4. “TÔI CŨNG VẬY, TÔI KHÔNG KẾT ÁN CHỊ”
Đức Giêsu và người phụ nữ ngoại tình
Đức Giêsu và các người tố cáo
Câu chuyện người phụ nữ phạm tội ngoại tình là một kịch bản nhỏ gồm hai hồi hay hai màn. Hồi thứ nhất quy tụ nhiều nhân vật: những người tố cáo, người phụ nữ, Đức Giêsu; hồi thứ hai là hai người: Đức Giêsu và người phụ nữ. Chúng ta hãy đọc những gì được thuật lại trong hồi thứ nhất:
“Vừa tảng sáng, Người trở lại Đền thờ. Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy họ. Lúc đó các kinh sư và người Pharisiêu dẫn đến trước mặt Đức Giêsu một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, rồi nói với Người: ‘Thưa Thày, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?’ Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Đức Giêsu cúi xuống lấy ngón tay viết trê đất. Vì họ cứ hỏi mãi, nên người ngẩng lên và bảo họ: ‘Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi’. Rồi Người lại cúi xuống vết trên đất. Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chỉ còn lại một mình Đức Giêsu, và người phụ nữ thì đứng ở giữa[61].”
Chúng ta hình dung lại hoạt cảnh này. Đức Giêsu đang giảng dạy trong Đền Thờ. Thình lình, vòng tròn những người đang nghe Ngài mở ra, để một phụ nữ đi vào, người đang bị một nhóm Biệt Phái ồn ào xô đẩy. Họ đặt chị ta trước mặt Ngài và đứng nửa vòng quanh chị, có lẽ trong tư thế khoanh tay. Họ nói người phụ nữ bị bắt “quả tang” ngoại tình, nhưng dường như đúng hơn, người phụ nữ thực sự bị bắt “quả tang”, nhưng đã bị rình rập từ nhiều đêm (câu chuyện xẩy ra ngay lúc tảng sáng như bản văn nói), để cho chắc ăn. Người ta dùng bạo lực để lôi người phụ nữ ra khỏi cánh tay người tình và dẫn đến trước mặt Đức Giêsu.
“Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” Họ không đến xin ý kiến, nhưng giăng bẫy. Theo cùng một cách thức như họ hỏi Ngài xem có được phép nộp thuế cho Cêsar hay không. Bẫy là thế này: nếu Ngài nói không được ném đá tức là Ngài chống lại luật Môsê và có thể bị tố cáo là phạm luật, vì trong 10 giới răn, không những luật cấm ngoại tình mà còn xác định rõ phải phạt tội này như thế nào: bị ném đá cho đến chết. Nếu ngược lại, Ngài nói phải ném đá, Ngài sẽ mất hào quang của một Thầy nhân lành thương cảm kẻ có tội, một điều lôi kéo dân chúng đến với Ngài. Họ đã chuẩn bị chu đáo và chắc chắn chiến thắng trong bẫy này.
Người ta ngạc nhiên trước cách phản ứng của Đức Giêsu. Ngài không nói gì, cúi mặt xuống viết chữ gì đó trên đất. Có lẽ Ngài không chỉ vạch những dấu hiệu, như có người nghĩ, nhưng là viết chữ. Đôi khi người ta nghĩ Ngài viết ra tội lỗi những kẻ tố cáo, hoặc khi làm việc này, Ngài muốn tỏ ra dửng dưng với những luật sĩ và Biệt Phái; nhưng Đức Giêsu không bao giờ tỏ ra dửng dưng, càng không tỏ vẻ khinh bỉ người khác, bất kể đó là ai.
Về tội bị bắt quả tang cách hợp pháp, lẽ ra cả người đàn ông cũng phải bị dẫn đến trước mặt Đức Giêsu cùng với người phụ nữ. Lề Luật có chép: “Khi người đàn ông nào ngoại tình với đàn bà có chồng, ngoại tình với vợ người đồng loại, thì cả đàn ông ngoại tình lẫn đàn bà ngoại tình phải bị xử tử[62]”. Vậy tại sao các luật sĩ và Biệt Phái lại hành động như thế? Câu khẳng định của họ: “Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá đàn bà đó” là một câu “quả tang” làm méo mó khoản luật. Đức Giêsu không muốn hạ nhục quá những đối thủ trước mặt dân chúng, chỉ ra rằng chính họ cũng thiếu sót đối với Lề Luật. Ngài muốn cho họ thấy tốt hơn là họ xét lại chính họ. Ngài cúi xuống viết trên đất những đoạn của Lề Luật về tội ngoại tình bị bắt quả tang.
Thoạt tiên, các luật sĩ và Biệt Phái không hiểu. Lúc ấy Đức Giêsu ngẩng cao đầu và đưa họ về đúng đường: “Ai trong các ông sạch tội thì cứ lấy đá mà ném trước đi.” Mắt họ cuối cùng mở ra và họ đọc điều Ngài đã viết trên đất. Người thông thạo Lề Luật nhất, tức các người lớn tuổi nhất, là những người đầu tiên hiểu những gì Ngài vừa nói. Họ không cần chú ý nữa, vì họ biết câu trích kế tiếp như thế nào. Họ chỉ còn việc nhẹ nhàng bỏ đi, vì sa vào bẫy của chính họ.
Một cách tế nhị nhưng không kém phần cương quyết, Đức Giêsu muốn cho người ta hiểu rằng, nếu con người đứng trong lãnh vực có vẻ chắc chắn của Lề Luật và của luân lý được thử thách nhất, nhằm tố giác những sai lầm của người khác, họ mau chóng có nguy cơ – như trước một tấm gương – đối mặt với Lề Luật và thậm chí luân lý, là những quy tắc quay lại chống họ. Hỏi ai còn dám tự phụ mình công chính trước mặt Thiên Chúa?
Chỉ còn hai người: Đức Giêsu và người phụ nữ
Chúng ta sang hồi thứ hai, chỉ có hai người: Đức Giêsu và người phụ nữ.
“Chỉ còn lại một mình Đức Giêsu, và người phụ nữ thì đứng ở giữa. Người ngẩng lên và nói: ‘Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao? Người phụ nữ đáp: ‘Thưa ông, không có ai cả.’ Đức Giêsu nói: ‘Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa![63]”
Tòa án trống trơn. Chỉ còn lại quan tòa và bị cáo. Cho tới lúc đó, Đức Giêsu cúi xuống đất. Bây giờ Ngài ngẩng lên, nhìn người phụ nữ và nói: “Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?” “Này chị”: trên môi miệng Đức Giêsu, danh hiệu này không còn hàm ý khinh bỉ như trên môi miệng những người tố cáo (“người đàn bà này”) nhưng đầy vinh dự và tôn trọng. Ngài sẽ còn dùng danh hiệu này khi từ trên thập giá hướng về Mẹ Ngài mà nói: “Thưa bà, đây là con của bà[64]”.
Ai biết được người phụ nữ run sợ thế nào, lúc các người tố cáo bỏ đi hết, chỉ còn chị trong thinh lặng đáp lại Đức Giêsu: “Thưa ông, không có ai cả”. Và Đức Giêsu nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” Đó là một câu lạ lùng, khi chúng ta nghĩ rằng Đức Giêsu đã tỏ ra nghiêm khắc hơn Môsê liên hệ đến tội ngoại tình: “Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người đó rồi[65].”
Là người duy nhất không có tội, Đức Giêsu hẳn là người sẽ ném viên đá đầu tiên. Nhưng Ngài đã không làm thế, Ngài không lên án, không thể lên án chị ta. Nhìn vào chị, Ngài hiểu rằng người phụ nữ này chưa thể đạt tới một cuộc sống thuộc con người, cuộc sống mà Thiên Chúa muốn nơi chị. Chị đã chưa bao giờ thực sự được yêu, vì chính chị. Điều đó chị đã không có với chồng của chị, vì chị có một người tình. Người này có yêu chị vì chị hay vì anh ta? Và trong tay những luật sĩ và Biệt Phái, người phụ nữ này không gì hơn là một đối tượng, một cái “cớ” để họ tố giác Đức Giêsu.
Không được yêu vì chính chị, làm sao người phụ nữ này có thể thực sự yêu người khác và yêu bằng tình yêu như Thiên Chúa muốn giữa đàn ông và đàn bà? Ở đây chúng ta có một biểu hiện cụ thể cho thấy con người trở nên như thế nào vì tội lỗi: ghen tương nhau, lợi dụng nhau vì lợi ích của mình, như thể chỉ là những đồ vật.
Đức Giêsu đến là để kéo con người ra khỏi tình trạng này, tỏ cho họ thấy họ được yêu vì chính họ, một cách cho không, không đòi bất cứ điều kiện nào trước. Do đó Đức Giêsu không thể lên án người phụ nữ này. Ngài phải cho chị thấy trước hết Ngài yêu chị không như những người khác yêu chị, nghĩa là coi chị như của họ, sử dụng chị như tài sản của họ. Trái lại, Ngài cống hiến cho chị một tình yêu cho không, muốn chị cuối cùng tìm lại được phẩm giá của chị là phụ nữ, là một con người có trọn quyền như Chúa Cha muốn. Chỉ sau khi khám phá ra sự triển nở của tình yêu này mà người phụ nữ sẽ tìm thấy nơi nguồn mạch phát xuất từ lòng chị khả năng yêu người khác vì chính họ, như chị được yêu.
Câu Đức Giêsu nói với chị: “Thôi chị cứ về đi và từ nay đừng phạm tội nữa” không phải là một lời đe dọa, nhưng đúng hơn là một lời mời gọi – chắc chắn là cấp thiết – cho phép tình yêu cho không mà Ngài ban cho chị từ Chúa Cha, thấm nhiễm tất cả cuộc đời của chị và những tương giao của chị với người khác. Kể từ lúc chị biết mình được yêu, và được yêu tới mức đó, chính người phụ nữ cũng phải học yêu thương trong ánh sáng và sự thật. Nếu Đức Giêsu chỉ dạy “luân lý” cho chị, chị sẽ không bao giờ có thể đạt tới cuộc sống đích thực. Chính ở đây mà, ngay cả ngày hôm nay, người ta thấy lời rao giảng của Giáo Hội thành công hay thất bại.
Người phụ nữ này có thể thay đổi triệt để đời sống và không còn phạm tội nữa chăng? Có thể lắm, nhưng không bảo đảm. Thiên Chúa tôn trọng tự do của mỗi người. Dù chúng ta đã gặp Ngài, đã đón nhận tình yêu cho không của Ngài, chúng ta vẫn có thể rơi lại vào trong tội. Vì vậy mà lời khuyên: “Chị cứ về đi và từ nay đừng phạm tội nữa” vang vọng bên tai chúng ta như một lời đe dọa, một điều có nguy cơ làm cho chúng ta thất vọng. Chúng ta hãy luôn nhớ tới lời Đức Giêsu nói với Phêrô: “Thầy không bảo là đến bẩy lần, nhưng là đến bẩy mươi lần bẩy[66]”. Về việc tha thứ, phải đi rất xa, vì sự thù ghét luôn đi rất xa. Phải tha đến bẩy mươi lần bẩy, để cho thấy trạng thái đầy đủ của viên mãn. Nói khác đi, đừng bao giờ lên án, nhưng luôn tha thứ, không đặt giới hạn cho lòng thương xót, cả về thời gian lẫn trong ý định.
Nói không với tội lỗi, nói có với tội nhân
Khi đã hết sợ, người phụ nữ cảm thấy cái nhìn đầy thương xót của Đức Giêsu chảy dài trong tâm hồn chị như một chất nhựa thơm. Chưa từng có người đàn ông nào nhìn chị như thế. Lời “Chị cứ về đi” phải thổi vào trong chị một sự tin tưởng thật mới mẻ: cứ làm lại cuộc đời, cứ bắt đầu lại hy vọng, cứ trở về nhà mình; cứ lấy lại phẩm giá phụ nữ của chị, cứ loan báo cho người ta biết, chỉ nguyên bằng sự hiện diện của chị ở giữa họ, là không chỉ có Lề Luật, mà còn có ân sủng, không chỉ có công lý, mà còn có lòng thương xót.
Để hiểu điều người phụ nữ này cảm nhận, chỉ cần hình dung một người đang bị kết án tử hình được một bạn thân bất ngờ đến báo tin là mình được ân xá. Một phút trước đây, người phụ nữ ngoại tình vẫn còn là một người bị kết án tử hình và án sắp sửa được thi hành; hôm nay chị được tự do ra đi. Nhưng còn hơn thế nữa; trong trường hợp của chị, hình phạt không chỉ bị treo, mà tội lỗi cũng bị hủy. Người phụ nữ không những được tự do bên ngoài trước mặt người ta, nhưng còn được tự do bên trong trước mặt Thiên Chúa. Chị được công chính hóa, như người thu thuế khi ra khỏi Đền Thờ.
Đoạn Phúc Âm này luôn đem lại cho người Kitô hữu một chút bối rối. Nó được đọc trong phụng vụ Chúa nhật chỉ mới đây thôi. Lý do đơn giản là vì nhiều thủ bản ngày xưa bỏ qua đoạn này, điều đó cắt nghĩa việc khó chấp nhận nó vào trong qui điển Kinh Thánh. Vào thời mà ngoại tình được coi như một trong những tội không thể lãnh nhận ơn tha thứ của Giáo Hội, thái độ của Đức Giêsu thậm chí không đặt ra một việc đền tội cần thiết nào chỉ có thể làm cho người ta chưng hửng. Thế nên có nhiều lý do bỏ đoạn này ra khỏi Phúc Âm nếu người ta bắt gặp, hơn là thêm vào khi không thấy có nó. Vậy không có lý do nghiêm túc nào để hồ nghi về tính lịch sử của sự kiện, cho dù không phải Gioan đã kể lại sự kiện.
Trong đoạn Phúc Âm về người phụ nữ ngoại tình này, Đức Giêsu không làm trái với Lề Luật, nhưng cho thấy một số quy định của Lề Luật chỉ có tính chất tạm thời và không quan trọng, và trong trường hợp này là hình phạt ném đá. Chính về một quy định tương tự chống lại các phụ nữ – cho phép rẫy vợ – mà Đức Giêsu nói: “Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ[67]”. Cũng vậy trong trường hợp này, Đức Giêsu không đến để bãi bỏ Lề Luật, những kiện toàn, đưa nó tới chỗ hoàn thiện.
Đức Giêsu không nói ngoại tình không còn là một tội hoặc là chuyện không đáng kể. Ngài minh nhiên lên án nó dưới hình thức rất mực tế nhị qua lời nói: “Đừng phạm tội nữa”. Quả thực ngoại tình vẫn là một tội phá hoại, không ai có thể giữ nó yên ổn lâu dài trong lương tâm mà không gây thiệt hại cho gia đình cũng như cho linh hồn người đó. Nó làm cho người ta không còn sống trong sự thật, hầu như luôn giả vờ, sống hai mặt, đầy dối trá và mưu mẹo. Nó khiến tâm hồn ra chai đá đến độ tìm mọi cách đổ lỗi cho chồng hay vợ mình, dù sao cũng luôn là đổ lỗi cho người khác. Đây không chỉ là phản bội bạn mình, nhưng còn phản bội chính mình. Thế nên Đức Giêsu không có ý tán thành hành động của người phụ nữ, nhưng lên án thái độ của người luôn rình mò, để bắt gặp và kết án tội lỗi của người khác.
Chúng ta cần lưu ý, vì chúng ta có nguy cơ thuộc vào số những người sẽ ném viên đá đầu tiên. Chúng ta lên án những người Biệt Phái trong Phúc Âm, vì họ không có lòng thương xót đối với những sai lầm của người thân cận, và có lẽ chúng ta không biết rằng mình thường hay làm giống như họ. Chúng ta không còn thuộc vào số những người ném đá kẻ nào sai lỗi (luật dân sự không cho phép như vậy nữa!), nhưng vào số những người sỉ nhục, nói xấu, chỉ trích. Nếu ai đó xung quanh ta sa ngã hoặc khiến người khác phải đồn thổi về mình, chúng ta mau mắn lên án người đó, thấy mình bị tai tiếng như những người Biệt Phái. Thường ra đó là vì thù ghét tội nhân hơn là tội người đó phạm, vì trước hạnh kiểm của người khác, một cách vô thức, chúng ta muốn đánh bóng hạnh kiểm của chúng ta. Phúc Âm về người phụ nữ ngoại tình đề ra cho chúng ta một phương dược hữu hiệu chữa trị thói quen rất xấu xa này. Chúng ta hãy chú ý xét mình trước mặt Thiên Chúa, và chúng ta cảm thấy cần phải chạy đến với Đức Giêsu để xin Ngài, không phải lên án kẻ khác, nhưng là tha thứ cho chúng ta.
