17. LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA NGƯỜI NGOÀI

Dụ ngôn người Samari tốt lành

Thương xót và Lề Luật

Trong âm nhạc cũng như văn chương, có những đoạn “mở đầu” nổi tiếng. Chỉ cần bốn nốt, được sắp xếp theo một cách liên tiếp nào đó, và tất cả các thính giả nói ngay: “Bản giao hưởng số 5 của Beethoven”: Định mệnh đến gõ cửa! Kể từ đây, bốn nốt này là một dấu ấn, như một nhãn ghi giúp người ta có thể nhận ra. Nhiều dụ ngôn của Đức Giêsu cũng có đặc điểm này. Tôi muốn chú giải ở đây một trong những dụ ngôn đó. Nếu tôi bắt đầu nói: “Một người đi từ Giêrusalem xuống Giêricô”…, người Kitô hữu nào cũng nói: dụ ngôn người Samari tốt lành!

Chúng ta muốn đọc lại dụ ngôn này, để qua đó thấy điều Đức Giêsu muốn dạy chúng ta về lòng thương xót, nghĩa là Lề Luật đôi khi phải nhường bước cho lòng thương xót, và lòng thương xót, trước khi là một nhân đức Kitô giáo, đã là một đòi hỏi và một nhân đức nhân bản, có thể thi hành được và được thi hành, ngay cả bên ngoài Kitô giáo. Chúng ta thấy những hoàn cảnh thúc đẩy Ngài kể câu chuyện dụ ngôn này:

“Và này có người thông luật kia đứng lên hỏi Đức Giêsu để thử Người rằng: ‘Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đới làm gia nghiệp?’ Người đáp: ‘Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?’ Ông ấy thưa: ‘Người phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn người, và yêu mến người thân cận như chính mình’. Đức Giêsu bảo ông ta: ‘Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống.’ Nhưng ống ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giêsu rắng: ‘Nhưng ai là người thân cận tôi?’[231]

Ở đây chúng ta chứng kiến không biết lần thứ mấy người ta cố gài bẫy Đức Giêsu. Người thông luật tỏ cho thấy ông ta biết rõ phải làm gì để được sống đời đời. Vậy ông đặt câu hỏi là để đưa Đức Giêsu đến chỗ phải mang họa. Nếu Đức Giêsu trả lời theo luật mà mọi người đều biết, thì rõ ràng Ngài không đem lại điều gì mới mẻ cho Luật Môsê, và không xứng đáng với danh tiếng của Ngài; còn nếu Ngài trả lời khác đi, người ta có thể tố cáo Ngài là lạc đạo.

Đáp lại câu hỏi của nhà thông luật, Đức Giêsu trả lời bằng một dụ ngôn, hoặc đúng hơn, bằng một mẫu gương:

“Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, tồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cớ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Tồi cũng thế, một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng một người Samari kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: ‘Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thên bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác.’ Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?’ Người thông luật trả lời: ‘Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy.’ Đức Giêsu bảo ông ta: ‘Ông hãy đi và cũng hãy làm như vậy.’[232]

Lưu ý ở đây việc làm thương xót của người Samari cũng phát xuất từ “lòng dạ” thương xót như thế nào. “Ông chạnh lòng thương”, dịch kiểu nói quen thuộc chỉ sự run rẩy của lòng dạ. Điều thường được nhấn mạnh nhất nơi dụ ngôn này là khái niệm truyền thống về người thân cận hoàn toàn đảo lộn. Người thân cận là người Samari, chứ không phải người bị nạn, như chúng ta có thể nghĩ. Điều này có nghĩa là không cần gì phải chờ đợi cách thụ động người thân cận xuất hiện trên đường chúng ta đi. Bổn phận của ta là sẵn sàng nhận thấy người ấy có mặt, sẵn sáng khám phá ra họ. Người thân cận, chính là mỗi người chúng ta được mời gọi để trở nên người ấy! Người ta hẳn sẽ nói rằng vấn đề của nhà thông luật bị đảo lộn: ông ta nêu ra một câu hỏi trừu tượng và khoa bảng, nhưng lại được trả lời bằng một vấn đề cụ thể và thực tế. Câu hỏi đặt ra không phải là: “Ai là người thân cận của tôi?” nhưng là: “Tôi có thể làm người thân cận của ai?”

Một cách mặc nhiên, Đức Giêsu cũng trả lời cho câu hỏi: làm người thân cận như thế nào, bằng hành động chứ không chỉ bằng lời nói. Gioan sẽ nói: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm[233].” Nếu người Samari chỉ đến gần và nói với người bất hạnh đang nằm trên vũng máu: “Anh bạn đáng thương của tôi! Tội nghiệp cho anh quá! Đã xẩy ra điều gì vậy? Can đảm lên!” hoặc những kiểu nói nào khác, rồi bỏ đi, những việc đó phải chăng có tính chất mỉa mai và lăng nhục?

Đó là giáo huấn của dụ ngôn, nhưng không phải chỉ có thế. Điều dụ ngôn nói về tương quan giữa Lề Luật và lòng thương xót không phải là chuyện nhỏ. Điều kịch tính là vị tư tế và thầy Lêvi, chiếu theo Luật, đã phải hành động như họ đã hành động. Người trên đường có vẻ như đã chết và Luật Môsê cấm tư tế đụng vào xác chết, nếu không sẽ không còn trong sạch và không thể thi hành thừa tác vụ của mình[234]. Điều họ đã không hiểu chính là, nếu luật chính đáng và cần thiết, vì bất cứ xã hội nào cũng cần phải có quy luật, thì có những trường hợp người ta phải vượt qua Lề Luật[235]. Không bao giờ như trong trường hợp này, “summum ius, summa iniuria”, áp dụng luật quá đáng dẫn tới bất công; Công lý thật sự trong trường hợp này không phải là giữ Luật, nhưng là vi phạm Luật. Đó là điều Đức Giêsu muốn làm cho những kẻ đối đầu với Ngài được hiểu rõ, khi Ngài chữa bệnh ngày sabbat: luật hưu lễ thì thiêng thánh, nhưng là “cho con người[236]”, nên người ta phải vi phạm nếu liên quan đến sự sống của con người.

Một người Samari

Không phải lần đầu tiên Đức Giêsu đưa ra làm gương thái độ của một người Samari, tức của một người bị người Do Thái coi là lạc đạo và người ngoài. Nhưng trong trường hợp này, nét đặc thù có một ý nghĩa quan trọng đối với chúng ta. Từ đó chúng ta suy ra rằng lòng thương xót không phải là đặc quyền riêng của người Kitô hữu, và đôi khi cách hành động của người ngoài là một tấm gương cho ta; nó giúp ta đặt những nhu cầu của người ta trước những quy tắc giáo sĩ của chúng ta.

Do cách lựa chọn người Samari làm anh hùng của câu chuyện, Đức Giêsu muốn nói rằng không cần phải chia sẻ cùng một đức tin và xác tín tôn giáo để thực hành lòng thương xót. Lòng thương xót có một nền tảng và một sự biện minh trước cả đức tin, được đức tin dạy bảo và không phải là không biết; vậy nó là tình cảm của tình liên đới nhân loại. Điều này cho phép chúng ta vui mừng nhận ra và thán phục lòng thương xót được thực hành bên ngoài Giáo Hội, dưới những danh xưng khác, do những định chế thế tục như Hội Chữ Thập Đỏ, Hội Cấp Cứu[237], Thầy Thuốc Không Biên Giới, và những tổ chức tương tự. Trong Mt 25, dường như Đức Giêsu không coi là khác biệt giữa những người bố thí nhân danh Ngài và những người chỉ thuần túy cho kẻ đói ăn và săn sóc bệnh nhân. Ngài nói về tất cả  như sau: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta[238].”

Ngày nay, dụ ngôn người Samari tốt lành có một lãnh vực áp dụng hoàn toàn mới mẻ và gần gũi với lịch sử theo đúng nghĩa. Đó là về những tên cướp thời nay, bỏ mặc người ta dở sống dở chết trên đường, được biết đến như là những “tên cướp trên xa lộ”, những tài xế có cách hành xử vô trách nhiệm, hoặc hung hãn làm đường lộ tắc nghẽn hàng ngày bằng những tai nạn lắm khi chết người. Trong những tình huống ấy, linh mục và thầy Lêvi là những người bỏ đi mà không giúp đỡ vì ngại phiền phức, ngại làm bẩn tay hoặc không muốn mất thời giờ. Ngoài những người dừng lại để giúp dỡ nạn nhân của các vụ tai nạn, người Samari tốt lành là tất cả những ai đang làm cho những con đường của chúng ta được an toàn hơn, những ai đang kiểm soát giao thông và bảo đảm cứu hộ đường bộ, và tất cả các nhân viên hiến binh. Chúng ta nợ họ một lời cám ơn, cho dù đôi khi chúng ta cũng tốn phí về chuyện đó vì một khoản tiền phạt xứng đáng.

Một hành tinh rơi vào bẫy của bọn cướp

Thông điệp Laudato Si của Đức Phanxicô về môi trường gợi ra cho tôi một áp dụng cuối cùng của dụ ngôn Người Samari Tốt Lành. Chắc chắn điều này không nằm trong ý định của Đức Giêsu khi Ngài đưa ra dụ ngôn, nhưng nằm trong chính bản chất của những lời Ngài nói là “mở rộng”, có thể đón nhận một ý nghĩa mới và có những áp dụng mới theo những thay đổi thời kỳ và hoàn cảnh. Đức Giáo Hoàng viết như sau:

“Bạo lực nằm trong trái tim bị tội lỗi gây thương tích của con người, mà chúng ta có thể ghi nhận trong đất đai, trong không khí và nơi các sinh vật. Vì thế, giữa những người nghèo bị bỏ rơi và bị đối xử tàn tệ nhất, chúng ta sẽ thấy trái đất của chúng ta bị bóc lột và bị tàn phá, đang “rên siết và quằn quại trong cơn sinh nở” (Rm 8,22)[239].”

Ngày trước, Phanxicô Assisi, mà Thông điệp dựa vào, đã gán cho mọi thụ tạo một bộ mặt con người, biến thụ tạo thành anh em hay chị em: anh mặt trời, chị mặt trăng, mẹ trái đất… Quả thật trái đất ngày nay giống như con người đáng thương bị kẻ cướp tấn công và bỏ lại trên đường nửa sống nửa chết. Trái đất bị tàn phá, bầm dập, bị lấy hết tài nguyên quý giá nhất: nước, cây cối, các loại sinh vật và thực vật có nguy cơ tuyệt chủng. Nhiều người đi qua và chạy thẳng, hoặc giả vờ như không thấy gì, hoặc đơn giản là để những người đến sau họ giải quyết vần đề.

Nếu là như vậy thì Đức Giáo Hoàng, bằng lời tố cáo can đảm của mình, thực sự là một Người Samari Tốt Lành” đối với “chị, mẹ trái đất” của chúng ta. Với vai trò mà trong Thông điệp ngài gán cho sự đóng góp của khoa học và của các đinh chế khác nhau đã quan tâm tới vấn đề (thậm chí các định chế thế tục và không thuộc tôn giáo), ngài công nhận, theo sau Đức Giêsu, sự đóng góp của “những người bên ngoài” cho những vấn đề chung của nhân loại. Họ có lòng thương xót mà không biết. Và cả đối với ta nữa, đó là cách tốt nhất tỏ lòng thương xót.

Phần trước Phần tiếp theo