12. “SỰ CÔNG CHÍNH CỦA THIÊN CHÚA ĐÃ ĐƯỢC TỎ HIỆN”
Sự công chính của Thiên Chúa là lòng thương xót của Người
Thiên Chúa công chính khi tỏ lòng thương xót
Một trong những vấn đề luôn được bàn cãi liên hệ tới lòng thương xót, là vấn đề tương quan của nó với sự công chính của Thiên Chúa. Vấn đề đã được thánh Phaolô giải quyết dứt khoát, nhưng người ta không luôn để ý khi nói về lòng thương xót. Nói tắt, câu trả lời là: “sự công chính hóa nhờ ân sủng miễn là có đức tin”.
Thánh Tông Đồ bắt đầu phần trình bầy của mình bằng một tin như sau: “Sự công chính của Thiên Chúa đã được tỏ hiện[141]”. Về sự công chính nào vậy? Phải chăng về sự công bình ban cho mỗi người thiện ích của họ, và phân chia thưởng phạt tùy theo công trạng? Tóm lại, về điều mà con người chúng ta hiểu về sự công bình? Chắc chắn cũng sẽ đến lúc sự công bình này của Thiên Chúa được tỏ hiện, lúc Ngài thưởng phạt mỗi người tùy theo công trạng của họ. Trước đó thánh Tông Đồ đã viết:
“Ngày đó, Thiên Chúa sẽ thưởng phạt tùy theo công việc họ làm. Những ai bền chí làm việc thiện mà tìm vinh quang danh dự và phúc trường sinh bất tử, thì Thiên Chúa sẽ cho họ được sống đời đời; còn những ai chống Thiên Chúa mà không vâng phục chân lý và chạy theo điều ác, thì Người sẻ nổi giận lôi đình, trút cơn thịnh nộ xuống đầu họ[142].”
Nhưng không chắc Phaolô nói về sự công bình đó khi viết: “Ngày hôm nay, sự công chính mà Thiên Chúa ban được mạc khải[143]”. Biến cố đầu tiên sẽ xẩy ra, nhưng biến cố này là biến cố đã được thực hiện, “ngày hôm nay”. Nếu không như thế, thì lời quả quyết của Phaolô là phi lý, bị chính những sự kiện phủ nhận. Về phương diện công bình phân phối, không có gì thay đổi trên thế giới lúc Đức Kitô đến. Người ta tiếp tục thấy những người phạm tội ngồi trên ngai và những người vô tội bị treo trên giá. Và để không ai tin rằng trên thế giới có một sự công bình và một trật tự, thậm chí đảo ngược, đôi khi người ta thấy điều trái ngược, nghĩa là người vô tội ngự trên ngai còn người có tội bị treo trên giá. Vì thế, người ta chắc không thấy ở đó sự mới mẻ do Đức Kitô mang lại. Chúng ta hãy nghe điều thánh Tông Đồ nói:
“Mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Kitô Giêsu. Thein6 Chúa đã đặt Người làm hy lễ xá tội nhờ máu của Người cho những ai có lòng tin. Như vậy Thiên Chúa cho thấy Người là Đấng công chính. Trước kia, trong thời Thiên Chúa nhẫn nại, Người đã bỏ qua các tội lỗi người ta phạm. Nhưng bây giờ Người muốn cho thấy rằng Người vừa là Đấng Công Chính, vừa làm cho kẻ tin vào Đức Giêsu được nên công chính[144].”
Thiên Chúa công chính khi tỏ lòng thương xót. Đó là một mạc khải lớn lao, đó là sự “báo thù” của Thiên Chúa đối với con người đã phạm tội. Thánh Tông Đồ nói rằng Thiên Chúa “công chính và làm cho nên công chính”, nghĩa là Ngài công chính với chính mình khi làm cho con người nên công chính. Quả thực, Ngài là tình yêu và thương xót, vì thế Ngài làm cho mình thành công chính – nghĩa là Ngài thế nào thì thực sự mạc khải mình thế ấy – khi Ngài tỏ lòng thương xót.
Tuy vậy chúng ta không hiểu gì nếu không muốn hiểu cho chính xác ý nghĩa kiểu nói “sự công chính của Thiên Chúa”. Thật nguy hiểm khi có người nghe nói ở đây về sự công chính của Thiên Chúa, và vì không hiểu nghĩa của nó, người đó hãi sợ và tự nhủ: “Thế ra, như người ta có thể trông chờ, sau cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, thì ngày hôm nay người ta thấy sự công chính của Ngài được mạc khải, nghĩa là hình phạt chính đáng của Ngài!”
Chính Luthêrô là người đã khám phá, hoặc đúng hơn, tái khám phá ra rằng kiểu nói “sự công chính của Thiên Chúa” không cho thấy ở đây hình phạt của Ngài hoặc – tệ hơn – sự báo thù của Ngài đối với con người, nhưng, ngược lại, cho thấy hành vi nhờ đó, trong sự thương xót vô hạn của mình, Thiên Chúa “làm cho con người trở nên công chính” (Luthêrô dùng chữ “tuyên bố” chứ không phải “làm cho trở nên” công chính, vì ông nghĩ tới một sự công chính hóa ngoại tại và pháp lý). Sau này ông viết: “Khi tôi khám phá ra điều này, tôi cảm thấy được tái sinh, và tôi có cảm tưởng là những cửa Thiên đàng đã mở ra cho tôi[145].”
Tôi nói Luthêrô đã tái khám phá ra điều đó, vì trước ông, thánh Augustinô đã giải thích rõ ý nghĩa của kiểu nói “sự công chính của Thiên Chúa” trong cách sử dụng của Phaolô:
“Sự “công chính của Thiên Chúa” là sự công chính theo đó, nhờ ân sủng của Ngài, chúng ta trở nên những người công chính, chính xác giống như “sự cứu độ của Thiên Chúa” là sự cứu độ nhờ đó Thiên Chúa cứu độ chúng ta[146].”
Vậy Phúc Âm, tức tin mừng mà thánh Phaolô nói với các Kitô hữu ở Rôma, là như sau: ngày hôm nay, lòng nhân từ của Thiên Chúa đã được tỏ hiện cho con người, nghĩa là ý muốn thiện hảo của Ngài đối với con người, sự tha thứ của Ngài; nói tắt, sự thương xót của Ngài. Chính Kinh Thánh cắt nghĩa như thế khái niệm về sự “công chính của Thiên Chúa”:
“Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, đã biểu lộ lòng nhân hậu và lòng yêu thương của Người đối với nhân loại. Không phải vì tự sức mình chúng ta đã làm nên những việc công chính, nhưng vì Người thương xót, nên Người đã cứu chúng ta[147]”.
“Nhưng Thiên Chúa giầu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã làm cho chúng ta được cùng sống với Đức Kitô. Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ[148]!”
Nói rằng “sự công chính của Thiên Chúa” được biểu lộ” cũng có nghĩa là lòng nhân từ, yêu mến và thương xót của Ngài được biểu lộ. Không những sự công chính của Thiên Chúa không mâu thuẫn với sự thương xót của Ngài, nhưng còn bao gồm chính xác trong đó.
Một sứ điệp phát xuất từ kinh nghiệm
Chính Tông Đồ Phaolô không phát minh ra sứ điệp mới mẻ và cách mạng này. Việc đó có nghĩa là những người nói ngài, chứ không phải Đức Giêsu, là người sáng lập đích thật Kitô giáo, là có lý. Nhưng không phải thế. Phaolô nói rằng “Tin Mừng là sức mạnh Thiên Chúa dùng để cứu độ bất cứ ai có lòng tin[149]”; ngài nói về “thời kỳ” nhẫn nại của Thiên Chúa đã “hoàn tất[150]”, về sự công chính của Thiên Chúa đã đến và đã tỏ hiện. Tất cả những lời đó có giống với lời nào khác không? Cách nói này nhắc cho chúng ta Đức Giêsu, lúc khởi sự thừa tác vụ của mình, đã công bố: “Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần: Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng[151]”.
Phaolô chuyển đạt cho chúng ta giáo huấn tinh tuyền nhất của Đức Giêsu. Những gì Đức Kitô gom lại dưới kiểu nói “Triều Đại của Thiên Chúa”, tức sáng kiến cứu độ của Thiên Chúa, hành dộng cho không của Ngài có lợi cho con người, thì Phaolô gọi chúng là sự “công chính của Thiên Chúa”, nhưng là cùng một thực tại nền tảng.
Khi Đức Giêsu nói: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”, Ngài đã dậy về sự công chính hóa nhờ đức tin. Trước Ngài, sám hối luôn có nghĩa là “trở lại đàng sau” (như thuật ngữ hípri shub chỉ hành vi này cho thấy); điều đó có nghĩa là là trở lại với Giao ước mà mình đã vi phạm, nhờ việc lại tuân giữ Lề Luật. Qua môi miệng tiên tri Dacaria, Thiên Chúa nói: “Hãy trở lại với Ta […] Hãy từ bỏ lối sống xấu xa và những hành vi gian ác của các ngươi mà trở lại[152].”
Trên môi miệng Đức Giêsu, ý nghĩa khổ chế và luân lý đứng ở hạng hai (ít nhất lúc Ngài khởi đầu rao giảng), trước một ý nghĩa mới mẻ cho tới lúc đó chưa được ai biết đến. Chỉ với Đức Giêsu mà thuật ngữ sám hội có thể có ý nghĩa mới này. Vậy sám hối không có nghĩa là trở lại phía sau, về với Giao ước cũ và việc tuân giữ Lề Luật, nhưng là nhảy về phía trước, đi vào Giao ước mới, vào Triều Đại đã xuất hiện. Và đi vào đó nhờ đức tin. “Hãy sám hối và hãy tin” không phải là hai việc khác nhau và kế tiếp nhau, nhưng chỉ cùng một hành động: hãy sám hối là hãy tin, sám hối bằng cách tin.
Chính Thiên Chúa đã có sáng kiến cứu độ. Ngài đã cho Triều Đại của Ngài đến. Con người chỉ có việc đón nhận trong đức tin điều Thiên Chúa ban cho, và rồi sống theo những đòi hỏi của nó. Đó chính là điều Đức Giêsu muốn cho chúng ta khắc sâu trong tâm khảm khi Ngài dạy phải đón nhận Nước Trời “như trẻ em[153]”. Một đứa trẻ sẽ không bao giờ nghĩ phải trả giá cho điều nó xin nơi cha nó hay mẹ nó.
Chứng nhân của lòng thương xót
Do đâu mà Phaolô giữ vững sứ điệp là người ta trở nên công chính nhờ lòng thương xót, chứ không phải nhờ công trạng? Không phải nhờ sách Phúc Âm (lúc ấy chưa được viết ra); đúng hơn, nhờ những lời giảng dạy truyền khẩu của Đức Giêsu, nhất là nhờ kinh nghiệm cá nhân của ngài, nghĩa là cách mà Thiên Chúa đã hành động trong cuộc đời của ngài. Viết cho các tín hữu ở Philipphê, ngài trình bầy cuộc hoán cải của mình: từ “sự công chính của ngài, sự công chính do luật Môsê mang lại” đi đến “sự công chính do Thiên Chúa ban, dựa trên lòng tin[154]”.
Trong suốt cuộc đời, Phaolô sẽ không ngừng coi mình như một hoa trái và một chiến quả của lòng Chúa thương xót. Ngài coi mình như một người, nhờ Chúa thương, đáng được anh em tín nhiệm[155]”. Ngài không chỉ trình bầy giáo lý về lòng thương xót, mà còn trở thành một chứng nhân sống động của lòng thuong xót:
“Trước kia, tôi là kẻ nói lộng ngôn, bắt đạo và ngạo ngược, nhưng tôi đã được Người thương xót, vì tôi đã hành động một cách vô ý thức, trong lúc chưa có lòng tin [..] Sở dĩ tôi được thương xót, là vì Đức Giêsu Kitô muốn tỏ bầy tất cả lòng đại lượng của Người nơi tôi là kẻ đầu tiên, mà đặt tôi làm gương cho tất cả những ai tin vào Người, để được sống muôn đời[156].”
Khi muốn khuyên các tín hữu của mình làm điều thánh thiêng nhất trong vũ trụ, thánh Tông Đồ khuyên họ “vì Thiên Chúa thương xót chúng ta[157].”
Như vậy, ngài dậy cho chúng ta biết rằng phương tiện tốt nhất để rao giảng lòng thương xót là làm chứng về lòng thương xót của Thiên Chúa đối với chúng ta; là cảm nhận được chúng ta cũng là hoa quả của lòng Chúa thương xót trong Đức Giêsu Kitô, chỉ sống nhờ lòng thương xót ấy.
Một hôm, Đức Giêsu chữa cho một một người bị quỷ ám. Người này muốn đi theo gia nhập đoàn các môn đệ tháp tùng Ngài đi đây đi đó. Đức Giêsu không cho phép nhưng nói với anh:
“Anh cứ về nhà với thân nhân, và thuật lại cho họ biết mọi điều Chúa đã làm cho anh, và Người đã thương anh như thế nào. Anh ta ra đi và bắt đầu rao truyền trong miền Thập tỉnh tất cả những gì Đức Giêsu đã làm cho anh. Ai nấy đều kinh ngạc[158].”
Đó cũng chính là ý định đã thúc đẩy Augustinô viết cuốn Confessions. Rất nhiều cuộc hoán cải xẩy ra chỉ do được nghe trình thuật về các cuộc đời trong đó lòng thương xót của Thiên Chúa đã hành động. Chứng từ cá nhân theo cách Chúa đã hành động trong cuộc sống của chúng ta, khi cuộc sống đó được khích lệ bởi sự khiêm nhường và ước ao cho vinh quang của Thiên Chúa, là một trong những hình thức hữu hiệu nhất của việc Phúc Âm hóa.
