6. “MỘT PHỤ NỮ TIẾN LẠI GẦN ĐEM THEO MỘT BÌNH BẠCH NGỌC ĐỰNG DẦU THƠM”

Đức Giêsu và người phụ nữ tội lỗi

Có những trang Phúc Âm mà giáo huấn gắn liền với hành động đến nỗi không thể hiểu ý nghĩa của giáo huấn nếu tách ra khỏi hành động. Câu chuyện về người phụ nữ tội lỗi tại nhà ông Simon trong Phúc Âm Luca[83] không là một ngoại lệ. Trong trường hợp này chúng ta không thể rút ra sứ điệp chính yếu rồi sau đó đi theo diễn tiến câu chuyện. Trái lại, chúng ta phải theo diễn tiến của hành động rồi sau mới rút ra sứ điệp chính yếu.

Trang này rất sôi động gồm ít nhất bốn thay đổi viễn tượng, tùy theo những nhân vật khác nhau dần dần lộ diện: người phụ nữ, người Biệt Phái, Đức Giêsu, những thực khách. Chúng ta bỏ qua một bên những gì khách dự tiệc nói (“Ông này là ai mà lại tha được tội?”), chúng ta sẽ đế cập chủ đề này sau, và tập trung vào ba nhân vật trước.

Đức Giêsu và người phụ nữ

Cảnh thứ nhất là một cảnh câm, diễn tiến mà không có lời nào, chỉ có những cử chỉ trong thinh lặng:

“Có người thuộc nhóm Pharisiêu mời Đức Giêsu dùng bữa với mình. Đức Giêsu đến nhà người Pharisiêu ấy và vào bàn ăn. Bỗng một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pharisiêu, liền đem theo một bình bạch ngoc đựng dầu thơm[84].”

Bất chấp mọi cấm kỵ, người phụ nữ đến gần Đức Giêsu và quỳ dưới chân Ngài. Cảnh này khiến cho người ta ngạc nhiên. Thoạt nhìn, nó chỉ có thể làm cho người ta cảm thấy bị vấp phạm. Quả thực, người phụ nữ này được mọi người biết đến như một người mắc tội nặng. Có thể chị ta không phải là một gái điếm chuyên nghiệp, nhưng là một phụ nữ phóng túng, khêu gợi. Đó là một phụ nữ biết cách xử sự với đàn ông. Những cử chỉ của chị làm cho cảnh này mang tính chất rất nhục cảm. Tất cả hợp lại khiến cho một người đàn ông bình thường cảm thấy bối rối: những giọt nước mắt, lọn tóc dài, những cái hôn, ve vuốt, dầu thơm. Và Đức Giêsu không phản ứng, Ngài để cho chị ta làm!

Chúng ta có thể hình dung chị đã thấy Ngài và đã bị Ngài đánh động sâu xa. Chị đã phải hỏi tin tức về Ngài vì chị biết tìm thấy Ngài ở đâu. Chị đã trực giác thấy rằng, với người này, cuộc đời chị sắp tìm lại được sự trong sạch và chân thật mà chị đã đánh mất. Chị cảm thấy Ngài sẽ không lên án hay khinh bỉ mình, hay sử dụng mình như đồ vật. Thế rồi chị đến gần Ngài và lờ mờ cố gắng diễn tả tất cả những tình cảm này. Nhưng chị không biết xử sự cách nào khác hơn là cách nước đôi này. Để bày tỏ ước muốn được tha thứ, người phụ nữ này chỉ biết hiến tặng những gì chị thường hiến tặng cho những người đàn ông khác.

Đức Giêsu chấp nhận hết, vì để chị ra về hẳn sẽ giống như nhốt chị trong “cuộc sống mà không phải cuộc sống” của chị. Còn như để cho chị làm, Ngài giúp cho chị hiểu rằng, còn hơn rất nhiều lời nói dài dòng, Ngài nhận những gì chị có thể hiến tặng Ngài, vì Ngài đã yêu chị ngay cả trước khi chị ngồi dưới chân Ngài. Và Ngài yêu chị mà không lấy cho mình điều gì từ chị, dù là điều nhỏ nhất. Chị có sao thì Ngài đón nhận thế ấy, chỉ vỉ chị trước hết cần cảm thấy mình được yêu, cuối cùng được tôn trọng. Ngài không phán xét chị, không lên án chị. Ngài làm cho chị tái sinh vào một đời sống đích thực là của con người.

Chính điều đó giúp cho người phụ nữ hiểu rằng con người này sắp làm đảo lộn cuộc sống của chị. Chị không còn ở đó nữa để lôi cuốn những người đàn ông, để làm cho họ vui thú. Chính Đức Kitô là người đầu tiên trao tặng cho chị tình yêu mà chị biết là đã không bao giờ nhận được cho tới lúc đó. Tình yêu chị đã sống chỉ là cách phóng họa của tình yêu. Người phụ nữ này đứng trước mặt Đức Giêsu như một thụ tạo đáng thương, nhận ra trước hết phải đón nhận mọi sự, nếu chị muốn sau đó cho đi mọi sự.

Đức Giêsu và người Biệt Phái

Tiếp đến, mục tiêu hướng về người Biệt Phái đã mời Đức Giêsu dùng bữa. Đây vẫn còn là cảnh câm, nhưng chỉ có vẻ bên ngoài thôi. Người Biệt Phái “nghĩ bụng”, nhưng chính là ông nói trong lòng:

“Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi![85]

Ngoài mặt, người Biệt Phái tỏ ra nhân từ, ông tìm cách bào chữa cho Đức Giêsu, cho việc Ngài để cô ta làm là vì không biết: “Tội nghiệp! Ngài không biết ai đang đụng tới Ngài!”, nhưng với cái giá của một lời tố cáo còn nghiêm trọng hơn: vậy ra Đức Giêsu không phải là một tiên tri, càng không phải là một tiên tri được mong đợi trong những ngày cuối cùng. Vậy là Ngài chiếm đoạt danh tiếng của mình. Ngài đã lầm và làm cho người khác lầm.

Vào lúc này của Phúc Âm và chỉ đến lúc này, Đức Giêsu mới lên tiếng để cho biết điều Ngài nghĩ về hành động của người phụ nữ và về những gì người Biệt Phái nghĩ:

“Đức Giêsu lên tiếng bảo ông: ‘Này ông Simon, tôi có  điều muốn nói với ông’. Ông ấy thưa: ‘Dạ, xin Thầy cứ nói’. Đức Giêsu nói: ‘Một chủ nợ kia có hai con nợ: một người nợ năm trăm quan tiền, một người năm chục. Vì họ không có gì để trả, nêm chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn?’ Ông Simon thưa: ‘Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn.’ Đức Giêsu bảo: ‘Ông xét đúng lắm!’[86]

Trước hết, Đức Giêsu giúp cho chủ nhà có thể hiểu rằng Ngài đích thực là một tiên tri, vì Ngài đã đọc được tư tưởng trong lòng ông; đồng thời, với dụ ngôn, Ngài chuẩn bị cho mỗi người hiểu điều Ngài sắp nói để bảo vệ người phụ nữ này, người mà, khi rửa chân cho Ngài, hôn chân Ngài và lấy dầu thơm mà xức, đã làm cho Ngài điều mà lẽ ra chính chủ nhà đã phải làm:

“Vì thế tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít. Rồi Đức Giêsu nói với người phụ nữ: ‘Tội của chị đã được tha rồi’[87].”

Người ta luôn ghi nhận một phép nhị phân nào đó giữa dụ ngôn của Đức Giêsu và áp dụng của Ngài cho người phụ nữ. Trong nhị phân thứ nhất, tha thứ là lý do của tình yêu: người phụ nữ yêu nhiều vì chị đã được tha thứ nhiều; trong nhị phân thứ hai, tình yêu là lý do của tha thứ: tội lỗi nhiều của chị được tha thứ vì chị đã yêu nhiều. Trong nhị phân trước, sáng kiến là từ Thiên Chúa; trong nhị phân thứ hai, sáng kiến dường như là từ người phụ nữ. Không cần phải nại đến một thứ kỳ tài nào đó để giải quyết khó khăn. Chính là vì, trong lãnh vực sự việc thuộc tâm trí, luôn có một sự hỗ tương nào đó. Sự tha thứ nhận được từ Thiên Chúa làm phát sinh nơi thụ tạo một tình yêu biết ơn, và tình yêu của thụ tạo, khi khiêm tốn thú nhận tội lỗi, hoàn thiện và gia tăng tình yêu. Cả hai việc đều thật.

Đức Giêsu và chúng ta…

Câu chuyện Phúc Âm ngừng lại ở đây. Người đọc đoạn này ngày hôm nay chờ đợi điều gì? Rõ ràng câu chuyện về người phụ nữ tội lỗi, trong ý định của Luca khi thuật lại, phải có thể giúp cho người ta hiểu tâm trí của Đức Kitô và sứ điệp cứu độ của Ngài cho những người nghèo khó, tội lỗi, bị khai trừ. Luca không viết Phúc Âm cho người Biệt Phái, nhưng cho các Kitô hữu, cách riêng các Kitô hữu phát xuất từ dân ngoại. Đối với ngài, bài học này của Đức Kitô không chỉ nói với người Biệt Phái đương thời, nhưng với mọi người sẽ đọc Phúc Âm. Kể cả chúng ta.

Thực ra, chúng ta đứng trước một vấn đề luôn mang tính thời sự. Vấn đề là biết tính tôn giáo thật sự nằm ở đâu, đâu là những tình cảm và thái độ chính đáng nhất trước mặt Thiên Chúa, biết Thiên Chúa thích trên hết điều gì nơi thụ tạo. Theo một kiểu cách suy nghĩ nào đó, mọi sự được giải quyết trong việc tuân giữ Lề Luật, và thậm chí theo cách giảm trừ. Người Biệt Phái tập chú vào những giới luật bị người thu thuế và gái điếm vi phạm và lướt qua những luật khác, chẳng hạn luật yêu thương người thân cận, được nói rõ trong Lề Luật.

Tiêu chuẩn vụ luật cho phép phân chia người ta thành hai hạng rõ rệt: người công chính và người tội lỗi. Thật sự, không có chỗ cho lòng thương xót là thuộc tính đích thực của Thiên Chúa: trên thực tế người tội lỗi không đáng hưởng lòng thương xót, còn người công chính lại không cần. Từ đó người ta xác tín sai lầm (lạc giáo Pêlagiô dựa vào xác tín này) là chỉ cần Thiên Chúa mạc khải ý muốn của Ngài và ban những lệnh truyền, để con người, chỉ nhờ thiện ý của mình, có thể chu toàn chúng, mà không cần sự gì khác.

Người phụ nữ cho chúng ta thấy – một cách lặng lẽ – cả một thế giới tôn giáo khác, được tạo ra bằng sự khiêm tốn nhận biết tội lỗi mình, bằng ý muốn thay đổi, bằng cách biết ơn Thiên Chúa, Đấng không ngừng ban cho các thụ tạo những khả thể mới mẻ chuộc lỗi, Đấng muốn lòng thương xót hơn hy lễ và thích tình yêu của một tâm hồn ăn năn hơn mọi của lễ và hy tế. Thụ tạo không cảm thấy mình là chủ nợ của Thiên Chúa, nhưng là con nợ, mãi mãi là con nợ, và nợ Ngài mọi sự.

Mục đích xác thực và mang tính thời sự nhất của trang Phúc Âm này được thực hiện khi một người, nam hay nữ, đồng hóa mình cách rất tự nhiên với người phụ nữ tội lỗi, hoàn toàn nhận ra mình nơi chị và muốn tái hiện lại trong cuộc đời mình kinh nghiệm nội tâm của người phụ nữ này. Chị đã sống một cuộc hoán cải thực sự trong tâm hồn. Để chuyển từ một cuộc sống bị chi phối bởi mọi thứ quan tâm và suy nghĩ sang những tình cảm quá khác nhau như thế, ai biết được cuộc cách mạng nào đang xẩy ra trong tâm hồn chị! Tất cả những điều đó là vì chị đã thấy con người Nadarét này, và vì có lẽ từ xa chị đã nghe lời Ngài. Bằng cử chỉ, chị kêu xin với Đức Kitô chỉ một điều thôi: “Tôi cần Ngài”. Khi ấy Ngài có thể trả lời chị: “Lòng tin của chị đã cứu chị, chị hãy về bình an”. Đấy là kiểu cách của Đức Giêsu.

Người phụ nữ tội lỗi, diễn viên chính trong câu chuyện Phúc Âm, được truyền thống đồng hóa với Maria Mađalêna, chúng ta thấy như là tiên mẫu của mọi cuộc hoán cải vĩ đại, nhờ được gặp gỡ Đức Kitô: chẳng hạn cuộc hoán cải của Phaolô, khiến cho ngài đành “mất hết”, coi là “rơm rác” những gì trước đây ngài coi là “mối lợi[88]”; cuộc hoán cải của Phanxicô Assisi sẽ biến “điều lúc trước xem ra nhờm tởm thành dịu ngọt trong tâm hồn và thể xác”, như chính ngài sẽ nói sau này trong di chúc.

Không nơi nào nói điều đó chỉ xẩy ra một lần duy nhất trong đời, vào lúc hoán cải lần đầu. Từ trái tim bằng đá đến trái tim bằng thịt, chuyện không xẩy ra một lần. Nhiều lần trong đời chúng ta lại thấy mình ở xa, tâm hồn lại chai cứng, rất cần hòa giải với Thiên Chúa và với chính mình. Khi ấy chính là lúc nhớ lại đoạn Phúc Âm này, lắng nghe tiếng của Thần Khí mời gọi chúng ta sống lại đoạn ấy.

Nếu có ai tìm cách gặp gỡ Đức Giêsu hôm nay, để có được kinh nghiệm của người phụ nữ tội lỗi, người đó sẽ không phải đi xa, cũng không cần thực hiện sở thích của mình. Hàng ngày trong Thánh Thể, chúng ta thấy Ngài “ngồi bàn với các người thuộc về mình”. Chúng ta có thể thu mình dưới chân Ngài, nói lên sự ăn năn và biết ơn của chúng ta, bằng cách mỗi lần trải nghiệm “niềm vui vì được cứu độ[89].” 

Phần trước Phần tiếp theo