2. “NGƯỜI ĐÃ NHỚ LẠI LÒNG THƯƠNG XÓT”

Lòng thương xót của Thiên Chúa đã nhập thể

Sự mới mẻ của nhập thể

Phúc Âm mở đầu bằng một bài hát nhiều giọng ca ngợi lòng thương xót của Thiên Chúa. Phần được gọi là “Phúc Âm thời thơ ấu” của Luca là như thế. Trong bài Magnificat, Đức Maria đã ca ngợi lòng thương xót (eleos) của Thiên Chúa “trải qua từ đời nọ đến đời kia”; bài ca nói rằng Thiên Chúa “đã nhớ lại lòng thương xót của Người, như đã hứa cùng tổ phụ chúng ta, cho Abraham và dòng dõi người đến muôn đời[20]!” Ông Dacaria cũng làm như vậy trong bài ca của mình: Thiên Chúa “đã trọn bề nhân nghĩa với tổ tiên và nhớ lại lời xưa giao ước […] Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn [dịch sát: lòng thương xót] cho Vầng Đông tự chốn cao vời viếng thăm ta[21].”

Để hiểu những kiểu nói trên thấm nhiễm sự mới mẻ như thế nào, nên biết những người Do Thái đạo đức đã chờ mong và cầu xin gì với Thiên Chúa trong kinh nguyện của họ, trước khi Đức Kitô đến. May mắn chúng ta có một trong những kinh nguyện ấy trong sách Huấn ca, một kinh nguyện xin cho Israel được “giải thoát và tái sinh” thời Macabê:

“Xin giơ tay […] Xin cho tái diễn những điềm thiêng và lại làm những dấu lạ khác […] Xin rút ngắn hạn kỳ và nhớ lời thề hứa để thiên hạ truyền rao vĩ nghiệp của Ngài […] Xin rủ lòng thương Israel là đoàn dân đã từng mang danh Chúa […] Những lời sấm đã tuyên nhân danh Ngài, xin thực hiện[22].”

Thời ấy, người ta nói: “Xin giơ tay”, còn hôm nay Đức Maria nói: “Chúa đã giơ cánh tay”; thời ấy người ta nói: “Xin hãy làm những dấu lạ khác”, thì giờ đây Đức Maria nói: “Người đã làm những điều cao cả”; thời ấy người ta nói: “Xin nhớ lại”, thì giờ đây Đức Maria nói: “Người đã nhớ lại”; thời ấy người ta nói: “Xin rủ lòng thương dân Ngài”, thì giờ đây Đức Maria nói: “Chúa đã thương xót Israel”; thời ấy người ta nói: “Xin hãy thực hiện những lời sấm đã tuyên”, thì giờ đây Đức Maria nói: “Chúa đã thực hiện những lời tuyên sấm”. Chỉ đơn giản thay đổi thì của động từ là tất cả một thời kỳ được thay đổi, thực tế là chuyển từ thời của chờ đợi sang thời của hoàn tất, thời thực hiện biến cố cánh chung.

Nhưng sự mới mẻ hệ tại ở điều gì, vì Cựu Ước đã nói những điều rất táo bạo và cảm động về lòng thương xót của Thiên Chúa? Chúng ta tìm thấy câu trả lời trong cách tác giả thư Do thái khởi đầu lá thư của mình: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời gian sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử[23]”. Thiên Chúa đã thường phán với những giọng điệu tuyệt vời về lòng thương xót của Ngài qua miệng các tiên tri, ngày hôm nay phán với chúng ta qua “Con của Ngài”, nghĩa là không cần người làm trung gian nữa, nhưng “tự mình”, vì người Con là “phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa[24]”.

Thực tế còn đẹp hơn dụ ngôn. Trong dụ ngôn người cha thương xót, người con cả ở lại nhà. Anh ghen tức khi người con út trở về. Trên thực tế, chính người con cả đi tìm đứa em đi hoang và đưa về với cha. Người Con độc nhất của Thiên Chúa đã đi xuống “nơi xa”, để mang về cho Chúa Cha “các con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi[25]”.

Không những Chúa Con “nói” cho chúng ta về lòng thương xót của Thiên Chúa, mà Ngài còn là chính lòng thương xót nhập thể. Một tác giả xưa đã giải thích thêm câu Gioan 1,14 như sau: “Tình yêu (của Chúa Cha) đã nhập thể nơi Ngài[26]”. Trước khi Đức Kitô làm bất cứ cử chỉ thương xót nào, hay nói bất cứ dụ ngôn nào về lòng thương xót, đã có biến cố về lòng thương xót là sự nhập thể. Đối với người tự hỏi Ngôi Lời đã đem đến sự gì mới mẻ khi xuống thế gian, thánh Irênê đã trả lời: “Ngài đã mang đến tất cả sự mới mẻ bằng việc chính Ngài đến[27]”. Hoàn toàn đúng như vậy. Sự mới mẻ lớn lao nhất là chính con người của Ngài, là chính việc Ngài làm người.

Thiên Chúa hạ cố

Chúng ta thử xem sự nhập thể của Ngôi Lời tạo ra biến cố căn bản của lòng Chúa thương xót theo nghĩa nào. Thánh Augustinô viết:

“Đối với những người bất hạnh, lòng thương xót nào có thể hơn lòng thương xót đã làm cho Đấng Tác Tạo trời từ trời mà xuống, đã mặc cho Đấng Tác Tạo đất một thân xác bằng đất, đã làm cho Đấng vẫn ngang hàng với Cha mình trong bản tính vĩnh cửu của Ngài ngang hàng với chúng ta trong bản tính phải chết của chúng ta, đã ban một bản tính nô lệ cho Chủ nhân thế giới[28]”.

Theo thánh Irênê, “con chiên lạc mất” trong một dụ ngôn của Luca là toàn thể nhân loại biểu thị bằng Ađam sa ngã, và nhập thể là lúc Ngài đi tìm nó để vác trên vai đưa về đàn[29]. Nhiều Giáo Phụ đã gán cho hình ảnh này một ý nghĩa không những ẩn dụ mà còn siêu hình nữa. Theo các ngài, khi nhập thể, Ngôi Lời không chỉ mặc lấy một bản tính nhân loại cá nhân, mà một cách nào đó tất cả bản tính nhân loại được quan niệm theo cách của Plato như một cái cụ thể phổ quát. Theo nhãn quan quen thuộc với nhiều Giáo Phụ Hy Lạp, sự cứu độ Kitô giáo được thực hiện, nói tắt, hoàn toàn vào lúc Con Thiên Chúa mặc lấy xác thịt con người và trao cho nó một mầm mống bất tử.

Dưới một khía cạnh khác, nhập thể cũng thực hiện vĩnh viễn lòng thương xót của Thiên Chúa. Đáp lại lời xin của Môsê “Xin thương cho con được thấy vinh quang của Ngài”, Thiên Chúa phán:

“Ngươi không thể xem thấy tôn nhan Ta, vì con người không thể thấy Ta mà vẫn sống”. Đức Chúa còn phán: “Đây là chỗ gần Ta; ngươi sẽ đứng trên tảng đá. Khi vinh quang của Ta đi ngang qua, Ta sẽ đặt ngươi vào trong hốc đá, và lấy bàn tay che ngươi cho đến khi Ta đã đi qua. Rồi Ta sẽ rút tay lại, và ngươi sẽ xem thấy lưng Ta, còn tôn nhan Ta thì không được thấy[30]”.

Trong việc nhập thể, Thiên Chúa che mặt để con người có thể thấy Ngài mà không phải chết. Thiên Chúa mạc khải mình bằng cách giấu mặt. Đó là lý do vì sao, sau khi đã nói “Ngôi Lời đã trở nên người phàm”, Gioan đã kêu lên: “Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người[31]”. Các Giáo Phụ Hy Lạp diễn tả khía cạnh này của lòng Chúa thương xót bằng cách dùng từ synkatabasis, có nghĩa là hạ cố[32]. Trong một tác phẩm ở thế kỷ III được gán cho thánh Giáo Hoàng Clêmentê, người ta đọc thấy chủ đề này:

“Bản tính vô thể của Thiên Chúa không thể được chiêm ngưỡng bằng đôi mắt phải chết, bởi vì ánh sáng của nó quá lớn. Việc Thiên Chúa không cho phép con người nhìn thấy Ngài không phải là dấu hiệu của sự ghen tị, mà đúng hơn là của lòng thương xót, bởi vì ai nhìn thấy Ngài đều không thể sống. Chính vì ánh sáng quá mức của nó mà mọi xác thịt sẽ tan biến, trừ khi do sự xếp đặt cao cả của Thiên Chúa, hoặc xác thịt được biến thành ánh sáng để có thể chiêm ngưỡng ánh sáng, hoặc ánh sáng được biến thành xác thịt để được nhìn thấy bởi xác thịt[33]”.

Sự nhập thể đã hoàn tất điều có thể thứ hai.

Kim tự tháp lộn ngược

Người ta đã luôn quan niệm lên tới Thiên Chúa như leo lên một kim tự tháp, cố gắng lên tới đỉnh bằng sức lực riêng của mình, nhờ suy lý hoặc khổ chế. Nhưng như thế là vô ích, vì như Đức Giêsu nói với Nicôđêmô: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống [34]”. Qua việc nhập thể, Thiên Chúa đã lật ngược kim tự tháp; Ngài đứng ở dưới chân, đặt ta trên Ngài, có thể nói được là mang ta trên vai Ngài, đúng như người chăn chiên mang trên vai con chiên bị lạc. Chúng ta có thể đi đến với Ngài vì Ngài đã đến với ta trước.

Ý tưởng về Thiên Chúa nổi bật nhất thời Tân Ước trong số những người có học là điều người ta gọi là “thiên chúa của các triết gia”. Plato quả quyết ngài “không trà trộn với con người[35]”, còn Aristot thì nói ngài “vận hành thế giới vì Ngài được yêu[36]” (không phải vì Ngài yêu). Chính từ nhãn quan này mà phát sinh ý tưởng tôn giáo về việc bắt chước Thiên Chúa, do đồng hóa với Thiên Chúa ngần nào có thể[37].

Qua việc nhập thể, Thiên Chúa hoàn toàn làm đảo lộn tư tưởng này.

“Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta […] Chúng ta yêu thương vì Thiên Chúa đã yêu chúng ta trước[38].”

Thi sĩ Charles Péguy diễn tả bằng lối văn riêng của ông (ông luôn cho Thiên Chúa nói ở ngôi thứ nhất) việc Thiên Chúa xuống trước việc con người lên với Ngài. Thiên Chúa nói:

“Người ta luôn nói về việc con người bắt chước Đức Giêsu Kitô, là trung thành bắt chước Con của Ta… Nhưng đừng quên là chính Con của Ta đã khởi sự bằng việc đặc biệt bắt chước con người. Đặc biệt trung thành. Sự bắt chước được thúc đẩy đến chỗ đồng hóa hoàn toàn khi Ngài mang lấy số phận phải chết, cũng trung thành và hoàn hảo. Ngài bắt chước sự sinh ra. Và sự sống. Và sự chết[39].”

Trước khi con người bắt chước Thiên Chúa thì Thiên Chúa đã bắt chước con người.

Như tôi đã nói, kim tự tháp đã lộn ngược một lần vĩnh viễn, khi Ngôi Lời đã trở nên người phàm. Tuy vậy từ đây nó còn phải lộn ngược nơi ta. Kim tự tháp một khi lộn ngược, bất hạnh thay lại hướng tới chỗ luôn trở lại với vị trí cũ, vị trí mà tội lỗi và sự tự phụ của con người đã đặt nó vào. Do sinh sản và lai giống, chúng ta thuộc về một chủng tộc nghĩ rằng có thể trở lại với Thiên Chúa và có được ân sủng của Ngài bằng những công trình riêng hoặc những suy luận của mình. Chúng ta thuộc vào cùng một loại người (trong Phúc Âm, đó là những người Biệt Phái) mà Phaolô lấy làm buồn khi ghi nhận là “họ không nhận biết rằng chính Thiên Chúa làm cho người ta nên công chính, và họ tìm cách nên công chính tự sức mình[40].” Nói khác đi, họ nghĩ có thể được cứu nhờ công trạng của mình. Chính thánh Augustinô, trong Tự thú, cho thấy ngài đã phải cố gắng để đón nhận sự đảo ngược do việc nhập thể thực hiện: “Và con đã không khiêm nhường, để biết vị thầy khiêm nhường của con là Đức Giêsu Kitô[41]”.

Vậy “muốn hướng tới Thiên Chúa” có phải là tự dối mình chăng? Phải chăng thánh Bonaventura đi sai hướng khi ngài viết cuốn Hành trình của linh hồn lên tới Thiên Chúa, quan niệm hành trình đó như một việc nâng hồn lên tới Thiên Chúa nhờ những dấu vết của Thiên Chúa trong thiên nhiên và nơi chúng ta? Không phải, vì một lý do rõ ràng. Từ đây việc nâng hồn lên đã xẩy ra với Đức Kitô và theo chân Đức Kitô. Khảo luận của Bonaventura hoàn tất với Đức Giêsu, Đấng đã lại mở ra  con đường để lên trời cùng với Ngài, nhờ cuộc Vượt Qua cái chết và sự sống lại của Ngài[42].

Triết gia và tín hữu Kierkegaard đã viết một lời kinh tuyệt vời về Thiên Chúa, Đấng đã yêu trước. Chúng ta hãy coi đó là lời kinh của chúng ta khi kết thúc bài suy niệm này về lòng thương xót của Thiên Chúa lúc nhập thể:

“Lạy Chúa, Chúa đã yêu con trước.

Chúng con nói về Chúa

như thể Chúa đã chỉ yêu chúng con trước

một lần duy nhất trong quá khứ.

Thực ra, suốt mọi ngày

và suốt cuộc đời,

Chúa yêu con trước.

Khi chúng con thức giấc buổi sáng

và chúng con hướng tâm hồn lên tới Chúa,

Chúa đi trước chúng con,

Chúa đã yêu chúng con trước.

Nếu con thức dậy lúc bình minh

và cùng giây phút đó hướng về Chúa

tâm hồn con và kinh nguyện của con,

Chúa đi trước con, Chúa đã yêu con trước.

Khi con tránh xa những chia trí,

và hồi tâm để nghĩ tới Chúa,

Chúa vẫn là người đầu tiên.

Lạy Chúa, xin tha thứ cho những vô ơn của chúng con

không phải chỉ một lần

Chúa đã yêu chúng con trước,

nhưng là mỗi khoảnh khắc

trong cuộc đời chúng con[43].”

Phần trước Phần tiếp theo