V. “NGÔI LỜI ĐÃ TRỞ NÊN NGƯỜI PHÀM”
Chiêm ngắm Đức Kitô trong thần tính của Ngài
Thánh Phaolô viết rằng, khi chiêm ngắm Đức Kitô, chúng ta được biến đổi nên giống cùng một hình ảnh này, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí” (2Cr 3,18). Nó hơi giống như quá trình chụp ảnh: hình ảnh cố định nhờ bày ra trước ánh sáng. Quả thực, con người trở thành cái mà nó chiêm ngắm.
Nhưng sự chiêm ngắm của chúng ta về Đức Kitô – tôi lặp lại – không bắt đầu cũng không kết thúc với chúng ta. Không ai muốn hành trình một mình. Có một “nơi” tích chứa qua nhiều thế kỷ những thành quả của việc chiêm ngắm Đức Kitô, nơi đó là Truyền Thống. Chúng ta chen mình vào trào lưu chiêm niệm bao la, vào “dòng chiêm niệm” là toàn thể Giáo Hội. “Truyền cho người khác những gì mình đã chiêm niệm” (Contemplata aliis tradere) không chỉ được thực hiện theo cách cá nhân, mỗi người truyền đạt cho người khác những gì mình tiên vàn đã chiêm niệm; nhưng được thực hiện trong một lĩnh vực rộng lớn hơn, theo nghĩa là mỗi thế hệ, mỗi khu vực Kitô giáo truyền cho các thế hệ kế tiếp và cho các khu vực Kitô giáo khác kết quả của việc chiêm ngắm Đức Kitô.
Giờ đây chúng ta hãy leo lên Tabor thiêng liêng của chúng ta để chiêm ngắm Đức Kitô, học nơi những nhà chiêm niệm vĩ đại trong quá khứ.
1. Hai “trường phái” liên quan đến Đức Kitô
Như ta đã thấy, việc chiêm ngắm Đức Kitô được khai mào trong các Phúc Âm nhất lãm. Sau đó, nó bước sang một giai đoạn mới với các tác phẩm của Phaolô và Gioan. Với các ngài, chúng ta đã thấy hai “con đường”, hai lộ trình dẫn đến việc khám phá ra chân tính Đức Giêsu Kitô: con đường của Phaolô bắt đầu từ nhân tính để dẫn đến thần tính; từ xác thịt đến Thần Khí, từ Lịch sử Đức Kitô đến sự tiền hữu của Ngài; còn con đường của Gioan thì theo chiều ngược lại, từ thần tính của Ngôi Lời đi đến chỗ bắt gặp và khẳng định nhân tính của Ngài; từ sự hiện hữu vĩnh cửu đến sự hiện hữu trong thời gian; con đường trước đặt sự phục sinh của Đức Kitô ở bản lề giữa hai giai đoạn; con đường sau vượt từ một tình trạng sang một tình trạng khác trong sự nhập thể.
Ngay sau đó, hai con đường này hướng tới việc củng cố, đưa ra hai mô hình hoặc nguyên mẫu và cuối cùng là hai trường phái Kitô học. Không có môn đệ nào trong hai trường phái nhận thức được việc lựa chọn giữa Phaolô và Gioan, mỗi người đều xác tín đã lựa chọn các ngài, vị này và vị kia, đứng về phía mình. Điều này là đúng, không chút nghi ngờ. Vậy mà, hai ảnh hưởng vẫn có thể thấy rõ ràng, người ta có thể phân biệt chúng; giống như hai con sông chảy cùng nhau, hòa trộn nước vào nhau, tuy nhiên, trong một thời gian nhất định, vẫn giữ được màu sắc riêng của chúng.
Điều khác nhau không phải là một bên theo Phaolô và bên kia theo Gioan; sự khác biệt nằm ở chỗ một số diễn giải Gioan dựa vào Phaolô, và số khác diễn giải Phaolô dựa vào Gioan. Những trường phái này phân biệt nhau bằng cách thức hoặc bằng viễn tượng nền tảng được chấp nhận để soi sáng mầu nhiệm Đức Kitô.
Các trường phái tôi nhắc đến là: trường phái Alexanđria ở Ai Cập và trường phái Antiôkia ở Syria. Có thể nói cuộc đối đầu của họ cho phép thiết lập những nền tảng luôn thời sự của tín điều và thần học của Giáo Hội. Hai hình ảnh về Đức Kitô, bổ túc cho nhau nhưng phân biệt nhau, phần lớn tùy thuộc vào hai trường phái này; hai hình ảnh này đã ghi dấu tương ứng linh đạo chính thống giáo và linh đạo Tây phương.
Những Kitô học này đã mang hình thức dứt khoát của chúng trong giai đoạn từ Công đồng Nicêa năm 325, đến Công đồng Calcêđônia năm 451. Thế kỷ vàng của Lịch sử Giáo Hội, giai đoạn vô đối về sự sáng tạo và về sự hiện diện đồng thời của rất nhiều nhân vật đặc biệt; Ở Đông phương, có Athanasiô, Basiliô, Grêgôriô Nyssê, Grêgôriô Nadian, Cyrillô; Ở Tây phương, có Ambrôsiô, Augustinô, Lêô Cả. Dựa vào các ngài thì đúng là như thể người ta trèo lên vai những người khổng lồ để xem xét kỹ lưỡng một chân trời bao la rộng lớn hơn.
Chứng từ của các Giáo Phụ chủ yếu được chúng ta coi như một đối tượng nghiên cứu, trong khi nó ra đời để tiên vàn là thực phẩm nuôi sống. Giữa hai bên, có sự khác biệt như giữa nghiên cứu bằng mọi cách bản dàn bè âm nhạc, và thưởng thức âm nhạc khi chơi bản nhạc đó. Đáng thương cho thời kỳ đi chệch đường Giáo Phụ, tưởng rằng có thể không cần các ngài, khi diễn giải Kinh Thánh chẳng hạn; mỗi lần muốn bắt đầu lại từ Tân Ước là mỗi lần đi từ đầu, coi thường những gì người khác đã vất vả làm việc! Đó sẽ là tự kết án mình phải gặp những cạm bẫy tương tự, phải lặp lại cùng một sai lầm phải khó khăn lắm mới lướt thắng được, không cho mình tiếp cận các tầng sâu đã đạt được.
Do đó, mục đích của chương này cũng như chương sau đơn giản là: lướt qua các đặc điểm thiết yếu của hai “con đường” hoặc các mô hình Kitô học, dừng lại mỗi lần để xem mỗi mô hình có thể thực tế nuôi dưỡng đức tin của chúng ta hôm nay như thế nào, làm cho lời công bố Phúc Âm của chúng ta được sắc bén hơn, và thắp lên trong ta một sự nhiệt tình mới, một tình yêu mới dành cho Đức Kitô.
Khi nghiên cứu những đề tài này và giai đoạn Lịch sử chúng ta đang đề cập, chúng ta thường chú ý đến sự đụng độ tiên vàn của các tính cách, đến lạc giáo (một bên là lạc giáo Apôllinariô, Eutykê; một bên là lạc giáo Dưỡng tử, Nestôriô) đã từng làm cho mỗi một trong hai con đường ra u ám, hoặc còn chú ý đến hạnh kiểm, mà không phải lúc nào cũng mang tính xây dựng, của một số nhân vật chính. Chắc chắn “thế kỷ vàng” này cũng là thế kỷ đã để lại cho chúng ta những vết đen trong Lịch sử Giáo Hội, nơi mà chính sách của Giáo Hội, sự bảo vệ quyền tối thượng của Giáo Hội – không bỏ qua việc âm thầm dùng cách hối lộ – xen lẫn rối rắm với việc bảo vệ sự chính thống.
Nhưng “Thiên Chúa phải viết thẳng trên các dòng cong”, và chúng ta bỏ qua một bên “các dòng cong” của những nhân tố, để đi thẳng đến kết quả tích cực do Thiên Chúa muốn và được Giáo Hội đón nhận. Vì vậy, chúng ta hãy hoàn toàn bỏ đi yếu tố tiêu cực và không quan trọng, tốt hơn là tìm cách nắm bắt trực giác căn bản, sự đóng góp luôn sống động mà mỗi trường phái mang lại cho việc hiểu biết Đức Kitô.
2. Đức Kitô của trường phái Alexanđria
Trong hai con đường do Phaolô và Gioan mở ra, con đường đầu tiên được nhắc lại và sử dụng là con đường của Gioan. Với tước hiệu Logos, nó đã cung cấp một dụng cụ lý tưởng để đối thoại với văn hóa thời đó và chống lại các lạc giáo, đặc biệt là lạc giáo Ariô. Chúng ta hãy dừng lại ở một giai đoạn của sự phát triển này, mà tâm ngoài của nó, như tôi đã nói, là ở Alexanđria, Ai Cập; thời điểm chúng ta bàn là từ thánh Athanasiô đến thánh Cyrillô, bởi vì nơi hai Giáo Phụ này, chúng ta có thể chiêm ngắm mô hình Kitô học dưới hình thức hoàn tất nhất, trước và sau cuộc khủng hoảng mà trường này đã trải qua với lạc giáo Apollinariô Laođikia.
Đúng như dự đoán, Athanasiô nói về Gioan 1,14: “Và Ngôi Lời đã trở nên người phàm”. Ngài giải thích câu này theo nghĩa: Logos đã trở nên người, không chỉ nhập vào một người. “Nhưng nhập thể không vì thế mà loại bỏ sự siêu việt của Ngôi Lời, vì từ khi “mặc lấy xác phàm, Ngài không trở nên khác, vẫn là những gì Ngài đã là”[59]. Khi hiện hữu trong một thân xác con người, Ngôi Lời vẫn tiếp tục thực hiện chủ quyền của Ngài trên vũ trụ như trước. Ngài vừa ở bên trong các vật vừa ở bên ngoài chúng.[60]
Qua nhập thể, Logos mặc lấy xác phàm, tạo thành một thân thể trong lòng Đức Trinh Nữ, để sử dụng nó như “cơ quan” của mình.[61] Vậy đây là một sự “nhập thể” theo nghĩa chặt nhất của hạn từ, Ngôi Lời “trở nên” người phàm, tuy vậy không biến đổi thành xác thịt (không phải “mặc lấy hình hài” một con người).
Sự duy nhất của Đức Kitô ở đây là một sự kiện có ngay từ đầu. Athanasiô ghê tởm những mô tả về Đức Kitô mà phân biệt nơi Ngài Ngôi Lời với con người Giêsu. Ngài kêu lên: làm sao họ có thể tuyên bố mình là Kitô hữu khi nói rằng Ngôi Lời đã nhập vào một con người thánh thiện, chính xác như người ta có thói quen đi vào nhà các tiên tri, thay vì nói rằng Ngài đã trở nên người phàm? khi quả quyết một đàng là Đức Kitô và một đàng là Logos?
Vậy trực giác nền tảng của trường phái này là rõ ràng; sau đó nó sẽ trở thành trục chính của tất cả Kitô học của Giáo Hội. Đức Kitô là một ngôi duy nhất và ngôi đó là Ngôi Lời vĩnh cửu. Ngôn ngữ vẫn chưa được xác định rõ ràng, nhưng ý tưởng là hoàn toàn như vậy.
Đối với Athanasiô, Logos là nguyên lý nổi bật nơi Đức Giêsu Kitô, chủ đề duy nhất mà tất cả những gì nói về Ngài đều liên quan đến Ngài, tất cả những kinh nghiệm, những hành động được các sách Phúc Âm viết ra. Cũng chính Ngôi Lời đã làm phép lạ, đã khóc, đã đói, đã nói mình không biết ngày quang lâm, đã cầu nguyện ở Ghetsêmani, và đã kêu lên một tiếng lớn trên thập giá.[62]
Có thể xem ra khó dung hòa những kinh nghiệm khác nhau như vậy nơi cùng một con người – đây là lý lẽ của người phái Ariô – nhưng Athanasiô đã vẽ ra một ranh giới chính xác giữa những gì thuộc về Ngôi Lời trong bản thể vĩnh cửu của Ngài và những gì thuộc về Ngài với tư cách nhập thể. Để giải thích những giới hạn hay đau khổ của Đức Kitô, ngài quả quyết rằng đây là những giới hạn không có thực nhưng mang tính sư phạm. Khi Kinh Thánh nói rằng Đức Giêsu lớn lên trong sự khôn ngoan và ân sủng, thì điều đó có nghĩa là có sự đồng thời giữa sự phát triển về thân xác của Ngài và sự bày tỏ về khôn ngoan của Ngài. Là Logos, Ngài biết mọi sự, nhưng khi trở nên người phàm, theo tự nhiên là vô tri, Ngài tỏ ra vô tri là đúng.[63]
Như vậy, ý tưởng về Đức Kitô như một chủ thể thần linh đi vào Lịch sử, khi mặc lấy xác phàm, mà không gây ra bất cứ một thuyết nhị nguyên nào hay một sự đoạn giao nào nơi Ngài, điều đó được thiết lập vững chắc trong ý thức của người Kitô hữu. Nhưng một lỗ hổng nghiêm trọng ngăn cản các Kitô hữu có thể đương nhiên chấp nhận nhãn quan này về Đức Kitô. Chính xác đó sẽ là Apollinariô, giám mục Laođikia, một môn đồ và là bạn của Athanasiô. Apollinariô sẽ cho thấy rõ lỗ hổng này khi phát triển nó thành một hệ thống. Chúng ta có thể tóm tắt tư tưởng của ông và của các môn đệ ông như sau: “Chắc chắn Đức Kitô có một xác thịt con người, nhưng không có linh hồn: vì nơi Ngài, linh hồn được hiểu theo nghĩa cao nhất của trí khôn và ý muốn, được thay thế bằng chính Ngôi Lời, Đấng đảm nhận các chức năng của linh hồn. Quả thực, nếu linh hồn chỉ là “một tia sáng của Logos“, thì hiển nhiên không cần một phần khi đã có toàn bộ. Chưa kể sự hiện diện của ý muốn tự do nơi Đức Kitô sẽ gây hại cho sự bất khả phạm tội của Ngài, đồng thời gây hại cho sự cứu rỗi chúng ta.”
Hậu quả là không thể tìm ra lời giải thích cho một số sự kiện như Đức Kitô lo lắng và không biết. Vì không có linh hồn nhân loại mà những giới hạn này sẽ thuộc vào, những giới hạn này chỉ có thể bị phủ nhận, trừ khi gán chúng cho chính Ngôi Lời, như người phái Ariô đã làm, với hậu quả là gây hại cho thần tính và sự hoàn toàn bất khả thay đổi của Ngài.
Chính thánh Cyrillô Alexanđria là người đã giải quyết lỗ hổng này, đưa hình ảnh Đức Kitô của trường phái mình đến chỗ hoàn thiện. Cùng với ngài, hơn bao giờ hết, chúng ta phải quên đi những cách thế được sử dụng, các phương tiện được dùng để hỗ trợ quan điểm giáo lý của ngài và chỉ tập chú vào quan điểm ấy.
Theo đường lối của Athanasiô, cũng chính ngài không phân biệt nơi Đức Kitô có hai bản tính, Thiên Chúa và con người, mà chỉ phân biệt hai giai đoạn của một hiện hữu duy nhất, đầu tiên là không có xác thịt, sau đó là có xác thịt; một giai đoạn trước khi nhập thể, một giai đoạn sau đó. Nhập thể được coi là bản lề, đường ranh giới cốt yếu. Theo ngài, Logos vẫn như cũ; vậy điều gì sẽ xảy ra lúc nhập thể? Trong khi tiếp tục tồn tại dưới thể thức Thiên Chúa, Ngài thêm một cái gì đó bằng cách mặc lấy thể thức nô lệ.[64] không phải hai thể thức hay hai bản tính kết hợp với nhau, nhưng một ngôi vị kết hợp nơi mình hai thể thức, hai cách hiện hữu. Không bao giờ Cyrillô sẽ nói “hai bản tính”, nếu không phải là lúc cuối đời và một cách dè dặt; ngài sẽ sử dụng công thức nổi tiếng: một bản tính duy nhất của Ngôi Lời Nhập Thể.” (Việc từ chối bãi bỏ công thức này của Cyrillô sau Công đồng Calcêđônia đã dẫn đến việc thành lập Giáo hội Đông phương theo thuyết nhất tính, mà chỉ vào năm 1990, bằng bản tuyên bố chung ở Chambésy[65], Giáo Hội này mới nối lại hiệp thông với Giáo Hội Chính thống Calcêđônia: hai Giáo Hội thừa nhận rằng sự bất đồng không phải về học thuyết mà là về từ vựng.)
Mô hình Kitô học này nhận được từ Athanasiô, Cyrillô đã hoàn thiện nó nhờ vào hai chi tiết. Ngài đã vượt qua cạm bẫy của thuyết Apôllinariô, thừa nhận nơi Đức Kitô một nhân tính đích thực, không chỉ có thân xác mà còn có một linh hồn có lý trí; hơn nữa, ngài đã đưa ra một khái niệm cuối cùng cho phép giải thích sự kết hợp giữa hai thực tại của Đức Kitô: ngôi hiệp (union hypostatique). Đây không chỉ là một “sự kết hợp” dựa trên sự hòa hợp của hai ý muốn, ý muốn của con người và ý muốn của Thiên Chúa; đây là một khái niệm vượt ra khỏi mọi cách giải thích bên ngoài và nhân tạo về sự duy nhất của Đức Kitô, bởi vì Cyrillô thấy nó được thực hiện trên bình diện ngôi vị của Ngài (personne ou hypostase), nghĩa là trên bình diện thâm sâu nhất, sâu xa nhất có thể hình dung được; sự kết hợp mà kinh nghiệm của con người không đưa ra được một mẫu gương nào khác. Chính trong việc đó mà Đức Kitô là độc nhất, hoàn toàn khác biệt – trong sự cấu tạo thâm sâu của Ngài – so với tất cả các vị thánh và các tiên tri khác.
Khi đó phải nói rằng thân xác Đức Kitô là thân xác “của Thiên Chúa”, không phải của một con người[66], và tuyệt đối không có lẫn lộn, pha trộn hay hòa lẫn nào giữa nhân tính và thần tính.
Nếu sự nhập thể, hiểu theo nghĩa mạnh, và giáo lý về Ba Ngôi tạo thành điều hoàn toàn riêng cho Kitô giáo, phân biệt với các tôn giáo khác, thì chúng ta phải công nhận rằng “tính đặc biệt” này khi đó và lần đầu tiên được thiết lập rất mạnh mẽ và được đặt ở chính trung tâm tòa nhà đức tin. Mọi sự khác đều phát xuất từ đó, một cách mạch lạc, bắt đầu bằng lời khẳng định mạnh mẽ về tước hiệu Theotokos dành cho Đức Maria: Mẹ thực sự là Mẹ Thiên Chúa, vì Đấng do Mẹ sinh ra là độc nhất và thần linh.
Đó là sự vĩ đại tột bậc của Kitô giáo: là tôn giáo của ân sủng, từ Thiên Chúa xuống tới con người hơn là từ con người lên tới Chúa. Theo viễn tượng này, Đức Kitô xuất hiện như một quà tặng của Thiên Chúa để đón nhận với sự ngạc nhiên và biết ơn, hơn là như một kiểu mẫu để bắt chước trong cuộc sống. Ngài là Emmanuel: Thiên Chúa ở cùng chúng ta.
Để hiểu rõ sự phong phú thiêng liêng mà hình ảnh này của Đức Kitô mang lại, chúng ta phải để ý đến một chuyện. Trong khi vẫn khác biệt nhau, mỗi thực tại trong hai thực tại của Đức Kitô tham dự vào các đặc quyền của thực tại kia; đến độ nếu Ngôi Lời hiệp thông với những sỉ nhục và đau khổ của xác thịt, trở thành “những đau khổ của Thiên Chúa”, thì theo cách tương tự, xác thịt của Đức Kitô hiệp thông với các năng lực của Thiên Chúa và với vinh quang của Ngôi Lời, chính xác thịt ấy trở nên “sống động” nhờ kết hợp với sự sống của Ngôi Lời. Những hậu quả của nguyên lý này, trên bình diện thiêng liêng và cứu độ, sẽ trở nên rõ ràng khi chúng ta sẽ xem xét mầu nhiệm Thánh Thể. Tiếp xúc với xác thịt của Đức Kitô trở thành tiếp xúc với chính Ngôi Lời và với thần tính của Ngài.
Nhưng trước khi nêu lên những hậu quả của nhãn quan này về Đức Kitô trên bình diện thiêng liêng, điều tốt là cho thấy nó không có gì là cổ hủ, không gây ảnh hưởng nào đến các vấn đề hiện tại của Giáo Hội; trái lại, ngày nay nó hữu ích và cần thiết hơn bao giờ hết. Người ta có thể đọc thấy, trong số những điều khác, trong Thông điệp Redemptoris Missio: “Việc du nhập một sự tách biệt nào đó giữa Ngôi Lời và Đức Giêsu Kitô là trái với đức tin Kitô giáo.”[67] Chính là câu trả lời cho các lý thuyết dựa trên suy đoán về “sự dư thừa của Ngôi Lời liên hệ với Đức Kitô” trên bình diện mạc khải, để kết luận rằng việc các tôn giáo khác quy hướng về Đức Kitô Ngôi Lời nhập thể, cho dù theo cách mặc nhiên hay “khuyết danh”, việc đó sẽ không tuyệt đối cần thiết; chỉ cần các tôn giáo đó hướng về Logos vĩnh cửu và vượt thời gian, Đấng mà tất cả các tôn giáo gắn với, một cách khác và tự do. Quan điểm này loại bỏ mọi biện minh cho hoạt động truyền giáo nơi mọi dân tộc, và do đó cho mệnh lệnh rõ ràng của Đức Kitô là đi và “làm cho muôn dân” trở thành “môn đệ”. Một Kitô học được khai triển cho đến nay chứa đựng câu trả lời rõ ràng nhất, lời bác bỏ chắc chắn nhất về sự tách biệt giữa Logos vĩnh cửu và Đức Kitô của Lịch sử.
3. Được Thần Khí Đức Kitô làm cho sống
Giờ đây chúng ta hãy xem hai tác giả Athanasiô và Cyrillô đã biết khai triển như thế nào, bắt đầu từ nhãn quan về Đức Kitô mà chúng ta vừa trình bày, một học thuyết mạch lạc về sự cứu rỗi và thánh hoá; học thuyết mà sau đó đã gây ảnh hưởng sâu xa đến linh đạo, đặc biệt linh đạo Chính thống giáo.
Athanasiô không bao giờ mệt mỏi khi lặp lại công thức: “Ngôi Lời đã trở nên xác phàm để chúng ta có thể được thần hóa.”[68] Nếu nhờ sự sáng tạo, chúng ta là “những thụ tạo” của Thiên Chúa, thì chỉ nhờ ân sủng của nhập thể mà chúng ta còn trở nên “con” Thiên Chúa. Khi trở nên người phàm, Ngài đã làm cho chúng ta trở nên con cái Chúa Cha. Hơn nữa, là Ngôi Lời, nguồn mạch sự sống, Ngài đã chiến thắng sự chết và mang đến cho thế giới quà tặng là sự bất hoại.[69] Chỉ vì Ngôi Lời đã nhập thể, sự sống đã đi vào thế giới. Athanasiô còn quan niệm nhân loại theo bước của Plato, như một loại bản tính phổ quát duy nhất; như vậy đối với ngài, Ngôi Lời, khi mặc lấy một bản tính nhân loại, thì cũng mặc lấy và làm sống động bất kỳ con người nào. Thánh Grêgôriô Nadian sau này sẽ nói: “Ngài đã nhập thể và con người trở nên Thiên Chúa, khi được kết hợp với Thiên Chúa”.[70] Cùng với Đức Kitô, quả thực chúng ta có thể nói rằng Thiên Chúa đi vào trong thế giới và thế giới đi vào trong Thiên Chúa.
Tuy nhiên, việc thần hóa không được thực hiện nhờ sự hiệp thông bản tính, nhưng nhờ sự hiệp thông Thần Khí. Chính Chúa Thánh Thần đã biến đổi một thụ tạo thuần túy thành con cái Thiên Chúa:
“Người ta thấy Thiên Chúa tỏ ra nhân từ với con người bằng cách nào: bằng ân sủng, Người trở thành Cha của những ai Người đã tạo dựng. Điều đó được thực hiện khi con người nhận được Thần Khí Con của Người ngự trong lòng họ mà kêu lên: Abba, Cha ơi.”[71]
Chúa Thánh Thần ở trung tâm, hay ở cuối, nhãn quan này về Đức Kitô. Sự sống thần linh được truyền đạt bởi Ngôi Lời nhập thể không gì khác hơn là Chúa Thánh Thần.
Nếu chúng ta chuyển từ Kitô học sang Cứu thế học, sự nhập thể, như chúng ta thấy, vẫn là điểm khởi đầu và là trung tâm, cái nôi của mọi sự. Nó không chỉ dùng để cắt nghĩa ngôi vị Đức Kitô, mà cả sự cứu rỗi gắn liền với Ngài. Nỗ lực ở đây sẽ là mang lại cho mầu nhiệm vượt qua của sự chết–sống lại của Đức Kitô một tầm quan trong ngang nhau, và tìm cho nó một chỗ đứng, không phải bên lề, trong tòa nhà cứu độ. Nếu thực sự chỉ nhờ sự kiện nhập thể mà điều cốt yếu đã được hoàn thành, khiến chúng ta trở nên con cái Thiên Chúa, được Chúa Thánh Thần chiếm hữu, thì sự chết và sống lại của Đức Kitô còn có thể giúp ích gì nữa?
Về vấn đề này, Athanasiô đánh dấu một bước tiến quan trọng, cho dù chưa phải vĩnh viễn. Ngài coi lễ hy sinh của Đức Kitô trên thập giá là cần thiết cho một sự cứu rỗi toàn diện, vì nó thêm vào hình ảnh của Thiên Chúa, được phục hồi nhờ sự nhập thể, việc xóa đi món nợ đã mắc với Thiên Chúa, Đấng mà con người tội lỗi đã xúc phạm. Cái chết của Đức Kitô là “sự đền bồi cần thiết cho tội lỗi loài người.” Đây còn hơn là một sự “thay thế” thuần túy; nhờ sự kết hợp mật thiết giữa xác thịt của Người với xác thịt của chúng ta, “trong thân xác Đức Kitô cái chết của mọi người được thực hiện”.[72] Nền tảng không phải về phương diện pháp lý, nó là thực và thuộc hữu thể học.
Nỗ lực tích hợp mầu nhiệm vượt qua trong một nhãn quan tập trung vào việc nhập thể đã được Cyrillô lấy lại và đưa tới kết thúc. Chính sự kiện nhập thể làm nên giá trị của mầu nhiệm vượt qua, làm nổi bật “ai” là người chịu khổ và chịu chết.
Nhưng điều chúng ta đặc biệt muốn nhấn mạnh là cách Cyrillô đã đưa ra một hình thức dứt khoát cho nhãn quan này, nhãn quan nhìn ơn cứu độ trong sự tiếp xúc sống động và thần hóa của Ngôi Lời với bản tính nhân loại, một sự tiếp xúc do sự nhập thể đặt ra. Ngài viết:
“Mục đích của nhập thể là món quà sự sống do Ngôi Lời ban cho, Đấng mà khi mặc lấy bản tính nhân loại với sự hư hoại và những đau khổ của nó, có thể truyền vào nó sự bất hoại, như lửa làm cho sắt mà nó tiếp xúc nóng lên.”[73]
Trong môi trường Tin lành, các tác giả của trường phái này đôi khi bị buộc tội quan niệm sự cứu rỗi “như một quá trình gần như hóa học”. Trên thực tế, đó không phải là sự thẩm thấu vật lý hay tự nhiên giữa nhân tính và thần tính, nhưng là sự thẩm thấu thiêng liêng. Đối với thánh Cyrillô cũng vậy, chìa khóa giúp hiểu biết là Chúa Thánh Thần. Sự sống được Ngôi Lời truyền đạt là chính Thần Khí riêng của Ngôi Lời. Công việc thiết yếu của Thần Khí hệ tại ở chỗ truyền đạt chính sự sống của Ngôi Lời, khiến chúng ta trở thành những người “tham dự vào sự sống thần linh”.
“Thần Khí làm cho chúng ta đồng hình đồng dạng với Đức Kitô bằng cách thánh hóa chúng ta. Thần Khí Đức Kitô giống như thể thức của Đức Kitô, lấy ấn của mình mà đóng trên chúng ta, khiến chúng ta trở nên giống nhau, phù hợp với Ngài”[74]
Thần Khí không vạch trên chúng ta hình ảnh của Thiên Chúa như một họa sĩ, Ngài làm điều đó bằng cách in dấu chính mình. Ngài không chỉ ban cho chúng ta ân sủng “hỗ trợ”, mà còn dự phần vào thần tính. Chính nhờ Chúa Thánh Thần mà chúng ta được thần hóa. Như vậy, học thuyết về ân sủng “bất thụ tạo” được khẳng định hoàn toàn.
Một lần nữa, chúng ta có thể thấy những ý tưởng này, kể cả ngày nay, vẫn giữ được tất cả sức mạnh và tính thời sự của chúng biết bao nhiêu. Chúng ta đang sống trong một thời kỳ được xác định như là thời kỳ “thức tỉnh của Thần Khí”. Thế kỷ của chúng ta đã được ghi dấu bằng sự xuất hiện và phát triển đáng kinh ngạc của các Giáo Hội Ngũ Tuần và sự thức tỉnh đặc sủng. Người ta có thể thấy Chúa Thánh Thần lại được chú ý trong mọi lãnh vực của đời sống Giáo Hội: phụng vụ, thần học, đạo đức, giảng thuyết.
Trên tất cả những điều đó, nhãn quan mà chúng ta vừa trình bày có thể mang lại cho chúng ta điều gì hữu ích chăng? Một điều thiết yếu, thường bị bỏ quên, đó là hành động căn bản của Chúa Thánh Thần không phải là hành động thể hiện qua việc nở rộ các đặc sủng, không phải trong việc đổi mới các thể chế, cũng không phải trong việc loan báo Phúc Âm được tiếp thêm sinh lực. Có thể nói, tất cả những điều đó là “thứ yếu”, ở phía sau. Đứng hàng đầu là hành động thánh hóa của Thần Khí, Đấng thông ban sự sống, năng lượng của Ngôi Lời Nhập Thể, cho người Kitô hữu mà Người đã “làm cho đồng hình đồng dạng” với Đức Kitô, cho họ sống chính sự sống của Đức Kitô. Không có điều đó, mọi sự khác chỉ là bề ngoài và phần nhiều cằn cỗi. Lễ Hiện Xuống mới không thể chỉ giới hạn trong việc đổi mới hình thức bên ngoài của Giáo Hội, mà phải đổi mới tâm hồn của mỗi người đã được rửa tội. Ở đây có một lời nhắc nhở do thiên ý và rất thời sự, không phải để giảm bớt lòng nhiệt thành đối với Thần Khi, nhưng để tạo cho nó một nền tảng vững chắc và sâu xa!
Thần học cổ điển này còn mang lại một đóng góp khác, thuộc lãnh vực đại kết. Nó khuyến khích thần học Tin lành vượt ra khỏi quan niệm khởi thủy về sự công chính hóa ảnh hưởng đến con người theo cách bên ngoài. Nguyên tắc “công chính đồng thời cũng là tội nhân” (simul iustus et peccator) được điều chỉnh một cách hữu hiệu nhờ nhãn quan này. Ngược lại, quan điểm của phái Luthêrô có thể đóng một vai trò tương tự trong việc tái cân bằng với nhãn quan “Hy Lạp”, có tính khách quan, dựa trên sự thần hóa, bởi vì, nếu bị hiểu lầm, nó sẽ có nguy cơ giảm thiểu tầm quan trọng của đức tin, chính xác tạo ra ấn tượng về một sự cứu độ được thực hiện bằng vào “quá trình hóa học”, hoặc bằng cách “tiêm chủng” thuần túy.
Trong cuộc đối thoại với các tôn giáo khác, Kitô học Alexanđria – có vẻ độc chiếm – trái lại, là Kitô học mở ra, ít nhất cho các Kitô hữu, những chân trời rộng lớn hơn, khiến cho người ta lạc quan hơn về sự cứu rỗi của những người sống bên ngoài Giáo Hội. Thật vậy, sự hiện diện đơn thuần của Ngôi Lời trong thế giới, nhờ nhập thể đã bắt kịp cách nào đó và cứu chuộc tận gốc rễ toàn thể nhân loại, không phụ thuộc vào những khác biệt tôn giáo, vì tình liên đới của nhân loại. Để khẳng định sự liên đới này, đúng là người ta không còn dựa vào ý tưởng của Plato mà tôi đang ám chỉ, người ta dựa vào sự hiện hữu của một Đấng sáng tạo duy nhất, một Thần Khí duy nhất hành động trên khắp trái đất, và một vận mệnh duy nhất của con người. Ý nghĩa của sự liên đới này vẫn còn, thậm chí ngày nay nó còn được biểu lộ mạnh mẽ hơn ngày xưa. Theo nghĩa này, việc nhập thể không phải là một biến cố chỉ có hệ đến các Kitô hữu: nó liên quan đến tất cả mọi người.
4. “Kẻ ăn tôi sẽ nhờ tôi mà được sống”: Thánh Thể
Hình ảnh của Đức Kitô và của ơn cứu độ, được khai triển theo đường lối của Gioan, đã thể hiện, đặc biệt là nhờ Cyrillô, trên bình diện bí tích trong một quan niệm về Thánh Thể vẫn còn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay. Chính trong lĩnh vực này mà tất cả nỗ lực làm sáng tỏ trên phương diện tín điều về Đức Kitô đã mang lại thành quả lớn lao nhất. Chính chúng ta, sau bao nhiêu thế kỷ, có thể tìm thấy nơi học thuyết Thánh Thể này cơ hội để đổi mới cách thức của chúng ta sống Thánh Thể.
Một số bản văn sẽ cho phép chúng ta đi vào trọng tâm của học thuyết này. Ngay từ đầu, rõ ràng là học thuyết này có liên quan mật thiết đến một cách hiểu nào đó về sự nhập thể; nó giống như hệ quả của sự nhập thể:
“Và Ngôi Lời đã trở nên người phàm: Gioan không nói rằng Ngôi Lời đã đến trong người phàm, nhưng nhiều lần lặp lại rằng Ngài đã trở nên người phàm, để cho thấy rõ sự kết hợp (…) Vậy, ai ăn thịt thánh của Đức Kitô thì có sự sống đời đời: quả thực xác thịt có nơi mình Ngôi Lời, Đấng tự bản tính là sự sống.”
Thánh Thể là hạt giống bất tử được gieo vào trong con người, sẽ làm cho con người sống lại từ trong kẻ chết. Và bản văn tiếp tục:
“Chúng ta sẽ được sống lại, vì Đức Kitô ở trong chúng ta nhờ xác thịt riêng của Ngài, thậm chí sự Sống không thể không làm sống động những người mà sự Sống ấy có ở nơi họ. Cũng giống như chúng ta ném một tia lửa vào rơm để giữ cho mầm mống của lửa, cũng vậy Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô đã giấu sự sống trong chúng ta, nhờ xác thịt của mình, Ngài đã chôn vùi nó như một mầm mống sự bất tử, là yếu tố thanh tẩy chúng ta khỏi tất cả những hư hoại đang hiện diện nơi chúng ta.”[75]
Trong khi chờ đợi sự sống lại cuối cùng, Thánh Thể thực hiện ngay ở trần gian này một quyền năng chữa lành nơi người lãnh nhận.
“Thánh Thể có quyền năng loại bỏ không chỉ cái chết, mà cả những yếu đuối của chúng ta. Thật vậy, khi ngự trong ta, Đức Kitô làm dịu đi luật của xác thịt đang hành hạ chúng ta cách dữ dội, Ngài kích thích tình yêu khiêm nhường của chúng ta đối với Thiên Chúa, kiềm chế những cám dỗ của chúng ta, không đổ lỗi cho chúng ta về những tội lỗi chúng ta đã phạm, nhưng đúng hơn chữa lành chúng ta là những người đau yếu.”[76]
Mọi sự ở đây đều mang một đặc tính cực kỳ thực tế và cụ thể. Ai ăn thịt và uống máu Đức Kitô sẽ thấy mình “kết hợp và hòa lẫn với Ngài như sáp kết hợp với sáp”. Cũng như men cho phép cả khối bột lên men, cũng vậy một mẩu nhỏ bánh Thánh Thể lấp đầy toàn thân chúng ta bằng năng lực thần linh. Ngài ở trong chúng ta và chúng ta ở trong Ngài, giống như men trộn với bột và bột dậy men.[77] Nhờ Thánh Thể, chúng ta trở nên “đồng thân xác” (“concorporel”) với Đức Kitô.[78] Chỉ khi đọc lời của Đức Giêsu dưới ánh sáng này, chúng ta mới đánh giá được chiều sâu của nó: “Như tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6,57); thực sự đây sẽ là bản văn kinh điển của nhãn quan này về Thánh Thể.[79]
Kết quả thực tế của tất cả những điều này chỉ có thể là một sự khích lệ thôi thúc thường xuyên rước lễ; về vấn đề này, uy tín của thánh Cyrillô thường được viện dẫn chống lại những người theo phái Giansêniô. Theo ngài, một số người dẫn chứng lời thánh Phaolô nói: “Ai ăn bánh hay uống chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến mình và máu Chúa” (1Cr 11,27); nhưng kết luận phải rút ra không phải là kiêng rước lễ thường xuyên, nhưng là thanh tẩy bản thân càng nhanh càng tốt để có thể đến gần Thánh Thể. Quả thực, người ta sẽ trở nên xứng đáng bằng cách nào, nếu không phải bằng cách tiếp cận sự thánh thiện của Đức Kitô? [80]
Tôi nhắc lại, có một sự kết hợp hoàn hảo giữa nhãn quan này về Thánh Thể và ý tưởng mà các tác giả này có về sự nhập thể, qua đó Ngôi Lời đi vào xác thịt mà Ngài mặc lấy trong cung lòng Đức Maria, Ngài thông ban cho xác thịt ấy thần tính của Ngài, qua thần tính này, Ngài đổ tràn vào tất cả nhân tính sự sống thần linh và sự bất hoại; cũng vậy, qua việc rước lễ, Ngài thâm nhập vào người đã được rửa tội và thông ban cho họ Thần Khí và sự sống.
Cũng như khi nhập thể, Ngôi Lời lôi kéo xác thịt về với mình, mà vẫn giữ cho tất cả những thuộc tính của nó được nguyên vẹn – tức không lẫn lộn, không thay đổi – cũng vậy, do hiệp lễ, Đức Kitô lôi kéo con người về với mình và trao cho con người cách hiện hữu riêng của họ. Quả thực, chính nguyên lý sống mạnh nhất biến nguyên lý thấp hơn thành của mình, chứ không ngược lại. Chính thực vật biến khoáng vật thành của mình, chứ không ngược lại; chính động vật biến thực vật và khoáng vật thành của mình, chứ không ngược lại. Trên bình diện thiêng liêng cũng thế, yếu tố thần linh biến yếu tố con người làm của mình, chứ không ngược lại. Như vậy, đang khi trong tất cả các trường hợp khác, người ăn đồng hóa những gì mình ăn, thì ở đây người bị ăn làm cho người ăn đồng hóa với mình. Do đó, không chỉ có sự hiệp thông giữa hai người, mà còn có sự đồng hóa; sự hiệp thông không chỉ là sự kết hợp của hai thân xác, hai tâm trí, hai ý muốn, nó còn là sự đồng hóa vào một thân thể duy nhất, vào một tâm trí và ý muốn duy nhất của Ngôi Lời. “Ai đã kết hợp với Chúa, thì nên một tinh thần với Người” (1Cr 6,17).
Chính trong truyền thống này mà tin vào sự hiện diện thực sự của Đức Kitô trong Thánh Thể được diễn tả mạnh mẽ nhất. Thánh Thể được coi như bí tích “kéo dài” và hiện tại hóa sự nhập thể. Chỉ cần đọc Đời sống trong Đức Kitô của Cabasilas để thấy nhãn quan này về Thánh Thể đã định hình linh đạo của Giáo Hội Chính thống đến mức nào. Hầu như mọi chủ đề gặp thấy đều được lấy lại và xen vào một tổng hợp bí ẩn tuyệt vời. Bằng cách sử dụng táo bạo sự truyền thông các đặc tính (communication des idiomes), đặc trưng của truyền thống này, Thánh Thể được gọi là “thân thể của Thiên Chúa”.[81] Cabasilas viết:
“Rõ ràng Đức Kitô được đổ tràn nơi chúng ta và hòa nhập với chúng ta, nhưng mặt khác, Ngài thay đổi chúng ta và biến đổi chúng ta trong chính Ngài, giống như một giọt nước nhỏ đổ vào một đại dương khổng lồ dầu thánh. Sức mạnh của dầu này đối với những ai cần đến nó là như thế, đến nỗi họ không chỉ giữ lâu và toát ra hương thơm, mà chính hữu thể của họ cũng trở thành hương thơm, hương thơm của dầu chan chứa trên chúng ta: “Chúng ta là hương thơm của Đức Kitô,” như Kinh Thánh nói.”[82]
Những ai cử hành Thánh Thể hoặc rước lễ mỗi ngày có thể tìm được sự giúp đỡ trong giáo lý Thánh Thể này, để không chu toàn bổn phận đối với Thánh Thể như một cách “thực hành” (praxis) thuần túy, mà người ta có lúc biện minh bằng giá trị vô biên của mỗi Thánh lễ, hoặc bằng những suy xét tương tự khác, nhưng để sống bí tích này như một “đòi hỏi” sống còn của linh hồn.
“Từ lúc chúng ta mang kho tàng này trong một bình bằng đất sét và chất liệu uế tạp khiến cho dấu ấn không giữ được y nguyên nhưng bị biến dạng, chúng ta đừng thưởng thức phương dược một lần duy nhất, nhưng hãy thưởng thức không ngừng. Người thợ gốm phải luôn ở gần đất sét của mình, phải chỉnh sửa nhiều lần hình dạng không hoàn hảo của nó; chúng ta cũng vậy, phải không ngừng để cho bàn tay của thầy thuốc làm việc, cải tạo chất liệu đang tan rã, nắn lại ý chí đang đổi hướng, để cái chết không thình lình bắt chộp chúng ta.”[83]
5. Cuộc Biến Hình trong trường phái Alexanđria
Chúng ta đã chiêm ngắm Đức Kitô với con mắt của cả một trường phái, một phần quan trọng của Truyền Thống. Trường phái này đã không nói tất cả với chúng ta. Mầu nhiệm Đức Kitô vẫn chưa cạn kiệt trong việc cắt nghĩa cách thức nhập thể. Hơn nữa, người ta sẽ ghi nhận rằng việc cắt nghĩa Thánh Thể nhấn mạnh nhiều vào lúc hiệp lễ hơn là lúc truyền phép; người ta nhấn mạnh vào mối liên hệ của Thánh Thể với sự nhập thể hơn là mối liên hệ với cái chết của Đức Kitô mà, như chúng ta biết, Thánh Thể tưởng niệm cái chết ấy. Do đó, nên tra vấn về tiếng nói khác của Truyền Thống, tiếng nói của trường phái Antiôkia, là trường phái dựa vào Phaolô nhiều hơn, nếu chúng ta muốn có một toàn bộ đầy đủ. Nhưng những gì họ đã nói với chúng ta không cần điều gì khác để nghe: đó không phải là tất cả sự thật, nhưng tất cả trong đó đều là sự thật.
Biến Hình là khung cảnh Phúc Âm tóm lược hay nhất nhận thức về Đức Kitô mà chúng ta đã suy niệm: một Đức Kitô mà trong Ngài, ánh sáng và vinh quang tràn đầy của thần tính thần hóa chính xác thịt và được biểu lộ qua xác thịt. Một bản văn quan trọng của thời kỳ byzantin xác nhận điều đó; trong bản văn này các đề tài thiết yếu của truyền thống này được lặp lại, đặc biệt các đề tài liên quan đến Thánh Thể, và đến khung cảnh của Đức Kitô biến hình:
“Khi kết hợp với thực tại nhân loại, Con Thiên Chúa kết hợp với mỗi tín hữu qua việc hiệp thông với mình thánh của Ngài, đến nỗi trở nên đồng thân xác với chúng ta, biến chúng ta thành đền thờ của thần tính Ngài, vì trong thân xác Đức Kitô, sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể (Cl 2,9). Vậy làm thế nào mà khi rước lễ một cách xứng đáng, linh hồn chúng ta lại không được chiếu sáng bằng tia sáng đã làm cho chính thân xác của các môn đệ tỏa chiếu trên Tabor? Thân xác, nguồn mạch của ánh sáng tức là ân sủng, vẫn chưa được kết hợp với các thân xác, ánh sáng đó soi sáng từ bên ngoài những ai đến gần nó; nó chiếu sáng từ bên ngoài những ai ở gần và thâm nhập vào linh hồn qua trung gian của mắt và các giác quan; nhưng giờ đây, khi hòa nhập với chúng ta và ở trong chúng ta, nó soi sáng linh hồn từ bên trong.”[84]
Chúng ta có thể từ núi Tabor của mình lại xuống núi, khi biết rằng mỗi ngày Thánh Thể cung cấp cho chúng ta khả năng trải nghiệm cụ thể những điều kỳ diệu của ân sủng mà Đức Kitô là nguồn mạch, và các Giáo Phụ của trường phái Alexanđria đã cho phép chúng ta thoáng nhìn. Theo các ngài, thế giới đã trở nên khác, kể từ khi Ngôi Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa đến trong thế giới để xây nhà của mình ở đó.
