5. “TA MUỐN LÒNG NHÂN TỪ CHỨ KHÔNG MUỐN CỦA LỄ”

Cuộc hoán cải của Matthêu

Matthêu đứng dậy và đi theo Ngài

Có một điều gì đó khiến cho người ta xúc động trong lời kêu gọi Matthêu người thu thuế[68]. Đây là một trang tự thuật, câu chuyện về cuộc gặp gỡ của ông với Đức Kitô, cuộc gặp gỡ đã làm thay đổi cuộc đời của ông.

“Bỏ nơi ấy, Đức Giêsu đi ngang qua trạm thu thuế, thì thấy một người tên là Matthêu đang ngồi tại trạm. Người bảo ông: ‘Hãy theo tôi’. Ông đứng dậy đi theo Người.”

Họa sĩ Caravagio đã vẽ một bức tranh nổi tiếng về cảnh này[69]. Vị tông đồ tương lai ngồi ở bàn thu thuế, trên đó người ta thấy ngoài tiền bạc còn có một bút lông và một nghiên mực (cả hai một ngày kia sẽ phục vụ cho một công việc khác!). Một luồng sáng từ khuôn mặt Đức Kitô đi theo cử động của bàn tay Ngài và chiếu sáng khuôn mặt của Matthêu cũng như của những người ngồi với ông ở bàn thu thuế. Đó là một cách gợi ý cho thấy lời kêu gọi bên ngoài có một ánh sáng bên trong kèm theo. Vả lại, không có ánh sáng ấy người ta không hiểu được thái độ của Matthêu mau mắn đứng dậy, bỏ mọi sự để theo Đức Kitô, không cần một giải thích nào khác. Cuộc đối thoại vô hình giữa Đức Kitô và vị tông đồ tương lai, tất cả đều ở trong cử chỉ bàn tay liên hệ của các ngài. Bàn tay của Đức Kitô, đứng đó, hướng về Matthêu, được coi là dấu chỉ lựa chọn hơn là truyền lệnh (Ngài không giơ ngón tay ra, nhưng chỉ dùng bàn tay). Đáp lại cử chỉ này là cử chỉ của Matthêu đặt bàn tay mình vào Ngài như một người ngạc nhiên thấy mình được chọn nên nói: “Là tôi sao? Có chắc là muốn gọi tôi không?”

Trước lời từ chối theo Ngài của chàng thanh niên giầu có, Đức Giêsu đã buồn bã mà thấy rằng “con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu có vào Nước Trời[70].” Và khi các Tông Đồ thưa với Ngài: “Thế thì ai có thể được cứu?”, Ngài trả lời: “Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể được[71].”  Lời kêu gọi Matthêu chứng tỏ Thiên Chúa có thể cứu ngay cả một người giầu có. Việc so sánh với lời mời gọi chàng thanh niên giầu có làm nổi bật nét tương phản với việc Matthêu mở lòng cho Thiên Chúa. Không có gì chắc chắn trước đó là Matthêu sẽ nhanh chóng đáp lại như vậy trước lời đề nghị của Đức Giêsu. Trước lời mời gọi của Đức Kitô: “Hãy theo Ta”, người thanh niên giầu có “buồn rầu bỏ đi”, còn Matthêu thì “đứng dậy và đi theo Ngài”.

Cách hành xử của Matthêu có điều gì đó khó tin. Chúng ta hình dung ông đang ngồi đó thoải mái, để ý thu thuế, vui mừng nhìn những đồng tiền các thương gia đặt trên bàn thu. Ông khoan khoái tột độ, cho tới lúc mọi sự đã từng làm cho cuộc đời của ông tới lúc ấy có ý nghĩa, mất hết giá trị. Matthêu đứng dậy, từ bỏ mọi sự mà theo Đức Giêsu. Ông đã không chứng kiến phép lạ nào, vì đây là lúc khởi đầu thừa tác vụ công khai của Đức Giêsu chưa được nhiều người biết đến. Vậy cắt nghĩa thái độ mau mắn của ông như thế nào? Caravagio đã tìm ra câu trả lời trong cái nhìn của Đức Giêsu. Các bản dịch nói rằng “Đức Giêsu thấy”, nhưng có lẽ đúng hơn phải dịch là “Đức Giêsu chăm chú nhìn”. Thánh Bêđa Đáng Kính viết rằng “Đức Giêsu lấy tình yêu thương xót chăm chú nhìn Matthêu và chọn ông”, miserando et eligendo: chính Đúc Giáo Hoàng Phanxicô đã chọn những chữ này làm khẩu hiệu[72].

Tôi không đến kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi

Câu chuyện Chúa gọi Matthêu không được thuật lại đầu tiên cho chúng ta vì tầm quan trọng mà tự nó dành cho tác giả sách Phúc Âm, vì thực sự Maccô và Luca cũng thuật lại, gọi Matthêu bằng tên thứ hai của ông là Lêvi[73]. Sự quan tâm đúng hơn được thấy trong câu Đức Giêsu nói trong bữa tiệc Matthêu khoản đãi “tại nhà”, trước khi ông chia tay các đồng nghiệp là các người thu thuế và tội lỗi”. Như vẫn thường xẩy ra, câu chuyện Phúc Âm được kể lại nhờ vào một câu nói của chính Đức Giêsu gắn liền với nó. Trả lời cho phản ứng của những người Biệt Phái cảm thấy bị vấp phạm vì Ngài vào nhà một người thu thuế và ăn uống với những người tội lỗi, Đức Giêsu nói:

“Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần, Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.”

Chúng ta quá quen với những lời của Phúc Âm đến nỗi thấy chúng hiển nhiên, đương nhiên, cho dù chúng khách quan “gây tai tiếng”, ít nhất cũng phải gây ra thắc mắc. Phải chăng Thiên Chúa yêu người tội lỗi hơn người công chính? Nếu vậy thì đâu là mục đích của Lề Luật, của các lệnh truyền? Đó là những câu hỏi đáng lo ngại đôi khi đưa chúng ta đến chỗ khám phá ra những cách trả lời của Phúc Âm.

Cắt nghĩa lời của Đức Giêsu thật đơn giản. Đức Giêsu không đến kêu gọi người công chính (như thể có những người như vậy trước Ngài và không cần Ngài), nhưng Ngài đến tạo ra người công chính. Cũng như tông đồ Phaolô nói trong thư Rôma:

“Mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa đã đặt Người làm hy lễ xá tội nhờ máu của Người cho những ai có lòng tin[74].”

Đức Giêsu không phủ nhận trước Ngài có một sự công chính nào đó, “sự công chính mà Lề Luật có thể ban cho[75]”; Ngài dễ dàng công nhận sự công chính này nơi người Biệt phái, những người mà Ngài tiếp tục gọi là “những người công chính”, không chút mỉa mai. Ngài chỉ muốn cắt nghĩa cho họ thấy sự công chính này không đủ để cứu, vì không thể ban sự sống. Nó chỉ được dùng để giúp người ta “ước muốn ân sủng” và nhận ra nó đúng lúc. Nếu không đạt được mục đích này, nó trở thành công chính giả, một sự công chính làm cho người ta hư mất thay vì cứu vớt họ. Đó quả là bi kịch của những người chống lại Đức Kitô; thánh Tông Đồ buồn bã nói về họ là họ “không nhận biết rằng chính Thiên Chúa làm cho người ta nên công chính, và họ tìm cách nên công chính tự sức mình[76]”.

Tất cả những điều đó, chúng ta thấy trong cuộc đời của Matthêu. Cuộc gặp gỡ của ông với Đức Kitô đã biến ông từ một “người thu thuế và tội lỗi” trở thành một “người công chính” và thậm chí qua đó thành một con người mới, một tông đồ của Đức Kitô. Nếu ông vẫn còn là người thu thuế, Caravagio hẳn sẽ không quan tâm tới ông, thế giới hẳn sẽ không biết đến một người đã từng hiện hữu, có tên là Matthêu, cũng gọi là Lêvi.

Lòng thương xót và hy lễ

Chúng ta còn phải làm sáng tỏ một điểm còn mờ tối. Dưới ánh sáng của những gì đã nói, câu của Hôsê “Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ[77]”, được Đức Kitô lặp lại, có ý nghĩa thế nào? Có phải mọi hy lễ và hãm mình đều vô ích và chỉ cần yêu người khác là đủ để mọi sự ở vào đúng vị trí? Không thiếu những cách  giải thích theo kiểu này, và còn được giảng dạy như vậy nữa. Từ đó, người ta có thể đi đến chỗ loại bỏ mọi khía cạnh khổ chế của Kitô giáo, bị coi như tàn tích của một não trạng làm khổ thân xác (afflictif)[78] và nhị nguyên manikê, ngày nay đã lỗi thời.

Cũng ở đây, một câu hỏi đáng lo ngại tạo cơ hội cho một phát kiến soi sáng. Phải lưu ý trước hết tới sự thay đổi viễn tượng sâu xa từ Hôsê đến Đức Kitô trong câu nói trên. Nơi Hôsê, lời đó quy chiếu tới con người và những gì Thiên Chúa chờ đợi nơi họ. Thiên Chúa đòi hỏi nơi con người tình yêu và sự hiểu biết, chứ không phải hy lễ bên ngoài và tế vật chiên bò. Nơi môi miệng Đức Giêsu, lời đó, đúng hơn, quy chiếu tới Thiên Chúa. Tình yêu Ngài nói đến không phải là tình yêu mà Thiên Chúa chờ đợi nơi con người, nhưng là tình yêu Ngài ban cho họ. Câu “Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ” có nghĩa là: Ta muốn làm công việc của lòng thương xót, chứ không lên án. Câu tương đương trong Kinh Thánh hẳn là câu chúng ta thấy nơi Êdêkien: “Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống[79]”. Thiên Chúa không muốn “hy sinh” con người, nhưng muốn cứu vớt họ.

Những xác định rõ nghĩa này cũng cho phép chúng ta hiểu lời của Hôsê hơn. Thiên Chúa không muốn hy lễ “bằng mọi giá”, như thể Ngài vui mừng thấy chúng ta chịu khổ; Ngài cũng không muốn hy lễ để xác lập những quyền lợi và công trạng trước mặt Ngài, hoặc qua một ý nghĩa hiểu sai về bổn phận. Ngược lại, Ngài muốn hy lễ do tình yêu và việc tuân giữ các giới răn đòi hỏi. “Người ta không thể sống trong tình yêu mà không có đau khổ[80]”, lời của sách  Gương Chúa Giêsu Kitô được kinh nghiệm mỗi ngày xác nhận. Theo nghĩa này, thánh Phaolô khuyên chúng ta biến cả đời sống chúng ta thành “một của lễ sống động, thánh thiện, làm đẹp lòng Thiên Chúa[81].”

Hy sinh và thương xót, cả hai đều là những việc tốt, nhưng cả hai đều có thể trở nên xấu nếu chúng không được điều chỉnh cho đúng. Chúng là những việc tốt, nếu chọn cho mình sự hy sinh và cho người khác sự thương xót (điều mà Đức Kitô đã làm); cà hai trở nên xấu nếu người ta làm ngược lại, chọn cho mình sự thương xót và cho người khác sự hy sinh. Nếu chúng ta khoan dung với chính mình và nghiêm khắc với người khác, thì cũng sẽ nhanh chóng bào chữa cho mình và mau chóng phán xét người khác. Về điểm này, phài chăng chúng ta thực sự không có gì để nhìn lại trong hành vi của chúng ta?

Chúng ta không thể kết thúc bình luận về việc kêu gọi Matthêu mà không có một ý tưởng trìu mến và biết ơn đối với tác giả Phúc Âm rất thường đồng hành với chúng ta, qua sách Phúc Âm của mình, trong suốt năm phụng vụ. Chúng ta hãy làm việc này với một vài câu thơ của Paul Claudel dành cho ngài (mặc dù thi sĩ biết rằng biểu tượng truyền thống về Matthêu là thiên thần, nhưng như ông nói, ông vẫn thích biểu tượng con bò hơn):

“Chính Matthêu người thu thuế

là người đầu tiên có ý tưởng này,

Biết sức mạnh của một văn phẩm,

của việc ghi trên giấy trắng mực đen

Đức Giêsu, chính xác những gì Ngài đã nói

và những gì mắt chúng tôi đã nhìn thấy.

Vì thế khi tìm lại được dụng cụ cũ kỹ

được sử dụng ngày xưa cho dự tính của mình,

ý thức, yên lặng, điềm tĩnh,

như con bò,

Ngài bắt đầu chậm rãi cầy bừa

cánh đồng lớn lao của giấy mới.

Ngài làm thành luống, trở đi trở lại, làm luống khác

để không bỏ sót điều gì.

Điều trí nhớ cung cấp cho ngài

và điều Chúa Thánh Thần gợi ý cho ngài viết,

không phải cho một thời gian mà thôi,

nhưng cho tất cả Giáo Hội không thể phân chia[82]

Phần trước Phần tiếp theo