11. NGƯỜI ĐÃ SỐNG LẠI ĐỂ CHÚNG TA ĐƯỢC NÊN CÔNG CHÍNH
Sự Phục sinh của Đức Kitô chiến thắng của lòng nhân từ của Thiên Chúa
Ôi, tội hồng phúc của Ađam!
Trong đêm Vượt Qua, Phụng vụ của Giáo Hội xướng lên bài Exultet, một trong những bàì ca gợi cảm nhất và táo bạo nhất. Bài hát ca tụng Thiên Chúa:
“Thật là chính đáng và phải đạo,
khi chúng ta đem hết tâm tình và muôn lời hoan hỷ,
để ca tụng Thiên Chúa vô hình là Cha toàn năng,
và ca tụng Đức Giêsu Kitô,
là Con Một Thiên Chúa và là Chúa chúng ta.
Người đã thay chúng ta dâng lên Cha hằng hữu
giá chuộc tội Ađam.
Người đã đổ máu đào
xóa bản án nguyện tội xưa truyền lại.
Ôi, tội hồng phúc của Ađam,
nhờ tội chúng con mới có được
Đấng Cứu Tinh cao cả dường này!”
Thiên Chúa Cha chúng ta đã đáp lại tội nặng nề nhất – tội giết Con cùa Người – bằng một hành vi thương xót lớn nhất. Đức Giêsu đã không được Người cho sống lại “để phạt chúng ta” nhưng “để cho chúng ta được nên công chính[137]”. Bổ ngữ chỉ lý do “vì tội chúng ta” (propter nos), thì trong những bản văn về cuộc Khổ Nạn thường biến thành bổ ngữ chỉ ân huệ “cho chúng ta”, cho việc cứu độ chúng ta” (pro nobis).
Một bài hát tiếng Anh, rất đơn sơ nhưng cảm động, với một giai điệu du dương, bằng những lời như sau:
“Alleluia, chúc tụng Thiên Chúa Cha của con
vì Cha đã ban cho chúng con Đức Giêsu.
Cha đã sai Ngài đến thế gian
để hiến dâng Ngài cho tất cả chúng con.
Cha biết rõ chúng con sẽ đâm thấu Ngài
và đuổi Ngài ra khỏi thế gian.
Alleluia, chúc tụng Thiên Chúa Cha của con
Trong cái chết của Ngài con được sinh ra.
Alleluia chúc tụng Thiên Chúa Cha của con
Trong sự sống của Ngài con được sống.”
“Chiến thắng vì là tế vật”
Đức Giêsu, người thứ nhất có liên quan, hành xử thế nào? Chúng ta hãy suy niệm một trong những đặc điểm của sự Phục Sinh mà ít người suy niệm: sự khiêm nhường của Ngài. Chiến thắng của sự Phục Sinh được thực hiện trong mầu nhiệm, không ai thấy. Cái chết của Ngài, nhiều người đã có thể chiêm quan; nhưng một khi sống lại, Ngài chỉ hiện ra với một nhóm hạn chế chứng nhân, luôn riêng rẽ. Sử gia người Rôma Tacitus biết hết về cái chết của Ngài, nhưng lại không biết gì về sự sống lại của Ngài; ông biết rằng thời Phongxiô Philatô, một người nào đó tên là “Kitô[138]” đã chết, nhưng lại không biết rằng ông Kitô đó đã sống lại và vẫn sống. Đối với thế gian, thì ngay cả ngày hôm nay, Đức Giêsu vẫn còn là một người bị kết án, một người chết trên thập giá.
Tính chất mầu nhiệm Phục Sinh chỉ ra rằng không nên chờ đợi một cuộc chiến thắng bên ngoài hữu hình, như một vinh quang trần thế, sau khi đã chịu khổ nạn: sự chiến thắng được Thiên Chúa ban cho là ở trong sự vô hình và thuộc trật tự cao hơn. Sự Phục Sinh được mạc khải qua các lần hiện ra, để làm cho đức tin có một nền tảng vững chắc. Nhưng đây không phải là một sự phục thù hạ nhục kẻ thù. Đức Giêsu không hiện ra ở giữa họ để cho thấy họ đã lầm, để đổ lỗi cho họ vì đã làm sai. Bất kỳ báo thù nào cũng sẽ không phù hợp với tình yêu Ngài muốn chứng tỏ cho con người trong suốt cuộc Khổ Nạn.
Đức Giêsu xử sự cách khiêm nhường trong vinh quang của sự Phục Sinh cũng như trong sự tự hủy ở đồi Canvê. Đó là bản chất của cuộc chiến thắng phát sinh từ đau khổ: chiến thắng siêu nhiên với tính cách chiến thắng của một Thiên Chúa và, do đó, chiến thắng ẩn giấu dưới đất nhưng có phạm vi là vĩnh cửu.
Trong mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô, người ta thấy một loại chiến thắng mới, được thánh Augustinô tóm tắt trong hai chữ “victor quia victima[139]” “chiến thắng vì là tế vật”. Với Đức Giêsu, chúng ta thấy điều sau này Nietzsche sẽ định nghĩa, là “sự đảo ngược các giá trị”, nhưng theo nghĩa ngược với nghĩa ông hiểu. Đối với triết gia này, sự đảo ngược các giá trị do Phúc Âm thực hiện mang tính tiêu cực; đó là nỗi oán hận bất lực của kẻ yếu trước người mạnh, đại diện cho lý tưởng ngoại đạo – theo hình ảnh của Apollo và Dionysius – của con người cao thượng, đầy nghị lực, khát vọng những sự việc lớn, sinh ra để thắng chứ không để bại. Cùng kinh nghiệm này của con người – mới đây vẫn còn – cho thấy lý tưởng nào trong hai thật sự xứng với con người và mang lại một giải pháp cho các cuộc tranh chấp.
Với Đức Giêsu, đã có một sự “đảo ngược hoàn toàn các giá trị”, nhưng là vì thiện ích của chúng ta, chứ không làm cho chúng ta bị thất sủng. Cùng với Ngài, ý tưởng về chiến thắng, lần đầu tiên – nhưng dứt khoát – tách ra khỏi ý tưởng phục thù; đó chỉ là vấn đề xem khi nào thì thế giới hành động và rút ra hiệu quả.
Tuy nhiên chúng ta hãy suy nghĩ một chút: tại sao sự chiến thắng của lòng thương xót phải nhất thiết là như thế, kín đáo và khiêm nhường? Câu trả lời thật đơn giản: vì đây là vấn đề chiến thắng của tình yêu, và không có tình yêu nếu không có khiêm nhường. Chúng ta đã thấy điều đó trong chương thứ nhất, khi chúng ta nói về tình yêu từ lòng dạ của Thiên Chúa. Một tình yêu trung thực và hoàn toàn thì ghê sợ báo thù. Nó để mình tự thể hiện. Sự khiêm nhường của tình yêu cung cấp chìa khóa để hiểu. Không cần phải mạnh mẽ để đứng ở phía trước; ngược lại, phải mạnh mẽ hơn để đứng ở bên cạnh, để ẩn mình đi. Thiên Chúa là sức mạnh vô hạn ẩn mình đi và mầu nhiệm Vượt Qua của sự chết và sự sống lại mạc khải vĩnh viễn điều ấy.
Hai cách trình bầy sự Phục Sinh của Đức Kitô
Dựa vào những gì chúng ta vừa nói thì rõ ràng đặc tính cuộc chiến thắng của Đức Kitô được diễn tả trong nghệ thật ảnh thánh của Byzance tốt hơn là trong nghệ thuật Tây phương của thời Phục Hưng và sau đó. Trong nghệ thuật Tây phương, sự Phục Sinh của Đức Kitô là một sự “đi lên”; trong nghệ thuật ảnh thánh của Byzance, đó là một sự “đi xuống”. Trong nghệ thuật trước, chúng ta thấy một Đức Kitô chiến thắng ra khỏi mồ và lên trời, có đoàn các thiên thần hầu cận, trong khi các lính canh mồ nằm dài dưới đất, trong tình trạng bất tỉnh. Trong nghệ thuật sau, Đức Giêsu Phục Sinh không lên nhưng xuống nơi tối tăm âm phủ để đưa lên cùng với Ngài trong ánh sáng không những Ađam, Evà mà còn mọi người công chính đàng chờ ơn cứu độ. Đó là cuộc chiến thắng thế giới không nhìn thấy, liên kết chặt chẽ với bản chất chiến thắng của tình yêu và lòng thương xót của Ngài. Do đó chúng ta hiểu một bản văn của phụng vụ Byzance mô tả cuộc chiến thắng Vượt Qua của Đức Kitô như thế nào:
“Một cuộc Vượt Qua thần linh được mạc khải cho chúng ta hôm nay…
Cuộc Vượt Qua mới, thánh thiện, mầu nhiệm…
Cuộc Vượt Qua mở ra cho chúng ta cửa Thiên đàng
Cuộc Vượt Qua thánh hóa mọi tín hữu…
Chính là ngày Phục Sinh
Chúng ta hãy chiếu tỏa niềm vui trong ngày lễ này, chúng ta hãy ôm lấy nhau
Hãy gọi là anh em những người thù ghét chúng ta
Hãy tha thứ cho tất cả vì sự Phục Sinh[140].”
Phục Sinh là một trường đào tạo lòng thương xót, mời gọi chúng ta hòa giải và tha thứ cho kẻ thù. Lúc nào tôi cũng nghĩ rằng một chủ đề duy nhất hẳn là xứng với tiếng hát hợp xướng kết thúc bản Giao hưởng số 9 của Beethoven, đó là sự Phục Sinh của Đức Kitô. Chỉ sự Phục Sinh của Ngài có thể tạo nên một bản văn xứng với những nốt nhạc tuyệt vời. Thế là chúng ta thấy lại trong bài thánh thi phụng vụ trên đây, được viết từ nhiều thế kỷ trước, những lời gần giống với bài Ode to Joy của Schiller được Beethoven phổ nhạc:
“Các bạn hãy ôm hôn nhau, hỡi hàng triệu người. Nụ hôn này cho toàn thế giới! Mọi người trở thành anh em khi niềm vui như có cánh êm dịu mở ra trên họ”.
Khác nhau là ở chỗ niềm vui được ca lên ở đây chỉ là mơ ước, không có, và nếu có cũng chỉ dành cho một nhóm tinh hoa, cho những ai may mắn có một phụ nữ đẹp, có được cái thú uống với bạn bè một ly rượu, một câu trong cũng thánh thi nói như vậy. Còn thánh thi Vượt Qua nói về một niềm vui được thực hiện và cống hiến cho bất cứ ai. Sự Phục Sinh của Đức Kitô đích thực là cuộc chiến thắng của lòng thương xót của Thiên Chúa.
