10. “THIÊN CHÚA ĐÃ BIẾN NGƯỜI THÀNH HIỆN THÂN CỦA TỘI LỖI, VÌ CHÚNG TA”

Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô bằng chứng cuối cùng của lòng thương xót của Thiên Chúa

Một bước nhảy về phẩm chất

Trong chương thứ nhất, chúng ta đã thấy tình yêu của Thiên Chúa mang hình thức nào sau khi con người phạm tội: sự tha thứ và cùng với nó là sự đau khổ. Tình yêu trở thành “trắc ẩn”, tức là đau buồn cách nào đó. Lúc ấy tôi đã nói sự đau buồn này được mạc khải chỉ vào lúc Ngôi Lời mặc lấy xác phàm và “sáng kiến tự hủy mình”. Rất lâu trước đó nơi Thiên Chúa đã có một “khổ nạn của tình yêu”, là cuộc khổ nạn sẽ gây ra, như Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói, “kế hoạch lạ lùng của tình yêu cứu độ của Đức Kitô”. Nói khác đi, nơi Thiên Chúa Khổ Nạn đi trước Nhập Thể.

Tuy vậy, chắc chắn trong cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô, sự đau khổ của Thiên Chúa thực hiện một bước nhảy về phẩm chất, chính nó cũng “nhập thể”, trở thành thực tại lịch sử trong thời gian và không gian. Nó trở thành một kiểu mẫu đau khổ được chúng ta biết rõ và nói cho chúng ta cách trực tiếp, từ bên trong lịch sử riêng của chúng ta. Chúng ta phải dừng lại ở đó và suy niệm cho chính đáng. Không có trường học nào dạy chúng ta biết lòng thương xót của Thiên Chúa bằng đứng trước Thập Giá.

Nét mới mẻ lớn lao mà cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô mang lại, liên hệ đến lòng thương xót của Thiên Chúa, là như sau: Thiên Chúa không hài lòng với việc tha thứ cho con người tội lỗi của họ, Ngài còn làm nhiều hơn đến vô cùng. Ngài đã nhận lấy tội lỗi ấy trên mình, vác chúng trên vai. Và đó là điều Thiên Chúa đã loan báo trước và cam đoan, qua khuôn mặt của Người Tôi Tớ Đau Khổ[119]. Trong tác phẩm Đức Giêsu người Nagiaret, Đức Bênêđictô XVI viết:

“Người ta không thể chỉ không biết và bỏ rơi sự bất công, sự dữ, như là một thực tế. Nó phải được trừ khử, khắc phục. Chính đó là lòng thương xót thật. Đó là lòng nhân từ vô điều kiện của Thiên Chúa, bởi vì con người không có khả năng làm như thế, chính Ngài đã làm[120].”

Một cái nhìn ngoại tại về sự việc có thể ngăn cản chúng ta hiểu biết đúng về cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô, cái nhìn trong đó người ta tưởng rằng, một bên là con người với tội lỗi của họ, còn bên kia là Đức Giêsu chịu khổ và đền bồi hình phạt của tội lỗi này, nhưng vẫn đứng ở xa, không đụng đến nhau. Tương quan giữa Đức Giêsu và tội lỗi không được thực hiện ở xa, theo cách gián tiếp, hoặc trên bình diện thuần túy pháp lý, nhưng theo cách rất gần gũi và có thật. Nói cách khác, tội lỗi ở trên Ngài, Ngài mang nó trên vai: “Trên cây gỗ, chính Ngài đã mang lấy tội ta trong thân xác Ngài[121]”, tức nơi con người của Ngài. Một cách nào đó, Ngài cảm thấy mình là tội lỗi của thế gian. “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi[122].”

Sự đau khổ “bất công”

Do tội lỗi, nét cao cả của thụ tạo trước mặt Thiên Chúa là mang trên mình ít lỗi phạm nhất có thể và nhiều án phạt nhất có thể, của chính tội lỗi này. Nói khác đi, trong sự kiện là “con chiên”, nghĩa là tế vật, và trong sự kiện là “vô nhiễm”, nghĩa là vô tội. Không phải trong sự việc này hay sự việc kia tách riêng ra – tức là hoặc trong sự vô tội hoặc trong sự đau khổ – cho bằng trong sự tổng hợp cả hai và sự hiện diện của cả hai nơi cùng một người. Vậy giá trị tối thượng là sự đau khổ của những người vô tội. Trên đỉnh thang cao cả mới mẻ này, chỉ có mình Đức Giêsu Nadaret, Đấng mà Kinh Thánh định nghĩa rất đúng là “Con Chiên vô tì tích[123]”. Quả thực, dù đã không phạm một lỗi phạm nào, Ngài đã mang lấy tất cả án phạt của tội lỗi: “Người không hề phạm tội […] Tội lỗi của chúng ta chính Người đã mang vào thân thể[124]”.

Nói rằng Đức Giêsu đã mang trên mình án phạt của tội lỗi không có nghĩa là Ngài đã mang trên mình hình phạt, nhưng Ngài cũng đã mang trên mình điều gì đó đáng sợ hơn nhiều, đó là chính việc quy lỗi. Ngài đã mang trên mình lỗi phạm mà đã không phạm lỗi. Con người được tạo dựng cho sự vô tội; lỗi phạm là điều, hơn bất cứ những gì khác, trái ngược với nó, hơn ngay cả sự đau khổ của nó. Không ai muốn là người có lỗi. Nếu đôi khi có người khoe khoang về lỗi phạm của mình, thì chính vì trên thực tế trước đây, người đó đã đảo ngược các giá trị vì lợi ích riêng của mình, hoặc đã tìm thấy những cách biện bạch, đến độ những gì người khác coi là lỗi phạm, người đó coi là công trạng, hoặc ít ra là một sự cần thiết.

Tất cả chúng ta, mỗi người một cách, đều có kinh nghiệm cay đắng bị tố cáo, có lẽ ngay trước mắt những người chúng ta quý mến thân thiết nhất, và chúng ta đã thấy tất cả những việc đó kéo theo điều gì trong tâm hồn chúng ta. Mỗi ngày chúng ta đều thấy nỗi đau mà chúng ta gặp phải khi không tìm cách tự vệ, khi chúng ta phạm một lỗi lầm và bị khiển trách, ngay cả khi điều đó xứng đáng. Khi ấy chúng ta có thể hiểu một vực thẳm to lớn thế nào được ẩn giấu đằng sau sự kiện là Đức Giêsu đã bị buộc tội trước Cha mình về mọi tội lỗi trên thế giới. Đức Giêsu đã trải nghiệm ở mức độ cao nhất lý do phổ quát, kinh khủng, của sự đau khổ của con người được người ta gọi là “ý thức tội lỗi”. Trong cội rễ của nó, ý thức này cũng được cứu chuộc.

Vậy điều đẹp nhất trên thế giới không phải là sự đau khổ chính đáng, nhưng là sự “đau khổ không chính đáng[125]” như tông đồ Phêrô nói trong lá Thư thứ nhất của mình. Sự đau khổ ấy là như thế, lớn lao và quý giá, vì nó là sự đau khổ duy nhất rất gần với cách mà Thiên Chúa chịu khổ. Chỉ mình Thiên Chúa, khi chịu khổ, có thể chịu khổ như một người vô tội, cách bất công. Tất cả những ai khác, khi chịu khổ, phải nói được như người trộm lành trên thập giá: “Ông này đâu có làm điều gì trái?[126]

Chúng ta thấy ở đó sự khác biệt chính yếu mà thư Do thái nhấn mạnh giữa hy tế của Đức Kitô và hy tế của bất cứ linh mục nào khác:

“Đức Giêsu không cần […] phải dâng lễ, trước là để đền tội của mình, sau là để đền thay cho dân[127].”

Khi người chịu đau khổ không có tội riêng phải đền thay, sự đau khổ của người đó thể hiện thành quyền năng đền thay tinh tuyền; không mang trong mình dấu vết u ám của tội lỗi, cách đau khổ này tinh tuyền hơn và tiếng nói của nó “gây xúc cảm hơn” tiếng máu của Abel[128].

Điều xuất hiện trên thế giới như tai tiếng nhất – tức sự đau khổ của những người vô tội – thì trước mặt Thiên Chúa lại là khôn ngoan nhất và chính đáng nhất. Đó là một mầu nhiệm, nhưng về vấn đề này, Thiên Chúa dường như lặp lại cho chúng ta điều Đức Giêsu có lần đã nói trong Phúc Âm: “Ai hiểu được thì hiểu[129]!”

“Lậy Cha, xin tha cho họ”

Trong nhà Tiệc ly, Đức Giêsu nói: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình[130]”. Phải kêu lên: Vâng, lậy Chúa Kitô, có một tình yêu lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu của mình. Đó là tình yêu của Chúa. Chúa đã hy sinh mạng sống mình không phải cho bạn hữu, nhưng cho kẻ thù của Chúa! Phaolô nói rằng sẽ khó tìm được người sẵn sàng chết cho một người công chính, nhưng rằng người ta có thể tìm thấy.

“Hầu như không ai chết vì người công chính, họa may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Kirô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta[131].”

Hạn từ “bạn hữu” theo nghĩa năng động có nghĩa là những người yêu bạn, nhưng theo nghĩa thụ động, có nghĩa là những người được bạn yêu. Đức Giêsu gọi Giuđa là bạn của Ngài[132], không phải vì Giuđa yêu Ngài, nhưng vì Ngài yêu anh ta. Không có tình yêu nào lớn hơn là hy sinh mạng sống vì kẻ thù của mình, khi coi họ là bạn hữu; câu nói của Đức Giêsu có ý nghĩa như thế. Con người có thể là kẻ thù của Thiên Chúa hoặc hành động như kẻ thù của Thiên Chúa. Về phần mình, Thiên Chúa sẽ không có thể là kẻ thù của con người. Chính đó là lợi khí đáng sợ của con cái đối với cha mẹ chúng.

Trước khi chết Đức Giêsu kêu lên: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm[133].” Đây không phải một lời nguyện, nhưng là một lời xin kiên quyết, đầy thế giá vì là của người Con: “Lạy Cha, xin tha cho họ!” Và vì chính Ngài đã nói là Chúa Cha nhận lời xin của Ngài[134], chúng ta phải tin rằng Chúa Cha đã lắng nghe lời cầu xin cuối cùng này của Ngài trên thập giá, và những người đóng đinh Đức Giêsu sẽ được Thiên Chúa tha thứ (chắc chắn, nhưng không phải không tiên vàn thay đổi ý kiến cách nào đó) và họ ở với Ngài trên thiên đàng, muôn đời làm chứng cho tới nơi mà lòng thương xót của Thiên Chúa đã có thể mở rộng.

Có lẽ chỉ có binh lính là những người hoàn toàn không biết gì. Nhưng lời cầu nguyện của Đức Giêsu không giới hạn nơi họ. Nét cao cả thần linh của việc Ngài tha thứ hệ tại ở chỗ Ngài ban ơn ấy cho những kẻ thù dữ tợn nhất. Chính cho họ mà Ngài đưa ra lý do là họ không biết. Cả khi họ hành động vì ác ý và độc dữ, thực ra họ không biết việc họ đã làm, không biết mình treo trên thập giá Đấng thực sự là Đấng Cứu Thế và là Con Thiên Chúa. Thay vì buộc tội những kẻ thù của mình, hoặc tha thứ cho họ, tin tưởng vào Cha trên trời lo trả thù cho Ngài, thì Ngài lại bảo vệ họ.

Gương của Ngài cho các môn đệ thấy Ngài quảng đại đến mức vô biên. Tha thứ với tâm hồn rộng lượng không thể chỉ bao gồm một thái độ tiêu cực, tức là không lấy ác báo ác; trái lại tha thứ phải được thể hiện bằng một ý muốn tích cực là làm điều tốt cho họ, ít nhất bằng lời cầu xin Thiên Chúa cho họ. “Hãy cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em[135].” Sự tha thứ này thậm chí không thể được đền bù bằng hy vọng là Thiên Chúa sẽ phạt họ. Nó phải được gợi hứng từ một đức ái tha thứ cho người thân cận, tuy nhiên, không nhắm mắt trước sự thật, nhưng tìm cách ngăn chặn kẻ ác trước khi họ làm hại nhiều hơn cho người khác hoặc cho chính họ.

Hẳn chúng ta muốn thưa: “Lạy Chúa, Chúa đòi chúng con điều không thể làm!” và Ngài sẽ trả lời: “Ta biết, nhưng Ta đã chịu chết để ban điều Ta truyền cho các con. Ta không chỉ để lại cho các con lệnh truyền tha thứ, cũng không chỉ để lại một mẫu gương tha thứ anh hùng; nhờ cái chết của Ta, Ta đã ban ơn cho các con để các con có thể tha thứ. Ta không chỉ để lại cho thế gian một giáo huấn về lòng thương xót, như nhiều người khác đã làm. Ta còn là Thiên Chúa, và nhờ cái chết của Ta, Ta đã làm nẩy sinh những dòng sông tuôn chảy lòng thương xót. Các con có thể múc được ở đó nhiều lắm, trong suốt Năm Thánh Lòng Thương Xót, cũng như bất cứ lúc nào.”

Năm nay là năm Lòng Thương Xót, tôi muốn đề nghị với các bạn nên có một cuốn Phúc Âm và yên lặng đọc và đọc hết trình thuật về cuộc Khổ Nạn. Ít nhất phải mất nửa tiếng.

Tôi có quen một phụ nữ, một nhà trí thức, xưng mình là vô thần. Một hôm, chị nhận được một tin, một loại tin làm chị choáng váng: con gái mười sáu tuổi của chị bị một khối u xương. Cô gái từ phòng mổ trở về, đau đớn, trên người đầy những ống, dây rợ, kim chích. Cô đau kinh khủng, rên rỉ, không muốn ai an ủi. Mẹ của cô, biết cô đạo đức, nghĩ là làm con hài lòng nên hỏi: “Con có muốn mẹ đọc câu gì đó trong Phúc Âm không?” “Thưa mẹ, vâng” “Con muốn nghe gì?” “Mẹ đọc cho con nghe cuộc Khổ Nạn!” Lúc ấy người mẹ, chưa từng đọc Phúc Âm trước đây, đi mua một cuốn Phúc Âm nơi cha tuyên úy. Bà ngồi cạnh con gái và bắt đầu đọc. Sau đó ít phút, con bà thiếp ngủ, còn bà vẫn tiếp tục thinh lặng đọc cho đến hết, trong cảnh tranh tối tranh sáng. Sau này chính bà nói trong một cuốn sách viết sau đó là: “Con gái thì ngủ, còn mẹ thì thức”. Bà từ bỏ chủ nghĩa vô thần. Chuyện đọc cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô vừa vĩnh viễn thay đổi cuộc đời của bà[136].

Phần trước Phần tiếp theo