13. “NÀY CON, CON ĐÃ ĐƯỢC THA TỘI RỒI”
Bí tích của lòng thương xót
“Ai có quyền tha tội?
Như ta đã thấy, lòng thương xót của Thiên Chúa còn hơn là chỉ thuần túy tha thứ tội lỗi; tuy vậy chắc chắn nó là đối tượng chính và là cách biểu lộ cao cả nhất của lòng thương xót. Cũng về chủ đề này, từ Cựu Ước qua Tân Ước, người ta lưu ý tới một bước nhảy về phẩm chất. Do việc Ngôi Lời đến giữa ta, lòng thương xót của Thiên Chúa cũng “mặc lấy xác phàm”, biểu lộ qua những cử chỉ và lời nói cụ thể, tiên vàn trong cuộc đời Đức Giêsu, rồi trong các bí tích của Giáo Hội. Người ta không còn loan báo “qua miệng các tiên tri”, nhưng trực tiếp bởi chính Thiên Chúa.
Trong Phúc Âm, sự mới mẻ này xuất hiện không đâu rõ bằng trong câu chuyện người bại liệt được đưa từ trên mái nhà xuống[159]. Một hôm, người ta hay tin Đức Giêsu “ở nhà”. Chắc chắn đó là nhà của Simon Phêrô ở Capharnaum, nơi Đức Giêsu được coi là “ở tại nhà mình” khi Ngài lưu ngụ tại Capharnaum. Có rất đông người nên không còn chỗ, ngay cả trước cửa nhà. Một nhóm người khiêng một người bà con (hay bạn bè) bị bất toại nghĩ ra cách vượt qua trở ngại khi khám phá ra mái bằng trên chỗ Đức Giêsu đang ngồi. Sự việc không khó tin nếu chúng ta nghĩ tới những nhà người Palestin thời ấy (bây giờ cũng còn một phần) tất cả chỉ có một tầng, một mái bằng gỗ và đất nện.
“Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giêsu bảo người bại liệt: ‘Này con, con đã được tha tội rồi.’ Nhưng có mấy kinh sư đang ngồi đó, họ nghĩ thầm trong bụng rằng: ‘Sao ông này lại dám nói như vậy? Ông ta nói phạm thượng. Ai có auyền tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa?”
Chúng ta hãy nghe tiếp đoạn sau:
“Tâm trí Đức Giêsu thấu triệt ngay họ đang thầm nghĩ như thế, Người mới bảo họ: ‘Sao trong bụng các ông lại nghĩ những điều ấy? Trong hai điều: một là bảo người bại liệt: ‘Con đã được tha tội rồi’, hai là bảo: ‘Đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi’, điều nào dễ hơn? Vậy để các ông biết: ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội, Đức Giêsu bảo người bại liệt: Ta truyền cho con: Hãy đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi về nhà.”
Đức Giêsu không cải chính bằng cách quả quyết là chỉ mình Thiên Chúa mới có thể tha tội, nhưng qua phép lạ này, Ngài mạc khải cho họ thấy ở dưới đất cũng có quyền của chính Thiên Chúa. Con người có thể phạm tội, nhưng chỉ mình Thiên Chúa có thể tha tội. Nghĩ ngược lại tức là coi một con nợ có thể trả hết nợ mắc với người nào đó bằng sáng kiến riêng của mình! Người thời nay đôi khi muốn làm như thế khi nói: “Tôi thú tội tôi hôm nay và tôi là người duy nhất có thể tha tội cho tôi, tôi, một con người[160].”
Tại sao phải xưng tội?
Đức Giêsu đã muốn việc thi hành quyền tha tội không giới hạn ở trong cuộc đời trần gian vắn vỏi của Ngài. Chính trong mục đích này mà Ngài đã lập ra một bí tích, trong đó, qua thừa tác vụ của Giáo Hội, Chúa Thánh Thần tiếp tục tha tội. Ở nguồn gốc của bí tích này, vượt lên trên vô số thay đổi và thích nghi trong lịch sử, có lời của Đức Kitô nói với Phêrô[161] và với mọi Tông Đồ theo cách đồng đoàn:
“Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha. Anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ[162].”
Đức Giêsu tiếp tục công trình tha tội bằng nhều cách khác nhau. Giáo Hội đã luôn thừa nhận Thánh Thể có một hiệu năng tổng quát giải thoát khỏi tội lỗi. Ở đó chúng ta tới gần chính nguồn mạch của việc tha tội. Thánh Ambrôsiô viết:
“Mỗi lần bạn uống máu này, ban nhận được ơn tha thứ tội lỗi và say men Thần Khí” [..] “Bánh này là sự tha thứ tội lỗi[163]”.
Trước khi cho rước lễ, phụng vụ nhắc lại cho chúng ta chân lý này bằng những lời: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian!” Trong trường hợp đoạn giao nghiêm trọng với Thiên Chúa, chúng ta được ban một phương tiện đặc biệt, đó là bí tích thống hối mà các Giáo Phụ gọi là “chiếc bè cứu độ thứ hai” cho người đắm tầu sau phép rửa của người đó[164].”
“Giáo Hội không thể tha thứ điều gì mà không có Đức Kitô; và Đức Kitô không muốn tha thứ điều gì mà không có Giáo Hội. Giáo Hội không thể tha cho người nào, trừ khi người đó hối cải, nghĩa là được Đức Kitô chạm đến trước. Đức Kitô không muốn ban ơn tha thứ cho người khinh chê Giáo Hội[165].”
Không phải Giáo Hội tha tội, nhưng Chúa Thánh Thần. Giáo Hội chỉ thi hành một thừa tác vụ, nhưng là thừa tác vụ cần thiết ở đây. Đức Giêsu nói với các Tông Đồ: “Anh em tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha”, nhưng làm sao các Tông Đồ và các người kế vị có thể quyết định tha tội hay không, mà không biết những tội ấy?
Thiên Chúa đã muốn con người xưng thú tội lỗi mình để có được ơn tha tội; vả lại điều này đáp ứng với nhu cầu tự nhiên và sâu xa của tâm lý con người. Khoa phân tâm học dựa trên cùng sự kiện này, và cấu thành một sự xác nhận không tự nguyện và có lẽ một sự thay thế sự kiện ấy. Phương tiện giải thoát mình khỏi tội mình bằng cách xưng thú nó với Thiên Chúa qua trung gian thừa tác viên của Ngài đáp ứng với nhu cầu tự nhiên của tâm lý con người là được giải thoát khỏi điều áp bức lương tâm bằng cách diễn tả nó ra, đưa nó ra ánh sáng, trình bày nó bằng lời. Thánh vịnh 32 mô tả hạnh phúc mà người ta sẽ rút ra từ kinh nghiệm này:
“Hạnh phúc thay người Chúa không hạch tội, và lòng trí chẳng chút gian tà. Bao lâu con lặng thinh không thú lỗi, thì gân cốt rã rời, cả ngày con gào thét..Con đã xưng tội ra với Ngài, chặng giấu Ngài lầm lỗi của con. Con tự nhủ: “nào ta đi thú tội với Chúa”. Và chính Ngài đã tha thứ tội vạ cho con.”
Lúc xưng tội là lúc phẩm giá của người tín hữu được khẳng định rõ nhất. Trong mọi lúc khác của đời sống Giáo Hội, người tín hữu là một trong số những người khác: một trong số những người nghe lời Chúa, một trong số những người chịu lễ. Còn ở đây, anh (chị) ta là độc nhất và chỉ có một mình; Giáo Hội đáng kể lúc đó cho một mình anh (chị) ta.
Việc thú tội cho phép chúng ta có kinh nghiệm về điều Giáo Hội ca lên trong bài Exultet đêm Vọng Phục Sinh: “Ôi tội hồng phúc vì đáng cho chúng ta một Đấng Cứu Thế vĩ đại dường ấy!” Đức Giêsu biết làm cho mọi tội lỗi của con người, một khi được nhận ra, trở thành những “tội hồng phúc”, những tội người ta không nhớ đến nữa, trừ khi là để có kinh nghiệm về lòng thương xót và nhân từ của Thiên Chúa trong những dịp này.
Thương xót và thống hối
Cách chúng ta đến với bí tích thống hối phải được đổi mới trong Thàn Khí, để thực sự hữu hiệu và mang tính quyết định trong cuộc tranh đấu chống lại tội lỗi. Đổi mới bí tích trong Thần Khí có nghĩa là sống bí tích này không phải như một nghi thức, một thói quen hay một bổn phận, nhưng như một nhu cầu của linh hồn, như một cuộc gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh, Đấng mà nhờ Giáo Hội, chuyển đạt cho chúng ta sức mạnh phục hồi của máu Ngài và đem lại cho chúng ta “niềm vui được cứu độ[166]”.
Những cuộc trở lại quan trong tìm về với Thiên Chúa, ít nhất trong Giáo Hội công giáo, luôn kết thúc bằng việc thú tội, từ đó những con người chỗi dậy có cảm tưởng được tái sinh hoàn toàn. Mẫu gương đẹp đẽ của những con người như vậy là thi sĩ Charles Baudelaire, tác giả tập Fleurs du mal. Suốt cuộc đời, ông được coi – và chính ông cũng tự coi mình – như một trường hợp điển hình của “người con hoang đàng”. Người đảm nhận chức năng làm cha, đón nhận và yêu thương ông, chính là… mẹ ông. Ông trở về nhà bà, đau ốm, thân thể chỉ còn là “một nơi bị phá nát[167]” do những cuộc ăn chơi quá đáng của ông. Chính bên cạnh bà, người đã chăm sóc ông tận tình cách vô hạn, mà ông qua đời ngày 31 tháng 8 năm 1867, sau khi đã xưng tội, xin và lãnh các bí tích cuối cùng, “rất tỉnh táo”.
Lòng thương xót của Thiên Chúa, bên ngoài và bên trong bí tích hòa giải không bị điều gì quy định, nhưng giả thiết phải thống hối tội lỗi. Không có lòng thống hối, không thể có thương xót. Khẳng định điều ngược lại là muốn “đùa” với Thiên Chúa. Nhưng có lời chép: “Anh em đừng có lầm tưởng, Thiên Chúa không để cho người ta nhạo báng đâu[168].” Trong sự toàn năng của mình, Thiên Chúa có thể làm mọi sự, trừ ra một sự. Chỉ một mình mà thôi, Ngài không thể trả lại một tấm lòng “tan nát giày vò”. Đề làm điều này, Ngài cần chúng ta tự do đồng ý. Đây không phải là một điều kiện, nhưng là một giới hạn chính Thiên Chúa tự đặt ra, khi Ngài dựng nên ta là những con người tự do.
Ngài có thể dùng ân sủng mà thúc giục chúng ta, gõ cửa nhưng không phá, nếu người bên trong núp ở đó để từ chối. Điều cản trở thực sự lòng thương xót của Thiên Chúa không phải là tội lỗi nặng nề của con người, nhưng là vì họ cứng lòng, một tấm lòng “không thống hối”. Trong Thánh vịnh 51 (Miserere), vịnh gia thưa lên:
“Lậy Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm” nhưng kẻ có tội thưa tiếp ngay: “Vâng, con biết tội mình đã phạm [..]. Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài.”
Chúng ta không thể thuần túy không biết đến sự dữ hoặc che đậy nó, phải phá hủy nó, và chỉ có thể làm việc này nếu chịu trách nhiệm về nó, “thừa nhận” nó là của mình. Chỉ mình tội nhân có thể làm việc này chứ không phải Thiên Chúa. Khi thừa nhận tội lỗi mình, con người tuyên bố Thiên Chúa vô tội, giải thoát chân lý đang “bị giam hãm trong sự bất chính[169]”. Từ đó mà có quyền năng lạ lùng của Thiên Chúa.
Hối nhân và cha giải tội
Điều quan trọng là cha giải tội phải là người ban phát thật sự lòng thương xót của Đức Kitô trong bí tích này. Giáo Hội La tinh đã tìm cách cắt nghĩa việc thú tội với ý tưởng pháp lý về một tiến trình qua đó người ta được xá giải hay không được xá giải. Trong tiến trình này, thừa tác viên giữ chức năng quan tòa. Chức năng này, nếu chi được nhấn mạnh một phía, có thể có những hệ quả tiêu cực. Người ta khó có thể nhận ra hành động của Chúa Giêsu nơi cha giải tội. Trong dụ ngôn người con hoang đàng, người cha không xử sự với tư cách quan tòa, nhưng như một người cha; ngay cả trước khi đứa con thú lỗi xong, thì ông đã ôm lấy nó, và truyền cho người nhà mở tiệc. Phúc Âm là “thủ bản” chính thực của cha giải tội, Giáo luật có đó để ngài sử dụng chứ không phải để thay thế.
Đức Giêsu không bắt đầu dùng giọng điệu kiên quyết theo pháp lý để hỏi người phụ nữ ngoại tình, ông Dakêu và tất cả các tội nhân mà Ngài gặp, “số lần và kiểu tội” mà họ phạm, như: “Phạm bao nhiêu lần?”, “Phạm với ai?”, “Phạm ở đâu?” Ngài quan tâm trước hết sao cho từng người trải nghiệm về lòng thương xót, về sự âu yếm và cuối cùng về niềm vui của Thiên Chúa được đón tiếp kẻ có tội. Ngài biết sau kinh nghiệm này, chính tội nhân sẽ phải cảm thấy nhu cầu cần xưng hết tội mình. Trong cả Kinh Thánh, chúng ta thấy đường lối sư phạm cua Thiên Chúa bằng hành động, không đòi con người mọi sự và đòi hỏi ngay bằng những hạn từ của khoa luân lý, nhưng chỉ những gì vào lúc này người đó có thể hiểu được. Phaolô nói về sự “nhẫn nại của Thiên Chúa[170]” trong vấn đề này. Chủ yếu là một khởi đầu thật sự thống hối, muốn thay đổi và sửa chữa tội ác đã phạm.
Phanxicô Assisi càng thương xót anh em khi càng nghiêm khắc và triệt để với chính mình. Ngài viết cho một bề trên dòng của ngài lời khuyên sau đây áp dụng cho bất cứ cha giải tội nào:
“Tôi nhận ra cha yêu mến Chúa, cha yêu thương chính tôi là tôi tớ Ngài và tôi tớ của cha ở điểm nào, đó là nếu bất cứ anh em nào trên đời này, sau khi đã phạm tội ngần nào có thể, có thể bắt gặp cái nhìn của cha, xin cha tha tội, và từ biệt cha mà được tha tội. Nếu người đó không xin tha tội, hãy hỏi xem anh ta có muốn được tha tội không. Cho dù sau đó anh còn phạm tội cả ngàn lần chống lại cha, cha hãy yêu anh ta còn hơn cha yêu cha, và làm điều đó để đưa anh ta đến với Chúa. Hãy luôn thương xót những người bất hạnh này[171].”
Năm 1983, nhân dịp Thượng Hội Đồng Giám Mục về “Sám Hối và Hòa Giải” nhóm họp, trước sự hiện diện của các Nghị Phụ, thánh Gioan Phaolô II muốn phong thánh cho chân phước Leopoldo Mandié, tu sĩ khiêm nhường dòng Capucinô, suốt đời làm cha giải tội[172]. Người ta biết sự nhã nhặn, tình yêu và sự khích lệ của thánh Leopoldo khi đón nhận và cho về mỗi hối nhân của mình. Có ai trách ngài quá “tốt bụng” và Thiên Chúa hẳn sẽ hỏi ngài lý do vì sao lại quá rộng rãi với hối nhân như vậy, thì ngài trả lời: “Không phải chúng ta đã chết cho các linh hồn. Chính Chúa đã đổ máu mình ra. Thế nên chúng ta phải đối xử với các linh hồn như Ngài đã dùng gương của Ngài mà dạy ta. Nếu Chúa trách tôi quá quảng đại, tôi sẽ thưa với Ngài: “Lạy Chúa, chính Chúa đã làm gương xấu cho con[173]!”
Cũng hoàn toàn đúng khi, bên cạnh thánh Leopoldo rất hiền lành lúc giải tội, còn có cha thánh Pio de Pietrelcina, cũng thuộc dòng Capucinô, mà người ta biết cách đón nhận và cho về đôi khi hơi cục cằn đối với hối nhân – trong một vài trường hợp thậm chí không giải tội cho họ nữa. Nhưng để bắt chước ngài trong cách đó, chúng ta cũng phải bảo đảm được ơn như ngài, là gắn bó với các linh hồn còn mật thiết hơn, và khiến tức khắc trở lại tòa giải tội của ngài với tâm thái mới.
Việc ban bí tích thống hối có thể trở thành một cơ hội giúp cho cha giải tội hoán cải và được ơn, cũng như nhà giảng thuyết được như vậy trong việc loan báo lời Chúa. Trong những tội lỗi của hối nhân, ngài có thể không khó nhận ra tội lỗi của mình, có lẽ dưới những hình thức khác. Cũng vậy, khi giải tội, ngài chỉ có thể nói nơi chính mình: “Lậy Chúa, cả con nữa, con cũng đã làm như thế, xin cũng thương xót con.” Có biết bao nhiêu tội lỗi chúng ta quên mất khi xét mình, và khám phá ra khi nghe tội lỗi của người khác. Với một hối nhân khá đau khổ, thánh Leopoldo nói để khích lệ: “Ở đây chúng ta có hai tội nhận, xin Chúa thương xót chúng ta!”
Tôi kết thúc bài suy niệm này bằng một bài thơ của Paul Claudel kể lại một lần thú tội, sử dụng chính những hình ảnh Phúc Âm dùng để mô tả ngày trở về của đứa con hoang đàng, và phụng vụ dùng những hình ảnh ấy để cử hành cuộc Phục Sinh của Đức Kitô:
“Lạy Thiên Chúa của con, con đã sống lại
và con vẫn ở với Chúa!
Con đã ngủ và đã nằm yên
như một người chết trong đêm.
Thiên Chúa nói: Hãy có ánh sáng!
Và con bật dậy như người ta bật ra một tiếng kêu!
Con đã trỗi dậy và đã bật dậy…
Tim con tự do và miệng con trong sạch,
tim con và thần trí con nhịn đói,
Con được tha thứ mọi tội lỗi của con
mà con đã lần lượt xưng thú.
Nhẫn cưới đeo ở ngón tay con
và mặt con được rửa sạch.
Con như một sinh vật vô tội
trong ân sủng mà Chúa ban cho con[174].”
