7. LÒNG THƯƠNG XÓT ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI “BẤT HỢP LUẬT”
Đức Giêsu và người phụ nữ Samari
Một cuộc gặp gỡ ngoài khuôn khổ
Một ngày kia, khi từ Giêrusalem trở lại xứ Galilê, Đức Giêsu đi ngang qua xứ Samari. Chính trong miền này đã xẩy ra cuộc gặp gỡ người phụ nữ xứ Samari bên bờ giếng Sichem, được Gioan mô tả với rất nhiều chi tiết[90]. Các Tông đồ vào trong phố để tìm thức ăn. Còn Đức Giêsu đi đường mệt nhọc, một mình dừng chân bên bờ giếng Giacob, thì bỗng có một phụ nữ đến kín nước.
Một người đứng đắn không bao giờ nói chuyện với một phụ nữ không quen biết, giữa nơi công cộng, và lần này lại là một phụ nữ xứ Samari. Thế nên dễ hiểu là phụ nữ này ngạc nhiên khi Đức Giêsu xin chị cho uống nước. Nhưng tất cả những cuộc gặp gỡ của Ngài luôn mang tính chất là đến gần những người “mang bệnh dịch” về thể lý, luân lý, tinh thần. Như thể chưa đủ, người ta còn biết qua cuộc đàm thoại sau đó là người phụ nữ Samari đã sống trong tình trạng hôn nhân bất hợp pháp. Sau khi đã có năm đời chồng, lúc này chị đang sống với một người đàn ông mà không có cưới hỏi. Không cần biết xem có phải chị đã thay đổi năm đời chồng (điều rất dễ đối với một phụ nữ) hay chị đã bị năm người đàn ông lìa bỏ. Cũng không cần biết xem đó có phải là những người chồng thực sự, hay chỉ là những người chị đã sống trong tình trạng tư hôn. Tác giả Phúc Âm coi việc xác định rõ điều ấy là không quan trọng để hiểu sứ điệp, và chúng ta chỉ có nguồn thông tin này.
Tất cả các lý do hẳn là thích hợp để không nên gặp gỡ một phụ nữ như thế. Vậy mà ngược lại, Con Thiên Chúa đi bước trước đến với chị ta. Chính Ngài lên tiếng xin, làm người ăn xin, khiến cho người phụ nữ đàm đạo với Ngài. Ngài minh nhiên nói với chị về tình trạng hôn nhân bất hợp luật của chị, nhưng không bảo chị rời bỏ người đàn ông đang sống với chị, cũng không xin chị sống khiết tịnh với người đàn ông này. Chính với phụ nữ này mà Đức Giêsu lần đầu tiên mạc khải mình là Đấng Mêsia. Ngài tuyệt đối không đòi hỏi gì. Ngài nhìn chị và thấy chị vô cùng đáng yêu, vì chị được Cha Ngài vô cùng thương mến, mặc cho mọi tội lỗi và tình trạng của chị là ô uế theo luật. Điều đó là đủ cho Ngài. Chính tình yêu vô điều kiện này thúc đẩy Ngài mạc khải cho người phụ nữ này tất cả những gì trong toàn bộ Phúc Âm được coi là “bí mật về Đấng Thiên Sai” phải giữ kín vì sợ bị hiểu lầm. Không một ai được coi là không thể tha thứ trước mắt Ngài; tình yêu luôn tha thứ. Trong cùng một Phúc Âm Gioan vừa có câu chuyện về người phụ nữ xứ Samari lại vừa có câu chuyện về người phụ nữ ngoại tình, quả là điều có ý nghĩa.
Một cuộc khởi hành mới
Cách hành xử của Đức Giêsu với người phụ nữ xứ Samari về vấn đề những người ly dị tái hôn và, nói chung, về tất cả những ai được gọi là “bất hợp luật” (chúng tôi sử dụng thuật ngữ thông thường này, trong lúc chờ đợi tìm ra một thuật ngữ có tính tôn trọng con người hơn) có thể dạy chúng ta điều gì? Tôi đặc biệt nghĩ đến một điều: sự thay đổi là hiệu quả của cuộc gặp gỡ Đức Giêsu, chứ không phải là điều kiện hay lý do. Cuộc gặp gỡ Đức Giêsu đã tạo ra một cuộc khởi hành mới trong cuộc đời người phụ nữ xứ Samari. Chị sẽ được xét xử, không dựa trên những gì chị đã làm trước đó, những trên những gì chị sẽ làm sau đó, đó là lý do khiến truyền thống Kitô giáo luôn nhắc nhớ về chị với lòng trìu mến. Nhờ chị mà nhiều người xứ Samari sẽ nhận biết Đấng Mêsia; chị là người chị em “loan báo Phúc Âm” với Maria Mađalêna, người đầu tiên báo tin cho các Tồng đồ về sự Phục Sinh.
Ngày nay, trong trường hợp những tín hữu ly dị và tái hôn, cuộc gặp gỡ Đức Giêsu thực sự đã xẩy ra lúc chịu phép Rửa tội và như vậy, xét bề ngoài, họ giống với người phụ nữ Samari sau khi chị gặp Ngài. Nhưng vấn đề là ở chỗ đó. Phải chăng cuộc gặp gỡ này đã là một cuộc gặp gỡ trung thực và một cuộc gặp gỡ cá nhân? Phải chăng những con người này đã thật sự biết đến tình yêu của Đức Kitô? Chúng ta coi là những người Kitô hữu chỉ trên “danh nghĩa” những ai đã chịu phép rửa tội, nhưng đã không bao giờ trở thành những Kitô hữu “đích thực” do một quyết định cá nhân. Và rồi chúng ta xử sự (luật pháp xử sự) như thể đối với những Kitô hữu đích thực, được ban mọi phương tiện ân sủng để vượt qua những trở ngại bắt gặp trong hôn nhân.
Thế nhưng, cho dù có lúc những con người này đã là những Kitô hữu “đích thực”, nghĩa là những con người xác tín và thực hành đạo, có đúng là theo tinh thần Phúc Âm không, khi coi họ không thể có lòng thống hối thực sự theo praxis (cách thực hành) thịnh hành trong những thế kỷ đầu tiên, là cách thực hành cho phép họ lại được hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội? Điều Đức Giêsu làm với người phụ nữ Samari và điều Ngài đã làm với người phụ nữ tội lỗi ôm chân Ngài, như đã thấy trên đây, lại không ít ra tương đương với việc Ngài làm khi hiến thân trong Thánh Thể sao? Nếu Thánh Thể là “thân xác thật, sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria[91]”, thì trong hai trường hợp, tức là trong thực tế cũng như trong bí tích, cũng chỉ là cùng một Đức Giêsu duy nhất.
Chúng ta sẽ có thể sử dụng những câu chữ khoan dung và khích lệ nhất đối với những người ly dị và tái hôn muốn sống một đời sống Kitô giáo, chân lý vẫn sẽ không thay đổi. Lúc nào cũng vậy và trong mọi trường hợp không ban cho họ ơn xá giải bí tích và Thánh Thể, cho dù họ hối lỗi và quyết định theo một con đường tái nhập vào cộng đồng, có nghĩa là nói cho họ biết họ đang ở trong tình trạng tội trọng, tức là khách quan lìa xa Thiên Chúa, và chúng ta đều biết kết quả ra sao, nếu họ phải chết trong tình trạng này. Theo khuynh hướng hiện nay, việc đó, trong số những việc khác, hẳn sẽ đi tới chỗ không bao lâu nữa sẽ có một cộng đồng Kitô giáo gồm phần lớn hoặc gần như phần lớn những phần tử “chết”, chính vì Thánh Thể, như sách Giáo Lý nói, là “bí tích của những người sống”.
Thánh Phaolô công nhận người trở thành tín hữu có thể ly dị và tái hôn, nếu người phối ngẫu từ chối đi theo người đó trong quyết định này[92]. Người ta gọi đó là “đặc ân Phaolô” hay “đặc ân đức tin”, được Giáo luật cho thực hành[93]. Điều đó không được áp dụng, trong mọi khía cạnh pháp lý, cho những người được rửa tội ly dị, nhưng chắc chắn người ta thấy có một nét loại suy trong nhiều trường hợp (nếu không muốn nói là mọi trường gợp) được đưa ra. Theo Giáo luật cũ, chỉ thuần túy trở lại với Giáo Hội công giáo, ngay cả từ một hệ phái Kitô giáo khác, Tin Lành hay hệ phái Kitô giáo nào đó, cho phép ipso facto (đương nhiên) có quyền ly dị và tái hôn. Trong trường hợp có sự hoán cải chính thực và sâu xa hướng về Đức Kitô, khi người ta không thể sống sự hoán cải ấy với người chồng đầu tiên, người ta lại không thể làm như vậy sao?
“Mỗi người hãy tự xét mình”
Kể từ nay có một chuyện rất rõ: tình hình những người ly dị tái hôn trong Giáo Hội không thể được giải quyết chỉ bằng Luật pháp hay bằng Giáo luật. Những hoàn cảnh thuộc con người là quá nhiều và quá khác nhau, nên không thể đưa vào nề nếp bằng một quy định độc nhất. Nếu các bí tích là “vì con người” (thần học gọi là propter homines), luật cũng phải là “vì con người” chứ không chống lại con người. Minh triết cổ đại đã muốn diễn tả điều đó bằng thành ngữ: “summum ius, summa iniuria”, nghĩa là: luật đẩy tới chỗ cực đoan có thể trở thành ngược lại với nó, tức là không còn chính đáng.
Trong lãnh vực này, không thể tránh chuyện nại tới lương tâm con người. Giáo Hội của Công Đồng Vaticanô II đã thừa nhận rằng lương tâm là cấp xét xử cao nhất mà mọi cấp xét xử khác phải nhường bước, kể cả Huấn quyền, vì lương tâm cáo giác trách nhiệm trực tiếp và bất khả chuyển nhượng của mọi người trước Thiên Chúa[94]. Giáo Hội và Huấn quyền phải “đào tạo” lương tâm bằng cách công bố với lòng kính trọng nhưng rất rõ những đòi hỏi của Phúc Âm và của luật tự nhiên, nhưng không thể thay thế chúng.
Tồng đồ Phaolô đưa ra vài quy tắc và trình bầy những đòi hỏi để có thế tiến đến lãnh nhận Mình Máu Chúa, nhưng ngài kết luận như sau:
“Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình[95].”
Phải cẩn thận giúp cho người muốn lãnh nhận Thánh Thể hiểu rõ điều đó. Nếu việc rước lễ biến thành án phạt trước mặt Thiên Chúa, thì chấp nhận cho rước lễ quả là điều vô ích.
Điều này có giá trị cho mọi người, chứ không chỉ cho những ai có vấn đề trong hôn nhân của họ. Một người có thể có “mọi giấy tờ” hợp lệ: hôn nhân trước bị hủy tiêu được xác nhận, hôn nhân mới trong Giáo Hội, và có thể tiếp tục đến với Thánh Thể để chịu án phạt cho mình. Vì người đó đã không bao giờ thật sự xét mình, và để cho Thiên Chúa cũng như lương tâm xét xử; đã không bao giờ lãnh phần trách nhiệm trong thất bại của hôn nhân trước, nhưng đã đổ lỗi cho người phối ngẫu, thậm chí dùng mọi phương thế để bôi nhọ người phối ngẫu trước mắt người khác; đã không bao giờ nghĩ đến nỗi đau khổ và thiệt hại gây ra cho con cái, làm cho chúng mất cha hoặc mất mẹ; đã không bao giờ nói điều Đavít đã nói sau khi cướp vợ một người lính của mình: “Lậy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà…Con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm. Con dám làm điều dữ trước mắt Ngài[96].”
Kiểu mẫu Phúc Âm
Gương Đức Kitô mà chúng ta đã minh họa trong mọi tình huống được trình bầy cho tới lúc này – Dakêu, người phụ nữ ngoại tình, Matthêu, người phụ nữ tội lỗi, người phụ nữ xứ Samari – cho chúng ta thấy đôi điều mà chúng ta không bao giờ được quên. Một sự thay đổi thật trong tâm hồn sẽ chỉ có thể xẩy ra nếu tiên vàn người đàn ông hay đàn bà này trước đó thấy mình được yêu vì chính mình, thấy mình quý giá trước mắt Thiên Chúa, là Đấng sẽ không bao giờ ngừng yêu thương mình, trong bất cứ hoàn cảnh nào. Đó là trách vụ đẹp đẽ nhất của Giáo Hội và là cách rao giảng tốt nhất về lòng thương xót. Để xác tín về điều đó, chỉ cần nhìn lại một lần nữa xem Đức Giêsu đã hành xử thế nào trong suốt cuộc đời Ngài. Có kiểu mẫu nào, Lề Luật nào có thể có uy tín hơn gương của Ngài.
Đức Giêsu đi gặp gỡ những tội nhân, những con người đang trong tình trạng sống trái với Lề Luật. Chúng ta thấy Ngài hành xử thế nào? Ngài có lấy đi những rào cản không thể vượt qua giữa Ngài và họ chăng? Có đặt ra cho họ những điều kiện mà Ngài biết rằng họ sẽ không thể giữ chăng? Có làm cho họ thất vọng vì sự khăng khăng của Ngài chăng? Không! Ngài xin họ cho uống nước, trao phó cho họ bí mật sâu xa nhất của Ngài, đồng bàn với họ. Chỉ sau đó Ngài mới đi đến chỗ cho họ biết những đòi hỏi của tình yêu.
Thế nên có thể mơ về một Giáo Hội lại mang tính Phúc Âm một cách minh nhiên hơn, một cách can đảm hơn, dưới bóng Đức Kitô, không ngại tỏ ra đồng hành với người nghèo khó và tội lỗi, không ngại vì không luôn luôn được hiểu. Hãy nghĩ cách riêng đến tất cả những người nam nữ bị tổn thương vì tình yêu bị tan vỡ, những người nam nữ tìm cách “làm lại cuộc đời”. Tất cả họ có lẽ cần cảm thấy Thiên Chúa gần gũi, được thuyết phục nơi thâm sâu của mình là không bao giờ được thất vọng, vì Cha trên trời không bao giờ thôi tin tưởng vào họ. Và nếu họ được bắt gặp trên đường Đức Giêsu đang đi qua, như Dakêu và người phụ nữ xứ Samari, thì chính Ngài sẽ được mời vào bàn ăn của họ!
Giảng trong một cuộc tĩnh tâm trước sự hiện diện của Đức Gioan Phaolô II, trong Năm Thánh 2000, Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, người Việt Nam, chứng nhân anh hùng của đức tin, người đã sống mười ba năm trong lao tù […] mà phần lớn thời gian bị cô lập hoàn toàn, trong những điều kiện không tưởng tượng nổi, đã nói ra những lời có một ý nghĩa đặc biệt nếu được nghe lại trong Năm Thánh về lòng thương xót:
“Tôi mơ ước một Giáo Hội là một “Cửa Thánh” luôn rộng mở, ôm lấy từng người, đầy lòng trắc ẩn, hiểu biết những âu lo và đau khổ của nhân loại, bảo vệ, an ủi và hướng dẫn mọi người đến sự dịu hiền của Chúa Cha[97].”
