IV. “LÚC KHỞI ĐẦU ĐÃ CÓ NGÔI LỜI”

Trên núi Tabor đồng hành với Gioan

Các tuyến đường trên núi dẫn đến một số đỉnh cao, như Cervin hoặc Everest, mỗi tuyến đều được đặt theo tên của người leo núi đã mở đường đó đầu tiên. Tương tự như vậy đối với những con đường dẫn chúng ta lên Tabor thiêng liêng, đến đỉnh núi, nơi chúng ta chiêm ngắm Đức Kitô. Chúng cũng có một cái tên; sau khi đã nói về “con đường của Phaolô”, tôi muốn gợi lên “con đường của Gioan”. Lần lượt đi theo những con đường này cho phép chúng ta xem làm thế nào, ngay cả ngày hôm nay, có thể đến được với Đức Kitô, khởi đi từ những quan điểm khác nhau, sử dụng ngôn ngữ và nền tảng văn hóa riêng biệt, trong khi tất nhiên vẫn ở trong luồng của toàn bộ Kinh Thánh và Truyền Thống. “Không thể đạt tới một mầu nhiệm lớn lao như vậy mà chỉ đi theo một con đường duy nhất” người xưa nói thế về vấn đề Thiên Chúa[45]. Điều này cũng áp dụng cho Đức Kitô.

1. Lời Tựa

Gioan cũng đã tóm tắt tất cả nhãn quan của mình về mầu nhiệm Đức Kitô trong một loại thánh thi. Đó là Lời Tựa. Lời Tựa được trình bày theo kiểu một khúc dạo đầu, như trong một số tác phẩm trữ tình: người ta thấy có những “chủ đề”, những “mô típ”, những “arie” được báo trước, là những gì mà phần còn lại của tác phẩm sẽ khai triển sau đó. Nó không chỉ là lời tựa, mà còn là lời bạt: người ta có thể đọc nó như phần mở đầu hoặc như phần kết thúc của toàn bộ Phúc Âm Gioan.

Người ta cho rằng bài thánh thi này đã có trước tác giả Phúc Âm thứ tư, là người có lẽ đã đón nhận và thích nghi nó. Điều này không thay đổi chút nào mục tiêu của chúng ta. “Khi Giáo Hội công bố và đón nhận Phúc Âm thứ tư, thì Lời Tựa đã cùng với Phúc Âm này tạo thành một tổng thể không thể phá vỡ; chính như thế mà đến lượt chúng ta, chúng ta phải xem xét nó.”[46]

Nói thế nhưng tôi nghĩ rằng phải lặp lại ở đây những gì chúng ta đã quan sát được về Phaolô. Vậy thiên tài ấy ở đâu, thiên tài sáng tác một bài thánh thi như thế? Có lẽ nào chúng ta không có dấu vết của cả ông nữa trong văn học hay trong Lịch sử sao? Phải chăng người ta có thể nghĩ rằng tác giả sách Phúc Âm, vốn không phải con vẹt, lại đặt ở đầu sách Phúc Âm của mình một đoạn văn rất dài, mà các độc giả – hoặc dù sao cũng có nhiều người trong số họ – có thể biết, mà không có ám chỉ nào về nó? Hơn nữa, như tôi vừa nói, nếu Lời Tựa dường như là một loại tóm lược và là khúc dạo đầu cho tất cả Phúc Âm, thì hẳn phải kết luận: hoặc thánh sử đã quan niệm sách của mình như một cách khai triển và bình luận một bài thánh thi đã có trước và xa lạ với đức tin Kitô giáo (giả thuyết rất phi thực tế), hoặc tác giả của bài thánh thi đã biết sách Phúc Âm và muốn tóm lược nó.

Sự kiện chúng ta chỉ gặp tước hiệu Logos trong Lời Tựa, tự nó không phải là một vấn đề thực sự; hoặc nếu có vấn đề, thì vấn đề được đặt ra hoặc trong trường hợp Gioan đã sáng tác bài thánh thi, hoặc trong trường hợp ngược lại. Trong cả sách Phúc Âm của mình, tác giả lấy lại cách rộng rãi những tước hiệu sự sống và ánh sáng được cho là thuộc về bài thánh thi trước đó: trong trường hợp này, điều gì ngăn cản ngài lấy lại tước hiệu Logos, nếu ngài muốn? Việc người ta chỉ tìm thấy Logos ở trong Lời Tựa không có nghĩa Gioan không phải là tác giả; nếu không, hẳn cũng phải khẳng định rằng các chương 14-16 của Phúc Âm thứ tư không do ngài viết, vì chỉ trong đó người ta mới bắt gặp tước hiệu Paraclet.

Khởi đi từ đó, con đường mở ra dành cho những vận dụng tùy tiện và không kiểm soát nổi đối với các bản văn. Bằng chứng là: không tác giả nào đồng ý với tác giả nào để xác định đâu là những yếu tố đã có từ trước, và đâu là những yếu tố do Gioan thêm vào. Lời Tựa sẽ là một tạp phẩm, nơi mà tất cả những chỗ có đề cập Gioan Tẩy Giả, được xếp đặt đây đó, chính xác là những mảnh ghép được tác giả Phúc Âm chắp vá. Kinh nghiệm cho chúng ta thấy: xử lý các bản văn cũ theo cách này chính là đi trên một con đường mà cuối cùng người ta sẽ mất hết khả năng kiểm soát và chìm nghỉm vào một mớ giả thuyết rối rắm.

Bên cạnh những nhận xét ngữ văn này, chúng ta hãy tự hỏi xem một bản văn như bản văn này, nơi mà từ đầu đến cuối, người ta thấy có một sự run rẩy do đã trải qua một kinh nghiệm quan trọng và đầy hứng khởi, mà chỉ cuộc gặp gỡ với một con người thực mới có thể gây ra, bản văn ấy tùy thuộc vào ai? “Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người!” Chính xác đó cũng là kinh nghiệm lộ ra ở đầu Thư thứ nhất của Gioan: “Điều vẫn có ngay từ đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi chạm đến, đó là Lời sự sống… chúng tôi cũng loan báo cho anh em.”

Không ai phủ nhận điều này: Lời Tựa đầy những hạn từ và chủ đề thịnh hành trong các môi trường tôn giáo khác nhau vào thời đó, trong thế giới Do Thái và thế giới Hy Lạp. Nhưng theo tôi, đấy là kết quả của một đề xuất rất ý thức và nhằm một mục tiêu rất cụ thể. Tác giả Phúc Âm đã chọn lựa các đề tài, biểu tượng, kỳ vọng, tất cả những gì ngài tìm thấy trong môi trường sống động nhất trên bình diện tôn giáo, để cho thấy chúng được hoàn tất trong Đức Kitô; ngài đã học được “ngôn ngữ” của người đương thời, cho phép ngài hô lên bằng tất cả sức lực của mình, chân lý duy nhất cứu rỗi, đó là Lời tuyệt vời.

Từ thời Thượng cổ, Giáo Hội đã hiểu được tầm quan trọng khác thường của bản văn này, luôn đặc biệt tôn kính nó, coi nó gần giống như một thánh tích. Thánh Augustinô[47] thuật lại với sự tán thành tư tưởng của một triết gia đương thời, người đã nói về Lời Tựa của Gioan: “Người ta phải viết nó bằng chữ vàng và trưng bày nó trong mỗi nhà thờ, ở những nơi nổi bật nhất.” Cho tới Vatican II, người ta thấy nó trên bàn thờ, được viết trên một tấm bìa cứng nhỏ, và phụng vụ đọc nó cuối mỗi thánh lễ. Giờ đây, nó được dành cho lễ Giáng Sinh, khi đó nó giống như điểm tới của tất cả Mùa Vọng, như ngọn hải đăng thắp sáng mùa Giáng Sinh. Nhưng mầu nhiệm vượt qua cũng được loan báo ở đó: “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,11).

2. Ngôi Lời, Thiên Chúa, vũ trụ và nhân loại

Từ Lời Tựa, chúng ta hãy chỉ giữ lại một vài yếu tố có thể xác định “con đường” của Gioan. Trước hết là câu đầu:

“Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời,

Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa

và Ngôi Lời là Thiên Chúa.”

Chúng ta khởi đi từ chủ đề ở đây là Ngôi Lời Thiên Chúa. Gioan đã đi đến giới hạn cuối cùng. Trong quá trình đi lên, khi đi tìm “lúc khởi đầu” của Lịch sử Đức Giêsu, người ta nhận thấy một sự tiến triển kỳ lạ. Các tác phẩm cổ xưa nhất khởi đi từ sự sống lại từ trong kẻ chết, để làm sáng tỏ Lịch sử Đức Kitô. Nơi Marcô, “khởi đầu” của Phúc Âm là biến cố Đức Giêsu chịu phép rửa ở sông Giođan (x. Mc 1,1); nơi hai tác giả nhất lãm Matthêu và Luca, Phúc âm khởi đầu bằng biến cố Đức Kitô sinh ra ở trần gian. Cuối cùng là Gioan, người thực hiện bước nhảy vọt mang tính quyết định, định vị lúc khởi đầu trước thời gian, lúc Chúa Con sinh ra từ đời đời.

Lời Tựa xem xét Logos trong tương quan với Thiên Chúa, rồi với vũ trụ và nhân loại. Ngài là Lời của Thiên Chúa, ngang hàng với Chúa Cha (“Ngôi Lời là Thiên Chúa”) và khác biệt với Chúa Cha (“Ngôi Lời hướng về Thiên Chúa”); nhờ Ngài mà vạn vật được tạo thành; Ngài là ánh sáng và sự sống của con người, đồng thời là một người trong số họ, có xác thịt như họ.

“Ngôi Lời đã trở nên người phàm

và cư ngụ giữa chúng ta.”

Đến đây, chúng ta có cảm tưởng như nghe thấy một cú ngã. Trong Cựu Ước, người ta nói về lời của Thiên Chúa “rơi xuống” (x. Is 9,7), hoặc “đậu” trên Israel (x. Za 9,1), như thể nói về cái gì đó vật chất, có một trọng lượng, một cơ thể. Ở đây, không phải về một lời nói, mà là về Lời đã rơi xuống hay đậu không chỉ trên Israel, mà còn trên toàn thế giới.

Nhưng chúng ta hãy đi xa hơn. Chúng ta đọc ở cuối Lời Tựa:

“Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Môsê, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Đức Giêsu Kitô mà có.”

Chỉ đến lúc này, lúc cuối cùng, tên của Đức Giêsu Kitô mới được xướng lên. Do đó, chủ đề mới được làm rõ, từ đây sẽ là chủ đề của tất cả phần còn lại của Phúc Âm. Khi mặc lấy xác phàm, Logos trở thành Giêsu Kitô.

Trong bài thánh thi ở thư Côlôssê, Phaolô cũng xem xét Đức Kitô trong mối quan hệ ba chiều của Ngài: với Thiên Chúa – Đấng mà Ngài là hình ảnh – với vũ trụ và với nhân loại. Vậy đâu là sự khác biệt cho phép chúng ta nói về hai con đường khác hẳn nhau? Sự khác biệt này tồn tại và quan trọng. Phaolô bắt đầu từ chính điểm mà Gioan tới, tức là từ Đức Giêsu Kitô, sinh vật Lịch sử nhờ Ngài mà chúng ta đã nhận được ơn cứu chuộc và tha thứ tội lỗi. Những người mà Lời Tựa nói đến chưa phải là “Giáo Hội”, như trong bản văn của Côlôssê.

Như vậy, trước cách của Phaolô, chúng ta có thể xác định rõ các đặc điểm của con đường thứ hai tiếp cận Đức Kitô. Con đường này:

– khởi từ thần tính để đi tới nhân tính; lược đồ do đó bị đảo ngược: không còn là “xác thịt–Thần Trí” nhưng là Logos–xác thịt “; không còn là yếu tố con người, tiên vàn là yếu tố hữu hình, sau đó là thần tính và yếu tố vô hình, nhưng là ngược lại. Gioan đứng trên quan điểm hữu thể, không phải trên quan điểm Đức Kitô tỏ mình ra cho con người, và hiển nhiên theo hữu thể, thì thần tính nơi Ngài có trước nhân tính;

– khởi từ nhất nguyên và đi tới nhị nguyên của các yếu tố: Logos và xác thịt, thần tính và nhân tính. Nói bằng ngôn ngữ hiện đại hơn, thì Gioan khởi từ ngôi vị để đi tới các bản tính;

– đường phân chia lớn, trung tâm quy chiếu tuyệt đối mà mọi sự tùy thuộc vào đó là sự nhập thể, không còn là sự phục sinh hay mầu nhiệm vượt qua nữa; hơn nữa, sự nhập thể không được hiểu như một sự tự hủy, từ bỏ chính mình, trái lại, được hiểu như một giai đoạn vinh quang mới của Ngôi Lời Thiên Chúa: “Chúng tôi đã thấy vinh quang của Người…”

Điều được giữ lại nơi Đức Kitô là con người hơn là việc làm, hữu thể hơn là hành động, kể cả mầu nhiệm vượt qua của sự chết và sống lại, là mầu nhiệm chủ yếu cho thấy Đức Giêsu là ai: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu” (Ga 8,28).

Cũng ở đây, thật tốt để nhìn lại thế hệ hậu tông đồ. Như vậy người ta khám phá ra, một cách chính xác, hai cách nói về Đức Kitô, đồng thời, chứng kiến ​​nỗ lực nhằm mục đích hòa hợp chúng, nhằm thích nghi lược đồ của Phaolô “xác thịt–Thần Trí” với lược đồ của Gioan “Logos–xác thịt”. Người ta đọc thấy nơi một trong các Giáo Phụ thời tông đồ, Clêmentê Rôma: Đức Kitô “trước hết là Thần Khí, đã trở thành xác thịt”.[48] Người ta thấy trật tự đã bị đảo ngược: không phải tiên vàn là xác thịt, sau đó bắt đầu từ sự phục sinh, là Thần Khí; nhưng tiên vàn là Thần Khí, sau đó, bắt đầu từ sự nhập thể, là xác thịt. Điểm khởi đầu, nơi Phaolô, là nhân tính, giờ đây là thần tính; thời điểm đi từ tình trạng này sang tình trạng khác, trước đây là sự phục sinh, từ đây là sự nhập thể.

Tuy nhiên, bất chấp những khác biệt này, có một mối quan hệ sâu sắc và sự hiệp thông hỗ tương giữa hai con đường này, nhờ đó người ta có thể nhìn bao quát chúng trong hai nghĩa. Đối với Phaolô và Gioan, Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và con người thật (xác thịt), Ngài là một và không thể phân chia. Đối với cả hai, Ngài là Đấng mạc khảiĐấng cứu chuộc phổ quát, cho dù Gioan nhấn mạnh hơn Đấng mạc khải và Phaolô nhấn mạnh hơn Đấng cứu chuộc. Cũng đối với cả hai, tương quan của chúng ta với Đức Kitô là khả dĩ nhờ sự trung gian của Thần Khí. Cuối cùng, cả hai đều quả quyết rằng tin vào Đức Kitô thì người ta nhận được Thần Khí, và khi nhận được Thần Khí, người ta có thể tin vào Đức Kitô.[49]

Hai con đường, con đường của Phaolô và con đường của Gioan, trên tất cả, đều có điều đó là điểm chung: cho dù người ta đi theo hướng này hay hướng khác, thì chính Chúa Thánh Thần là “vectơ” của chúng ta, là người hướng dẫn chúng ta, là Đấng cho phép chúng ta đi theo các ngài. Nhưng đây không phải là một ý tưởng chung cho các ngài; đây là một kinh nghiệm mà cả hai đã có. Khi nói về “sự hiểu biết Đức Kitô” đã được ban cho mình, Phaolô nói rằng mầu nhiệm này, Thiên Chúa “đã dùng Thần Khí mà mạc khải cho các thánh Tông Đồ và các tiên tri của Người” (Ep 3,5); về phần mình, Gioan quả quyết chính Thần Khí sự thật làm chứng cho Đức Kitô và dẫn các môn đệ đến sự thật trọn vẹn về điều đó (Ga 16,13-15).

3. “Đây là đường, cứ đi theo đó”

Người ta đọc thấy nơi tiên tri Isaia: “Tai ngươi sẽ được nghe một tiếng nói từ phía sau: ‘Đây là đường, cứ đi theo đó’” (Is 30,21). Cũng lời mời gọi này được gửi đến chúng ta. Chúng ta vừa xác định con đường dẫn đến Đức Kitô, theo Gioan, giờ đây chúng ta đi theo nó.

Phải thực hiện bước nào, quyết định gì trước Đức Giêsu như Gioan trình bày? Lại cùng một câu trả lời: tin! Nhưng tin gì? Chiều kích mới mẻ do Gioan mang đến là ở chỗ này. Ở chỗ Đức Giêsu “là”, hơn những gì Ngài đã làm cho chúng ta, tức mầu nhiệm vượt qua. Tin “vào Ngài”, “nhân danh Ngài”, nghĩa là tin vào con người của Ngài để hiệp thông với Chúa Cha (x. 1Ga 1,3).

Tin là “đón nhận” Lời. Kịch tính của Lời Tựa tập trung vào việc đón nhận này; đây là nơi có sự phân định và khác biệt tâm trí. Nhân loại được chia thành hai phe: trước ánh sáng của Ngôi Lời, có những người đã đón nhận và những người không đón nhận:

“Người đã đến nhà mình

nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.

Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người,

thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa”.

Chuyện khá tự nhiên khi chúng ta đứng về phía những người đón nhận Ngôi Lời. Và, tạ ơn Chúa, điều đó cũng đúng. Nhưng trong trường hợp này, đường ranh giới hoàn toàn đặc biệt. Nó không chỉ đi qua giữa hạng người này và hạng người kia, giữa những người tin và những người không tin, nhưng nó cũng đi vào chính trái tim của con người, giữa những gì, nơi mỗi người, đã thuộc về con người mới sống theo Thần Khí, và những gì còn thuộc về con người cũ. Tin và không tin cùng tồn tại trong mỗi con người.

Lời Tựa của Gioan buộc chúng ta mỗi lần phải xét mình: “Tôi đã thật sự đón nhận Lời chưa?” Nếu đón nhận chỉ đơn giản là nghe, tin, ưng thuận trong trí, lấy lòng tin mà tán đồng, mọi người hẳn có thể trả lời là có, tôi nghĩ vậy. Nhưng đón nhận bao hàm nhiều hơn. Một bài bình luận Lời Tựa mang tính tu đức và say mê, do đan sĩ dòng Biển Đức là Célestin Charlier viết, nói thế này:

“Chúng ta biết điều đó, Ngôi Lời đã đến giữa chúng ta; nhưng chúng ta phải làm gì với việc Ngài đến này? Chúng ta có thực sự chú ý đến nó không? Không dành tất cả chỗ cho Ngài có nghĩa là không biết Ngài. Việc Con Thiên Chúa đến giữa con người là không giới hạn, đòi hỏi trái tim chúng ta phải hết sức quan tâm (…) Việc Ngài đến phải nhào nặn cuộc sống của chúng ta và ra lệnh cho mọi cách hành xử của chúng ta. Nếu không, chúng ta là “những kẻ chưa đón nhận Ngài”.”[50]

4. Đi vào thế gian, mà không trở nên người thế gian

Việc đọc Lời Tựa còn dành cho chúng ta một sự khuyến khích khác, một sự thách thức khác. Như chúng ta đã thấy, trọng tâm nhận thức của Gioan về Đức Kitô là sự kiện nhập thể. Điều cần thiết là phải hiểu đầy đủ khái niệm về nhập thể, nơi Gioan, vì nó được sử dụng như một khuôn mẫu của Giáo Hội, mỗi khi gợi lên sự dấn thân của người Kitô hữu trong các thực tại trần thế. Hiến chế tín lý Gaudium et Spes đã trích dẫn chính xác Gioan 1,14: “Và Ngôi Lời đã trở nên người phàm”, để làm sáng tỏ mối quan hệ giữa Giáo Hội và thế giới.[51]

Ngay khi chúng ta đọc Lời Tựa, rồi đọc toàn bộ Phúc Âm thứ tư, một điều lập tức đánh động chúng ta: Gioan là người nhấn mạnh nhất đến sự dính kết của Ngôi Lời với thế gian, và đồng thời, chính ngài cũng nhấn mạnh nhất về sự xa cách của Đức Kitô với thế gian, đến nỗi Ngài nói câu khủng khiếp này: “Con không cầu nguyện cho thế gian” (Ga 17,9). Qua đó Ngài đã muốn nói gì với chúng ta? Nói lên điều này: nhập thể không phải là đồng hóa tí nào với thế gian; giữa hai việc đó, có sự đối lập tuyệt đối, việc này phủ nhận việc kia. Đi vào thế gian, nhưng không trở thành người thế gian. Đây là điều mà Thư gửi Diognète gọi là “lối sống nghịch lý và đáng ngưỡng mộ” của các Kitô hữu, sống như mọi người nhưng vẫn phân biệt với mọi người.[52] Đây chỉ là tiếp tục lối sống được chính Đức Kitô khai mào. Ngài “đã đến trong thế gian”, “Ngài ở trong thế gian”, nhưng không “thuộc về thế gian”, và triều đại của Ngài không thuộc thế gian này.[53]

Một số người nghĩ rằng, sau Công đồng, về chủ đề này, chúng ta thấy mình đang ở trong một tình huống mơ hồ, vì không ai nói như trước đây về lý tưởng biểu thị bằng việc xa lánh thế gian, nhưng dường như người ta thay thế bằng việc chạy đến với thế gian, Có thể có cái gì đó đúng trong việc này; nhưng theo tôi, vấn đề triệt để hơn, và mối nguy của trần tục hóa (mondanisation) ở một mức độ sâu xa hơn. Nếu xem xét Lịch sử Giáo Hội, chúng ta sẽ khám phá ra những hiện tượng trần tục hóa cực đoan ngay cả khi người ta đã nói nhiều về fuga mundi (xa lánh thế gian), xuất bản những khảo luận với tựa đề này, và mọi người đều coi đó là một lý tưởng không thể bàn cãi.

Điều tồi tệ nhất chính xác sẽ là lên án thế gian  trong khi ngấm ngầm bắt chước nó; lên án nó bằng lời nói, và bắt chước nó trong suy nghĩ, hành động và xét đoán. Đây là điều mà người thế tục thường khiển trách chúng ta, không phải lúc nào cũng sai. Có một sự mâu thuẫn khác có thể xảy ra: chúng ta mong đợi thế gian lắng nghe chúng ta và nhận rằng chúng ta có lý, thông qua các phương tiện thông tin mạnh mẽ, vào đúng thời điểm chúng ta đòi quyền tố cáo tội lỗi của nó. Thế gian chấp thuận ai chấp thuận nó, và bác bỏ ai bác bỏ nó. Nếu không, điều đó có nghĩa là nó đã hoán cải, đã tin vào Đức Giêsu, và do đó không còn là “thế gian” theo nghĩa Phúc Âm.

“Trong số những kẻ xa lánh, người đi theo hướng ngược chiều sẽ bị coi là một người phản bội.”[54] Đó là điều sẽ xảy ra với người Kitô hữu trong thế gian. Theo định nghĩa, đó là người đi theo “hướng ngược chiều”, người hoán cải, người bơi ngược dòng. Phêrô đã viết cho các Kitô hữu: “Họ kinh ngạc vì thấy anh em không cùng chạy ùa theo cuộc sống trụy lạc ồ ạt, như dòng thác lũ, và họ nói xấu anh em” (1Pr 4.4). Trước ngài, Đức Giêsu đã nói với những kẻ thuộc về mình:

“Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian, và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em. Hãy nhớ lời Thầy đã nói với anh em: tôi tớ không lớn hơn chủ nhà.” (Ga 15, 18-20)

Một câu châm ngôn, được gán cho thánh Grêgôriô Cả, nói: Corruptio optimi pessima: làm hư hỏng điều tốt nhất là việc tồi tệ nhất. Tương tự như vậy, nguyên lý nhập thể bị hiểu lầm trở thành điều tai hại nhất, nó trở thành trần tục hóa, tức là phủ nhận sức căng giữa ánh sáng và bóng tối, giữa tin và không tin, là điều, từ đầu đến cuối, choán đầy Lời Tựa và toàn bộ Phúc Âm thứ tư. Trần tục hóa, đó là “bí mật xấu” thực sự của Giáo Hội, và đặc biệt của các dòng tu; xấu, vì nó mà muối mất tất cả hương vị của muối.

Nhưng tôi đã nói rằng vấn đề thực sự của trần tục hóa nằm ở mức độ trọng yếu hơn và sâu sắc hơn so với vấn đề của các ý thức hệ và thần học. Nó nằm trong trái tim của người Kitô hữu. Đó là một mối nguy, một kẻ thù luôn rình rập, và nếu chúng ta ám chỉ những sai lầm của quá khứ, thì đơn giản chỉ là đánh thức sự chú ý của chúng ta ngày hôm nay.

Chính thánh Gioan gợi ý cho chúng ta những điểm để xét mình:

“Anh em đừng yêu thế gian và những gì ở trong thế gian. Kẻ nào yêu thế gian thì nơi kẻ ấy không có lòng mến Chúa Cha, vì mọi sự trong thế gian như dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái đó không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế gian” (1Ga 2,15-16).

Trở thành trần tục là thỏa mãn những ham muốn xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói kiêu căng. Có một thời người ta không chắc chắn về ý nghĩa của kiểu nói “dục vọng của đôi mắt”, nhưng tôi tin rằng ngày hôm nay, chúng ta có thể không còn nghi ngờ gì nữa. Chúng ta sống trong một nền văn hóa làm ra vũ khí quyến rũ đặc quyền của nó từ những hình ảnh, phương tiện hiệu quả nhất để truyền bá não trạng của thế gian, dư thừa nhục dục và bạo lực. Không ngó ngàng tới các hình ảnh một cách lành mạnh là một việc làm cần thiết, nếu muốn phát triển đời sống tinh thần và thoát khỏi cuộc sống phóng đãng. Cách tốt nhất để chiến thắng sức mạnh quyến rũ của hình ảnh là không chăm chăm nhìn vào những sự vật hữu hình (x. 2Cr 4.18). Xem một số hình ảnh tức là đã bị đánh bại, những hình ảnh đó chỉ muốn một điều nơi chúng ta, là chúng ta nhìn chúng.

5. Người môn đệ được Đức Giêsu yêu và yêu Ngài

Việc chiêm ngắm Đức Kitô do Gioan trình bày không chỉ cung cấp cho chúng ta điều gì đó để xem xét tâm hồn mình; nó còn khuyến khích chúng ta cách mạnh mẽ tái khám phá con người của Đức Kitô và đổi mới, củng cố các mối dây liên kết căn bản kết hợp chúng ta với Ngài. Gioan là một bằng chứng phi thường của quyền năng mà Đức Giêsu thực thi trên trái tim của một con người. Ngài chỉ cho chúng ta cách xây dựng toàn bộ vũ trụ cá nhân của chúng ta xung quanh Đức Giêsu. Ngài đi tới chỗ giúp chúng ta cảm nhận được “sự viên mãn độc nhất, điều kỳ diệu không thể tưởng tượng được đó là con người Đức Kitô”.[55]

Chúng ta hãy suy nghĩ một chút. Sau khi trình bày Logos thần linh trong sự siêu việt và phổ quát, tác giả Phúc Âm tiếp tục nói rằng Logos này đã trở nên người phàm, cụ thể là một trẻ sơ sinh. Hơn nữa, Phúc Âm sẽ cho ta thấy một Logos ăn uống, ngủ nghỉ, mệt nhọc và để mình bị đóng đinh. Để có một ý tưởng về những phản ứng do điều đó sẽ gây ra nơi những người có văn hóa thời ấy, chỉ cần nghe những gì Celsus, một triết gia ngoại giáo, đã nói về vấn đề này: “Logos Con Thiên Chúa, một người đã bị tra tấn cách ô nhục và bị dẫn tới nơi khổ hình ư? Con Thiên Chúa, một người sống cách đây vài năm, một người của hôm qua hay hôm trước nữa, do một người kéo sợi nghèo nàn sinh ra trong một ngôi làng ít người biết đến của xứ Galilê sao?”[56]

Ở đây, Phúc Âm đang trong quá trình đoạn giao hoàn toàn với tư tưởng cổ xưa như đang đoạn giao với tư tưởng ngày nay. Thiên Chúa làm người, mà vẫn là Thiên Chúa! Phổ quát trở thành đặc thù mà vẫn là phổ quát! Đó là tai tiếng tột đỉnh, là bước nhảy vọt của đức tin. Bằng một bước nhảy, Gioan đã vượt qua tai tiếng này và thúc giục chúng ta làm điều đó tiếp sau ngài.

Người ta nói rằng thách thức lớn đối với việc Phúc Âm hóa trong vài năm tới sẽ là sự nổi lên của một mẫu người và văn hóa mới: con người “quốc tế” (cosmopolite), từ Hồng Kông đến New York, từ Rôma đến Stockholm, sống trong một hệ thống trao đổi và thông tin mang tính toàn cầu, một hệ thống xóa bỏ những khoảng cách và làm lu mờ những khác biệt truyền thống của các văn hóa và tôn giáo.

Thực sự, Gioan sống trong một bối cảnh văn hóa có điểm chung với chúng ta. Lần đầu tiên, thế giới khi đó đang trải nghiệm một hình thức quốc tế nào đó. Chính chữ “quốc tế”, công dân của thế giới, nẩy sinh và được áp đặt vào thời kỳ này. Trong các thành phố lớn thuộc Hy Lạp cổ đại, người ta hít thở bầu không khí khoan dung và phổ quát. Hoàng đế Hadrianô và sau ông là Alexandrô Sêvêrô dường như đã sẵn sàng cung hiến một ngôi đền cho chính Đức Kitô, và đón nhận Ngài vào số các vị thần khác.[57] Coi! Tác giả Phúc Âm thứ tư đã hành xử thế nào trong tình huống như vậy? Có phải ngài đã tìm cách thích nghi Đức Giêsu với bầu khí, nơi mà mọi tôn giáo, mọi tín ngưỡng đều có chỗ của mình, với điều kiện nhận mình là một phần của một tổng thể lớn hơn chăng? Làm gì có chuyện đó!

Về phương diện này, Gioan là một người giúp đỡ chúng ta rất nhiều, ngài thúc ép chúng ta đặt cược mọi sự vào Đức Kitô, sẵn sàng mất mặt vì Ngài, sẵn sàng bị “đuổi ra khỏi hội đường”. Vấn đề mấu chốt nhất của những năm sau Công đồng là vấn đề Kitô học, chứ không phải vấn đề Giáo Hội học; mong rằng sẽ không quá muộn khi chúng ta nhận ra điều đó.

6. Bí mật của Gioan

Về vấn đề này, Gioan còn có một bí mật nhỏ muốn trao phó cho chúng ta. Làm thế nào ngài lại có được sự ngưỡng mộ hoàn toàn, một nhận thức tuyệt đối về con người Đức Giêsu? Làm sao giải thích được rằng theo thời gian, tình yêu của ngài dành cho Đức Giêsu không những không phai nhạt. mà còn ngày một tăng thêm? Theo tôi, ngài được thế trước hết là nhờ Chúa Thánh Thần, nhưng cũng nhờ sự hiện diện của Mẹ Maria, Đấng sống bên cạnh ngài, đã cầu nguyện với ngài, đã nói chuyện với ngài về Đức Giêsu. Điều khá ấn tượng là nghĩ rằng, khi viết câu: “Và Ngôi Lời đã trở nên người phàm”, thánh sử đã có bên cạnh mình, dưới cùng một mái nhà, Đấng mà, trong Người, mầu nhiệm này đã được thực hiện.

Origen viết:

“Do đó, phải dám nói rằng trong tất cả Kinh Thánh, các sách Phúc Âm là của đầu mùa và trong số các sách Phúc Âm, của đầu mùa là của Gioan. Không ai có thể hiểu ý nghĩa của nó nếu đã không tựa vào ngực Đức Giêsu và đã không nhận Đức Maria làm Mẹ”.[58]

Đức Maria đã thông truyền cho người môn đệ tình yêu của mình dành cho Đức Giêsu. Chúng ta phải cầu xin Mẹ Maria, dựa vào sự hiệp thông các thánh, để Người ban cho chúng ta một chút tình mẫu tử của Người dành cho Đức Kitô. Vâng, đây là điều chúng ta cần: một tình mẫu tử đối với Đức Giêsu. Dù chỉ để sửa chữa một mối quan hệ có xu hướng trở nên quá thần học. (Quan tâm về Kitô học không nhất thiết phải quan tâm về Đức Kitô!). Tình mẫu tử có một đặc điểm: đầy dịu dàng, trực tiếp, trong sáng, không biết lo lắng chuyện gì khác. Không có gì thuộc về trí óc, theo nghĩa cao quý nhất của từ này, nó thuộc về lòng dạ. Theo nghĩa này, nó là độc nhất, thậm chí những nhà thần bí vĩ đại nhất. những tiến sĩ lỗi lạc nhất cũng không thể sánh bằng. Các linh ảnh về Mẹ Thiên Chúa, được gọi là “Mẹ dịu dàng”, tìm cách diễn tả chiều kích mẫu tử này của tình yêu mà Mẹ dành cho Đức Giêsu. Đức Maria và hài nhi đang má kề má, và hài nhi vòng tay bá cổ mẹ mình.

Đức Giêsu “đã được thụ thai bởi Chúa Thánh Thần, và được Đức Trinh Nữ Maria sinh ra”. Theo những tước hiệu khác nhau, Chúa Thánh Thần và Đức Maria đều là hai đồng minh tốt nhất trong nỗ lực của chúng ta tìm cách đến gần Đức Giêsu, làm cho Ngài sống trong ta và trong cuộc sống của ta. Đây là lý do khiến chúng ta cầu nguyện với Người như thế này:

Lạy Mẹ Thiên Chúa, xin dạy chúng con yêu mến Đức Giêsu. Xin giúp chúng con đón nhận Ngài như Mẹ có ngày đã đón nhận Ngài: bằng sự tôn thờ vô hạn, với lòng khiêm nhường, kính trọng, biết ơn, một tình yêu nồng nàn!

Xin cho chúng con có thể công bố và nghe, như thể đây là lần đầu tiên, những lời vừa cũ vừa luôn mới này: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời… Và Ngôi Lời đã trở nên người phàm… Và chúng con đã thấy Vinh Quang của Ngài.”

Phần trước Phần tiếp