15. “PHÚC CHO NHỮNG AI CÓ LÒNG THƯƠNG XÓT, VÌ HỌ SẼ ĐƯỢC XÓT THƯƠNG”

Từ ân huệ tới bổn phận

Đã đến lúc từ lòng thương xót của Thiên Chúa chúng ta bước sang lòng thương xót của chúng ta; từ ân huệ tới bổn phận. Khác với bất cứ một tôn giáo hay triết học tôn giáo nào, Kitô giáo không bắt đầu bằng cách nói với con người điều họ phải làm để được cứu, nhưng bắt đầu bằng cách nói với con người điều Thiên Chúa đã làm để cứu họ. Nó không bắt đầu bằng bổn phận, nhưng bằng ân huệ. Chắc chắn có những bổn phận và giới răn – đòi hỏi hơn bao giờ hết – tuy nhiên không chiếm hạng đầu nhưng là hạng hai. Trước bổn phận, có ân huệ; trước việc làm là ân sủng.

Ví dụ rõ ràng nhất là ví dụ về “giới răn thứ nhất và quan trọng nhất”, giới răn mến Chúa yêu người. Thánh Gioan quả quyết: Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa trước, nhưng chính Ngài đã yêu chúng ta trước. Chúng ta yêu vì Ngài đã yêu chúng ta[187]. Chúng ta sẽ thấy điều xẩy ra theo cùng một cách như lòng thương xót. Hạn từ thương xót do hai từ La tinh misereorcor ghép lại, có nghĩa là động lòng thương, xúc động vì nỗi đau khổ hay sai lầm của người anh chị em mình. Chính như thế mà, như ta đã thấy, Thiên Chúa giải thích lòng thương xót của mình trước sự lầm lạc của dân Ngài: “Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi[188].”

Lòng thương xót của con người, lý do hay hiệu quả của lòng Chúa thương xót

Đức Giêsu nói: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương[189], và trong Kinh Lạy Cha, Ngài dạy chúng ta cầu nguyện như sau: “Và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Ngài còn nói: “Nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em[190].” Những lời trên có thể làm cho chúng ta tưởng rằng lòng thương xót của Thiên Chúa đối với chúng ta là hiệu quả của lòng thương xót của chúng ta đối với người khác, và tương xứng với lòng thương xót ấy. Nhưng nếu như vậy thì tương quan giữa ân sủng và việc lành hoàn toàn bị đảo ngược, chúng ta  phá hủy tính chất cho không của lòng Chúa thương xót, đã được Thiên Chúa long trọng công bố trước mặt Môsê: “Ta thương ai thì thương, xót ai thì xót[191].

Chúng ta phải thương xót, vì chúng ta đã được thương xót, không phải để chúng ta được thương xót. Chúng ta phải thương xót, nếu không, lòng thương xót của Thiên Chúa không có hiệu quả nào đối với chúng ta, và sẽ được rút ra khỏi chúng ta. Ân sủng luôn “báo trước” và tạo ra bổn phận. Phaolô viết cho tín hữu Colossê: “Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau[192]”. Nếu trong mối phúc, lòng thương xót của Thiên Chúa đối với chúng ta dường như là hậu quả của việc chúng ta thương xót anh em mình, thì chính là vì Đức Giêsu tự đặt mình trong viễn tượng về ngày chung thẩm (“họ sẽ được thương xót”, thì tương lai!).

Vì Thiên Chúa không thương xót khi xét xử kẻ không biết thương xót. Còn ai thương xót thì chẳng quan tâm đến việc xét xử[193].”

Dụ ngôn về hai người đầy tớ[194] là chìa khóa giúp hiểu cho đúng tương quan này. Chúng ta thấy thái độ của ông vua là người đầu tiên tha cho đầy tớ của mình một món nợ rất lớn (mười ngàn yến vàng!), không đặt ra điều kiện nào cả. Chính lòng quảng đại của ông lẽ ra phải thúc đẩy người đầy tớ này thương xót người chỉ mắc nợ anh ta một trăm quan tiền. Ông vua trong dụ ngôn dĩ nhiên là Thiên Chúa, và những người đầy tớ là con người. Con người mắc nợ Thiên Chúa mọi sự, họ nhận được mọi sự từ Ngài. Nhưng Thiên Chúa không đòi quyền lợi nào cho mình. Ngài không yêu cầu điều gì có thể làm lợi cho Ngài. Ngài cho không, cho dư dật, không ra điều kiện tiên quyết. Nhưng nếu tình yêu này tuyệt đối vô điều kiện, thì, tôi lặp lại, nó không phải là không có hậu quả. Thiên Chúa muốn con người nhận tình yêu cho không mà Ngài ban trước cho con người, không tính toán. Nhưng Ngài cũng muốn con người cho phép tình yêu này sống trong họ, xâm nhập cả con người của họ. Và chính đó là điều mà người đầy tớ trong dụ ngôn từ chối. Đúng là anh ta nhận hưởng món quà rất lớn của chủ, nhưng lại có ý định giữ riêng cho mình, chặn nó nơi thâm sâu của mình. Anh phá vỡ đường chuyển động của tình yêu.

Thương xót như Cha chúng ta trên trời

Tại sao Thiên Chúa lại đặt ra mối liên hệ chặt chẽ giữa lòng thương xót của Ngài đối với chúng ta và lòng thương xót của chúng ta đối với người khác? Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Như Thầy đã yêu thương anh em, anh em hãy yêu thương nhau,[195]” (không phải: anh em cũng phải yêu thương Thầy). Gioan quả quyết: “Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế, chúng ta cũng phải yêu thương nhau.[196]” Chúng ta hẳn sẽ nói Thiên Chúa quan tâm tới tình yêu của chúng ta đối với người thân cận hơn là tới tình yêu của chúng ta đối với Ngài. Ở đây chúng ta thấy rõ sự khác biệt giữa tình yêu của con người là mạch kín, và tình yêu của Thiên Chúa là mạch hở. Trong Triviata của Verdi, nàng Violette đã ca lên: “Yêu em đi, anh Alfred. Hãy yêu em như em yêu anh.” Ở đây chúng ta có quy luật: em yêu anh, anh hãy yêu em; còn với Thiên Chúa, quy luật là: con yêu Chúa, hãy yêu anh em mình.

Tại sao lại có sự đổi hướng đặc biệt này của tình yêu, từ Thiên Chúa hướng tới người thân cận? Lý do trực tiếp nhất là vì chúng ta còn sống trong xác thịt; tất cả đều phải qua xác thịt. Tình yêu cũng phải nhập thể để trung thực, chứ không trên mây trên gió, như vậy sẽ ra khói sương tan biến trong hư vô. Vì chúng ta không thể yêu Thiên Chúa cách cụ thể và thực tế này, với hồn và xác – do không thấy Thiên Chúa – chúng ta phải quay về với người thân cận mà chúng ta thấy được[197]. Người thân cận, người khác, là khuôn mặt hữu hình của Thiên Chúa đối với tôi.

Thánh Catarina Sienna viện dẫn một lý do khác cũng rất cơ bản. Ngài đặt vào miệng Thiên Chúa những lời sau đây:

“Ta truyền cho con yêu ta bằng cùng một tình yêu như Ta yêu con. Thật ra con không thể làm điều đó cho đầy đủ. Ta đã yêu con trước khi được yêu, và từ đó, bất cứ tình yêu nào con có đối với Ta, đều là một món nợ con phải trả, không phải một ơn mà con làm cho Ta, trong khi tình yêu mà Ta có cho con lại là một ân huệ Ta ban cho con, chứ không mắc nợ con. Con không thể trả lại Ta tình yêu Ta đòi hỏi nơi con. Nhưng Ta đã đặt con bên cạnh người thân cận của con, để con có thể làm cho người đó điều con không thể làm cho Ta: yêu người đó vì thiện ý, vô vị lợi, không mong đợi bất kỳ lợi lộc nào. Khi ấy Ta coi điều con làm cho người thân cận là làm cho Ta[198].”

Hiển nhiên là chúng ta, những thụ tạo tội lỗi, không thể yêu Thiên Chúa bằng một tình yêu “thương xót”, chúng ta không thể tỏ lòng thương xót với Thiên Chúa. Đó là lý do vì sao người thân cận đã được ban cho chúng ta. Đó là điều cho phép chúng ta thi hành lệnh truyền của Đức Giêsu có vẻ là không thể: “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ[199].” Như vậy, chúng ta có thể làm cho người khác đúng những gì Thiên Chúa làm cho chúng ta. Và Ngài coi điều đó (một đặc điểm khác trong sự thương xót vô biên của Ngài!) như thể chúng ta đã làm cho chính cá nhân Ngài. “Là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy[200]!”

Tuy nhiên, khác với lòng thương xót của Chúa đối với chúng ta, lòng thương xót của ta đối với người thân cận không phải là một ân huệ chúng ta ban cho người đó, mà là một món nợ chúng ta trả cho người đó: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái[201]”. Tại sao lại là món nợ? Chúng ta đã nhận được một mức độ vô biên tình yêu phải chia sẻ với anh em mình. Dù yêu một người anh em mấy đi nữa, chúng ta sẽ không bao giờ sánh bằng với mức độ nhận được cho người đó và thuộc về người đó. Thiên Chúa đã bày tỏ cho chúng ta một lòng thương xót vô biên khi ban cho ta người Con của Ngài là Đức Giêsu. Ngài đòi ta không được giữ lòng thương xót ấy cho mình, nhưng làm cho nó lưu chuyển. Ngài đòi nước mà Ngài đã ban cho ta phải trở nên nơi ta “một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời[202].” Vậy mỗi người trong các anh em gõ cửa nhà bạn đều là một chủ nợ đòi nợ của họ. Cho dù bạn không thể lúc nào cũng cho họ những gì họ đòi, vẫn phải để ý đừng bao giờ để họ ra về mà không có được những gì họ cần.

Ở đây chúng ta lưu ý là động lực chính yếu thúc đẩy chúng ta yêu người thân cận không phải là ngoại tại, nhưng nội tại nơi ta. Không phải vì Thiên Chúa đòi ta yêu họ, cũng không phải vì họ xứng đáng được Thiên Chúa yêu mà xứng đáng được ta yêu. Chính vì Thiên Chúa đã đặt nơi ta, đã giao phó cho ta, tình yêu của Ngài ngay cả đối với các anh em ta, Căn bản đó là đức bác ái đối thần với tư cách là nhân đức thiên phú: nhân đức ấy tham dự vào chính tình yêu của Thiên Chúa, được “thông phần bản tính Thiên Chúa[203]”, bản tình này là tình yêu, vì vậy là một khả năng yêu mới như Thiên Chúa yêu.

Lòng thương xót, nơi gặp gỡ các tôn giáo

Có lẽ đây là điều làm cho Kitô giáo xích lại gần Phật giáo nhất. Trong Phật giáo, lòng trắc ẩn đối với mọi sinh vật tạo nên “chính hành”, một trong bát chính đạo đưa tới giác ngộ. Nhưng động lực lại khác nhau trong hai tôn giáo này. Trong Kitô giáo, nền tảng là con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, “là Cha giầu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an[204]”, Đấng “yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào khác Chúa đã làm ra[205].” Trong Phật giáo – một tôn giáo không biết đến ý tưởng về một Thiên Chúa có ngôi vị và sáng tạo – nền tảng có tính cách nhân học và vũ trụ: con người phải từ bi do liên đới và trách nhiệm liên kết họ với mọi sinh vật.

Sự khác biệt này không được ngăn cản chúng ta cùng nhau hành động trên bình diện thực tế, đặc biệt ngày nay, lúc đời sống bị bạo hành đe dọa, và tương quan giữa con người nhau trở nên quá khó khăn và “tàn nhẫn”. Người Kitô hữu chúng ta học nhiều từ những sách của Dalai-Lama Tenzin Gyatso, người đã đề nghị một thứ “đạo đức học hòa bình và trắc ẩn” cho thiên niên kỷ thứ ba. Mỗi trang sách  toát ra một ý thức lớn về sự liên đới, hầu như âu yếm đối với mọi sinh vật, và gợi ý đưa nhãn quan này vào trong chính trị, kinh tế và trong tất cả những lãnh vực khác của cuộc sống.

Nếu lòng thương xót như một thái độ và một đức tính nhân loại đưa Kitô giáo xích lại gần Phật giáo cách nào đó, thì lòng thương xót như một thuộc tính của Thiên Chúa đưa nó tới gần Do thái giáo và Hồi giáo, nghĩa là hai tôn giáo lớn độc thần. Chính Đức Phanxicô nhấn mạnh điều này trong Thông điệp công bố Năm Thánh. Ngài viết như sau:

“Giá trị của lòng thương xót vượt qua các ranh giới của Giáo Hội. Nó có liên hệ với Do Thái giáo và Hồi giáo, là những tôn giáo coi nó như một trong những thuộc tính có ý nghĩa nhất của Thiên Chúa. Israel đã tiên vàn lãnh nhận mạc khải này, một mạc khải như một khởi điểm trong lịch sử cho một sự phong phú vô biên được ban cho tất cả nhân loại. […] Về phần mình, Hồi giáo gán cho Đấng Tạo Hóa những phẩm tính thương xót và nhân từ. Người ta thường thấy những lời kêu cầu này trên môi miệng người Hồi giáo, là những người cảm thấy mình được lòng thương xót đồng hành và nâng đỡ trong sự yếu đuối hàng ngày. Cũng chính họ tin rằng không ai có thể giới hạn lòng thương xót của Allah vì các cửa của Ngài luôn rộng mở[206].

Dầu chảy xuống từ chòm râu Aaron

Thánh Augustinô nói: “Chúng ta là những con người phàm trần, mong manh, ốm yếu, mang những bình đất sét, khó chịu với nhau[207].” Chúng ta không thể sống hài hòa với nhau, trong gia đình hoặc trong bất cứ kiểu sống cộng đồng nào, không biết tha thứ và thương xót nhau. Chúng ta phải phản ứng bằng cách tha thứ và, cho tới lúc còn có thể, bằng lời xin lỗi, hơn là bằng cách lên án. Khi là về chúng ta, chúng ta chỉ cần áp dụng câu ngạn ngữ: “Ai tha cho mình, thì Thiên Chúa buộc tội người ấy; ai buộc tội mình, thì Thiên Chúa tha cho người ấy;  nhưng khi là về người khác thì câu trên trở thành: “Ai tha cho anh em mình, thì Thiên Chúa tha cho người ấy; ai buộc tội anh em mình, thì Thiên Chúa buộc tội người ấy”.

Tha thứ trong một cộng đồng cũng giống như nhớt trong một bộ máy. Nếu chúng ta bắt đầu lên đường trong một chiếc xe không có một giọt nhớt nào trong máy, thì chỉ sau vài phút tất cả đều nóng rực. Cũng như nhớt, tha thứ làm giảm những ma xát. Thương xót nhau phải là tình cảm tự nhiên nhất cho chúng ta, những thụ tạo con người. Không có lòng trắc ẩn dù chỉ chút xíu, thì phải bịt mắt bưng tai trước những tiếng kêu ai oán mà chúng ta nghe thấy từ tứ phía.

Tôi đã sử dụng hình ảnh dầu nhớt. Một trong những Thánh vịnh ca ngợi vẻ đẹp và niềm vui của những anh em được sống bên nhau, giống “như dầu quý đổ trên đầu, xuống râu xuống cổ áo chầu Aaron [208]”. Aaron của chúng ta, Vị Thượng tế của chúng ta, chính là Đức Kitô; sự thương xót và tha thứ, chính là dầu chảy từ “đầu” được đưa lên cao trên thập giá, và tràn xuống toàn thân là Giáo Hội tới những mép áo, tức là tới những người ở ngoài lề.

Chúng ta hãy tìm cách cụ thể nhận ra, trong những mối quan hệ của chúng ta với mỗi người, mối quan hệ nào có vẻ cần thiết nhất để đưa dầu của lòng thương xót và hòa giải thấm sâu vào trong đó, âm thầm đổ dầu cho dồi dào. Nơi nào chúng ta sống như thế, thì như lời Thánh vịnh kết thúc, nơi đó có “ân huệ Chúa ban, chính là sự sống chứa chan muôn đời”.

Phần trước Phần tiếp theo