1. LÚC KHỞI ĐẦU ĐÃ CÓ TÌNH YÊU
(KHÔNG PHẢI LÒNG THƯƠNG XÓT!)
Thiên Chúa là tình yêu
Gioan khởi đầu Phúc Âm của mình bằng những lời này: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời”. Ông không nói “sự” khởi đầu đã có Ngôi Lời, nhưng nói “lúc” khởi đầu đã có Ngôi Lời. Quả thực Ngôi Lời đã có “lúc khởi đầu với Thiên Chúa”, nhưng Ngài không phải là sự khởi đầu. Khởi đầu mọi sự không phải là Ngôi Lời, cũng không phải là yếu tính thần linh trừu tượng, hay Hữu Thể tối cao, nhưng là ngôi vị của Chúa Cha.
Theo nhãn quan cổ điển của các Giáo Phụ Hy Lạp, được thần học La tinh chia sẻ rộng rãi ngày hôm nay, nơi Thiên Chúa sự duy nhất không tách khỏi Ba Ngôi, nhưng tạo nên một mầu nhiệm độc nhất, phát xuất từ một hành vi độc nhất. Bằng những hạn từ rất nghèo nàn của con người, chúng ta có thể nói Chúa Cha là nguồn mạch, nguồn gốc tuyệt đối của chuyển động tình yêu. Chúa Con không thể tồn tại như là Con, nếu Ngài không nhận trước từ Chúa Cha mọi sự Ngài là. Chúa Cha là Đấng duy nhất, ngay cả trong khuôn khổ Ba Ngôi, không cần được yêu để có thể yêu.
Vậy Thiên Chúa duy nhất của các người Kitô hữu là Chúa Cha, không được quan niệm tự thân (làm sao có thể được gọi là “cha” nếu không vì có một người “con”?), nhưng là Chúa Cha luôn mãi vì sinh ra Chúa Con và hiến mình cho Chúa Con, bằng một tình yêu vô biên liên kết hai Ngôi và là Chúa Thánh Thần.
Tình yêu này nơi Ba Ngôi – và cấu thành Ba Ngôi – là bản tính (dùng một thuật ngữ giúp ta có thể hiểu, nhưng không đủ), không phải ân sủng; đó là tình yêu, không phải lòng thương xót. Chúa Cha yêu Chúa Con không phải là một ân sủng hay một nhượng bộ, nhưng một cách nào đó là một sự cần thiết. Chúa Cha cần yêu để hiện hữu như Cha. Chúa Con yêu Cha không phải là một nhượng bộ hay một ân sủng, nhưng là một sự cần thiết nội tại, cho dù sự cần thiết này rất tự do. Ngài cần được yêu và yêu để là Con. Chúa Cha sinh ra Chúa Con trong Chúa Thánh Thần, nghĩa là bằng cách yêu Chúa Con; Chúa Cha và Chúa Con thở ra Chúa Thánh Thần bằng cách yêu nhau.
Chỉ nơi Thiên Chúa, điều mà thánh Bênađô nói về tình yêu được thực hiện đầy đủ và tuyệt đối, tức không có “bởi vì” nào khác bên ngoài Ngài:
“Tình yêu đủ cho chính nó, làm hài lòng bởi chính nó và cho chính nó. Nó là công trạng cho chính nó, là phần thưởng cho chính nó. Tình yêu không tìm bên ngoài nó cả lý do tồn tại lẫn hoa quả của nó: hoa quả của nó là chính tình yêu. Tôi yêu vì tôi yêu, tôi yêu để yêu[2].”
Tình yêu đủ cho chính nó, nhưng không gì đủ cho tình yêu! Hành động của Thiên Chúa đối với thụ tạo minh chứng điều đó.
Tình yêu biến thành ân huệ
Điều gì xẩy ra khi Thiên Chúa tạo thành thế giới và dựng nên các thụ tạo trong đó, theo hình ảnh Ngài và giống Ngài? Tình yêu biến thành ân huệ. Tình yêu, cũng như sự thiện, do chính bản tính “hướng tới chỗ lan tỏa”, nó là diffusivum sui[3]. Từ Công Đồng đến nay, Kinh nguyện Thánh Thể IV đang được sử dụng có những lời như sau: “Cha là Thiên Chúa tốt lành và là nguồn mạch sự sống, đã tác tạo mọi loài để ban cho chúng đầy tràn ơn phúc”. Ở một trong những kinh nguyện của mình, thánh Catarina Sienna diễn tả cũng chân lý này bằng những lời đầy lửa sốt mến:
“Lậy Cha hằng hữu, làm sao Cha đã dựng nên các thụ tạo của Cha? Con rất ngạc nhiên về điều đó. Quả thực con thấy, cũng như Cha chỉ cho con thấy, Cha đã dựng nên thụ tạo không vì lý do nào khác hơn là, trong ánh sáng của Cha, Cha thấy mình bị ngọn lửa tình yêu thúc bách ban hữu thể cho chúng con, mặc cho những tội lỗi mà chúng con sắp phạm đến Cha, lậy Cha hằng hữu. Thế nên lửa đã thúc bách Cha! Ôi, tình yêu khôn tả, cho dù trong ánh sáng của Cha, Cha thấy mọi tội lỗi mà thụ tạo của Cha sắp phạm đến tình yêu vô biên của Cha, Cha vẫn như giả vờ không thấy gì, nhưng Cha nhìn tới vẻ đẹp của thụ tạo mà Cha, như điên cuồng và phải lòng chúng, Cha say mê và vì yêu mà kéo chúng ra khỏi Cha, ban cho chúng hữu thể theo hình ảnh của Cha và giống Cha. Cha là chân lý vĩnh cửu, Cha đã bày tỏ cho con chân lý này, tức là tình yêu đã thúc bách Cha dựng nên chúng[4].”
Tình yêu lan tỏa này là ân sủng, không phải là bản tính nữa, nó có tính cho không, nó có thể không tồn tại, vậy nó là ân huệ, là thái độ ban ơn. Nó là hesed, lòng thương xót. Thánh Irênê đã viết một trang đáng kinh ngạc về chủ đề này:
“Thiên Chúa không kết thân bạn hữu với Abraham vì cần điều đó, nhưng vì tốt lành, Ngài muốn ban cho Abraham sự sống vĩnh cửu […] vì tình bạn của Thiên Chúa đem lại sự bất hoại và sự sống vĩnh cửu. Như vậy, ngay từ đầu, Thiên Chúa đã không tạo dựng Ađam vì cần con người, nhưng là để có một người mà Ngài ban ơn cho. Những ai phục vụ Ngài do chính việc họ phục vụ Ngài, và những ai theo Ngài do chính việc họ theo Ngài, đều được hưởng ơn đó, nhưng Ngài không nhận được từ họ lợi lộc nào cả, vì Ngài hoàn hảo và không cần gì[5].”
Thánh nữ Catarina Sienna nói rằng Thiên Chúa bị tình yêu thúc bách tạo dựng nên ta; còn thánh Irênê dường như nói ngược lại, nghĩa là Ngài không cần gì phải dựng nên ta. Cả hai quả quyết đều diễn tả một khía cạnh thật của mầu nhiệm: đối với Thiên Chúa, đó là một sự cần thiết cho không và một sự cho không cần thiết. Đó là một sự thúc bách rất tự do.
Như thế lòng thương xót của Thiên Chúa có trước tội lỗi của con người, nó không chỉ là đáp lại tội lỗi này, vì nó có trước tội lỗi này. Theo thánh Athanasiô, chính vì thương xót (eleos) mà Thiên Chúa tạo dựng con người “theo hình ảnh Ngài”, được Ngài ban lý trí để có thể nhận biết Ngài, ban ngôn ngữ để có thể ca ngợi Ngài[6]; chính do ân sủng và lòng thương xót mà chúng ta được tuyển chọn trong Đức Kitô “trước cả khi tạo thành vũ trụ” và đã “tiền định cho ta làm nghĩa tử [7]”.
Ân huệ biến thành tha thứ
Tội lỗi của con người mang lại điều gì mới trong khung cảnh này? Nói vắn tắt: từ chỗ thương xót như ân huệ, chúng ta bước sang thương xót như tha thứ. Để giúp chúng ta hiểu điều này hệ tại ở chỗ nào, hãy xem cách Nicola Cabasilas, nhà thần học byzantin ở thế kỷ XIII, phân biệt giữa tình yêu của ban tặng và tình yêu của đau khổ.
“Có hai cách chứng minh tình yêu của mình đối với một người và làm cho tình yêu ấy chiến thắng: cách thứ nhất là làm điều tốt cho người mình yêu trong tất cả những gì có thể, cách thứ hai là chịu khổ cho người đó tới chỗ chịu đựng những điều kinh khủng nhất nếu cần. Bằng chứng sau của tình yêu cao cả hơn nhiều so với bằng chứng trước, chỉ có thể đến từ Thiên Chúa là Đấng không thể bị bất cứ sự dữ nào làm khổ. […] Thiên Chúa đã không phát mình ra sự tự hủy, Ngài đã thực hiện nó, đã làm cho mình có thể chịu khổ và chịu đựng những điều kinh khủng nhất. Chính như vậy mà Thiên Chúa – với tất cả những gì Ngài chịu đựng – đã cho con người thấy tình yêu lạ lùng của Ngài đối với họ, và lôi kéo họ đến với Ngài bằng một cách thức mới, trong khi họ đã chạy trốn Chúa nhân từ vì tưởng bị Ngài ghét bỏ[8].”
Tội lỗi như một cuộc nổi loạn của con người gây ra một vết thương nơi Thiên Chúa: khi ấy tình yêu của ân huệ trở thành tình yêu chịu đau khổ. Chúng ta hiểu tại sao N. Cabasilas đưa tình yêu của đau khổ nơi Thiên Chúa về lại lúc nhập thể và khổ nạn của Đức Kitô. Nhưng ngay từ thế kỷ III, Origen đã cho thấy một ý tưởng khác, được tái khám phá ngày nay, được thần học và cuối cùng là Huấn quyền của Giáo Hội đón nhận. Origen viết như sau:
“Đấng Cứu Thế xuống trần gian vì thương xót nhân loại. Ngài đã chịu đựng những đau khổ của ta trước cả khi chịu khổ hình thập giá, trước cả khi hạ mình mặc lấy xác phàm chúng ta. Nếu Ngài đã không chịu khổ trước, hẳn Ngài sẽ không đến dự phần vào cuộc sống con người chúng ta. Cuộc khổ nạn mà ngay từ đầu Ngài đã chịu vì chúng ta là cuộc khổ nạn nào? Đó là cuộc khổ nạn của tình yêu. Chính Chúa Cha, Thiên Chúa của vũ trụ, lượng cả bao dung và đầy lòng thương xót, không phải chịu khổ một cách khác chăng? Hoặc có lẽ bạn không biết khi Ngài bận tâm đến những chuyện của con người, Ngài chịu một nỗi khổ của con người sao? Chính Chúa Cha chịu một cuộc khổ nạn, cuộc khổ nạn của tình yêu[9].”
Trực giác của Origène đã phải chờ đợi những đại họa của thế kỷ vừa qua để lại làm cho Giáo Hội phải ý thức. Trong hạ bán thế kỷ, một số nhà thần học nổi tiếng nhất đã nói về sự đau khổ của Thiên Chúa. Ủy vụ Thần học Quốc tế diễn tả một ý kiến rõ rệt là tích cực với sự mở đầu này[10]. Nhãn quan này được Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đón nhận, khi ngài viết cách chính xác và thận trọng trong Thông điệp về Chúa Thánh Thần:
“Quan niệm về Thiên Chúa như hữu thể toàn hảo đương nhiên loại bỏ khỏi Thiên Chúa mọi đau khổ do khiếm khuyết hay do thương tích. Nhưng trong nơi sâu thẳm của Thiên Chúa, có một tình yêu của Chúa Cha là Đấng, trước tội lỗi của con người, phản ứng đến độ phải thốt lên theo ngôn ngữ của Kinh Thánh: “Ta hối hận đã làm ra con người[11].” […] Sách Thánh nói cho chúng ta về một người Cha đầy lòng trắc ẩn đối với con người, như thể muốn chia sẻ nỗi đau khổ của con người. Rốt cuộc sự đau khổ khôn lường và khôn tả của người cha đặc biệt sẽ làm phát sinh kế hoạch lạ lùng của tình yêu cứu chuộc trong Đức Giêsu Kitô, để nhờ mysterium pietatis (mầu nhiệm thương xót), tình yêu có thể tỏ ra mạnh hơn tội lỗi trong lịch sử loài người. […] Sự “đau khổ” của Thiên Chúa được cụ thể hóa nơi nhân tính của Đức Giêsu Cứu Thế[12].”
Đây không phải là một ý tưởng mới, nhưng là tái khám phá khuôn mặt thực của Thiên Chúa trong Cựu Ước, ẩn giấu trong nhiều thế kỷ sau ý tưởng về một “Thiên Chúa của các triết gia”, người khởi động mà bất động, người xê xích mọi sự mà chính mình lại không xê dịch và không gì có thể làm cho Người lay chuyển. Một giáo trưởng Do Thái đã có cùng một kết luận như các nhà thần học Kitô giáo, khi ông không làm gì hơn là nghiên cứu và bình giải Kinh Thánh. Ông đã viết trước cả các tác giả kể trên:
“Thiên Chúa có chịu khổ không? Theo tôi, việc nghĩ tới điều đó là như một bổn phận của trái tim. […] Thiên Chúa luôn bị thương tích, Thiên Chúa luôn chịu khổ, hoặc trong sự công chính hoặc trong sự thương xót của Ngài (nghĩa là khi Ngài phạt tội lỗi hoặc khi Ngài bỏ qua tội lỗi của con người). Ngài đau khổ vì người phạm tội và với người phạm tội[13].”
Khi nói về sự đau khổ của Thiên Chúa, chúng ta không được chỉ nhấn mạnh sự đau khổ của Chúa Cha, nhưng của cả Ba Ngôi. Sự đau khổ nơi Thiên Chúa cũng có tính ba ngôi. Chính Chúa Thánh Thần – vì Ngài là tình yêu của Thiên Chúa có ngôi vị – là sự đau khổ của Thiên Chúa có ngôi vị[14].”
Cuối cùng thì chính tình yêu chiến thắng mọi loại đau khổ dung hòa sự đau khổ của Thiên Chúa với sự tin tưởng không lay chuyển của chúng ta vào sự hoàn hảo vô biên và quyền năng của Ngài; “sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa[15]” nơi ta cũng như nơi Thiên Chúa. Tình yêu chiến thắng theo cách của nó, nghĩa là không phải bằng cách xua tan sự dữ, đẩy nó ra ngoài biên giới của nó (một điều không thể xẩy ra mà không phá hủy sự tự do của con người), nhưng bằng cách biến đổi điều dữ thành điều lành, thù ghét thành yêu thương.
Tình yêu từ “lòng dạ” Thiên Chúa
Để hiểu sự đau khổ của Thiên Chúa, phải để ý đến sự phân biệt giữa bản tính và ngôi vị nơi Ba Ngôi. Là bản tính, Thiên Chúa toàn năng, tuyệt đối hoàn hảo, nơi Ngài không thể có đau khổ do việc mất đi sức sống, vì Ngài là Đấng hằng sống ban sự sống cho mọi loài, và không bao giờ mất đi sự sống. Vậy khi chúng ta nói không thể có đau khổ nơi Thiên Chúa, đó là chúng ta nói về bản tính của Ngài. Chúa Cha là một ngôi có thiên tính và do đó sống cách cụ thể tư cách ngôi vị của mình trong mọi tương quan liên vị với Chúa Con và Chúa Thánh Thần, cũng như với loài người và các thiên thần được Ngài dựng nên. Trong loại tương quan đầu, tương quan gắn liền với đời sống thâm sâu của Ngài, với Chúa Con và Chúa Thánh Thần, mọi hình thức đau khổ đều không có; sự hiệp nhất hoàn hảo của tình yêu và sự sống loại bỏ mọi hình thức đau khổ.
Nhưng Chúa Cha không chỉ là Cha của Chúa Con và nguồn mạch của Chúa Thánh Thần; Ngài cũng là Đấng tạo dựng vũ trụ, mà Ngài đã đặt con người đứng đầu. Ngài thiết lập với con người một tương quan tự do của tình yêu và hiệp thông, theo hình ảnh tương quan của Ngài với Chúa Con. Ngài đi vào trong tương quan này với tất cả vinh quang và tình yêu của Ngài. Vậy dây liên kết mà Chúa Cha có với vũ trụ bao hàm tương quan này tới tận thâm sâu, với tất cà tư cách ngôi vị của Ngài. Sự đau khổ được ghi sâu trong tương quan này.
Quả thực, ý định tạo dựng của Chúa Cha không thể hoàn tất nếu không có sự cộng tác và tự do tán thành của con người. Khi từ chối, con người chạm tới trái tim Ba Ngôi, ý muốn hiệp thông tình yêu của các Ngài với họ. Từ đó mà có đau khổ do sự khước từ của con người, không để cho tình yêu và sự thánh thiện của các Ngài lôi kéo. Như chúng ta thấy, sự đau khổ không làm giảm sút hay mất đi sức sống nơi Thiên Chúa, nhưng là phương thức duy nhất qua đó thể hiện sự viên mãn sự sống và tình yêu của Ngài trước sự khước từ của con người.
Điều xẩy ra cho Thiên Chúa có thể so sánh với điều xẩy ra cho một phụ nữ rất khát khao được làm mẹ, nhưng vì có một ngăn trở nơi thân xác hay vì bị chồng từ chối mà không thể làm mẹ. Sự đau khổ thâm sâu trong lòng như siết chặt chị, khiến chị bị tước đi ước muốn mãnh liệt được làm mẹ. Cũng vậy, khi con người từ chối vâng phục Thiên Chúa và yêu mến Ngài, họ ngăn cản ước muốn mãnh liệt của Ngài là làm cho con người được tham dự vào vinh quang của Ngài.
Hình ảnh sau cùng này giúp chúng ta hiểu một vài bản văn đẹp đẽ nhất – và mạnh mẽ nhất – của Cựu Ước về lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúng ta thấy ở đó phản ứng của Thiên Chúa trước sự bất trung của dân Ngài, có thể sánh được với tình cảm từ lòng dạ của tình yêu đau khổ mà một phụ nữ cảm thấy, trước thái độ phản bội hay vô ơn của con mình.
“Ephraim có phải là đứa con Ta yêu dấu, một đứa con Ta rất mực mến yêu? Vì mỗi lần nhắc tới nó, Ta lại thấy nhớ thương, nên lòng Ta bồi hồi thổn thức. Ta thương nó, thương nó thật nhiều – sấm ngôn của Đức Chúa[16]”.
Hạn từ được dịch là “tâm khảm”, “đáy lòng” hay “lòng dạ”, tiếng Do thái là rahamim, phát xuất từ rehem, để chỉ lòng dạ người mẹ. Đó là tình yêu đau buồn hệt như tình yêu mà chính Giêrêmia nghiệm ra khi thấy nỗi bất hạnh sắp giáng xuống trên dân:
“Ruột gan tôi, ôi ruột gan tôi, đau quá chừng quá đỗi. Trong lồng ngực tôi tim đập thình thình. Tôi không thể nào làm thinh được vì tiếng tù và rúc, tiếng hò la xung trận[17]”.
Như thể Thiên Chúa chấp nhận chịu đau khổ do hiệu quả của tội lỗi con người, và như vậy tiên báo điều sẽ xẩy ra trên thập giá. Như Hôsê nói, dân Chúa cứng lòng không chịu hoán cải. Thiên Chúa càng lôi kéo con người về phía mình, con người càng quay về phía các thần tượng. Vậy Thiên Chúa phải làm gì? Từ bỏ họ ư? Thiên Chúa nói với dân về thế tiến thoái lưỡng nan sâu xa của Ngài, về loại yếu đuối và bất lực này mà, vì tình thương từ lòng dạ, Ngài có với thụ tạo của Ngài. Thiên Chúa như bị đâm thấu lòng khi nghĩ đến dân riêng có thể bị tàn phá:
“Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi […] Ta là Thiên Chúa chứ không phải người phàm. Ở giữa ngươi Ta là Đấng Thánh, và Ta sẽ không đến trong cơn thịnh nộ[18].”
Trong những hoàn cảnh tương tự, con người sẽ nổi tam bành lên và thường làm như vậy, nhưng Thiên Chúa thì không bao giờ, vì Ngài là “thánh”, Ngài thì khác; cho dù chúng ta bất trung, Ngài vẫn trung tín vì Ngài không thể chối chính mình[19]. Trước nhân loại, Thiên Chúa thấy mình thiếu mọi khả năng, không những khả năng cưỡng chế mà cả khả năng tự bảo vệ. Nếu con người ngăn cản hành động yêu thương của Ngài, không cho Ngài làm Đấng tạo thành nơi họ, Ngài không dùng quyền can thiệp áp đặt cho họ. Ngài sẽ chỉ có thể tôn trọng, trong một mức độ vô biên, sự tự do chọn lựa của con người. Người ta có thể từ chối, loại bỏ Ngài. Ngài để mặc họ làm, không tự bảo vệ mình. Hoặc đúng hơn, cách tự bảo vệ và bảo vệ con người chống lại sự tiêu vong của họ sẽ là cứ yêu và yêu mãi, yêu đến muôn đời.
Chuyện là như thế. Hồ nước hoặc, đúng hơn, sự sâu thẳm của mầu nhiệm mở ra trước mắt chúng ta. Chỉ còn việc là chúng ta nhảy xuống đó, lòng đầy sững sờ và biết ơn.
