “chăm chú nhìn” Ngài, còn chúng ta thì lại chia trí, tâm trí rong chơi chỗ khác. Hoặc, có ai đó đang công bố lời Chúa cho chúng ta, mà mắt chúng ta lại nặng trĩu vì buồn ngủ, và khó mà giữ cho khỏi ngáp.
Tôi thường nghĩ tới một lời của thánh Phanxicô khi tôi ở trong tình trạng này: “Thật khốn khổ và yếu đuối đến thảm hại nếu như, cầm Chúa trong tay, bạn lại bận tâm đến sự gì khác ở thế gian.”[23]
4. “Thưa Thầy, chúng con ở đây thật là tốt”
Trong bối cảnh như bối cảnh của cuộc Biến Hình, từ “tốt” (đẹp, kalon) này không phải ngẫu nhiên mà được sử dụng. Vào cuối tuần lễ tạo dựng, Thiên Chúa thấy mọi sự đều “đẹp” (Từ hipri có thể có nghĩa “đẹp” cũng như “tốt”, nhưng bản Bẩy Mươi dịch là “đẹp”). Này đây, lúc con người mới, hình ảnh đích thực và hoàn hảo của Thiên Chúa, được bày tỏ, thì vẻ đẹp thật sự mà tội lỗi đã làm biến dạng, tái xuất hiện. Với vẻ lộng lẫy chói lọi, cuộc Biến Hình cũng là mầu nhiệm có khả năng nhất đưa chúng ta tới chỗ chiêm ngắm vẻ đẹp. Người ta hiểu nó như vậy đặc biệt qua linh đạo gắn liền với nghệ thuật linh ảnh.
Một nhà chú giải nổi tiếng viết: “Chính trong lãnh vực tôn giáo mà Israel đã bắt gặp vẻ đẹp với cường độ mạnh mẽ nhất, trong việc chiêm ngắm mạc khải của Thiên Chúa và cách Người điều khiển vũ trụ; bằng cách tập trung kinh nghiệm thẩm mỹ của mình vào các tín khoản, nó có một chỗ đứng đặc biệt trong Lịch sử mỹ học”.[24] Các tác giả Kinh Thánh đã phát huy cảm quan thẩm mỹ nhất là qua những mô tả của họ về các cuộc thần hiện (Thiên Chúa tỏ mình ra). “Vẻ đẹp vĩ đại nhất, trước mọi vẻ đẹp của thụ tạo, được bày tỏ trong việc Thiên Chúa hạ mình đi vào giữa lòng cuộc sống Lịch sử của Israel. Những mô tả về các cuộc thần hiện mà Israel yêu thích nói lên điều đó trước hết (…). Những mô tả về các cuộc thần hiện này chắc chắn là đối tượng trung tâm của mỹ học Cựu Ước…”[25] Tất cả những gì đến từ sự hiện diện của Chúa đều đẹp. Núi Sion là “huy hoàng và vẻ đẹp”, đơn giản vì là nơi Thiên Chúa ngự. Tất cả những gì có liên quan với Thiên Chúa, cho tới bước chân của sứ giả, đều trở nên đẹp đẽ (x. Is 52,7)
Do đó, không gì đáng ngạc nhiên khi cuộc thần hiện mới ở Tabor, đối với người Kitô hữu, là đối tượng ưu đãi của thể hiện thẩm mỹ và là nơi mà vẻ đẹp được tôn vinh.
“Hôm nay trên núi Tabor, Ngài đã làm mới lại và biến đổi hình ảnh của vẻ đẹp trần gian thành vẻ đẹp thiên quốc…”[26]
Kinh nghiệm cho chúng ta biết vẻ đẹp gây ảnh hưởng thế nào đối với con người, chính vì họ được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, là vẻ đẹp vô hạn. Văn minh Tây phương đã được xây dựng chủ yếu xung quanh giá trị này. Có thể nói, việc tìm kiếm và tôn vinh cái đẹp là đặc điểm minh nhiên nhất và mới mẻ nhất của văn minh cổ điển. Các văn minh cổ đại khác tôn kính nhiều hơn quyền lực được diễn tả trong các công trình xây dựng quan trọng, hoặc tôn kính những gì đáng sợ và kinh khủng. Văn minh của chúng ta, đặc biệt những người thừa kế ở Tây phương, tập trung chủ yếu vào vẻ đẹp.
Thật không may, người ta đã thường quan niệm cái đẹp bên ngoài những điều tốt đẹp và thiêng thánh. Nó không còn được coi là “vẻ huy hoàng của sự thật” như Plato đã định nghĩa. Chỉ nhằm mục đích tôn vinh các hình dạng thân thể, vẻ đẹp đã trở thành một thần tượng nguy hiểm và, đối với con người tinh thần, lo lắng để mình không lệ thuộc vào vật chất, nó là một trong những trở ngại khó vượt qua nhất, vì có quan hệ với sự thiện và sự thật.
Chúng ta biết lời than thở cay đắng của Augustinô:
“Con đã yêu Chúa quá muộn, ôi, vẻ đẹp vừa rất cũ lại vừa rất mới. Này đây Chúa ở trong con, mà con lại ở ngoài và chính ở bên ngoài mà con tìm kiếm Chúa, và một cách trái khoáy, con nhào tới những cái đẹp tại thế này, những công trình tay Chúa làm ra!”[27]
Và ngài nghiêm khắc nhắc nhở:
“Nhờ các công trình của nghệ sĩ và thợ thủ công, có vô số quyến rũ, trong quần áo, giày dép, lọ bình và các đồ vật đủ loại mà người ta tạo ra, và cả trong các bức tranh, các hình ảnh khác nhau, và tất cả những thứ đó vượt xa sự sử dụng cần thiết hoặc vừa phải, và cách diễn tả đạo đức!”[28]
Đây không phải là lên án nghệ thuật, vì ngược lại thánh nhân nói rằng chúng ta phải ngợi khen Thiên Chúa về điều này là, dầu sao, ngay cả những hình ảnh mang vẻ đẹp nghệ thuật cũng phát xuất từ vẻ đẹp tối cao chi phối mọi sự. Lời nhắc nhở nghiêm khắc này nhằm ngăn cản chúng ta biến vẻ đẹp nghệ thuật này thành một “cái cớ cho xác thịt”.
Thuốc giải độc hữu hiệu nhất cho vẻ đẹp quyến rũ này nằm trong việc chiêm ngắm Đức Kitô, đặc biệt là Đức Kitô biến hình. Đặt mình thường xuyên và lâu giờ trước sự hiện diện của Ngài, chúng ta cũng sẽ nghe mình tự động thốt lên: “Giữa thế nhân, ngươi vô song tuyệt mỹ” (Tv 44,3). Trong nhân vật Gã Khờ của mình, Dostoievski đã cố gắng trình bầy một vẻ đẹp do lòng tốt thuần túy và sự cao cả của con người tạo ra, nhưng không thực sự thành công. Có ai lưu ý cho ông điều đó thì ông trả lời như để biện minh: “Trên thế giới chỉ có một hữu thể đẹp tuyệt đối là Đức Kitô, nhưng sự xuất hiện của hữu thể đẹp vô hạn này tất nhiên là một phép lạ vô cùng.”[29]
Nếu những hình ảnh về vẻ đẹp “xác thịt” đã làm chúng ta tổn thương, thì chúng ta hãy làm như những người Do Thái trong sa mạc. Vừa bị rắn độc cắn, vội vàng nhìn con rắn đồng do Môsê dựng lên, họ được chữa lành. Thay vì mất thời gian muốn biết tại sao, xẩy ra thế nào, ở độ tuổi chúng ta… (là điều cho phép chất độc lây lan nơi ta), hãy chạy đến trước thánh giá, hoặc trước ảnh Biến Hình nếu quen thuộc với chúng ta, và hãy nhìn lên. Linh ảnh Đức Kitô và càng hơn thế nữa, bánh thánh, bánh hiến thánh trong bí tích, có quyền năng thánh hóa ngay cả khi chỉ thuần túy nhìn, miễn nhìn mà có lòng tin. Chớ gì việc chữa lành thâm nhập vào chúng ta bằng cùng một con đường như vết thương, tức là bằng đôi mắt của chúng ta! Việc chiêm ngắm có một sức mạnh trị liệu, chữa lành: ngày nay chúng ta rất cần nó khi những hình ảnh, mọi sự được nhìn thấy, đã trở thành phương tiện chính chuyển tải ý thức hệ trần tục. Chúng ta không được yêu cầu nhắm mắt, nhưng chọn những gì chúng ta nhìn; Đấng đã tạo ra đôi mắt để xem, cũng đã tạo ra mí mắt để nhắm lại…
5. “Chúng con xin dựng ba lều”
Giờ đây, chúng ta trở lại với đề nghị của Phêrô. Đề nghị dựng ba lều thường được giải thích tiếp sau Origen. Đây hẳn là một nỗ lực mới của vị Tông Đồ muốn ngăn cản Đức Giêsu đi vào con đường Khổ Nạn. Có thể coi là Phêrô lặp lại lời vừa mới thưa với Chúa không lâu trước đây: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy” (Mt 16,22).
Thánh Augustinô đã đưa ra một cách cắt nghĩa khác, có lẽ thực hơn; sau khi được hưởng niềm vui chiêm ngắm, Phêrô muốn không còn phải quay trở lại với những công việc và sự náo động đang chờ đợi mình ở dưới đồng bằng. (Raphael, trong bức họa Biến Hình nổi tiếng của mình, đã cho thấy sự tương phản này, khi phân bố các nhân vật trên hai bố cục: bên trên, trên đỉnh Tabor, là Đức Giêsu cùng với Môsê, Êlia và ba Tông Đồ, được ánh sáng và bình an bao bọc; bên dưới, ở chân núi, một đám đông ồn ào náo nhiệt xung quanh người bị quỷ ám.)
Augustinô khám phá ra nơi Phêrô, như cảm nghiệm trước, những cảm giác – nếu không nói là cám dỗ – mà một giám mục trải qua khi suy niệm về đoạn Phúc Âm này.
“Mệt mỏi và buồn chán với đám đông, Phêrô tìm thấy lợi ích của cô tịch trên núi, nơi Đức Kitô là bánh nuôi linh hồn ông. Vậy tại sao ông phải xuống để lại phải mệt mỏi và buồn chán, khi ông cảm thấy mình được tràn đầy tình yêu thánh thiện đối với Thiên Chúa và cảm xúc của ông gợi hứng cho ông một lối sống thánh thiện?”[30]
Ở đây Augustinô diễn tả điều rất thường lộ ra trong các tác phẩm của ngài: khát vọng âm thầm cuộc đời làm giám mục của ngài; nhẹ nhàng phàn nàn mình không còn thời gian cho bản thân, cho chiêm niệm, cho học tập, từ sáng đến tối phó mặc mình cho dân chúng, phục vụ mọi thứ yêu cầu mà thường chẳng có gì là thiêng liêng cả.
Những lời bây giờ ngài nói với Phêrô là những lời ngài nói với chính mình và với từng giám mục trong cùng hoàn cảnh:
“Này ông Phêrô, xin ông xuống núi; hẳn ông muốn nghỉ ngơi trên núi: xin ông xuống núi. Xin ông công bố lời Chúa, sửa chữa, khuyên nhủ, khích lệ, với tất cả sự kiên nhẫn và quyền giảng dạy của ông. Xin ông làm việc, đừng quản ngại mệt nhọc, thậm chí chấp nhận những đau khổ, cực lòng (…) Bài ca bác ái nói rằng “bác ái không tìm tư lợi” (…) Này ông Phêrô, hạnh phúc này, Đức Kitô để dành cho ông sau khi chết. Còn bây giờ Ngài bảo ông: “Hãy xuống núi để ra sức làm việc cho thế gian, để phục vụ thế gian, để bị khinh khi, bị đóng đinh ở thế gian.”[31]
Chiêm niệm là một điều tốt, và trong mức độ tùy thuộc vào chúng ta, nó phải được ưu tiên hơn hoạt động. Tuy nhiên, quan trọng hơn cả hai việc, là bác ái. Bác ái có thể khiến một số người từ bỏ hành động, một số khác từ bỏ chiêm niệm. Trên thực tế, không phải là từ bỏ chiêm niệm, mà là sống nó theo một cách khác. Quả thực, nếu người ta không thể và không được hoạt động trong chiêm niệm (hoạt động, đặc biệt là hoạt động trí óc, làm xáo trộn sự chiêm niệm đích thực), thì mặt khác, người ta có thể và phải chiêm niệm trong hoạt động.
Chắc chắn không thể cứ ở mãi trên Tabor; nhưng người ta có thể… mang nó bên mình. Thánh nữ Catarina Sienna, cũng bị thúc đẩy đi trên những nẻo đường thế giới, “dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần, đã xây dựng trong tâm hồn một phòng nhỏ bí mật, và bà đã quyết không bao giờ rời khỏi nó”, như lời của cha giải tội cho bà đã chứng thực. Và khi cha phải đi xa hoặc quá bận việc, bà đã lấy sự tự do thánh thiện mà khiển trách cha, nói với cha rằng: “Cha hãy làm một phòng nhỏ trong tâm hồn, và cha sẽ không bao giờ có thể rời bỏ nó.”[32]
Nếu người ta có thể có một phòng nhỏ đồng hành với mình, thì cũng có thể có một ngọn núi đồng hành với mình. Phải rất đơn sơ và thực tiễn mà sống viễn kiến ấy. Sự kiện Nước Thiên Chúa ở “trong chúng ta” như Phúc Âm nói, cung cấp cho tất cả những điều đó thực tại đầy đủ của nó, khác xa với điều trí óc tưởng tượng. Giữa các hoạt động của chúng ta, ngay cả trong một cuộc trò chuyện hoặc một cuộc họp, như thánh Gioan Thánh Giá đã nói với chúng ta, có thể “ra ngoài mà không ai nhìn thấy”, để leo lên Tabor bên trong chúng ta. Không cần rút lui lâu. Một phần giây là đủ, một cái nhìn đơn giản bên trong hoặc một ý nghĩ là đủ để tiếp xúc cứu độ với Đấng vô hình. Sau đó, chúng ta trở lại để lắng nghe, làm việc sẵn sàng hơn trước, giống như người nắn lại bánh lái và lặng lẽ bắt đầu chèo.
6. “Có tiếng từ đám mây phán”
“Ngay lập tức, Thiên Chúa thực hiện theo cách của Ngài điều Phêrô muốn làm theo cách của con người: đám mây, dấu chỉ nói lên sự hiện diện và vinh quang Thiên Chúa, “bao phủ” họ. Thiên Chúa không chỉ đón nhận họ dưới “bóng” của Ngài, mà còn bao bọc họ, bảo vệ họ, để họ có thể vào sâu trong đám mây.”[33] Chiếc lều thần linh này biến những lều mà Phêrô định dựng lên trở nên vô dụng.
Đúng là đám mây thường được liên kết với vinh quang Thiên Chúa, nó như là dấu hiệu hữu hình của vinh quang này; nhưng trong Tân Ước, nó bắt đầu có liên hệ hơn với Chúa Thánh Thần (x. Lc 1,35); tiếp theo, nó sẽ luôn được các Giáo Phụ hiểu như thế khi các ngài bình giải về cuộc Biến hình[34]. Vì vậy, chim bồ câu lúc Chúa chịu Phép Rửa thế nào, thì đám mây ngày Biến Hình cũng thế: đó là dấu hiệu hữu hình cho thấy sự hiện diện của Chúa Thánh Thần. Thực sự, làm sao có chuyện Chúa Thánh Thần lại hoàn toàn vắng mặt trong một cuộc thần hiện mang tính Ba Ngôi rõ ràng như vậy? Thần Khí là không gian mà ở “bên trong” xảy ra cuộc Biến Hình. Ánh sáng Đức Kitô tỏa ra khi ấy chỉ là Chúa Thánh Thần ngự trong xác thịt Ngài. Chính nhờ tác động của Thần Khí mà, vào sáng Phục Sinh, Đức Kitô, mà thân xác đã được mai táng, “đã được đặt làm Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng, nhờ sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết.” (Rm 1,4). Cũng chính Ngài, trên núi Tabor, lộ ra qua thân xác phải chết của mình.
Giờ đây chúng ta tiếp cận cuộc Biến Hình với tâm trạng rất muốn được chiêm ngắm; đây là một nét quan trọng đối với chúng ta. Không thể chiêm ngắm Đức Kitô, nếu không phải “trong Chúa Thánh Thần”. Nhờ chiêm ngắm, chúng ta được biến đổi trong Đức Kitô “bởi tác động của Chúa là Thần Khí”, thánh Phaolô nói như vậy (2Cr 3,18). Sự tin tưởng của chúng ta chính xác là ở đó: “Chúng ta đã không nhận thần trí của thế gian, nhưng là Thần Khí phát xuất từ Thiên Chúa, để nhận biết những ân huệ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta” (1Cr 2,12), bắt đầu từ ân huệ đầu tiên là Đức Giêsu.
Chính Thần Khí giúp những người đơn sơ hiểu Đức Kitô, tình cảm và sở thích của Ngài. Chúng ta đừng bao giờ cầu nguyện và chiêm niệm mà không khởi đầu bằng cách cầu xin Thần Khí hiện diện: “Lạy Thần Khí sáng tạo, xin hãy đến, hãy gợi lên nơi con lời cầu nguyện chân thật, biết chiêm niệm “trong tinh thần và chân lý”.
Chúng ta đi vào trung tâm của khung cảnh. Như trong bất cứ cuộc thần hiện nào, cùng với dấu chỉ nhận biết bằng mắt – đám mây – còn có một dấu chỉ khác, nhận biết bằng tai – tiếng nói. Buổi sáng ngày lễ Ngũ Tuần, các lưỡi lửa là dấu chỉ hữu hình; và người ta đã nghe thấy một cơn gió dữ dội. Nhưng ở đây còn có điều gì đó hơn thế. Chúa Thánh Thần hiện diện qua đám mây, dấu chỉ có thể thấy được; và Chúa Cha hiện diện qua tiếng nói, dấu chỉ có thể nghe được: “Đây là Con yêu dấu của Ta. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!”
Các Tông Đồ đứng trước ba nhân vật, nhưng Chúa Cha không nói: “Đây là các con Ta, hãy nghe họ!”; Người nói ở số ít: “Hãy vâng nghe lời Người!” Môsê và Êlia, những chóp đỉnh thiêng liêng của Cựu Ước, khi ấy xuất hiện với vai trò của họ: đó là những tôi tớ thuần túy trong nhà Thiên Chúa, so với Đấng là Con (x. Dt 3,2tt).
Khoa linh ảnh truyền thống đã cho thấy cách tuyệt vời tình trạng sự việc này. Ngay khi tôi bắt đầu đánh giá cao linh ảnh Biến Hình này, điều giúp tôi nhiều nhất về mặt thiêng liêng là thái độ cụ thể của Môsê và Êlia: cả hai đều nghiêng về phía Đức Giêsu, Đấng ở giữa vòng cung được hình thành như thế; họ run rẩy vì khiêm nhường, phục tùng và tôn thờ. Chăm chú nhìn họ sẽ khơi dậy nơi chúng ta nhu cầu bắt chước họ, hiện diện trước Đức Kitô như họ: trong thái độ hoàn toàn phục tùng, kinh ngạc, biết ơn và vui mừng. Cũng giống như Đức Maria, theo một số hình ảnh về Chúa Giáng Sinh, quỳ trước Con mình, rất đỗi ngạc nhiên và tôn thờ. Thụ tạo trước Đấng Tạo Hóa của mình, tôi tớ trước Chủ và Chúa của mình cũng phải có thái độ đó.
7. “Hãy nghe lời Người”
Bây giờ chúng ta hiểu rõ hơn lý do tại sao Phêrô “không biết mình nói gì”, khi ông xin được dựng ba lều. Làm một chiếc cho Đức Giêsu, một chiếc cho Môsê, một chiếc cho Elia, có nghĩa là đặt tất cả các ngài trên cùng một bình diện, là không biết đến khoảng cách vô biên ngăn cách các ngài. Như các Giáo Phụ nhấn mạnh, điều đó cũng có nghĩa mặc nhiên phá vỡ sự duy nhất của Kinh Thánh, như thể Môsê và Êlia đã nói nhân danh chính các ngài, như thể không có một Ngôi Lời duy nhất của Thiên Chúa được họ bày tỏ:
“Các tiên tri nói, Lề Luật nói, nhưng “Hãy nghe lời Người!”, vì Ngài là tiếng nói của Lề Luật và các tiên tri. Chính Ngài nhờ họ mà đã được nghe.”[35]
Ở đây hoàn tất việc mạc khải về con người Đức Giêsu cũng như vị trí của Ngài trong Lịch sử cứu độ. Ở Sinai, Thiên Chúa đã bày tỏ ý muốn của mình liên quan tới con người, khi ban cho họ luật Torah. “Sau khi phán với ông Môsê trên núi Sinai, Đức Chúa ban cho ông hai tấm bia Chứng Ước, hai tấm bia đá do chính tay Thiên Chúa viết” (Xh 31,18). Môsê triệu tập toàn thể Israel và nói với họ: “Hỡi Israel, hãy nghe những thánh chỉ và quyết định mà hôm nay tôi nói cho anh em nghe. Anh em phải học cho biết những điều ấy và lo đem ra thực hành” (Đnl 5,1). Trên núi Tabor, Thiên Chúa phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, các ngươi hãy vâng nghe lời Người!” Đức Kitô đã thay thế Lề Luật. Trong mọi việc Ngài làm hay nói, chính Ngài thể hiện trọn vẹn và dứt khoát ý muốn của Chúa Cha. Ngài chính là vị tiên tri mà Môsê đã loan báo cho tương lai và truyền phải vâng nghe (x. Đnl 18,15). Trong cuộc Biến Hình, Đức Giêsu còn hơn là một Môsê mới; chính Ngài là luật mới. Ngài không chỉ là trung gian mới của Mạc khải, mà còn là sự tự mạc khải mới của Thiên Chúa cho con người trong viên mãn.
“Hãy nghe lời Người!”: Làm sao mệnh lệnh này của Chúa Cha vẫn còn vang vọng cho đến ngày nay! Có hai cách để vi phạm mệnh lệnh này: dừng lại trước Đức Kitô, hoặc vượt ra ngoài Đức Kitô. Mối nguy hiểm mà người Kitô hữu ngày nay phải đối phó tất nhiên là theo cách thứ hai. Và tôi thậm chí không nghĩ đến ở đây nguy cơ của chủ thuyết chiết trung (syncrétisme), cũng như không nghĩ đến những triết gia tuyên bố “vượt qua” Đức Kitô, chỉ coi hệ thống riêng của họ là mạc khải tối cao của tâm trí, chứ không phải Mạc khải của Kitô giáo. Tôi nghĩ chính xác hơn những gì thánh Gioan Thánh Giá nói về những người mà lời Đức Kitô không đủ cho họ và những người không ngừng tìm kiếm những sứ điệp mới và những mạc khải tư. Hẳn Thiên Chúa có thể trả lời cho họ:
“Ngày Ta cùng với Thần Khí của Ta ngự xuống trên Ngài ở núi Tabor, Ta đã nói: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người.” Kể từ đó, Ta bỏ qua một bên tất cả những loại giáo huấn này và tất cả những câu giải đáp này, và Ta giao chúng cho Người; hãy nghe lời Người, vì Ta không còn điều phải tin nào để mạc khải cho các ngươi, cũng không còn chân lý nào để bày tỏ cho các ngươi.”[36]
Theo một nghĩa nào đó, người ta có thể nói rằng Thiên Chúa đã trở nên thinh lặng. Không kiên nhẫn trước những mạc khải mới hoặc mau chóng đón nhận tất cả những gì người này người kia tiết lộ, là xúc phạm đến Thiên Chúa; như thể, trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã không nói tất cả những gì cần thiết cho chúng ta; như thể chúng ta không đủ chuyện phải làm để thực hành những gì chúng ta đã biết!
Thời đại của chúng ta có thừa sứ điệp đủ mọi loại từ trời, và người ta không chờ đợi sự phán xét của Giáo Hội, họ đang báo trước điều đó. Một số người ngoan đạo tự cho mình là “hạ cấp”, bị từ chối nếu họ không thuộc số thân cận của một người “thấu thị” (voyant) nào đó. Tính tôn giáo của Công giáo có nguy cơ trở nên hoang dã trở lại, sau khi phong trào Kinh Thánh, phụng vụ và trên hết là Công đồng đã nỗ lực đưa mọi sự trở lại với điều cốt yếu: với Lời Chúa, các bí tích, Chúa Thánh Thần, dấn thân vào việc bác ái đích thực, và sau cùng, sùng kính Đức Trinh Nữ cách thanh nhã và lành mạnh.
Các giám mục và linh mục có thể làm được rất nhiều. Các người loan truyền những mạc khải tư, các nhà tiên tri về ngày tận thế biết rằng cần ủng hộ phẩm trật nếu muốn tiếp tục sống trong Giáo Hội. Họ tìm kiếm sự ủng hộ này và, thật không may, đôi khi họ tìm thấy nó; nếu không, họ phát minh ra nó, tự phụ bằng những phê chuẩn bằng miệng hoặc bằng văn bản, bằng những khuyến khích mà họ diễn giải theo cách của họ. Không phải lúc nào người ta cũng ngăn chặn được gian lận hoặc lừa dối, nhưng người ta có thể cảnh báo dân Kitô giáo, theo cách thức còn rõ ràng hơn, là đừng để mình bị lôi cuốn bởi “mọi thứ học thuyết”.
Nhiều người được thúc đẩy tích cực đón nhận các điềm lạ hoặc sứ điệp, vì sợ rằng, nếu không làm như vậy, là thiếu lòng tin, xúc phạm tới Thiên Chúa hoặc Đức Trinh Nữ. Một Giáo Phụ xưa ở sa mạc gợi ý cho chúng ta cách trấn an những người này.
“Chúng ta lấy ví dụ một người đầy tớ được chủ nhà ban đêm đứng trước hàng rào gọi mở cổng, khi ông trở về sau một cuộc hành trình dài ngày. Người đầy tớ nhất quyết không mở cổng cho ông: thật ra anh ta sợ mắc lừa vì giọng nói giống nhau, khiến anh giao cho người đó kho tàng mà ông chủ đã ký thác. Ngày ông chủ về, không những ông không giận anh mà còn thấy anh rất đáng được khen ngợi, vì đã nghi ngờ ngay cả tiếng nói của chủ mình, quyết tâm không để cho bất cứ tài sản nào của chủ mình bị thất thoát”.[37]
Tương tự như vậy, Thiên Chúa sẽ vui mừng khi thấy chúng ta không dễ dàng tin vào những thị kiến và mạc khải, sợ tiếp đón kẻ thù của Ngài hơn là chính Ngài.
Các thánh và các nhà thần bí chân thật, nếu đã nhận được một ân sủng ngoại thường nào đó hoặc một mạc khải, thì họ chỉ bày tỏ chúng một cách khó khăn, sau khi bị áp lực rất mạnh. Còn các nhà thần bí giả vừa mới nhận được những gì họ tưởng tượng là một sứ điệp từ Thiên Chúa hoặc một ân sủng ngoại thường thì ngay lập tức, họ cố gắng làm cho toàn thế giới biết đến nó.
8. “Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giêsu mà thôi”
Môsê và Elia biến mất, đám mây tan đi, tiếng nói im lặng, ánh sáng vụt tắt. Mọi sự đều trở lại bình thường. Chính Đức Giêsu cũng lấy lại được những nét thường ngày. Nhưng nói cho chính xác: để làm nổi bật lưu ý cuối cùng này, cả ba Phúc Âm nhất lãm đều gợi ý cho người ta hiểu rằng có một ý nghĩa sâu xa ở đây, đó là: Đức Giêsu này mà người ta phải lắng nghe, Đức Giêsu của các sách Phúc Âm, chứ không chỉ Đấng của những khoảnh khắc phấn khích. “Giáo Hội không cần gì khác hơn sự hiện diện của Đức Giêsu và lời của Người”. Kể từ đây, bản thân Cựu Ước sẽ được đọc lên chủ yếu vì một lý do đặc biệt: trong mức độ sách này nói về Đức Giêsu và Đức Giêsu nói trong sách này.
“Môsê tức Lề Luật, Êlia tức Lời tiên tri đã trở thành một thực tại duy nhất với Đức Giêsu, tức là với Phúc Âm. Không còn như trước nữa: chúng không còn là ba; cả ba đã nên một”.”[38]
Đây là lý do tại sao Phúc Âm viết: “Họ chỉ còn thấy một mình Đức Giêsu mà thôi.” Cả một chương trình sống được gói gọn trong những lời đó, những lời kết thúc câu truyện Biến Hình. Theo thuật ngữ thần học đương thời, người ta nói về một “sự tập trung Kitô học” tối thượng. Từ nhiều khía cạnh khác nhau, người ta bắt đầu nhận thấy rằng vào cuối thiên niên kỷ này, Đức Giêsu Kitô đang có chiều hướng biến mất khỏi trí tưởng tượng và ngôn ngữ của chính những người Kitô hữu. Nói chung, nói về Thiên Chúa thì hợp thời hơn. Nhiều nhân tố đi theo hướng này, một số thì tốt và cần thiết, số khác thì không: việc đối thoại liên tôn, một não trạng quốc tế có xu hướng tương đối hóa sự khác biệt giữa các tôn giáo, chưa kể sự dị ứng trước một hình thức tôn giáo tính như hình thức của Phúc Âm, bởi vì nó bao gồm các chuẩn mực và cử chỉ chính xác, đòi hỏi sự vâng phục của đức tin và không để mặc mọi sự cho tính tùy tiện và sở thích cá nhân.
“Chỉ một mình Đức Giê-su mà thôi” hiển nhiên không có nghĩa là chúng ta có thể bỏ qua Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, nhưng Đức Giêsu là nơi duy nhất mà Thiên Chúa Ba Ngôi bày tỏ mình trọn vẹn và hành động có lợi cho loài người. “Chỉ một mình Đức Giêsu mà thôi” có nghĩa là không ai đến cùng Chúa Cha mà không qua Ngài, cho dù người ta có biết điều đó hay không.
Cuối cùng, trên bình diện cá nhân, có biết bao chương trình chứa đựng kiểu nói này! Chúng ta có thể đặt biết bao thực tại của cuộc đời mình bên cạnh Đức Giêsu: Đức Giêsu và tiền bạc, Đức Giêsu và nghề nghiệp, Đức Giêsu và tự do cá nhân, Đức Giêsu và những niềm an ủi. Nếu chúng ta làm cho tiếng kêu này vang lên trong chính chúng ta: “Lạy Chúa Giêsu, chỉ một mình Chúa mà thôi!” thì giống như thể chúng ta ném một viên sỏi vào một cây to có rất nhiều chim đang hót. Những ý tưởng, những dự án, những lo lắng vô ích bay đi như bao cánh chim; khi ấy một khoảng lặng an bình tuyệt vời mở ra trong trái tim.
Có lời chép rằng khi Môsê từ Sinai đi xuống, ông không biết bộ mặt mình đã trở nên rạng rỡ “vì ông đã được đàm đạo với Thiên Chúa” (Xh 34,29). Hy vọng rằng, khi từ núi Tabor của chúng ta đi xuống, để tiếp tục công việc hàng ngày, bộ mặt của chúng ta cũng giống như vậy mà chúng ta không hay biết, sẽ tỏa ra một chút an bình và thanh thản có được từ những gì chúng ta đã chiêm ngắm trên núi thánh.
