8. TIN VÀO LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA
Phêrô và Giuđa hai câu chuyện hầu như song song
Đức Giêsu nhìn ông
Điều đánh động nhất khi đọc bài Thương khó theo thánh Maccô, chính là tầm quan trọng được gán cho sự phản bội của Phêrô[98]. Trước hết nó được Đức Giêsu loan báo trước trong bữa cuối (“Thầy bảo thật anh, hôn nay, nội đêm nay, gà chưa kịp gáy hai lần, thì chính anh, anh đã chối Thầy đến ba lần”), rồi được mô tả trong diễn tiến làm mất thể diện: “Tôi chẳng biết, tôi chẳng hiểu cô muốn nói gì. […] Tôi thề là không có biết người các ông nói đó.”
Việc nhấn mạnh này thật có ý nghĩa, vì Maccô ít nhiều cũng làm thư ký cho Phêrô và viết sách Phúc Âm bằng cách thu thập những kỷ niệm của Phêrô và những chi tiết phát xuất trực tiếp từ Phêrô. Vậy là chính Phêrô đã cho thấy câu chuyện về sự phản bội của mình. Ông đã làm một hình thức thú tội công khai. Trong niềm vui tìm lại được ơn tha thứ, tên tuổi và tiếng tăm của Phêrô với tư cách thủ lãnh các tông đồ không quan trọng đối với ông. Ông muốn rằng không một ai trong số những người vấp ngã sau này sẽ không mất hy vọng được tha thứ.
Chúng ta dừng lại một lát về những chi tiết của câu chuyện quá đau buồn cho Phêrô, nhưng cũng đáng là bài học cho chúng ta. Nó giúp ta hiểu (và gạt bỏ) động lực đưa Phêrô tới chỗ phản bội. Khi người nữ tỳ đến gần Phêrô, trong sân vị thượng tế, để quan sát ông dưới ánh lửa, ông bắt đầu sợ. Ông chưa kịp hoàn hồn khi Đức Giêsu bị bắt, sau cú rút gươm thất bại. Ông đã theo Ngài từ xa và vào trong sân vị thượng tế với một chút e ngại. Một lời của Gioan nói với cô nữ tỳ cho phép ông đi vào trong dinh, và đến gần chỗ có lửa trong sân để sưởi.
Cô nữ tỳ để ý nhìn người lạ mặt này đi vào, và trước dáng điệu sợ sệt của ông, cô càng thêm nghi ngờ. Chúng ta biết câu hỏi của cô và câu trả lời của Phêrô. Lúc ấy ông nghĩ tốt hơn là đi ra xa về phía cổng, nhưng cô nữ tỳ lại gặp ông và rồi cùng một câu hỏi và một câu trả lời còn khiếp sợ hơn: “Tôi không biết người này”. Lúc ấy gà gáy, nhưng Phêrô đã không để ý, vì đang lo cho sự an ninh của mình. Để tránh bị nghi ngờ, ông đến chỗ đám đông người nói chuyện. Chính ở đây mà ông bị nhận diện là người đã rút gươm. Phêrô không có lời đáp nào hơn là hết sức chối!
Trong những lời chối liên tiếp này, lần sau mạnh hơn lần trước, chúng ta thấy lộ ra sự khúc mắc dẫn đến tội lỗi. Phêrô đã để mình bị lôi kéo vào một sự bất trung luôn rõ ràng hơn, tới chỗ phản bội, điều mà hẳn ông không bao giờ nghĩ mình có thể làm, khi bắt đầu theo Thầy. Và ông hy vọng có thể tránh được nguy hiểm khi chỉ tuyên bố là mình không biết gì; nhưng cách hành xử của ông chỉ khiến ông bị tố giác thêm. Vì vậy, sau khi chối Thầy lần thứ nhất, ông bị thúc đẩy chối lần thứ hai với lời lẽ mạnh hơn, rồi lần thứ ba nữa. Lần dối trá và bất trung đầu tiên đã không giúp ông gỡ xong việc khó, lại còn đặt ông vào trong một tình huống càng rối rắm hơn. Ở đây chúng ta thấy mẫu gương ấn tượng của khuynh hướng tội lỗi gia tăng và nặng nề thêm, ngay cả trong trường hợp thuần túy yếu đuối, khi dựa trên sự dối trá.
Tiếng gà gáy lần thứ hai xẩy ra kịp thời để ngăn cản Phêrô không trở nên tồi tệ hơn trong những lời phản đối giả tạo của mình. Lúc ấy ông nhớ lại lời Thầy đã báo trước. Bối rối vì lời này, ông rời xa đám người tụ tập. Chính vào lúc đó, Đức Giêsu ra khỏi pháp đình nơi Ngài bị Caipha thẩm vấn. Ngài đi theo đám vệ binh đã xiềng trói Ngài, nhưng quay mặt về phía người môn đệ.
Chúng ta thấy Đức Giêsu vô cùng thương xót người môn đệ này. Ngài không chỉ nói trước cho ông một dấu hiệu ngăn ông khỏi sa ngã, tức tiếng gà gáy lần thứ hai, mà còn đích thân can thiệp bằng một cái nhìn yêu mến, để tái chinh phục con tim của người đã chối Ngài. Cái nhìn của Ngài giúp cho Phêrô hiểu tội lỗi của mình. Cho tới lúc đó, ông đã để cho sự sợ hãi đưa đẩy, muốn chạy trốn những nghi ngờ đè nặng trên ông. Khi chối Thầy, ông chỉ nghĩ tới mình, chỉ quan tâm cứu tính mệnh của mình. Ông không thấy rõ sự bất trung của mình, chỉ là vì không muốn nghĩ tới nó, không muốn hoàn toàn ý thức về cách hành xử của mình. Nhưng Đức Giêsu bất ngờ xuất hiện trước mắt ông, đưa ông đối diện lại với thực tế.
Tác giả Luca sẽ nhấn mạnh cái nhìn này của Đức Giêsu, cái nhìn khiến cho Phêrô phải khóc:
“Chúa quay lại nhìn ông, ông sực nhớ lời Chúa đã bảo ông: ‘Hôm nay gà chưa kip gáy, thì anh đã chối Thấy ba lần’. Và ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết[99].”
Cái nhìn này giúp ông hiểu tội lỗi của mình, cảnh ngộ vô ý thức của mình, hơn là tiếng gà gáy. Cái nhìn của Đức Giêsu là một cái nhìn nhân từ ban ơn tha thứ. Không một chút tức giận, không một chút nổi xung, chỉ một chút trách móc, là trách móc – dịu dàng và thinh lặng – của một tấm lòng trìu mến bị tổn thương. Một cái nhìn thương xót có được một kết quả mà cái nhìn trách móc hẳn sẽ không có được.
Không tội lỗi nào lớn hơn lòng thương xót của Thiên Chúa
Để hiểu rõ hơn câu chuyện Phêrô chối Thầy, phải đọc song song với câu chuyện phản bội của Giuđa. Chuyện phản bội này cũng đã được Đức Kitô báo trước ở nhà Tiệc ly, được hoàn tất nơi Vườn Cây Dầu. Về Phêrô, người ta biết lúc đi ngang qua, Đức Giêsu “chăm chú nhìn ông[100]”; Ngài còn làm hơn đối với Giuđa là ôm lấy anh ta. Nhưng phần tiếp theo hoàn toàn khác. Phêrô “ra ngoài khóc lóc thảm thiết”, còn Giuđa thì đi thắt cổ.
Chúng ta cần hiểu rõ nét khác nhau giữa hai sự kiện, tức là lý do vì sao hai câu chuyện, câu chuyện của Phêrô và câu chuyện của Giuđa, lại kết thúc khác nhau đến vậy. Phêrô hối hận về việc mình đã làm, còn Giuđa, cũng biết nói: “Tôi đã phạm tội nộp ngươi vô tội[101]” và trả lại ba mươi đồng bạc. Vậy khác nhau ở chỗ nào? Ở một việc thôi: Phêrô tin tưởng vào lòng thương xót của Đức Kitô, Giuđa thì không!
Kinh Thánh giới thiệu cho chúng ta tất cả một bộ sưu tập những trình thuật song song này về tội, những trình thuật kết thúc theo cách hoàn toàn đối ngược nhau. Kinh Thánh làm điều này với mục đích rõ ràng, là thúc đẩy chúng ta lựa chọn cho đúng. Cain đã giết Abel; nhưng Davít cũng đã giết Uria, chồng của người phụ nữ mà ông muốn lấy. Tuy nhiên, Cain bị khinh ghét, còn Đavít được tôn trọng. Lý do bao giờ cũng vẫn thế. Cain thất vọng khi nghĩ tội của mình quá lớn không thể tha thứ được[102], còn Đavít tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa khi ông kêu lên: “Lậy Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm[103].”
Trên đồi Canvê, lại cũng cùng một tình huống. Ở đó có hai tên cướp, cả hai đều phạm tội, ghi dấu máu nạn nhân của mình. Tuy vậy một trong hai nguyền rủa, lăng nhục và chết trong tuyệt vọng, trong khi tên còn lại thưa với Đức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi”. Và anh được Ngài trả lời ngay: “Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng[104].”
Giáo huấn rút ra từ hai câu chuyện song song và đối lập nhau về Phêrô và Giuđa là đừng bao giờ thất vọng về sự thương xót. Trong trường hợp ngược lại thì điều đó có nghĩa là chúng ta coi tội lỗi của chúng ta lớn hơn lòng thương xót của Thiên Chúa, chúng ta giới hạn quyền năng của Thiên Chúa. Ngay từ thời Cựu Ước Thiên Chúa đã nói:
“Hãy đến đây, ta cùng nhau tranh luận. Tội các ngươi, dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết, có thẫm tựa vải điều, cũng hóa trắng như bông[105].”
Vậy giờ đây điều gì xẩy ra, vì lẽ giữa tội lỗi của con người và sự tha thứ của Thiên Chúa có máu của Con Ngài ở giữa, máu đó “kêu thấu trời còn mạnh mẽ hơn cả máu Abel[106]”? Mọi hoài nghi và cám dỗ thất vọng hẳn phải biến mất trước một lời như lời của Gioan:
“Căn cứ vào điều đó, chúng ta sẽ biết rằng chúng ta đứng về phía sự thật, và chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa. Vì nếu lòng chúng ta có cáo tội chúng ta, Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Người biết hết mọi sự[107].”
Người môn đệ được Đức Giêsu yêu mến còn kêu lên: “Chúng ta đã biết tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta[108]”! Và chúng ta chắc có thể kêu lên cũng mạnh mẽ như vậy: “Tôi đã biết lòng thương xót của Thiên Chúa, chính vì thế tôi tin vào lòng thương xót ấy!”
Những tội phạm đến Chúa Thánh Thần
Theo sách Giáo Lý cũ, duy nhất có hai tội làm cho lòng thương xót của Thiên Chúa không thực hiện được. Người ta gọi chúng là những tội phạm đến Chúa Thánh Thần. Trước hết là tội “quá tin vào sự cứu độ mà không cần công trạng” (sách Giáo Lý mới[109] hẳn nói đúng hơn: “quá tin vào sức riêng, hơn là vào ân sủng và đức tin”); tiếp đến là “thất vọng về ơn cứu độ riêng của mình”. Tự phụ và thất vọng. Ở đây chúng ta đụng chạm tới thứ tội nổi tiếng, tức tội phạm đến Chúa Thánh Thần mà Đức Giêsu nói rằng không thể tha, và là tội khiến nhiều linh hồn phải lo lắng. Mạch văn xác định rõ đây là loại tội gì:
“Tôi bảo thật anh em, mọi tội của con cái loài người, kể cả tội nói phạm thượng, và nói phạm thượng nhiều đến mấy đi nữa, thì cũng con được tha. Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần, thì chẳng đời nào được tha, mà con mắc tội muôn đời. Đó là vì họ đã nói: ‘Ông ấy bị thần ô uế ám[110].”
Trước hết rõ ràng đây không phải là một quả quyết phổ quát, nhưng riêng biệt, giới hạn vào tình hình chung quanh Đức Giêsu trong cuộc đời trần gian của Ngài. Đó là tội của những người trao đổi Đấng đã đến để giải thoát chúng ta khỏi Satan bằng chính Satan, và do đó tự khai trừ khỏi ơn cứu độ. Nói rộng ra, đó cũng là tội của người nào ngày hôm nay từ chối có ý thức Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, như vậy nghĩ rằng không có ơn cứu độ nào, cũng chẳng có sự sống vĩnh cửu nào cho con người. Bao lâu còn khăng khăng trong xác tín này, thì hiển nhiên người đó không thể được ơn tha tội, chỉ vì không cầu xin cũng chẳng ước ao được tha thứ. Nói khác đi, đây không phải là một tội mà Thiên Chúa không thể tha hay không muốn tha, nhưng là tội của người không tìm cũng không muốn sự tha thứ.
Chúng ta kết thúc bằng một câu chuyện, câu chuyện này, nếu không xác thực, dầu sao cũng giáo huấn chúng ta. Ngày nọ có một đứa trẻ, được nghe người ta kể chuyện Giuđa, nói một cách ngây thơ nhưng cũng có nét khôn ngoan phù hợp với lứa tuổi của em: “Giuđa đã lầm cây để treo cổ, anh ta đã chọn cây vả.” Giáo lý viên ngạc nhiên hỏi em: “Lẽ ra anh ta phải chọn gì?” Em trả lời: “Lẽ ra anh ta đã phải treo mình vào cổ Đức Giêsu chứ!” Em nói đúng, vì nếu anh treo mình vào cổ Đức Giêsu để xin Ngài tha thứ, thì ngày nay anh đã được tôn kính, giống như Phêrô vậy.
