14. “CÁC NGƯƠI SẼ HÂN HOAN MÚC NƯỚC NƠI SUỐI ƠN CỨU ĐỘ”

Lòng thương xót của Thiên Chúa trong phụng vụ

 Trong phụng vụ lời Chúa, Thánh lễ tưởng niệm việc rao giảng của Đức Kitô, còn trong phụng vụ Thánh Thể, là tưởng niệm cái chết của Ngài, do đó cũng là tưởng niệm lòng thương xót của Thiên Chúa. Thánh lễ là nơi không những chúng ta nhắc nhớ lòng thương xót của Thiên Chúa, mà còn là nơi chúng ta đón nhận Ngài, có kinh nghiệm về Ngài, ăn uống Ngài. Chúng ta chỉ lấy một vài yếu tố liên hệ trực tiếp nhất tới chủ đề lòng thương xót, trước hết trong Thánh lễ, sau đó trong năm phụng vụ.

Lòng thương xót của Thiên Chúa trong phụng vụ Thánh Thể

Bất cứ Thánh lễ nào hôm nay cũng đều bắt đầu bằng hành vi thống hối. Yếu tố xưa và chung nhất cho mọi nghi thức và phụng vụ của Giáo Hội là lời khẩn cầu Kyrie eleison (Xin Chúa thương xót). Thật không may, giống như bất cứ điều gì được thường xuyên lặp đi lặp lại, nội dung nguyên thủy của lời kêu cầu này trở thành nghèo đi.

Lời kêu cầu “Xin Chúa thương xót” giữ nhịp cho kinh nguyện Kitô giáo và trong một số phụng vụ đi kèm theo Thánh lễ từ đầu đến cuối, gợi lên trong chúng ta điều gì chăng? (Những ai đôi khi tham dự phụng vụ Nga nhớ tới lời kêu cầu “Gospodi pomiluj” vang lên bao nhiêu lần). Cuối cùng lời đó hầu như chỉ còn là lời xin tha thứ của thụ tạo thấy Thiên Chúa luôn luôn sắp phạt chúng (và Ngài có quyền làm như vậy). Chữ “thương xót” bị đánh giá thấp vì rất hay được sử dụng theo nghĩa tiêu cực, như điều gì đó ti tiện và đáng khinh: “thương hại”, “cảnh tượng thảm hại”.

Theo Kinh Thánh, nên dịch Kyrie eleison là: “Lạy Chúa, xin đổ xuống trên chúng con lòng thương xót của Chúa.” Chỉ cần xem Thiên Chúa nói về dân Ngài thế nào trong Giêrêmia: “Mỗi lần nhắc tới nó, Ta lại thấy nhớ thương, nên lòng Ta bồi hồi thổn thức, Ta thương nó, thương (eleos) nó thật nhiều[175].” Khi những người đau ốm, phong cùi, mù lòa kêu lên với Đức Giêsu: “Lạy Con vua Đavit, xin thương xót chúng tôi[176]!” lời đó không có nghĩa là: “xin tha cho chúng tôi”, nhưng “xin cảm thương chúng tôi”. Ngoài việc tha thứ tội lỗi, câu kết của hành vi thống hối cũng bảo đảm sự thương xót: “Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót, tha tội và dẫn đưa chúng ta tới sự sống muôn đời.”

Phụng vụ Rôma dạy chúng ta lặp lại lời kêu cầu “Xin Chúa thương xót” ba lần chỉ trong lúc đầu của cử hành. Đến nhà thờ ngày Chúa nhật, sau khi đã đi trên những con đường lầy lội, chúng ta chùi giầy trước khi vào nhà thờ, trút bỏ mọi dơ bẩn, Nhưng một khi đã vào rồi, chúng ta không mất thời giờ kiểm tra xem giầy chúng ta đã sạch sẽ chưa. Trái lại, chúng ta nhìn lên bàn thờ nơi cử hành mầu nhiệm thánh. Họa có điên mới làm khác.

Thánh Lễ Chúa Nhật XXVI Mùa Thường Niên năm phụng vụ khởi đầu bằng một lời nguyện được Đức Giáo Hoàng Phanxicô trích trong Thông điệp tuyên bố Năm Thánh Lòng Thương Xót. Giáo Hội hướng về Thiên Chúa, “cho thấy chứng cớ tối thượng về quyền năng của Ngài khi Ngài tha thứ và thương xót (parcendo et miserando)[177].” Đó là một lời quả quyết thời nào cũng khiến cho các nhà thần học chú ý vì thấy nó táo bạo. Sự tha thứ bày tỏ sự toàn năng của Thiên Chúa có lẽ còn hơn cả việc tạo dựng, vì đưa thụ tạo ra khỏi một sự hư vô còn “hư vô” hơn sự hư vô của sự không hiện hữu; nó đưa con người ra khỏi tội lỗi là việc xa lìa Thiên Chúa, cội rễ và lý do hiện hữu của chúng ta.

Để ca ngơi lòng thương xót của Thiên Chúa, phụng vụ mới cung cấp cho chúng ta hai Kinh Nguyện Thánh Thể gọi là “hòa giải”; Kinh thứ nhất có tựa đề “Hòa giải, trở về với Chúa Cha”, và Kinh thứ hai là “Hòa giải với Thiên Chúa, nền tảng của một sự hòa hợp nơi con người”. Mỗi Kinh có thể gợi ý cho một bài huấn giáo đầy đủ về lòng thương xót của Thiên Chúa theo dòng lịch sử Cứu Độ. Trong Kinh thứ nhất, chúng ta có thể đọc thấy:

“Chúng con là những người hư mất, không thể đến gần Chúa. Chúa đã yêu chúng con bằng tình yêu hải hà: Con Chúa, Đấng duy nhất Công Chính, đã phó nộp mình vào tay chúng con và bị đóng đinh trên thập giá.”

Lễ kính Lòng Thương Xót của Chúa

Tiếp theo Thông điệp về Thiên Chúa Giầu lòng thương xót (Dives in misericordia) ban hành ngày 30 tháng 11 năm 1980, thánh Gioan Phaolô II đặt ra lễ kính Lòng Thương Xót của Chúa buộc cử hành Chúa nhật sau lễ Phục Sinh. Ý tưởng của ngày lễ phát xuất từ những mạc khải tư của Chúa Giêsu cho thánh nữ Faustina Kowalska (1905-1938) và những thực hành thiêng liêng được khai triển sau đó. Ở đây tôi muốn cố gắng hiểu ý nghĩa – thần học và mục vụ – sâu sắc của lễ này, xem nó có thể góp phần ở những điểm nào vào nỗ lực hiện nay của Giáo Hội cho việc tân Phúc Âm hóa.

Giống như trường hợp lễ Mình Máu Thánh Chúa, lể Thánh Tâm Chúa Giêsu và các lễ khác, nói chung Giáo Hội đón nhận sứ điệp của Chúa, được chuyển đạt cho một vài người dưới hình thức tư, biến sứ điệp ấy thành của mình, làm cho nó phong phú với một nội dung thần học, đặt nó trong bối cảnh toàn bộ mạc khải và lịch sử Cứu Độ. Đó là điều đã xẩy ra với lễ kính Lòng Thương Xót của Chúa. Để hiểu rõ ý nghĩa của ngày này theo ý muốn của thánh Gioan Phaolô II, phải để ý đến thông điệp của ngài, cũng như những mạc khải của Chúa Giêsu cho thánh nữ Faustina.

Ở đây, chính xác Huấn quyền đã đóng góp điều gì? Đó là xen phạm vi Kitô học của lòng đạo đức này vào trong phạm vi lớn hơn, tức phạm vi Ba Ngôi. Thiên Chúa “giầu lòng thương xót” của Gioan Phaolô II không phải là ngôi vị của Đức Giêsu đứng riêng rẽ, nhưng là Thiên Chúa-Ba Ngôi, cách riêng là Thiên Chúa Cha. Thông điệp bắt đầu như sau:

“Thiên Chúa giầu lòng thương xót[178] là Đấng mà Đức Giêsu Kitô đã mạc khải cho chúng ta biết là Cha: chính Ngài, Con của Người, đã bày tỏ Người và cho chúng ta biết Người nơi bản thân Ngài[179].”

Đức Giêsu chịu đóng đinh và sống lại mà chúng ta chiêm ngắm trên hình ảnh của ngày lễ, không phải ở nguồn gốc, nhưng ở tận cuối lịch sử lòng thương xót của Thiên Chúa. Ngài là sự bày tỏ trong lịch sử một lòng thương xót còn sâu thẳm hơn, có nguồn mạch cuối cùng là trái tim của Chúa Cha, trong lòng Ba Ngôi. Tiếp đến, Đức Giáo Hoàng đi vào trọng tâm mạc khải cho thánh nữ Faustina. Trong số những lời Đức Giêsu nói cho thánh nữ, ngài đã xác định lời cắt nghĩa tất cả những lời khác:

“Chúa nhật thứ nhất sau lễ Phục Sinh là ngày lễ kính Lòng Thương Xót. Nhờ Ngôi Lời nhập thể, Ta cho mọi người biết sự vô biên của Lòng Thương Xót của Ta[180].”

Đấng nói như thế chỉ có thể là Chúa Cha! Nhìn như vậy thì ngày lễ và việc sùng mộ Lòng Thước Xót của Chúa có thể là một dụng cụ Phúc Âm hóa quý giá cho Giáo Hội. Nó giúp chúng ta thay đổi ý kiến về Thiên Chúa Cha ăn sâu trong vô thức của con người và có lẽ – như sẽ thấy sau – lý do chính khiến những người vô tín khước từ Thiên Chúa.

Tuy nhiên, lễ kính Lòng Thương Xót của Thiên Chúa có giới hạn: không có phụng vụ riêng. Nói cho đúng, Giáo Hội không dám thay đổi tính chất cũng như nội dung phụng vụ của Chúa nhật thứ nhất sau lễ Phục Sinh, được biết đến từ thời Thượng cổ là “Chúa nhật in albis” (Chúa nhật áo trắng[181]), với những bản văn riêng, ngay cả trên bình diện niên đại, cho Chúa nhật này, như việc Chúa hiện ra ở nhà Tiệc ly và câu chuyện Tôma. Đúng hơn đây không phải một lễ mới, lễ kính Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, cho bằng một ý nghĩa mới thêm vào một Chúa nhật trong năm, cũng như trường hợp Chúa nhật “Chúa Chiên Lành”.

Lễ thật sự kính nhớ lòng thương xót của Đức Kitô là lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, được cử hành thứ sáu sau lễ trọng kính Mình Máu Thánh Chúa Giêsu. Lễ trọng này không phải là lễ nghỉ, khiến cho lễ này có điều gì đó bí nhiệm. Đó là lễ của “những người bạn thân thiết”. Việc chọn các bản văn, dù là cho phụng vụ các Giờ Kinh (bản văn của thánh Bonaventura về Trái Tim Chúa Kitô bị đâm thâu, nơi nương ẩn của các tâm hồn yêu dấu!) hay cho phụng vụ Thánh Thể, thích hợp cách đặc biệt.

Chúng ta biết trong Kinh Thánh trái tim là trung tâm của trí khôn, ý muốn và tình cảm của con người. Những bản văn cảm động nhất về tình yêu dịu dàng và thương xót của Thiên Chúa trong Cựu Ước rõ ràng nhắc tới trái tim của Thiên Chúa. Cũng vậy ở đây các bài đọc Cựu Ước và Tân Ước đánh dấu một bước nhảy về phẩm chất, và lần này là từ ẩn dụ tới thực tại. Trái tim của Thiên Chúa cũng mặc lấy xác phàm!

Đối với chúng ta, trái tim sau việc nhập thể của Chúa là một biểu tượng có thực – vừa là biểu tượng đồng thời cũng là một thực tại – vì chúng ta biết Đức Kitô có một trái tim nhân loại; giữa lòng Ba Ngôi có một trái tim nhân loại đang đập. Quả thực, nếu Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, trái tim của Ngài cũng sống lại từ cõi chết; trái tim ấy sống như phần còn lại của thân xác, trong một chiều kích khác với trước đây – thiêng liêng chứ không xác thịt – nhưng là một trái tim sống. Nếu Con Chiên ở trên trời “như thể đã bị giết mà vẫn đứng[182]”, trái tim của Con Chiên ấy tham dự vào cùng một tình trạng này; đó là một trái tim bị đâm thủng nhưng vẫn sống, hằng bị đâm thủng vì hằng sống.

Có lẽ chúng ta có sự xác thực, điều còn thiếu (hoặc đã không được diễn tả đủ) trong việc tôn sùng truyền thống Thánh Tâm Chúa và có thể góp phần vào việc canh tân và làm sống lại việc tôn sùng này. Thánh Tâm không chỉ là trái tim đập trong lòng Đức Kitô trong cuộc đời trần gian của Ngài và đã bị đâm thủng trên thập giá và chỉ có đức tin và việc tôn sùng hoặc, đúng hơn, chỉ có Thánh Thể mới có thể làm cho sự hiện diện của trái tim ấy tồn tại mãi giữa chúng ta. Thánh Tâm không chỉ sống trong sự tôn sùng, mà cả trong thực tế; không chỉ định vị mình trong quá khứ, mà cả trong hiện tại nữa.

Trong thân thể con người, trái tim là động cơ của  tất cả; khi nó ngừng đập là tất cả ngừng lại; nó nhận máu có chất dỉ của bộ máy, làm sạch máu qua lá phổi và trả lại cho mọi chi thể máu đã được tái tạo và trong sạch. Trái tim của Đức Kitô trong nhiệm thể của Ngài là Giáo Hội làm tất cả những việc đó. Tiếp theo Augustinô, người ta nói rằng “Chúa Thánh Thần là linh hồn của Giáo Hội[183]”, nhưng cả hai việc hài hòa với nhau. Chúa Thánh Thần ở trong nước và máu chảy ra từ cạnh sườn Đức Kitô[184].

Việc tôn sùng Thánh Tâm không làm cạn kiệt mục đích của nó với sự biến mất của chủ thuyết Jansen,  một chủ thuyết đã là một trong những lý do khiến Giáo Hội đặt ra việc tôn sùng này; cho đến ngày nay, nó vẫn là liều thuốc giải độc tốt nhất cho tính chất trừu tượng, cho chủ nghĩa duy trí và cho chủ nghĩa hình thức, một chủ nghĩa làm khô cạn rất nhiều thần học và đức tin. Một trái tim đang đập là điều phân biệt rõ ràng nhất một thực tại sống với khái niệm về nó, bởi vì khái niệm có thể chứa mọi thứ của một người, ngoại trừ trái tim đang đập của người này.

Làm tươi mới nội dung của ngày lễ “trong Thánh Thần”

Để giải phóng tiềm lực thánh hóa và Phúc Âm hóa của hai lễ về lòng thương xót, chúng ta phải không ngừng làm nó tươi mới “trong Thánh Thần”, nghĩa là giải thoát nó khỏi mọi cách giải thích một phần và những méo mó do chúng ta không có khả năng giữ cho những sự việc của Thiên Chúa được tinh tuyền và đa dạng. Ca nhập lễ cũ của lễ Thánh Tâm Chúa trích một Thánh vịnh như sau: “Ý định của lòng Người vạn kiếp trường tồn[185]”. Ý định của lòng Chúa không thay đổi, nhưng các thế hệ thì có!

Phải đổi mới hai yếu tố của lễ kính lòng thương xót. Yếu tố thứ nhất liên hệ đến ý nghĩa và chỗ đứng của những việc “thực hành đạo đức” gắn liền với lễ này: những thứ sáu của tháng kính Thánh Tâm Chúa, những tuần cửu nhật và những tràng hạt khác nhau cho ngày lễ kính Lòng Thương Xót của Chúa. Nếu tất cả những việc đó không có một huấn giáo chắc chắn kèm theo, thì có nguy cơ là làm cho người ta tưởng rằng sự thương xót của Thiên Chúa là phần thưởng và kết quả của những thực hành đạo đức này: làm điều này điều kia thì sẽ có được cái này cái nọ. Đó là xu hướng bẩm sinh muốn “trả giá thục hồi cho Thiên Chúa[186]”, làm hỏng hoàn toàn mối tương quan giữa đức tin và việc làm. Những thực hành đạo đức, cũng như mọi “việc lành”, được coi là hợp lý và thánh thiện nếu coi chúng như một cách đáp lại ân sủng, chứ không phải lý do của ân sủng.

Tất cả những thực hành đạo đức này cho phép những người đơn sơ mộc mạc bày tỏ lòng tin và tôn sùng của họ; vậy chúng ta không thể gạt bỏ chúng. Đúng hơn nên nhẫn nại đặt chúng vào đúng vị trí, giải thích rằng lòng thương xót của Thiên Chúa luôn luôn vô điều kiện, mặc dù nó không bao giờ không có hậu quả. Điều kiện cần thiết mặc nhiên không thể là: “Nếu bạn đọc những kinh này theo con số và cách thức đã chỉ, Thiên Chúa sẽ ban cho bạn ơn tha thứ, xá tội, được vào thiên đàng ngay và liền một lúc như vậy”, nhưng đúng hơn: “Thiên Chúa đã tha thứ và thương xót bạn: hãy tạ ơn Ngài, ca ngợi Ngài, chúc tụng Ngài vì những ơn này. Hãy làm như Giáo Hội trong kinh Vinh Danh: “Chúng con ca ngợi Chúa, chúng con chúc tụng Chúa, chúng con thờ lạy Chúa, chúng con tôn vinh Chúa, chúng con cảm tạ Chúa”. Thiên Chúa không xử sự với chúng ta theo quy tắc “do ut des” (tôi cho để nhận được), chúng ta cũng không xử sự như vậy với Ngài. Với Chúa, chúng ta chỉ có thể sống đạo theo kiểu “do quia dedisti” (tôi cho vì tôi đã nhận được), vì Ngài đã được ban cho tôi.

Tảng đá ngầm thứ hai phải tránh chung quanh các lễ và mọi cử hành về lòng thương xót của Chúa liên hệ đến nội dung của từ này. Như ta đã thấy, lòng thương xót của Thiên Chúa không chỉ là agapè, mà còn là eros! Nó không chỉ là tha thứ các tội lỗi mà còn là âu yếm, tình yêu từ lòng dạ; nơi các tiên tri và tác giả sách Diễm ca, nó là tình yêu đam mê, ghen tương. Nói khác đi, Thiên Chúa không chỉ bác ái đối với ta nhưng còn yêu thương ta, ao ước ta. Ngài muốn cho tình yêu của ta đối với Ngài cũng phải như vậy.

Chúng ta không thể yêu mến Thiên Chúa bằng một tình yêu thương xót, theo nghĩa tha thứ (chúng ta có thể tha thứ cho Thiên Chúa điều gì?), nhưng chúng ta có thể yêu Ngài bằng một tình yêu thương xót theo nghĩa một tình yêu khởi đi từ tâm hồn và lòng dạ, cảm động đến chảy nước mắt. Một tình yêu biết ơn xúc động.

Hoan hô các lễ kính lòng thương xót, nếu chúng giúp cho chúng ta nhớ lại tất cả những điều đó.

Phần trước Phần tiếp theo