9. “TRÊN TRỜI AI NẤY SẼ VUI MỪNG VÌ MỘT NGƯỜI TỘI LỖI ĂN NĂN SÁM HỐI”

Những dụ ngôn về lòng thương xót

Đó là cách Thiên Chúa hành động

Nếu Phúc Âm có nghĩa là “tin mừng”, nói rõ hơn là tin mừng cho người nghèo và tội nhân, thì chương 15 của Phúc Âm Luca, với ba dụ ngôn con chiên lạc, đồng bạc đánh rơi và người con hoang đàng, dẫn chúng ta vào trọng tâm của Phúc Âm. Điều bảo đảm cho sự duy nhất của ba dụ ngôn này, chính là mục đích chung mà cả ba phục vụ: bị kẻ thù tố cáo, Đức Giêsu phải bảo vệ hành động của mình đối với những tội nhân. Những dụ ngôn nhằm nói với những người Biệt Phái và luật sĩ đang xầm xì chống lại “người đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng[111]!”

Nhằm đạt được mục đích, Đức Giêsu sử dụng một phương pháp lạ lẫm: Ngài bịa ra những tình huống của con người, những dụ ngôn có vẻ thật, rút ra từ thực tế hàng ngày, nhưng thực ra lại không thật và trái với kinh nghiệm. Người chăn chiên đích thật không khi nào bỏ chín mươi chín con chiên trong hoang địa, vì khi trở lại, có lẽ anh sẽ tìm thấy con chiên đi lạc, nhưng chín mươi chín con chiên kia lại bị mất… Người phụ nữ nghèo (chị thực sự nghèo nếu gia tài chỉ có mười đồng quan) không thể cho phép mình mời bạn bè đến chung vui, vì chỉ ăn nhẹ mà thôi cũng tốn phí của chị không phải một đồng nhưng là cả mười đồng…Người cha ở đất Palestin không cho người con út, dưới mười tám tuổi (quả thực anh còn chưa có vợ), phần gia tài thuộc về anh và phần cho thêm, dưới hình thức một hoa lợi tức thời, một thanh toán. Cách thực hành đương thời quy định rằng người cha còn sống nhường cho con những của cải thuộc về chúng, nhưng không bao giờ nhường hoa lợi tức thời.

Chính qua những tình huống cụ thể này mà Đức Giêsu minh giải cho hành động của Thiên Chúa. Chính từ đó mà có ấn tượng sau đây về sự thật, về những sự việc đã thấy và nghe hằng ngày, phát xuất từ ba dụ ngôn. Chuyện tự nhiên, đúng không? Đức Giêsu dường như nói vậy. Các người chăn chiên và các người cha ở trần gian lại không làm như thế sao? Và chúng ta, những con người ngây thơ, chúng ta hăng hái dấn mình vào đó, mà không nhận ra rằng điều này không đúng trong thực tế, và không ai trong chúng ta sẽ hành động như thế. Ở đây, Đức Giêsu cho thấy mình là một thi sĩ lớn; và cũng giống như các thi sĩ, Ngài có thể làm cho chúng ta tin rằng tất cả những điều đó là thật và đã xẩy ra, trong khi chúng chỉ là tưởng tượng. Chúng ta cũng nghĩ tới các tác giả lớn viết thơ ngụ ngôn, biết cho những con vật nói chuyện khiến chúng ta lầm với con người. Vậy những tình huống Đức Giêsu tạo ra trong các dụ ngôn là thật, nhưng bằng một sự thật cao hơn, tức là không thuộc con người nhưng thuộc Thiên Chúa. Và chúng ta để mình bị bắt chộp, lấy làm phấn khởi về cái bẫy này, vì nó làm cho chúng ta hài lòng hơn là thực tế, nó làm cho chúng ta cảm thấy khá hơn. Quả là đẹp nếu sự việc thật sự là như thế.

Vậy tôi cho rằng Đức Giêsu sử dụng ba tình huống cụ thể để minh giải cách Thiên Chúa hành động trước con người. Ngài lấy khăn của con người mà che phủ hình ảnh của Thiên Chúa. Ngài nói: hãy coi Thiên Chúa hành động như thế nào! Phản ứng của Người là như thế, khía cạnh yếu của Người là như thế. Người có thế nào, chúng ta phải đón nhận Người như vậy; phải tha thứ cho Thiên Chúa sự yếu đuối này; Người tìm thấy ở đó niềm vui của mình và sẽ không đủ để hỏi Người tại sao, vì Người sẽ làm như mọi người khác và trả lời: Tôi làm như thế đó! Đó là câu trả lời của Thiên Chúa.

Đến lúc này, Đức Giêsu để cho các thính giả tự rút ra câu kết luận quan trọng nhất và gây bối rối nhất. Nếu Ngài xử sự như thế với các người tội lỗi và những kẻ lạc đường, và nếu người ta thấy tất cả những điều này là cách Thiên Chúa hành động, khi đó Đức Giêsu như là Thiên Chúa, khi đó Đức Giêsu Thiên Chúa! Đúng vậy, chính là điều Đức Giêsu muốn nói. Bối cảnh những dụ ngôn về lòng thương xót có tính chất Kitô học, nói về Đức Kitô, về con người của Ngài và về sứ mệnh siêu việt của Ngài. Những dụ ngôn là một cách loan báo, một cách tự mạc khải, càng hữu hiệu vì gián tiếp và chỉ được gửi tới tâm trí người nào lắng nghe (những kết luận tốt nhất luôn là những kết luận chúng ta tự phải rút ra). Giống như lần Ngài chữa cho một người bại liệt khi nói với anh ta: “Này anh, anh đã được tha tội rồi[112]”. Ngay lập tức, mọi người bắt đầu nói: chỉ mình Thiên Chúa có thể hành động như thế! Và Đức Giêsu bình tĩnh trả lời, trong khi chữa lành người bại liệt và buộc chính họ rút ra câu kết luận hợp lý của tất cả câu chuyện.

Niềm vui và hy vọng trong trái tim Thiên Chúa

Chúng ta không thể cắt nghĩa từng dụ ngôn trong ba, cho dù rõ ràng không thể tách rời chúng, cũng không thể nghiên cứu về dụ ngôn này mà không nói đến dụ ngôn kia. Chúng là ba dụ ngôn nhưng liên kết mật thiết với nhau, và được tường thuật như bằng một nét duy nhất: một người chăn chiên có một trăm con chiên… một phụ nữ có mười đồng quan… một người cha có hai con trai…

Chỉ còn việc là nhìn ba dụ ngôn khi chúng diễu hành trước mắt chúng ta như trong một cuộc rước, để hiểu nốt nổi bật nhất trong dạo khúc của chúng. Nốt nổi nhất (diễn viên chính của dụ ngôn) không phải là con chiên đi lạc, không phải đồng bạc bị mất, cũng không phải người con hoang đàng. Đó quả là những tựa đề được truyền thống gán cho ba dụ ngôn, nhưng là những tựa đề sai, được đặt như thế cho tiện. Thật ra, những dụ ngôn về lòng thương xót này không chủ yếu bàn về con người, nhưng về Thiên Chúa. Chính xác hơn, về niềm vui của Thiên Chúa.

Nếu bối cảnh của các dụ ngôn có tính chất Kitô học, thì chính bản văn lại có tính chất thần học. Nói cách khác, các dụ ngôn chứa đựng một mạc khải về Thiên Chúa, một mạc khải sáng ngời. Nếu lòng thương xót và tình yêu (hesed) là đặc điểm của Thiên Chúa trong tất cả Cựu Ước, thì phải nói rằng những dụ ngôn này tạo thành tâm điểm của mạc khải Kinh Thánh về Thiên Chúa, hơn nữa chúng còn cho biết thêm một điều không được biết đến trước đây, ít ra một cách rõ ràng, là Thiên Chúa vui mừng khi tỏ lòng thương xót. Tiên tri Mikha đã nói Thiên Chúa “không giữ mãi cơn giận nhưng vui mừng ban ơn[113].” Điều cho tới lúc đó đã được nói âm thầm, nay được công bố trên mái nhà.

Thế nên chúng ta hãy trở lại với trọng tâm của các dụ ngôn này, tức niềm vui của Thiên Chúa. Niềm vui ấy ít nhất được nói đến ba lần trong những lời vắn tắt của người chăn chiên: Tìm thấy rồi, anh mừng rỡ, trở về nhà…nói với các bạn: “Xin chung vui với tôi…” “Trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng”. Trong dụ ngôn người cha nhân hậu, niềm vui tràn trề biến thành lễ lạc; người cha không còn giữ đúng địa vị của mình nữa, không biết phải phát minh ra cái gì; ông sai lấy bộ lễ phục, lấy chiếc nhẫn được đánh dấu bằng con dấu gia đình (đồ vật được bảo vệ kỹ và là dấu trọng vọng thời xưa), bắt con bê béo; ông quên đi tuổi tác, phẩm giá của mình và bắt đầu chạy như một đứa trẻ (“ông chạy đến ôm cổ con mình”) truyền lệnh cho mọi người: Mở tiệc đi nào! Chúng ta phải ăn mừng!

Những dụ ngôn này có vẻ làm yên lòng nhất, tuy vậy, khi chúng ta nghĩ lại, chúng làm dấy lên trong ta trước hết một câu hỏi đáng ngại, sau đó một thử thách thật sự. Đồng ý với niềm vui của người chăn chiên, nhưng tại sao anh ta lại tỏ ra “vui hơn” vì tìm thấy chiên lạc hơn là vì chín mươi chín con chiên không làm cho anh ta phải lo lắng..  Chúng ta không là con cái của Thiên Chúa theo cách đó sao? Thế tại sao một con chiên lại có giá trị bằng chín mươi chín con khác, nhất là tại sao chính con thoát khỏi đàn và kém giá trị lại được ưu đãi? Tất cả những cái đó không phải là hơi quá đáng hay sao?

Câu trả lời đúng nhất cho vấn nạn này và thuyết phục nhất, theo tôi, không phải do những bài chú giải Phúc Âm, nhưng là do nhà thi sĩ thần học Charles Péguy. Ông nói rằng khi đi lạc, con chiên cũng như đứa con út, làm cho chính trái tim của Thiên Chúa run sợ. Thiên Chúa sợ mất nó vĩnh viễn, sợ buộc phải phạt nó, sợ mất nó muôn đời. Tất cả những điều đó đã làm Ngài run sợ. Nỗi sợ hãi đó đã làm trào lên niềm hy vọng trong tâm hồn Ngài, và niềm hy vọng, một khi được xác nhận, làm phát sinh niềm vui và lễ lạc[114].

Khi yêu thương ta, Thiên Chúa tự đặt minh trong điều kiện phải hy vọng một điều gì đó từ chúng ta, ngay cả từ một kẻ phạm tội nặng nhất. Chính đó là một sự mới mẻ khiến chúng ta ngã ngửa, một sự đảo lộn mọi sự. Ai có thể hình dung như thế? Dĩ nhiên chúng ta không biết điều gì tạo ra niềm hy vọng nơi Thiên Chúa. Ngay cả nơi con người, tình cảm này cũng tế nhị, mầu nhiệm và không hiểu nổi. Chúng ta có thể nói là nơi Thiên Chúa, niềm hy vọng không tùy thuộc vào chỗ Ngài không biết kết quả sự chờ đợi của Ngài, nhưng vào chỗ Ngài không muốn nó nếu nó không đến từ sự tự do của con người. Đối với chúng ta, điều kiện cho phép hy vọng chính là không biết tương lai; còn đối với Thiên Chúa, chính là sự tự do của con người.

Trước đây nhiều năm đã xẩy ra một vụ việc khiến cho cả nước Ý phải xúc động. Một đứa bé hai tuổi mất tích và người ta không nghe tin gì về nó trong hai ngày. Những giả thuyết đáng sợ nhất được đưa ra. Cha mẹ nó tuyệt vọng. Ngày thứ ba, nó bất ngờ xuất hiện trở lại.  Đài truyền hình từng theo dõi biến cố, đã quay phim cảnh mẹ nó, khi nhìn thấy, đã chạy về phía nó, như là bắt cóc nó, ôm nó vào lòng, hôn lấy hôn để. Đó chính là hình ảnh của hạnh phúc. Nhìn cảnh tượng này, tôi tự nhủ: chính xác đó là điều Đức Giêsu muốn dạy chúng ta khi Ngài nói về niềm vui của Thiên Chúa dành cho một trong những con cái lại tìm thấy. Tôi tin chắc là cha mẹ đứa bé hẳn là muốn cho con của họ không bao giờ lạc mất nữa (đối với Thiên Chúa cũng vậy). Một khi chuyện mất tích xẩy ra, thì chuyện tìm lại được mang đến cho họ một niềm vui mà họ sẽ không bao giờ biết đến nếu đã không có gì xẩy ra. Cũng nơi họ, nỗi lo lắng đã làm phát sinh niềm hy vọng, và niềm hy vọng, một khi hoàn thành, đã vỡ òa thành niềm vui.

Chuyện giống như vậy xẩy ra với sự chết và sự sống lại của Đức Giêsu (người cha trong dụ ngôn nói rõ là con ông “đã chết mà nay sống lại”). Ngay cả trong số những người trì độn nhất, ai có thể tưởng tượng là Chúa Cha vẫn trơ trơ, không mong đợi gì, trong khoảng thời gian giữa lúc Đức Giêsu chết và sống lại? Khi sự sống lại của Đức Giêsu xẩy ra, nó đã làm phát sinh nơi Chúa Cha một niềm vui vô hạn, còn lớn hơn là nếu Đức Giêsu đã không bao giờ chết và sống lại. Cũng xẩy ta như vậy đối với con chiên lạc và với người con hoang đàng.

Như tôi đã nói trên đây, chúng ta không biết niềm hy vọng của Thiên Chúa là do điều gì; nhưng chỉ cần chúng ta biết rằng Thiên Chúa chờ đợi nơi ta điều gì đó, để không để chúng ta yên, để chắp cánh cho tâm hồn chúng ta. Chúng ta có thể làm cho thỏa mãn (hoặc không đáp ứng) sự chờ mong của Thiên Chúa. Trong một tác phẩm tiểu thuyết của mình, Dostoievski đã kể lại một câu chuyện nhỏ có vẻ như một cảnh tượng mà chính mắt ông đã chứng kiến. Một phụ nữ nhà quê ẵm trong cánh tay con nhỏ vài tuần tuổi, khi lần đầu tiên nó mỉm cười với bà. Quá cảm động, bà làm dấu thánh giá. Có người hỏi tại sao bà làm thế thì bà trả lời”

“Cũng như một người mẹ vui mừng thế nào khi thấy nụ cười đầu tiên của con mình, Thiên Chúa cũng vui mừng thế ấy mỗi khi từ trên trời Ngài thấy một tội nhân cầu xin với Ngài tận đáy lòng[115].”

Người có tội đọc ba dụ ngôn của Đức Giêsu có thể xúc động và quyết tâm hoán cải vì những lý do khác nhau; những lời này đánh lừa, chúng len lỏi mọi chỗ như nước; chúng tác động trên tâm trí, trái tim, óc tưởng tượng, ký ức; chúng biết chạm vào những chỗ yếu khác nhau: hối tiếc, xấu hổ (đậu muồng dành cho heo), nhớ nhà (biết bao người làm công ở nhà cha tôi…); chỉ mình Thiên Chúa biết có bao nhiêu người xúc động vì những dụ ngôn này; linh mục chúng ta biết nhiều trường hợp những người như vậy. Hiếm khi những dụ ngôn này được công bố cho những người tham dự một cuộc tĩnh tâm, một sứ vụ, mà không có điều gì xẩy ra nơi một ai đó, một sự phá băng xác thực: hiệu lực của chúng luôn còn nguyên và tươi mới là ở đó. Tôi đã nói là độc giả có thể xúc động và quyết tâm hoán cải vì những lý do khác nhau; nhưng lý do đẹp đẽ nhất do chính Đức Giêsu gợi ra thì như sau: Tôi muốn làm cho Thiên Chúa được hạnh phúc, Ngài chờ đợi tôi!

Đức Giêsu quả quyết, và thánh Phaolô thuật lại cho chúng ta lời Ngài dạy: “Cho thì có phúc hơn là nhận[116]”. Chúng ta biết điều đó đúng với Thiên Chúa, và thực sự nhất là đối với Thiên Chúa. Tình yêu của Thiên Chúa có đặc điểm là tuyệt đối cho không, vì vậy trên trời “vui mừng hơn” khi có một tội nhân hoán cải, vì cho phép Thiên Chúa tha thứ, và tha là cho hai lần; điều đó cũng cho phép Thiên Chúa yêu thương theo cách của Ngài, là yêu “trước[117]”, lần nào cũng trước, không một ai thế chỗ được.

Còn người con cả thì sao?

Từ đây chúng ta có thể đương đầu với vấn đề gai góc nhất của các dụ ngôn này. Tôi đã nói là xét bên ngoài, chúng không đặt ra vấn đề nào cả. Thật ra, cũng như mọi lời khác của Thiên Chúa, chúng đầy những hốc ngoằn ngoèo bí nhiệm và những vực sâu thăm thẳm. Vấn đề là thế này: Còn chín mươi chín con chiên kia thì sao? Và người con cả trong dụ ngôn? Chúng không thể làm cho Thiên Chúa hạnh phúc sao? Chúng có bị phân biệt đối xử và bị lên án như một loại nhân công trước mặt Thiên Chúa và trong đời sống thiêng liêng chăng?

Đây không phải là một vấn nạn thuộc tu từ học. Nhiều năm trước, khi tôi cắt nghĩa Phúc Âm buổi chiều thứ bẩy trong chương trình “Theo gương Người” của kênh truyền hình Rai Uno, thì một ngày kia tôi đã phải chú giải dụ ngôn được người ta gọi là “đứa con hoang đàng”. Một thính giả đã viết cho tôi như sau:

“Trái với cách giải thích truyền thống, tôi cho rằng đứa con hoang đàng đặc biệt là một tên cướp và giả hình. Chả ra gì, nó đã phung phí trong những cuộc ăn chơi trác táng tiền bạc nó đòi cha chia phần. Một hôm, lúc túng đói, nó tự nhủ: “Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa. Tôi muốn trở về cùng cha và thưa với người là tôi đã đắc tội với Trời và với cha…” Vậy lý do của nó không phải là ăn năn, nhưng là vì đói. Nó trở về không phải do tình yêu, nhưng do nhu cầu. Còn người con kia tuy không dễ thương, nhưng ít ra đó không phải là một người giả hình. Anh ta không xử sự cách ngạo nghễ và điên rồ như đứa con thứ. Hơn nữa anh ta đã làm việc trong nhiều năm và không bao giờ có can đảm xin nghỉ làm một buổi. Thái độ càm ràm của anh có lẽ gây khó chịu, nhưng trong hai anh em, thú thực, con thích sự trung thực, có lẽ còn hạn chế, của người con ở lại nhà, hơn là sự kiêu căng ngốc nghếch và nước đôi của đứa bỏ nhà đi xa.”

Phản ứng này đủ để giúp cho chúng ta hiểu rằng dụ ngôn không đi theo lôgíc của con người, và chúng ta không thể hiểu nó nếu không đi vào trong tư tưởng của Thiên Chúa, là tư tưởng rất khác với tư tưởng của chúng ta.

Trước hết chúng ta lẫn lộn ở ngoại biên. Việc trên trời “vui mừng hơn” đối với một tội nhân hối cải không có nghĩa là công nhận tội nhân thánh thiện hơn, có công trạng hơn, nhiều vinh quang hơn so với những người công chính; tất cả những cái đó chẳng là gì cả, đúng hơn, đây là một vấn đề liên hệ tới Thiên Chúa, chứ không liên hệ tới tội nhân.

Thế nhưng chính câu trả lời mới đáng nói hơn hết. Đối vời những người công chính (hiểu là công chính thực), có điều gì đó còn hơn: dự phần vào niềm vui của Thiên Chúa! Người chăn chiên và người phụ nữ nói với bạn bè thế nào? “Xin chung vui với tôi!” Người cha nói với con cả thế nào? “Chúng ta phải ăn mừng” (tức là cả con và cha), vì em con đã trở về. “Tất cả những gì của cha đều là của con”: vậy nỗi lo lắng và niềm hy vọng của cha cũng phải là của con, cũng như niềm vui của cha ngày hôm nay! Vấn đề ở đây là em của con!

Đó cũng là đỉnh cao thứ hai của ba dụ ngôn Đức Giêsu đã chờ đợi, nghĩa là có thể cho những người Biệt Phái và luật sĩ hiểu rằng thái độ của họ đối với tội nhân không chỉ là một lời chỉ trích dành cho Thiên Chúa (Thiên Chúa không vui thích vì kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn cho nó từ bỏ đường lối của nó mà được sống[118]), mà còn là một điều xúc phạm đến người thân cận của mình, chống lại một trật cả điều răn thứ nhất lẫn điều răn thứ hai. Một người anh không thể dửng dưng trước việc người em bỏ đi xa; anh ta phải cùng đau khổ với cha, và nếu nó trở về, cũng phải vui mừng với cha.

Cả ba dụ ngôn, lúc đầu, chỉ muốn nói cho chúng ta về Thiên Chúa, thì theo cách này, lại kết thúc bằng cách nói về mọi người và cho mọi người, không phân biệt: cho tội nhân cũng như cho người công chính, cho người ở xa cũng như cho người ở gần. Nhưng tôi muốn cảnh giác người nghe những dụ ngôn trên đây đừng nghĩ ngay là mình đang ở trong chuồng chiên, đang thuộc số những người “không cần ăn năn sám hối”. Tôi đột nhiên ngờ là lời này của Đức Giêsu không có một nghĩa khách quan (những người “không cần” sám hối, những người công chính, chỉ có vậy) nhưng có một nghĩa chủ quan và nhu thế là trớ trêu (người “không cảm thấy” nhu cầu phải sám hối).

Quả thực ai có thể tưởng tượng mình không cần phải hoán cải và trở về? Những người luật sĩ và Biệt Phái nghĩ mình là như thế, nhưng chúng ta biết thực tế ra sao. Thực ra, con chiên đi lạc nhất, người con đi xa nhất, cần trở lại nhà nhất, chính là người lạc đướng trong sự kiêu căng của mình, núp sau bình phong sự công chính và giữ Lề Luật của mình, như người Biệt Phái cầu nguyện trong Đền Thờ. Để “trẩy đi phương xa” như người con thứ, không cần phải phạm những tội tầy đình, không cần phải ồn ào cắt đứt với đức tin và với Giáo Hội; người ta có thể đi xa bằng một cú nhảy, nhưng cũng bằng những bước nhỏ, mỗi lần một chút, một sự thỏa hiệp hôm nay, một sự thỏa hiệp ngày mai, một sự thiếu sót hôm nay, một sự thiếu sót ngày mai.

Thế nên những dụ ngôn về lòng thương xót là dành cho mọi người: không ai được miễn nhu cầu hoán cải, do đó, nhu cầu có thể làm thỏa mãn niềm hy vọng của Thiên Chúa. Làm cho Thiên Chúa được hạnh phúc và dự phần vào hạnh phúc của Ngài: cho tới khi chúng ta đạt tới mức đó, hai vai trò – vai trò của người con thứ và vai trò của người con cả – luôn nối tiếp nhau nơi ta.

Chúng ta có thể suy ra điều gì cho đời sống chúng ta từ việc đọc cùng một lúc ba dụ ngôn? Trước hết là điều này: Thiên Chúa thật sự yêu chúng ta, những gì liên hệ đến chúng ta và xẩy ra cho chúng ta không bao giờ làm Ngài dửng dưng, nhưng luôn có tiếng vang trong tâm hồn Ngài, đến độ làm cho Ngài phải lo lắng, hy vọng, đau khổ và vui mừng. Chúng ta phải thật sự thân ái với Ngài.

Tiếp đến, chúng ta thân ái với Ngài với tư cách là những con người, chứ không với tư cách đám đông hay những con số. Sự kiện chỉ có một con chiên đi lạc, trước đàn chiên còn lại, giúp khắc sâu trong trí não chúng ta là Thiên Chúa biết chúng ta từng người một, mỗi người chúng ta là người con độc nhất của Ngài. Thiên Chúa chỉ biết tính đến từng người một, và con số “một” này chính là mỗi người chúng ta. Tự nền tảng, đó không phải là những gì mà mọi người cha cũng như người mẹ ở trần gian vẫn làm hay sao? Nếu một người mẹ có năm đứa con, bà không chia tình yêu của bà thành năm phần, ban cho mỗi đứa một phần. Bà yêu từng đứa con bằng tất cả tình yêu bà có thể có.

Ba dụ ngôn về lòng thương xót chứa đựng một sứ điệp cho tất cả chúng ta. Đối với linh mục chúng ta, chúng nhắc cho chúng ta nhớ bổn phận đi tìm những con chiên lạc, lấy lòng thương xót mà đón nhận khi chúng trở về; đối với rất nhiều đứa con hoang đàng ngày hôm nay, trẩy đi miền xa, cũng phung phí hết tài sản của cha trong cuộc sống phóng túng, những dụ ngôn ấy thoáng cho thấy khả năng về một sự thay đổi triệt để, và một cuộc đời khác, không có vị đắng của trái keo nơi miệng; đối với những người làm cha làm mẹ có những đứa con lạc đường, những dụ ngôn ấy khuyến khích họ nhẫn nại và hy vọng, bằng cách nhìn đến sự nhẫn nại và hy vọng của Thiên Chúa đối với mỗi người chúng ta (có lẽ Ngài đã có với họ khi họ còn trẻ).

Mỗi người có thể khám phá trong dụ ngôn phần có thể áp dụng cho mình trong đời sống cá nhân của mình.

Phần trước Phần tiếp theo