III. “VẤN ĐỀ LÀ BIẾT NGÀI”

Trên núi Tabor đồng hành với Phaolô

 1. Đức Kitô, chủ của thời gian và Lịch sử

Chính vì được Tông Đồ Phaolô dẫn dắt mà giờ đây chúng ta lên núi Tabor, để tiếp tục chiêm ngắm Đức Kitô biến hình. Tôi sẽ đi theo con đường tổng hợp hơn là phân tích, để trình bày hình ảnh Đức Kitô theo lời thánh Tông Đồ. Nói cách khác, tôi muốn nhanh chóng lướt qua, theo thứ tự thời gian, ba bản văn Kitô học của Phaolô được viết ra, là những bản văn cô đọng và được biết đến hơn cả, để xác định rõ hình ảnh đầy đủ và dứt khoát về Đức Kitô được hình thành như thế nào nơi ngài. Muốn bàn về ba bản văn này trong một vài trang có thể bị coi là liều lĩnh, vì đã có quá nhiều sách viết về từng bản văn! Nhưng chúng tôi thấy một số khía cạnh của sự việc đôi khi nhờ vào một cái nhìn toàn cục, một cái nhìn tổng hợp, tốt hơn là dùng lối phân tích.

Đây là bản văn đầu tiên trong số những bản văn nổi tiếng này:

“… Tin Mừng của Thiên Chúa. Tin Mừng ấy, xưa Người đã dùng các ngôn sứ của Người mà hứa trước trong Kinh Thánh. Đó là Tin Mừng về Con của Người … xét như một người phàm, Đức Giêsu Kitô xuất thân từ dòng dõi của Đavít. Nhưng xét như Đấng đã từ cõi chết sống lại nhờ Thánh Thần, Người đã được đặt làm Con Thiên Chúa, với tất cả quyền năng” (Rm 1,2-4).

Người ta thường nói rằng bản văn này đi theo một lược đồ nhị phân, trình bày vận mệnh của Đức Kitô thành hai thời kỳ, hai giai đoạn: Đức Giêsu ở trần gian hoặc theo xác thịt; và Đức Giêsu được tôn vinh hoặc theo Thánh Thần. Nhưng, thực ra, nhìn kỹ lại, chúng ta thấy bản văn được viết theo một lược đồ tam phân: trình bày sự hiện hữu của Đức Kitô trong ba thì. Cùng một Đức Kitô được chiêm ngắm trước tiên như  “đã được hứa”, sau đó là “được sinh ra”, cuối cùng là “được tôn lên” (nhờ Chúa Thánh Thần được đặt làm Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng).

Để đi thẳng vào trọng tâm của bản văn, chúng ta có phải đặt ra câu hỏi: bản văn nói gì với chúng ta về Đức Giêsu chăng? Bản văn quả quyết rằng Đức Giêsu Kitô hoàn toàn đi sâu vào Lịch sử cứu độ; Ngài chiếm lĩnh tất cả chứ không chỉ một phần. Trước hết, trong Cựu Ước, Ngài hiện diện như Đấng được hứa; sau đó, khi thời gian tới hồi viên mãn, như Đấng đã đến; cuối cùng, trong thời kỳ của Giáo Hội, như Đấng được tin. Mọi sự thuộc về Ngài. Thực sự thuộc về Ngài là thời gian và Lịch sử, “thời gian và muôn thế hệ” như những lời đi kèm với cử chỉ làm phép nến Phục Sinh nói lên điều đó.[39]

Coi chính Cựu Ước như một thời của Đức Kitô là một dữ kiện không cần bàn cãi và thường thấy nơi tất cả các tác giả Tân Ước. Chính là “Thần Khí Đức Kitô” (1Pr 1,11), Đấng đã nói qua miệng các tiên tri; Abraham “đã thấy ngày của Ngài”, Môsê đã chiêm ngắm vinh quang của Ngài; chính Đức Giêsu đã nói là Kinh Thánh “nói về tôi”.

Theo một nghĩa nào đó, “lời hứa của Phúc Âm” đã là Phúc Âm, dù vẫn còn bị pha lẫn “bóng tối và hình ảnh”. Các Giáo Phụ cho biết Lề Luật “chứa đầy Đức Kitô”. Đó là lý do tại sao chúng ta không thể bỏ qua Cựu Ước, ngay cả sau khi có Phúc Âm; điều đó giống như loại bỏ khỏi cuộc sống một người đã qua chín tháng trong dạ mẹ. Chắc hẳn những tháng đó không được tính vào số năm của một người cho biết tuổi của mình, nhưng ai dám cho rằng những tháng đó không thuộc về chính cuộc đời của người đó, hoặc cho rằng chúng không quan trọng?

Chính ở điểm này mà người ta biện minh cho việc đọc Cựu Ước theo kiểu mẫu song đối (typologique), do chính Đức Kitô khởi sự, được các tông đồ làm theo, và sau đó luôn được Giáo Hội thực hành. Nói rằng Cựu Ước là “kiểu mẫu”, “hình bóng” không có nghĩa làm giảm giá trị hoặc nghi ngờ giá trị của nó; trái lại, chính là đề cao nó. Người ta không xóa bỏ thực tại của nó, uy tín Lịch sử của nó – như người ta có thể sợ như vậy – bởi vì khi bảo vệ chiều kích đầy đủ của thực tại Lịch sử trong các biến cố của Cựu Ước, người ta thêm vào một giá trị tiên tri. Có thể áp dụng cho Cựu Ước điều mà một chân ngôn (axiome) cổ đại đã nói về Ngôi Lời nhập thể: “Ngài trở thành điều Ngài đã không là, Ngài không đánh mất điều Ngài vốn là.” Khi nói về ngọn lửa tượng trưng cho Chúa Thánh Thần, người ta không mảy may tước đi vẻ huy hoàng của nó, nhưng mang lại cho nó một sự cao quý mới.

Dưới ánh sáng này, còn xuất hiện một sự thật quan trọng khác: trước mắt người Kitô hữu, người Do Thái hoàn toàn không bị tước mất Đức Kitô, vì họ sở hữu và nắm giữ Kinh Thánh. Đức Kitô, “được hứa trong Kinh Thánh”, tạo thành mối dây liên kết chúng ta với dân Do Thái một cách khách quan; mối dây không được nói đến nhiều, nhưng lại là mối dây sâu xa nhất. Đức Giêsu đi với họ như đã làm với hai môn đệ Emmau trước khi họ nhận ra Ngài. Ngài là viên đá góc nối hai cạnh của tòa nhà, tức là hai Giao Ước.

Về mặt này, đức tin của các Giáo Phụ can đảm hơn nhiều so với đức tin của chúng ta. Irênê chẳng hạn, đã viết:

“Trong Kinh Thánh của Môsê, Con Thiên Chúa được gieo rắc khắp nơi (…). Vậy nếu ai đọc Kinh Thánh theo cách này, người đó sẽ thấy có một lời liên quan đến Đức Kitô và một sự tiên trưng về ơn gọi mới.”[40]

Cao cả thay hình bóng Đức Kitô đã ở trong tâm trí Phaolô! Bản văn thư Rôma này chứa đựng tất cả những gì Oscar Cullmann đã làm sáng tỏ trong cuốn sách Đức Kitô và thời gian (Christ et le temps) của ông. Đức Kitô không chỉ chiếm một phần Lịch sử và thời gian – thậm chí “trung tâm thời gian” – Ngài đi sâu vào tất cả Lịch sử, Ngài giống như xương sống của nó. Nếu không có Ngài, thời gian sẽ “không có xương sống”. Chính Ngài cứu chuộc quá khứ bất nhất và tương lai viễn vông. Quá khứ như vậy không còn nữa, nhưng Đức Kitô, Đấng lấp đầy nó, thì vẫn sống; tương lai chưa đến, nhưng Đức Kitô, Đấng sẽ lấp đầy tương lai, thì đã hiện hữu.

2. “Vốn dĩ là Thiên Chúa…”

Bây giờ chúng ta hãy xem bản văn Kitô học thứ hai thêm điều gì vào hình ảnh này của Đức Kitô vốn đã có những chiều kích rất phong phú. Người ta thấy điều đó trong Thư gửi tín hữu Philipphê

“Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.

Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người, và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giêsu Kitô là Chúa” (2,5-11).

Bản văn này, xuất hiện sau bản văn trước, cho phép chúng ta thấy Đức Kitô “lớn lên” như thế nào trong sự hiểu biết của Phaolô, và làm thế nào chính đức tin của thánh Tông Đồ dần dần trở nên sâu sắc và táo bạo hơn.

Ở đây Đức Kitô không còn bị giới hạn và như thể bị nhốt trong Lịch sử, Ngài vượt qua nó. Ngài đến trước thời gian và vượt thời gian. Cái đích ở đây không còn là: Cựu Ước – thời của Đức Giêsu – thời của Giáo Hội; nhưng là “thế giới thần linh và thế giới con người”, “vĩnh cửu và thời gian”, được hiểu một cách cụ thể như các giai đoạn hiện hữu, chứ không phải một cách trừu tượng, như các phạm trù siêu hình.

Tất cả điều này được làm sáng tỏ nhờ nhắc tới ba “thân phận” mà Đức Kitô đã mặc lấy: thân phận của Thiên Chúa, thân phận của người tôi tớ, thân phận của Chúa. Đức Giêsu Kitô không chỉ tập hợp nơi con người của Ngài ba thì của Lịch sử, mà còn cả thời gian và vĩnh cửu. Qua kénose (sự tự hủy) của việc Ngài nhập thể, vĩnh cửu đi vào thời gian, trong khi nhờ sự phục sinh vinh hiển, thời gian đi vào vĩnh cửu. Đây chính là điều mà người ta có thể cùng với Kierkegaard gọi là “nghịch lý của Đức Kitô”[41].

Ngầm chứa trong bản văn thư Rôma là một nhãn quan lịch đại (diachronique), tức là đi từ thời kỳ này sang thời kỳ khác, diễn ra theo thời gian (trong âm nhạc, âm giai lịch đại cho phép chúng ta lần lượt nghe các nốt nhạc); ngầm chứa trong bản văn thư Philípphê là một nhãn quan có thể nói là siêu đại (métachronique), nghĩa là vượt ra ngoài giới hạn thời gian.

Biết rõ như vậy, bản văn thứ hai này mang lại cho chúng ta điều gì mới mẻ về mặt thần học? Một dữ kiện mang tính quyết định. Bản văn xác định rõ với chúng ta rằng ơn cứu độ từ Thiên Chúa mà đến và ở nơi Thiên Chúa, nghĩa là rất mực an toàn. Như vậy giải quyết được vấn đề xem liệu ơn cứu độ Kitô giáo là một quà tặng hay một cuộc chinh phục, liệu con người tự cứu mình, hay chính Thiên Chúa cứu họ. Nếu Đấng Cứu Độ đến từ đất, thì không còn cách nào cứu giúp nữa; vì ơn cứu độ cũng từ đất mà đến. Nhưng “điều từ đất thì thuộc về đất” (x. Ga 3,31). Nếu thế, người ta rơi vào huyền thoại lớn của phái ngộ đạo về “Đấng cứu chuộc được cứu chuộc”, về Đấng cứu thế, Đấng trước tiên cần chính mình được cứu, để có thể mang lại ơn cứu độ cho người khác.

Đó là một sự thật cần làm sáng tỏ: năm 2000 không kỷ niệm sự khởi đầu tuyệt đối của Đức Giêsu Kitô. Cuộc đản sinh của Ngài trong thế giới chúng ta không được coi như tất cả những cuộc đản sinh khác; nó chỉ khởi đầu cho sự tỏ hiện của Ngài trong xác thịt, chứ không phải khởi đầu của hữu thể Ngài.

3. Đức Kitô vũ trụ

Trong Thư Côlôssê (1,15-20), chúng ta thấy bài thánh thi Kitô học tuyệt vời thứ ba:

“Thánh Tử là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo, vì trong Người, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho người.

“Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người. Người cũng là đầu của  thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh. Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Người đứng hàng đầu.

“Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải nơi mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời”.

Bản văn này phản ánh sự “am hiểu mầu nhiệm Đức Kitô” (Ep 3,4) mà Phaolô có được vào lúc cuối đời. Trước khi khai triển một vài suy nghĩ về chủ đề này, tôi muốn đưa ra một nhận xét. Ba bài “thánh thi” mà tôi vừa nhắc đến được một số lớn các nhà chú giải coi là “tiền-Phaolô”: tức là những bản văn mà thánh Tông Đồ hẳn đã tìm thấy – có lẽ trong phụng vụ Giáo Hội – và được đưa vào trong các thư của ngài.

Chắc chắn trong mọi trường hợp, tính chất linh ứng của những văn bản này không bị nghi ngờ; nhưng giờ đây tôi phải tỏ ra hoài nghi, một sự hoài nghi luôn gia tăng trong tôi.

Trong corpus (tổng tập) Phaolô, hàng chục bản văn được các nhà chú giải này khác coi là có tính phụng vụ, rửa tội, ngộ đạo; dù sao, thì cũng là tiền- Phaolô. Chỉ một chút thôi là đủ khiến người ta phủ nhận Phaolô là tác giả những bản văn ấy: đôi chỗ không ăn nhập tối thiểu với phần còn lại, một sự khác biệt thực hay giả trong văn thể. Khởi đi từ một trường hợp đầu tiên (bài thánh thi trong thư Philípphê), giả thuyết đã lan truyền rộng rãi, và người ta có cảm tưởng rằng, sau lời quả quyết của một nhà chú giải, tất cả đều tin việc chứng minh đã được thực hiện, trong khi không một ai đưa ra những lập luận vững chắc; và nếu chúng được đưa ra, chúng có vẻ mong manh làm người ta chưng hửng.

Tôi muốn chỉ ra rằng những đóng góp nhất định trong lãnh vực này cần phải thận trọng hơn. Người ta đã phóng đại tính chất thánh thi của những đoạn văn này; trong một số trường hợp, nó chỉ phụ thuộc vào thói quen chung chung là in chúng thụt vào trong trang sách. Hầu hết chúng đều có thể đọc như một bản văn xuôi do một nhà văn tiếng hipri sáng tác với mức độ quen thuộc tối thiểu với kỹ thuật viết song song. Hơn nữa, cho  dù chúng thực sự là những bài thánh thi, ai có thể quả quyết tất cả mọi người – trừ Phaolô và Gioan ra – đều có thể sáng tác chúng? Ngoài ra, chúng ta đang đứng trước những tổng hợp mạnh mẽ, những bản văn thuộc vào số sâu sắc nhất, được linh ứng nhất của Tân Ước, lúc đó chúng ta tự hỏi: những thiên tài này đã hoạt động nơi cộng đồng trong vòng chưa đầy hai mươi năm, họ là ai? Họ đã trở nên như thế nào? Có thể họ không để lại một dấu vết nào khác chăng? Qua Didachè và các tác phẩm khác của cộng đồng đầu tiên, ngày nay chúng ta biết một số đoạn trích từ các bản văn phụng vụ, nhưng người ta không tìm thấy dấu vết nào của những bản văn Kitô học được cho là cộng đồng đã sử dụng. Hơn nữa, những gì chúng ta tìm thấy trong số các bản văn này, chẳng hạn như bản văn về “vườn nho thánh của Đavit”, có phẩm chất kém hơn nhiều so với các bài thánh thi Kitô học của chúng ta, khi phản ánh tình trạng phát triển hơn về đức tin.[42]

Quả quyết các bài thánh thi Kitô học của Tân Ước là những bản văn đã có từ trước, thì theo tôi, việc ấy đã trở thành một mốt đang lan rộng mà không có tinh thần phê phán. Mọi thứ đều dựa trên tiêu chuẩn nội tại, chủ quan. Cần lưu ý rằng không một tác giả nào tiếp nối một tác giả khác để xác định xem những yếu tố nào của bản văn tùy thuộc vào Phaolô và những yếu tố nào do chính Phaolô thêm vào. Làm sao có thể tưởng tượng được rằng một người như ngài lại có thể đưa vào trong những tác phẩm của mình, để tạo sức nặng cho chúng, những đoạn văn y nguyên – từng được các độc giả của mình biết đến – mà không nhắc đến việc đó, dù rất ít đi nữa, và không đưa ra lời biện minh về việc đó? Trong thư Êphêsô 5,14, nơi ngài thực sự trích dẫn một bài thánh thi đã có từ trước, ngài giới thiệu nó bằng công thức: “Bởi vậy có lời chép rằng.” Theo tôi, chúng ta gặp ít khó khăn hơn nhiều nếu chúng ta duy trì ý kiến cho rằng Phaolô đích thực là tác giả  những bản văn này.

Giờ đây, chúng ta hãy trở lại với bản văn Côlôssê: Nó có thêm điều gì mới mẻ vào những gì Phaolô đã quả quyết về Đức Kitô chăng? Ở đây, nhãn quan của ngài không mang tính Lịch sử cho bằng mang tính vũ trụ và hữu thể học. Đức Kitô không được trình bày dựa trên Lịch sử cứu độ, theo lược đồ “thời gian – vĩnh cửu”, nhưng trên thực tại vũ trụ. Nếu trong thư Rôma, nhãn quan đó là lịch đại (diachronique), và trong thư Philipphê là siêu đại (métachronique), thì ở đây nó là đồng đại (synchronique). Đức Kitô được coi là đồng thời trong tương quan ba chiều của Ngài: với Thiên Chúa, với vũ trụ và với nhân loại, (Trong âm nhạc, thang âm đồng bộ cho phép bạn có thể nghe tất cả các nốt cơ bản một trật, trong một hợp âm.)

Trong tương quan với Thiên Chúa, Đức Kitô là “hình ảnh” của Người và “trưởng tử” của Người; trong tương quan với vũ trụ, Ngài là Đấng mà “trong Ngài, tất cả được tạo dựng nhờ Ngài và cho Ngài”; cuối cùng, Ngài là “đầu” của nhân loại và của Giáo Hội, là Đấng đã hòa giải muôn loài với Thiên Chúa. Nói tắt, đó không chỉ là Lịch sử, mà là toàn bộ thực tại thuộc về Ngài và phục tùng Ngài.

Một vài yếu tố của Kitô học trong thư Êphêsô bổ túc cho nhãn quan này; thực ra, đọc trong thư đó người ta thấy cả dân Do Thái lẫn dân ngoại, giữa lòng nhân loại và Giáo Hội, đều thuộc về Đức Kitô, vì Ngài đã làm cho cả hai thành một dân duy nhất, chính xác là Giáo Hội (x. Ep 2,14-18). Phaolô thậm chí còn coi khía cạnh cuối cùng này như là sứ điệp đặc biệt được giao phó cho ngài, là “mầu nhiệm ẩn giấu” giờ đây được mạc khải: “các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa, trong Đức Giêsu Kitô” (Ep 3,5-6).

Chính như vậy mà chúng ta khám phá ra được sự lan rộng tới mức tối đa của đường chân trời, chung quanh Đức Giêsu Kitô. Thật ra, Thiên Chúa đã đặt “mọi sự” dưới chân Ngài. Không được phép làm cho bất cứ điều gì hay người nào – càng không được phép làm cho dân ngoại – thoát khỏi quyền làm chúa của Ngài mà không đồng thời không cho họ được dự phần ơn cứu độ.

Đôi khi người ta tự hỏi phải nghĩ gì khi đối mặt với giả thuyết – ngày càng nhấn mạnh trong các môi trường khoa học – về sự tồn tại của những sinh vật thông minh ở những nơi khác trong vũ trụ. Nếu chúng ta có bằng chứng về sự tồn tại đó, phải chăng điều đó hẳn buộc chúng ta thay đổi cách trình bầy phổ quát như thế về Đức Kitô, như Phaolô đề nghị? Đây là xác tín sâu xa của tôi về vấn đề này. Không, tuyệt đối không: yếu tố mới này sẽ không mảy may thay đổi bản chất đức tin của chúng ta. Khi đó, vấn đề sẽ chỉ đơn giản là rút ra những hậu quả của đức tin chúng ta vào Đức Kitô, như của Lịch sử. Trước khi biết Đức Kitô, có phải những cư dân châu Mỹ, về vấn đề này, đã ở trong một tình huống cơ bản không giống với những cư dân giả định của các hành tinh khác chăng? Nếu như trong vũ trụ, có những sinh vật thông minh khác, những con người khác, hoặc những người này đã biết Đấng Cứu Thế, có lẽ mang những tên khác, hoặc họ đang chờ mong được biết Ngài, thì khi đó phải mạc khải Ngài cho họ. Ite in mundum universum: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ” (Mc 16,15), lệnh truyền là như thế.

Tôi không thể suy nghĩ về đức tin đã thúc đẩy Phaolô mà không cảm thấy xúc động sâu sắc và ngưỡng mộ. Để giúp cho một bài giảng được chắc chắn, một ngày kia tôi đã tới Athêna. Đó là lần đầu tiên tôi đặt chân lên đất Hy Lạp. Tôi muốn bắt đầu tiên vàn tới Arêôpagô, ở đó tôi đọc lại trình thuật của sách Công vụ, được khắc trên tấm bảng bằng đồng gắn vào một hòn đá. Một sự việc tác động mạnh đến tôi. Ít lâu sau khi các bậc trí giả ngoại giáo từ chối Phúc Âm ở Athêna, thì từ Corintô, Phaolô viết thư gửi giáo đoàn Rôma và, trong lời mở đầu, ngài âm thầm quả quyết đã nhận được “đặc ân và chức vụ Tông đồ, để đưa hết thảy dân ngoại đến chỗ vâng phục của đức tin” (Rm 1,5). Ngài viết: vâng phục của đức tin, và thêm: hết thảy dân ngoại! Sự thất bại đã không làm hư hại chút nào sự chắc chắn của ngài, vì từ bây giờ ngài biết Đức Giêsu thực sự là “ai”. Chính xác đó là quan niệm của ngài về Đức Kitô, hoặc đúng hơn, quan niệm mà Chúa Cha, Đấng là nguồn mạch cho sự bảo đảm bền vững này, đã mạc khải cho ngài. Khi ấy tôi tự nhủ: Ôi, ước gì chúng ta có được một chút đức tin này của Phaolô! Không có gì sẽ làm chúng ta sợ, ngay cả khi thế giới còn nhiều nơi cần được rao giảng Phúc Âm, hoặc ngay cả đôi khi họ từ chối đón nhận Phúc Âm với thái độ coi thường, như những người ở Arêôpagô. Chúng ta thực sự hẳn sẽ có những điều kiện để, một lần nữa, thực hiện công cuộc Phúc Âm hóa. Nhưng để làm công việc này, Đức Kitô phải sống trong ta bằng đức tin, theo tất cả các chiều kích của Ngài, như Phaolô trình bầy cho chúng ta.

Cũng trong thời gian ở lại đây, tôi đã đi từ Athêna đến Corintô, và ở đó, ngay tại nơi mà người Do Thái kiện Phaolô trước tòa của thống đốc Galion (Cv 18,12tt), tôi đã có cùng một cảm giác. Ở agora, vị Tông Đồ đã tiếp cận dân chúng và nhận các môn đệ đầu tiên. Vào lúc đó, sứ mệnh lớn lao đem Phúc Âm đến cho tất cả các dân ngoại chưa hoàn toàn được thực hiện. Phải chăng sứ mệnh ấy dường như quá lớn và không thể thực hiện được đối với ngài? Nhưng Phaolô nói: “Tôi biết tôi đã tin vào ai” (2Tm 1,12) và hai nghìn năm đã chứng minh cho đức tin táo bạo của ngài là có lý. Đó là một kích thích phi thường giúp đặt cược mọi sự, cả chúng ta nữa, thực sự đặt cược mọi sự vào Đức Giêsu, trên bình diện tu đức cũng như trí thức, khi xác tín rằng không gì hoặc không ai trên thế giới tồn tại “ở trên” Đức Kitô.

4. Con đường đức tin

Như tôi đã nói, Phaolô mở ra cho chúng ta một trong hai đường lối loại bậc thầy để tiếp cận mầu nhiệm Đức Kitô. Chúng ta hãy tóm lược các dữ kiện chính, các dữ kiện sẽ làm cho con đường này trở thành một kiểu mẫu và một nguyên mẫu Kitô học trong sự phát triển của tư tưởng Kitô giáo.

Con đường này

– khởi từ nhân tính để đi đến thần tính của Đức Kitô, từ Lịch sử để đi đến sự tiền hữu. Do đó, đây là một con đường đi lên; theo trật tự theo đó Đức Kitô đã tỏ mình ra, trật tự theo đó con người học cách nhận biết Ngài, chứ không phải trật tự hữu thể. (Ngay cả trong thư Côlôssê, chủ thể được coi là “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” chính là Đức Kitô của Lịch sử, Đấng Cứu Chuộc!);

– từ tính nhị nguyên của Đức Kitô (xác thịt và Thần trí) để đi đến tính nhất nguyên của chủ thể “Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta”;

– con đường này có trung tâm là mầu nhiệm vượt qua, tức là công trình, ngay cả trước con người Đức Kitô. Giữa hai thời điểm hiện hữu của Đức Kitô, bản lề vĩ đại là sự sống lại của Đức Kitô từ trong kẻ chết.

Nếu muốn cho thấy rằng đó không phải là một cuộc tái thiết cá nhân và hiện đại, chúng ta chỉ cần nhìn sơ qua thời kỳ sau Phaolô, và xem những khía cạnh này đã được các thế hệ sau thời tông đồ giữ lại và phát huy như thế nào. Xác thịt và Thần trí: hai giai đoạn trong cuộc đời của Đức Kitô (trước và sau khi sống lại) kết thúc bằng cách chỉ ra, như thánh Ignatiô Antiôkia đã làm, hai cuộc đản sinh của Đức Giêsu, “từ Đức Maria và từ Thiên Chúa”, rồi đến hai bản tính của Đức Kitô:

“Ở đây thánh Tông Đồ dạy về hai bản tính của Đức Kitô. Bằng những lời “sinh ra từ dòng dõi Đa-vít theo xác thịt”, ngài nhắm tới nhân tính; và bằng những lời “được đặt làm Con Thiên Chúa theo Thần Khí”, ngài nhắm tới thần tính.”[43]

Như vậy, một con đường được mở ra, một con đường mà sau này đóng một vai trò quyết định trong việc đào sâu mầu nhiệm Đức Kitô. Nhưng con đường này là để sống hơn là nghiên cứu; đó là điều tôi muốn làm lúc này đây, hoặc ít là rất muốn làm như thế. Đâu là câu trả lời quan trọng nhất mà con người phải đưa ra, quyết định phải thực hiện, trước Đức Kitô như thánh Tông Đồ “bày ra” trước mắt chúng ta (x. Gl 3,1)? Câu trả lời là: tin! Con đường của Phaolô, chúng ta có thể gọi là “con đường đức tin”.

Trên hết là tin vào công trình của Đức Kitô, vào biến cố cứu độ của sự chết và sự sống lại của Ngài. Mầu nhiệm vượt qua là trung tâm của mọi sự. Theo nhãn quan của Phaolô, người ta được cứu độ bằng cách tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Ngài sống lại từ trong kẻ chết (x. Rm 10,9), nói cách khác, bằng cách đón nhận mầu nhiệm vượt qua. Thánh Tông Đồ kêu lên: “Vấn đề là biết Đức Kitô”, nghĩa là “biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người” (Pl 3,10). Mọi sự luôn đưa chúng ta trở lại mầu nhiệm vượt qua.

Đức tin này cho phép chúng ta đi vào phạm vi hoạt động của Đức Kitô, không chỉ theo cách trí thức, nhưng còn theo cách thần bí, để trở thành “một tạo vật mới”, và bắt đầu sống “trong Đức Kitô” (1Cr 1,30). Tất cả những điều này được thực hiện “trong Chúa Thánh Thần”. Chính nhờ Chúa Thánh Thần mà chúng ta có đức tin; và chính nhờ đức tin mà chúng ta có Chúa Thánh Thần (x. Gl 3,2; 5,5).

5. Quên đi quá khứ

Sau thời kỳ sáng tạo thực sự của thần học của các Giáo Phụ, các lược đồ Kitô học có xu hướng xa rời thực tại, khi chúng được coi như các công thức kỹ thuật, thường là để chống lại các công thức khác, mà không có nhiều liên quan cá nhân. Đây là mối nguy của chủ nghĩa hình thức. Nơi thánh Phaolô, điều này rõ ràng không phải như vậy. Đối với ngài, đây là diễn tả một kinh nghiệm sống. “Lược đồ” Kitô học của ngài có một tâm hồn. Để xác tín về điều này, chúng ta hãy đọc lại đoạn văn mang tính tự thuật nhất trong các tác phẩm của ngài: đoạn Ph 3,5-14.

Bằng tất cả những gì nó gợi ra, bản văn này có thể được coi là có giá trị “Kitô học”. Nó bổ sung những gì mà ba bài thánh thi đã nghiên cứu mang lại, đưa ra ánh sáng không phải những gì Đức Kitô “tự thân” là, liên quan tới Thiên Chúa, tới thời gian, tới thế giới, tới nhân loại nói chung, nhưng những gì Ngài là “cho tôi”, cho mỗi người tín hữu. Đó chính là linh hồn mang lại sự sống cho con đường của Phaolô, nơi diễn ra cuộc gặp gỡ thần bí giữa Đức Kitô và người tín hữu. Con đường của Phaolô không chỉ là một con đường khách quan, mà còn là con đường chủ quan; không chỉ là con đường thần học, mà còn là con đường hiện sinh.

Cuộc gặp gỡ Đức Kitô đã thiết lập một thời gian trước và một thời gian sau trong cuộc đời của Phaolô; nó đã thay đổi ý nghĩa và giá trị của tất cả mọi sự. Những gì đã từng là động cơ tự hào và bảo đảm (thuộc về dân tuyển chọn, và hơn nữa thuộc vào nhóm nhiệt thành nhất, tức nhóm Pharisiêu; không chê trách được trong việc tuân giữ Lề Luật), tất cả những điều đó, đột nhiên, “vì Đức Giêsu Kitô Chúa của tôi”, ngài đành mất hết, coi mọi sự như rác. Ngài không nói Chúa “của chúng ta”, nhưng nói Chúa “của tôi”, một mối quan hệ cá nhân giữa ngài và Đức Giêsu đã được thiết lập. Đối với ngài, biết Đức Giêsu, là “sự biết tối thượng”, cao quý nhất, cần thiết nhất, hạnh phúc nhất có thể có. “Chính tôi đã được Đức Giêsu Kitô chiếm đoạt”; điều đó giải thích mọi sự.

Hơn nữa, bản văn này dạy chúng ta rằng tương quan với Đức Kitô không phải là một tương quan tĩnh, được thiết lập một lần vĩnh viễn, lúc ngài hoán cải. Đó là một tương quan không ngừng đổi mới và trẻ hóa  mọi sự. “Quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước…” Chặng đường nào đã qua? Phải chăng là chặng đường của người Pharisêu vừa nói đến? Không phải! Đó là chặng đường tông đồ vụ của ngài trong Giáo Hội! Cái lợi mà ngài coi như một sự mất mát giờ đây đã khác: chính là một ngày nào đó đã coi tất cả như một sự mất mát vì Đức Kitô. Đương nhiên người ta có thể tự nhủ: “người gì mà kỳ vậy, thật can đảm! dám bỏ nghề giáo sĩ Do Thái rất thành công bước đầu để dấn thân vào một giáo phái ít được biết đến của những người Galilê! Và ông ta còn viết bao nhiêu thư từ! Thực hiện bao nhiêu cuộc hành trình! Thiết lập bao nhiêu giáo đoàn nữa chứ!”

Thánh Tông Đồ đã lờ mờ cảm nhận được mối nguy hiểm chết người ở chỗ tái lập giữa mình và Đức Kitô một sự “công chính cá nhân”, kết quả của những công việc mình làm (những việc làm lần này là vì Đức Kitô), và ngài đã phản ứng rất mạnh mẽ. “Không phải tôi đã có tất cả những thứ đó hay là tôi đã trở nên hoàn hảo.” Trong một tình huống tương tự, thánh Phanxicô Assisi đã cắt đứt mọi cám dỗ tự mãn khi nói: “Này anh em, chúng ta hãy bắt đầu phụng sự Chúa là Thiên Chúa, vì hầu như chúng ta đã không đạt được tiến bộ nào cho đến lúc này!”[44]

Đó là một tiếng vang của việc giảng dạy Phúc Âm. Vì Đức Kitô, các Tông Đồ đã bỏ mọi sự; rồi dần dần,  đồng hành với Ngài, mỗi người đã tự cấp cho mình một gia sản nhỏ bé, lần này được tạo ra bằng một số danh nghĩa công trạng: người này có thể tự hào là người đầu tiên đi theo Ngài; người kia đã được giao phó túi tiền chung, người khác nữa đã nhận được lời hứa đứng đầu anh em. Một hôm, khi họ đang tranh luận xem ai sẽ là người lớn nhất trong số họ trên Nước Trời, Đức Giêsu đã gọi họ lại và nói: “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18,3). Trước khi bận tâm xem ai sẽ là kẻ lớn nhất, trước hết phải lo đến nguy cơ thậm chí không vào được Nước Trời!

Đây chính là “lần hoán cải thứ hai”, của người đã đi theo Đức Kitô, đã dành cả cuộc đời phục vụ Giáo Hội. Một sự hoán cải rất đặc biệt, không ở chỗ quay lưng lại với điều xấu, nhưng, theo một nghĩa nào đó, là không màng tới điều tốt, nghĩa là làm cho bản thân được tự do trước tất cả những gì mình đã làm, lặp lại cho mình những lời của Đức Kitô: “Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng. Chúng tôi đã chỉ làm những việc bổn phận đấy thôi” (Lc 17,10).

Như vậy, Đức Kitô đã dành cho Phaolô đến cuối đời sức mạnh tinh thần giúp tâm trí ngài luôn trẻ trung và tỉnh táo, khiến cho ngài có thể tạo ra những đà tiến luôn mới và những khởi đầu mới mẻ: “Quên đi chặng đường đã qua để lao mình về phía trước.” Dù tuổi đã cao, sau bao nhiêu trải nghiệm, mệt mỏi, gặp cảnh đối nghịch, Phaolô vẫn luôn giữ được khả năng bùng cháy cho Đức Kitô. Và chúng ta gần như muốn nói với ngài: “Cảm ơn Phaolô, người anh em của chúng tôi. Chính như vậy mà anh làm nẩy sinh nơi chúng tôi mong muốn một lần nữa chọn Đức Giêsu làm Chúa của đời sống chúng tôi, một lần nữa bỏ rơi tất cả những gì muốn giữ chúng tôi lại, làm chúng tôi sa lầy, để bắt đầu một cuộc phiêu lưu mới với Đức Kitô. Anh truyền đạt cho chúng tôi mong muốn được cùng với anh kêu lên: “Đối với tôi, sống là Đức Kitô”.

Phần trước Phần tiếp