3. “NGƯỜI ĐÃ ĂN UỐNG TẠI NHÀ MỘT NGƯỜI TỘI LỖI!”
Đức Giêsu và ông Dakêu
Đức Giêsu và những người tội lỗi
Chúng ta bắt đầu giai đoạn thứ hai khảo sát lòng thương xót bao la xuyên suốt dòng Lịch sử; đúng hơn, chúng ta thực hiện bước nhảy thứ hai vào hồ nước Bêdatha mà từ đây sẽ là Phúc Âm.
Qua việc nhập thể, Đức Giêsu trở thành “khuôn mặt hữu hình của Chúa Cha vô hình[44]”. Chính Đức Giêsu sẽ nói cho các Tông Đồ: “Ai thấy Thấy là thấy Chúa Cha[45]”. Từ đây người ta chỉ có thể chiêm ngắm “Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giầu nhân nghĩa và thành tín[46]” nơi khuôn mặt của Chúa Con làm người. Đó là điều chúng ta sẽ bàn trong những chương sau đây, khi suy niệm trước hết về các cử chỉ thương xót của Đức Kitô, rồi đến những lời giảng dạy của Ngài về chủ đề này.
Đức Giêsu gặp gỡ nhiều người trên những con đường ở Palestin. Các sách Phúc Âm kể cho ta nghe trình thuật về một số những người ấy, có khi còn nói rõ ngay cả tên của họ. Ngay từ đầu có một chi tiết đặc biệt thấy rõ: các người Đức Giêsu gặp gỡ hầu như tất cả sống trong một hoàn cảnh khó khăn, đáng thương, một bệnh tật, một đám tang, những tình huống thương tâm. Hoặc tệ hơn, đó là những con người sống trong một tình trạng luân lý mâu thuẫn với những đòi hỏi của Luật Môsê, và như vậy đi ngược với ý muốn của Thiên Chúa.
Vì nhãn quan người ta có về Đấng Mêsia sẽ đến, kể cả các Tông Đồ, người ta có thể tin là Đức Giêsu sẽ đưa cơn thịnh nộ của Thiên Chúa ra đe dọa. Nhưng không, ngược lại. Ngài tự nguyện đi theo đường lối tình yêu của Chúa Cha đối với dân. Tình yêu này không phải do công lao của dân Israel. Chính các tiên tri, ngay sau khi thốt ra những lời đe dọa trước sự cứng lòng của dân Israel, đã tự xưng là những người báo trước tình yêu này chưa từng bao giờ bị Thiên Chúa bóp nghẹt hay từ bỏ. Trong sách các tiên tri và thánh vịnh, Thiên Chúa đã công bố tình yêu của Ngài là cho không, người ta không thể biến nó thành thứ sản phẩm mua bán. Tuy nhiên, mặc cho những lời nhấn mạnh này, người ta vẫn đi tới chỗ thực hành một thứ tôn giáo cứng ngắc và vụ luật, trong đó không có chỗ cho lòng thương xót.
Thế nên, chính xác đó là khía cạnh khác thường đã lôi cuốn những đám đông nghèo khổ, tội lỗi, những người bị xã hội và tôn giáo khai trừ. Đức Giêsu vứt bỏ tất cả những truyền thống này. Các tội nhân là những người, do hạnh kiểm cá nhân hoặc do công việc ô nhục của họ, bị coi là những người ô uế và Ngài lui tới với họ. Những lời bàn tán với nhiều ác ý, mà các luật sĩ và Biệt Phái trao đổi với nhau khi có dịp, không phải là không có lý do.
Ngay thuật ngữ “Biệt Phái” cho thấy một hạng người tách biệt, khác hẳn. Đó là những người trong sạch, bị buộc phải tránh xa những người tội lỗi, dù chỉ là tiếp xúc không đáng kể với những người này. Ngược lại, Đức Giêsu không những không tránh xa những người ô uế, mà dường như còn cảm thấy hoàn toàn thoải mái đồng hành với họ, đi tới chỗ đồng bàn với họ nữa. Bởi vậy, trước mắt những luật sĩ và Biệt Phái, Ngài không thể từ Thiên Chúa mà đến, vì Thiên Chúa không thể tán thành một sự thiếu tôn trọng Lề Luật như vậy.
Dường như điều đó đã làm cho Gioan Tẩy Giả ray rứt, khiến ông phải sai các môn đệ đến hỏi Ngài không úp mở: “Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?[47]” Ông đã loan báo Đấng sẽ đến thiêu hủy thế gian, và giờ đây ông phải tính toán sao với một Đấng “không đành bẻ gẫy cây lau bị dập, không nỡ tắt đi tim đèn leo lét[48]”. Người ta dễ hiểu nỗi bối rối của ông, và Đức Giêsu không ngạc nhiên về điều đó, biết ông thực tâm, nhưng cho ông thấy những dấu chỉ giúp ông có thể nhận ra nơi Ngài đúng là Đấng Mêsia các tiên tri đã loan báo.
Nhưng những người tội lỗi này là ai? Người ta đã chỉ định như thế về ai? Để phù hợp với xu hướng hiện nay là hoàn toàn gạt những người Biệt Phái ra khỏi Phúc Âm, gán hình ảnh tiêu cực mà người ta có về họ cho những cách giải thích gượng ép sau này của các tác giả sách Phúc Âm, một ai đó đã khẳng định rằng hạn từ “những người tội lỗi” được hiểu là “những người cố ý vi phạm luật mà không hối cải[49]”, nói cách khác, đó là những kẻ phạm pháp và kẻ cướp theo luật chung thời ấy. Nếu là như vậy thì các đối thủ của Đức Giêsu thực sự có lý do cảm thấy bị vấp phạm, và coi Ngài như vô trách nhiệm và nguy hiểm về mặt xã hội. Giống như ngày nay một linh mục thường hay lui tới những người nhóm mafia và các nhóm tội phạm đủ loại, và nhiều lần nhận lời mời của họ đến ăn uống, viện lẽ để có thể nói về Chúa cho họ.
Thực ra, chuyện không xẩy ra như thế. Trước hết Đức Giêsu không thường xuyên “lui tới” nhà những người thu thuế và tội lỗi; Ngài chỉ một lần đến với họ, nhưng điều đó là đủ để giúp họ thay đổi. Thực tế là những người Biệt Phái có nhãn quan riêng của họ về Lề Luật, về những những gì hợp hay không hợp với Lề Luật, và họ bài bác tất cả những ai không tuân theo praxis của họ. Đức Giêsu không phủ nhận là có tội lỗi và tội nhân. Như chúng ta sẽ thấy, Ngài không hề biện minh cho những hành vi gian lậu của Dakêu hoặc của người phụ nữ ngoại tình. Chúng ta thấy điều ấy qua chữ mà Ngài sử dụng: “những người đau yếu”.
Điều Đức Giêsu lên án là sự tự phụ của những người Biệt Phái, khi ấy cũng như hôm nay, là thiết lập sự công chính đích thực theo ý họ và, dựa theo tiêu chuẩn này, coi tất cả những người khác là “trộm cắp, bất chính và ngoại tình[50]”, thậm chí phủ nhận ngay cả khả năng thay đổi của những con người này. Vả lại, khi nói về những người quá hăng hái bảo vệ Lề Luật, thánh Phaolô cho chúng ta thấy chính họ làm đúng những gì họ trách cứ nơi người khác[51]. Cách mà Luca dẫn vào dụ ngôn người Biệt Phái và người thu thuế rất có ý nghĩa: “Đức Giêsu còn kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác[52]”. Đức Giêsu nghiêm khắc với những người khinh bỉ lên án tội nhân hơn là với chính những tội nhân[53].
Dakêu xuống mau!
Chúng ta hãy đọc lại trình thuật về một trong những cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu với những người tội lỗi, cuộc gặp xẩy ra tại nhà ông Dakêu trong Phúc Âm Luca chương 19. Trình thuật gồm hai phần, một ở ngoài nhà và một ở trong nhà, một ở giữa đám đông và một giữa Đức Giêsu và ông Dakêu, chỉ có hai người.
Đức Giêsu đến thành Giêricô. Không phải lần đầu tiên Ngài đến đây, và khi đến lần này, Ngài cũng chữa lành một người mù[54]. Điều này cho thấy vì sao rất nhiều người đang chờ đợi Ngài. Dakêu “đứng đầu những người thu thuế và là người giầu có[55]”, muốn nhìn Ngài cho rõ hơn, nên đã trèo lên một cây sung bên đường đoàn người đi qua (ở lối cửa vào thành Giêricô, ngày nay người ta còn thấy một cây sung hẳn là trước đây Dakêu đã trèo lên đó!). Và đây là câu chuyện:
“Khi Đức Giêsu tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông: ‘Này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!’ Ông vội vàng tụt xuống và mừng rỡ đón rước Người. Thấy vậy mọi người xầm xì với nhau: ‘Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ.’[56]”
Những đồng bào của Dakêu khinh rẻ ông, vì ông liên lụy tới tiền bạc và quyền lực, và có lẽ cũng vì vóc dáng ông thấp bé; đối với họ, Dakêu chỉ là một “người tội lỗi”. Phần Đức Giêsu, Ngài sắp đến thăm nhà ông. Ngài bỏ qua đám người hâm mộ đón tiếp Ngài ở Giêricô và một mình đi tới nhà của Dakêu. Ngài xử sự như người Mục Tử tốt lành bỏ 99 con chiên lại để đi tìm một con chiên đi lạc. Đối với Ngài, Dakêu tiên vàn là “con cháu tổ phụ Abraham”.
Ngày Chúa nhật đọc đoạn Phúc âm này (Chúa nhật XXXI mùa thường niên năm C), có một đoạn về “lòng thương xót của Thiên Chúa” được đọc cho chúng ta như chìa khóa:
“Nhưng Chúa xót thương hết mọi người, vì Chúa làm được hết mọi sự. Chúa nhắm mắt làm ngơ, không nhìn đến tội lỗi loài người, để họ còn ăn năn hối cải. Quả thế, Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã làm ra[57].”
Vậy Đức Giêsu xử sự theo hình ảnh của Thiên Chúa, là Đấng đón nhận những người bị loại ra khỏi hệ thống chính trị – những người nghèo và những người bị áp bức – hoặc những người bị loại ra khỏi hệ thống thôn giáo, tức những người ngoại, người thu thuế, gái điếm. Ai không chấp nhận cách hành xử này của Thiên Chúa là tự loại mình ra khỏi ơn cứu độ; muốn phân biệt đối xử mọi giá, người đó tự phân biệt đối xử chính mình. Xem như thế, chúng ta thấy câu chuyện Dakêu giống như dụ ngôn người Biệt phái và người thu thuế trong thực tế. Ở đó, Đức Giêsu biện minh cho người thu thuế hối cải và đuổi người Biệt phái trở về tay không; ở đây, Ngài mang ơn cứu độ cho nhà Dakêu và để bên ngoài những người Giêricô tưởng mình nghĩ đúng nhưng kiêu ngạo, lên tiếng xầm xì.
Chúng ta hãy cùng với Đức Giêsu vào nhà ông Dakêu để nghe đoạn cuối câu chuyện:
“Ông Dakêu đứng đó thưa Chúa rằng: ‘Thưa Ngài, đây phân nửa gia tài của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn’. Đức Giêsu mới nói về ông ta rằng: ‘Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất’[58]”.
Chính lòng thương xót (chứ không phải sự trách móc) tạo ra phép lạ
Chúng ta hãy dừng lại ở đây để suy nghĩ một chút về câu chuyện này. Có vô số lý do khiến những người thu thuế bị dân chúng khinh bỉ. Đó là những con người khá giả và không chút ngại ngùng. Do đó mà những người bị đánh thuế nặng ghen ghét.
Dakêu, đứng đầu những người thu thuế, nghe nói Đức Giêsu là một tiên tri không giống các tiên tri khác, chính vì vậy mà ông muốn gặp Ngài. Chắc chắn nơi ông có một điều gì đó khác hơn là tò mò thuần túy; một sự quan tâm thực sự, cho dù ông chưa có thể nghĩ là muốn hối cải, ngay cả chỉ là manh nha. Nhưng Dakêu lại thấp bé, không nhìn thấy gì. Ông trèo lên cây. Đức Giêsu đến và đưa mắt nhìn ông (theo nhiều trình thuật trong Phúc Âm, dường như mắt của Đức Giêsu có một quyền năng lạ lùng, chúng diễn tả thậm chí nhiều hơn lời nói) và Ngài gọi tên ông.
Chúng ta sẽ trông chờ điều này: trước khi tha thứ cho ông, Ngài đòi hỏi nơi ông năm điều kiện thường cần thiết để có thể được ơn tha tội: xét mình, ăn năn, quyết tâm không phạm tội nữa, xưng thú tội lỗi, đền tội. Đàng này không có gì hết. Đức Giêsu nói với Dakêu: “Này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!” Đây là một chuyện cấp bách, phải hành động ngay. Ngài muốn lưu lại tại nhà Dakêu, không chỉ đi qua nhà ông để thấy nơi ông ở; Ngài muốn vào, nghỉ ngơi một chút, chia sẻ một bữa ăn, thậm chí có lẽ qua đêm nữa.
Đức Giêsu làm liên lụy đến bản thân cách công khai và nguy hiểm, qua đó có nguy cơ thậm chí trở thành ô uế. Chúng ta biết ông Phêrô không muốn vào nhà viên đại đội trưởng Cornêliô vì sợ bị ô uế[59]. Sự việc gây ra tai tiếng là chuyện đương nhiên. Ngài đến nhà một người tội lỗi, không đặt ra cho người này một điều kiện tiên quyết nào, không đòi ông thanh tẩy, giữ đúng quy tắc của Lề Luật, không đòi ông phải từ bỏ nghề nghiệp ô nhục, cũng không đòi ông quay về và sám hối.
Tuy vậy Dakêu đã có thể đọc được trong mắt Đức Giêsu cũng tình yêu mà, ở chỗ khác, Ngài đã dành cho chàng thanh niên giầu có[60]. Chính cái nhìn này đã làm ông đảo lộn, thừa sức để Dakêu được tràn đầy niềm vui khác thường. Ông đón nhận sự hiện diện này, một sự hiện diện đem đến cho ông một tình yêu vô điều kiện; ông để cho tình yêu này thấm qua nơi mình. Chính nhờ tình yêu này mà ông cảm thấy được sống lại, lại trở thành con người. Ông không còn cảm thấy vỏ bọc luôn phải mang đè nặng trên ông nữa, ngay cả khi ông làm việc với đồng nghiệp và với cấp dưới của mình.
Dakêu đã hiểu ngay. Nếu ông muốn tình yêu này trở thành sống động và nguồn sống cho ông, ông phải để nó tràn ngập cả cuộc đời ông, ông phải để nó ảnh hưởng trên các mối liên hệ của ông với những con người khác. Do đó mà một cách bộc phát, không cần Đức Giêsu đòi hỏi bất cứ điều gì, Dakêu đã nói trước là ông sẽ cho người nghèo phân nửa tài sản của mình, và nếu ông hà lạm của ai về thuế má thì ông sẽ đền gấp bốn.
Đúng là một sự sửa chữa, nhưng là một sự sửa chữa được thực hiện trên bình diện tương quan giữa những con người, trong lãnh vực công bình giữa những con người. Và chính trong lãnh vực này mà ông xứng đáng được tôn trọng. Nhưng đây không phải là điều kiện Đức Giêsu đặt ra trước, để có thể yêu thương ông. Đúng hơn đó là kết quả của tình yêu này. Vì Đức Giêsu đã yêu trước một cách nhưng không, Dakêu cảm thấy được thúc đẩy hướng tới những người khác, tới những người mà, cho tới lúc đó, ông đã cướp đoạt; ông học lại cách tôn trọng và yêu thương họ. Cách thức hoạt động của lòng Chúa thương xót là như thế. Chúng ta đừng bao giờ quên.
