16. “HÃY MẶC LẤY LÒNG DẠ THƯƠNG XÓT”
Tình cảm nhân hậu và việc làm nhân hậu
Có lòng nhân hậu không chỉ có nghĩa là tha thứ cho người thân cận. Giáo Hội dạy điều quen gọi là “thương xác bẩy mối”: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, thăm viếng kẻ liệt, thăm viếng kẻ tù, cho khách đỗ nhà, chôn xác kẻ chết.
Sáu mối đầu được Đức Giêsu nói đến trong Matthêu chương 25; mối thứ bẩy – chôn xác kẻ chết – dựa vào sách Tôbia[209]. Cùng với thương xác, sách Giáo Lý còn thêm cũng bằng ấy “mối thương linh hồn”: lấy lời lành mà khuyên người, mở dạy kẻ mê muội, yên ủi kẻ âu lo, răn bảo kẻ có tội, tha kẻ dể ta, nhịn kẻ mất lòng ta, cầu cho kẻ sống và kẻ chết.
Như thường lệ, bảng liệt kê trên đây chỉ gợi ra một số việc chứ không nói hết. Chúng ta sẽ phải cập nhật hóa và thích nghi với thời đại và với những khốn khổ mới về thể xác và tinh thần của nhân loại. Chẳng hạn với những việc thương xác, ngày nay nên thêm vào mối thương “đừng để cho người già cả phải neo đơn”, và với những việc thương linh hồn, nên thêm vào mối thương “giáo dục trẻ em”.
Tuy nhiên điều tôi muốn suy niệm trong chương này không phải về những “việc” thương xót cho bằng về “lòng dạ” thương xót. Không phải về sự thương xót bằng bàn tay, nhưng về sự thương xót bằng con tim. Nói cách khác, về những tình cảm và những tâm thái bên trong phải đi kèm với chuyện “thể hiện” lòng thương xót. Thánh Phaolô viết cho tín hữu Colossê:
“Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiến hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau[210].”
“Lòng thương cảm” đó là cách dịch giảm nhẹ của kiểu nói mạnh mẽ và thực tiễn hơn của bản văn gốc nói về “lòng dạ thương xót” (splangna oiktirmou). Như chúng ta vừa thấy, hình ảnh được sử dụng ở chỗ khác trong Kinh Thánh để mô tả lòng thương xót của Thiên Chúa; như thể thánh Tông Đồ nói: Hãy thương xót như Thiên Chúa thương xót, tức là không chỉ làm điều thiện, nhưng còn muốn điều thiện.
Liên hệ tới lòng thương xót, chúng ta có thể nói về một trực giác đặc biệt của Phaolô. Trực giác này hệ tại ở chỗ, đàng sau thế giới hữu hình và bên ngoài của bác ái, thể hiện bằng hành vi và lời nói, mạc khải một thế giới khác hoàn toàn bên trong; thế giới này đối với thế giới bên ngoài cũng như linh hồn đối với thân xác. Làm điều thiện, hoặc thực hành những việc thương xót, phải phát xuất từ chỗ muốn điều thiện. Tình cảm nhân hậu phải đi trước việc làm nhân hậu.
Thánh Tông Đồ nói: “Lòng bác ái không được giả hình giả bộ[211]”. Hạn từ nguyên thủy được Phaolô sử dụng và được dịch là “không giả hình giả bộ”, là anhypòkritos, có nghĩa là không đạo đức giả. Từ ngữ này là một loại tiên kiến; quả thực, đó là một từ hiếm hoi chúng ta bắt gặp trong Tân Ước, hầu như chỉ để xác định tình yêu Kitô giáo. Kiểu nói còn được sử dụng trong 2Cr 6,6 và 1Pr 1,22. Bản văn thư Phêrô cho phép chúng ta hiểu cách chắn chắn ý nghĩa của hạn từ đang bàn, vì cắt nghĩa hạn từ bằng một kiểu giải thích dài dòng. Theo thánh Phêrô, tình yêu chân thành ở chỗ yêu nhau “bằng một con tim tinh tuyền”.
Chính Phaolô cắt nghĩa sự khác biệt giữa hai loại bác ái, cho biết hành vi lớn nhất thương xót bên ngoài – cho người nghèo mọi của cải của mình – không giúp ích gì nếu không có bác ái bên trong[212]. Đó là đối nghịch với bác ái “chân thành”. Quả thực bác ái giả hình chính là thứ bác ái làm điều thiện mà không muốn điều thiện, bày tỏ ra bên ngoài một điều không có cái tương đương trong tâm hồn. Trong trường hợp này, người ta được thấy một vẻ bên ngoài của bác ái, có thể che giấu sự ích kỷ, tìm kiếm mình, biến người thân cận thành dụng cụ, hoặc đôi khi chỉ thuần túy vì hối hận trong lương tâm.
Tất nhiên, sẽ là một sai lầm chết người nếu đối lập sự thương xót của trái tim với sự thương xót của việc làm, hoặc nếu trú ẩn nơi sự thương xót bên trong, để tìm ở đó một cái cớ vì đã thiếu sót không thương xót bằng việc làm. Vấn đề không phải là giảm nhẹ tầm quan trọng của các việc của lòng thương xót, cho bằng bảo đảm cho những việc ấy một nền tảng chắc chắn chống lại sự ích kỷ và những mưu mẹo vô tận của nó.
Đó là lòng thương xót sáng chói trong hoạt động của Đức Kitô. Trước khi thuật lại một việc chữa lành hay một phép lạ Đức Giêsu làm, các tác giả Phúc Âm hầu như lúc nào cũng nói về sự xúc động và thương cảm của Ngài, về cách thức lòng dạ Ngài xúc động: “Người chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh ta và bảo: “Tôi muốn, anh sạch đi![213]” Trông thấy bà góa ở Naim đau buồn, Đức Giêsu “chạnh lòng thương bà[214]” (dịch sát: “cảm thấy lòng dạ mình rúng động” “esplangnisthe”). Tương tự như vậy trước khi Ngài làm cho bánh hóa ra nhiều[215] và trong nhiều hoàn cảnh khác. Trong những trường hợp ấy, Đức Giêsu chỉ giúp người ta thấy được những tình cảm của Cha trên trời đối với các thụ tạo. Phúc Âm cho biết là người cha trong một dụ ngôn, khi thấy đứa con hoang đàng trở về, đã “chạnh lòng thương[216]”.
Hạn từ hay nhất dùng để dịch ẩn dụ Kinh Thánh thông thường này, tức cảm thấy lòng dạ rúng động, là “xúc động”. Đây là từ không được hiểu theo nghĩa phiến diện, đôi khi thậm chí tiêu cực, như thể về một điều gì đó mà những người mạnh mẽ hẳn sẽ phải xấu hổ. Xúc động, một khi chân thành và phát xuất từ tâm hồn, là câu trả lời gây xúc cảm nhất và xứng đáng nhất của con người trước mạc khải về một tình yêu lớn nhất hoặc về một nỗi khổ lớn nhất, một mạc khải dầu sao cũng đem lại nhiều thiện ích nhất cho người đón nhận nó. Không một lời nào, một cử chỉ nào, một ân huệ nào có thể thay thế xúc động, vì nó là một món quà đẹp đẽ nhất. Người ta mở rộng chính con người của mình cho người khác. Đó là lý do vì sao chúng ta có thể cảm thấy e thẹn, như cảm thấy những sự việc thâm sâu nhất và thánh thiêng nhất trong đó người ta có kinh nghiệm hoàn toàn không thuộc về mình nữa, nhưng thuộc về một người khác. Chúng ta không thể hoàn toàn che giấu xúc động của mình mà không làm cho người khác mất đi một điều gì đó thuộc về họ, vì xúc động phát sinh là cho họ.
Thương xót trong phán đoán
Trong Thông điệp công bố Năm Thánh Lòng Thương Xót, Đức Phanxicô nhấn mạnh lãnh vực trong đó điều quan trọng là thực hành thương xót bằng tâm hồn: lãnh vực xét đoán. Ngài viết:
“Nếu người ta không muốn bị Thiên Chúa xét xử, thì không ai được trở thành người xét xử anh em mình. Quả thực, khi xét xử, con người dừng lại ở những gì ngoài mặt, trong khi Chúa Cha thấy tận tâm hồn[217].”
Đức Giêsu nói:
“Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị xét đoán; [..] Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của mình thì lại không để ý tới?[218]”
Những lời trên không có nghĩa là: đừng xét đoán người ta, như vậy người ta sẽ không xét đoán anh em (qua kinh nghiệm chúng ta biết không phải luôn như vậy), nhưng đúng hơn: đừng xét đoán anh em, để Thiên Chúa không xét đoán bạn. Chúa so sánh tội của người khác (tội bị xét đoán), bất cứ tội nào, với một cọng rơm, trước tội của người xét đoán (tội xét đoán) giống như cái xà. Cái xà là chính sự kiện xét đoán, vì tật xấu này nghiêm trọng trước mắt Thiên Chúa.
Thế nhưng nói về sự xét đoán cũng tế nhị và phức tạp và người ta không thể nói nửa vời mà không thấy ngay là ít thực tế. Quả thực làm thế nào có thể sống mà không bao giờ xét đoán? Sự xét đoán tiềm ẩn nơi chúng ta, chỉ trong nháy mắt. Chúng ta không thể quan sát, lắng nghe, sống mà không đánh giá, nghĩa là không xét đoán. Thực ra, điều phải khai trừ khỏi lòng khi xét đoán không phải là sự xét đoán cho bằng sự độc địa trong xét đoán, nghĩa là thù oán, lên án. Theo Luca, ngay sau lệnh truyền của Đức Giêsu: “Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị xét đoán” là lệnh truyền: “Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị lên án[219]”, như để giải thích cho ý nghĩa của những từ trên
Tự nó, xét đoán là một hành động vô thưởng vô phạt. Xét đoán có thể kết thúc bằng sự lên án, hoặc tha lỗi và biện minh. Chính những xét đoán tiêu cực mới đáng trách và lời Chúa không chấp nhận, những xét đoán lên án tội nhân cùng với tội lỗi. Một người mẹ và một người ngoài có thể xét đoán đứa con về cùng một lỗi nó phạm, một cách khách quan. Thế nhưng xét đoán của người mẹ và xét đoán của người ngoài khác nhau xa. Quả thực, người mẹ đau khổ về lỗi của con mình, như thể đó là lỗi của bà, bà cảm thấy đồng trách nhiệm, quyết giúp con sửa lỗi, không muốn có nhiều người biết lỗi của con… Vậy sự xét đoán của ta về những người anh em cũng phải giống như xét đoán của bà mẹ, vì chúng ta “tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể, mỗi người liên đới với những người khác như những bộ phận của một thân thể[220]”; những người khác đều là “bà con của chúng ta”.
Thương xót của cái nhìn
Đọc Phúc Âm, chúng ta thấy rõ điều này: tầm quan trọng của đôi mắt Đức Giêsu và cái nhìn của Ngài. Nhiều cuộc gặp gỡ Ngài bắt đầu và được quyết định do cái nhìn đầy yêu mến và thương xót của Ngài. Đó là trường hợp của người thanh niên giầu có[221], của Dakêu[222], của Phêrô sau khi chối Thầy[223]. Cái nhìn của Ngài không phải là cái nhìn vội vã; đôi khi Phúc Âm nói là “Ngài đưa mắt nhìn” hoặc “rảo mắt nhìn quanh[224]”. Chũng không phải là một cái nhìn phiến diện, nhưng nhìn con người nơi trung tâm sâu thẳm nhất của họ. Ngài “thấy tận tâm can” con người. Cái nhìn của Ngài luôn là cái nhìn thương xót và đón nhận, khi Ngài đứng trước những người mở rộng lòng hay đang tìm kiếm, nhưng Ngài trở thành “đáng sợ” trước những người thù nghịch hay giả hình[225].
Người ta nói rằng sự vật thay đổi nhiều qua các thế kỷ, nhưng bước đầu của cái nhìn không đổi thay: nụ cười, nước mắt, sợ hãi, lạ lùng, tin tưởng, nơi nào cũng đều như nhau. Đức Giêsu đã nói: “Đèn của thân thể là con mắt[226]”. Con mắt là tấm gương của linh hồn. Nhìn vào mắt là như gõ cửa. Khi có ai gõ cửa nhà chúng ta, chúng ta có thể có nhiều cách phản ứng: không trả lời, ngó qua lỗ nhỏ ở cửa, hé mở nhưng không cho vào. Sợ hãi, dửng dưng, mệt mỏi, hoặc vui mừng, phấn khởi, sẵn sàng là những tình cảm phản ánh nơi đôi mắt của người chúng ta gặp gỡ. Những đôi mắt không để ánh sáng dọi vào, cũng không để lộ ra tình cảm, thực đáng buồn biết mấy; chúng giống như những của sổ đã bị bịt kín.
Y học hiện đại đã đi tới chỗ chẩn đoán bệnh tật của một người bằng cách nhìn vào sâu trong mắt họ, Những bệnh tật của linh hồn cũng phản ánh ngay nơi đôi mắt: mắt của người không cảm thấy an tâm thì không bao giờ trực tiếp dán mắt vào cái nhìn của người khác và không chịu đựng lâu cái nhìn ấy; mắt của người kiêu căng và của người tự phụ luôn tạo ra một khoảng cách giữa họ và người khác; mắt của người khoe khoang, ngay cả khi họ nhìn người khác, thì cũng chỉ nhìn thấy chính họ; mắt của người ích kỷ nhin người khác như thấy một mối lợi tiềm tàng; mắt của người dối trá khi nhìn là tìm những nhược điểm của người khác để đánh lừa họ; mắt của người dâm dục không bao giờ thấy con người, nhưng một đồ vật có thể làm thỏa mãn ước muốn của mình.
Tất cả những điều trên là để nói lên rằng hết thảy chúng ta đều có trong tầm tay một phương tiện ưu đãi để thương xót, là cái nhìn của chúng ta. Đó có thể là một nhựa thơm thoa dịu vết thương hoặc một thứ dấm chua đổ trên đó. Điều thánh Giacôbê nói về miệng lưỡi[227], chúng ta cũng phải nói về đôi mắt, vì với đôi mắt, chúng ta có thể giết chết hoặc làm cho sống, gieo rắc nọc độc hoặc an ủi tâm hồn anh em ta.
Lòng thương xót cũng là nhân đức của người không có gì để cho
Sự thương xót của cái nhìn là thứ thương xót mà mọi người có thể và phải thi hành. Kierkegaard không chỉ là một triết gia mà còn là một tín hữu lớn, người bạn của Đức Giêsu, đã viết những trang tuyệt vời về lòng thương xót như một nhân đức, đặc biệt của người không có gì để cho, nếu không phải chính xác là cái nhìn của lòng thương xót. Ông viết như sau:
“Người ta có thể thương xót, cho dù người ta không thể cho bất cứ cái gì. Điều này rất quan trọng, bởi vì chắn chắn rằng có thể tỏ lòng thương xót là một sự hoàn thiện còn lớn hơn là có của cải và có thể cho [..] Hãy thương xót, rồi bạn sẽ có thể cho của cải bạn có mà không xấu hổ, vì không có lòng thương xót, của cải của bạn sẽ hư thối[228].”
Người ta làm thiệt hại lớn cho người nghèo khi coi họ chỉ như một đối tượng và người nhận lòng thương xót của kẻ khác, như người bất quá chỉ có thể cúi đầu và cám ơn, khi người giầu rủ lòng thương xót họ. “Thiếu thương xót biết bao!” Chúng ta hãy nghe tiếp những lời được triết gia tưởng tượng là đang nói với một người nghèo giả định lắng nghe ông:
“Người ta có thể thương xót ở mức độ cao nhất và theo một ý nghĩa cao thượng và trổi vượt ngay cả khi người ta không có gì để cho [..]. Hãy thương xót, hãy là như thế với người giầu! Hãy nhớ rằng điều đó ở trong khả năng của bạn, trong khi người giàu, chính ông ta, có dư của cải! Đừng lạm dụng khả năng này, và đừng thiếu lòng thương xót đến mức cầu cho sấm sét từ trời đánh trên người thiếu lòng thương xót! [..] Nếu người có keo kiệt và hà tiện, và ngay cả khi không keo kiệt đi nữa mà anh ta có một hành vi ghê tởm, thì nhiệm vụ của bạn vẫn là tỏ ra giàu lòng thương xót [..]. Lòng thương xót, chính là cách chúng ta cho. Tôi có thể thấy rõ lòng thương xót trong một nửa đồng bảng cũng như trong một trăm ngàn đồng tiền[229].”
Đó là điều Đức Giêsu muốn dạy các môn đệ khi ngài nói về người đàn bà nghèo bỏ hai đồng tiền kẽm vào thùng tiền ở Đền Thờ, là bà ta đã cho nhiều hơn những người giầu dâng cúng[230]. Để cho ta được hạnh phúc, lòng thương xót không phân biệt giầu nghèo, giữa người có của và người không. Nó là nhân đức của mọi người. Nhất là của người không có gì để cho, như triết gia của chúng ta vừa nhắc lại trên đây.
