18. CHÚA CHA SẼ BAN CHO ANH EM MỘT ĐẤNG BẢO TRỢ KHÁC
Chúa Thánh Thần và lòng thương xót của Thiên Chúa
Một năm lòng thương xót của Chúa
Trở lại quê nhà Nagiarét sau khi chịu lễ rửa ở sông Giođan, Đức Giêsu long trọng áp dụng cho mình những lời tiên tri Isaia[240]:
“Thần Khí của Đức Chúa ngự trên tôi, vì Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã si tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, [trong Isaia: băng bó những tấm lòng tan nát], cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa[241].”
Với việc xức dầu cùa Chúa Thánh Thần, Đức Giêsu rao giảng tin mừng, chữa lành bệnh nhân, an ủi kẻ sầu khổ, làm mọi việc của lòng thương xót. Thánh Basiliô viết: “Chúa Thánh Thần là bạn đồng hành chí thiết của Đức Giêsu trong tất cả các công trình của Ngài[242].” Trong Ba Ngôi, Chúa Thánh Thần là hiện thân tình yêu. Người cũng là hiện thân lòng thương xót của Thiên Chúa. Thậm chí Người là “nội dung” của lòng thương xót ấy. Không có Thánh Thần, lòng thương xót là một hạn từ trống rỗng.
Danh xưng Đấng Bảo Trợ rõ ràng chỉ ra điều đó. Khi loan báo Người sẽ đến, Đức Giêsu nói: “Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi[243].” “Một Đấng Bảo Trợ khác” hiểu ngầm sau khi đã ban chính Thầy. Vậy Chúa Thánh Thần là Đấng mà, qua Người, Đức Giêsu tiếp tục hành động của mình sau khi sống lại, là “đi tới đâu thì thi ân giáng phúc tới đó và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế[244].” Những lời Ngài nói “Người [Đấng Bảo Trợ] sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì là của Thầy mà loan báo cho anh em[245]” cũng áp dụng cho lòng thương xót. Chúa Thánh Thần sẽ mở ra cho các tín hữu mọi thời những kho tàng thương xót của Đức Giêsu. Người sẽ lo sao cho không những người ta nhớ lại lòng thương xót của Đức Giêsu, mà còn có kinh nghiệm về nó.
Đấng Bảo Trợ hoạt động tiên vàn trong bí tích thương xót là bí tích Cáo Giải. Theo một lời cầu nguyện của Giáo Hội, “Người chính là sự tha thứ mọi tội lỗi[246].” Chính vì thế, trước khi ban phép xá giải cho hối nhân, cha giải tội đọc những lời sau đây:
“Thiên Chúa là Cha hay thương xót. Chúa đã nhờ sự chết và sự sống lại của Con Chúa mà giao hòa thế gian với Chúa và ban Thánh Thần để tha tội. Xin Chúa dùng tác vụ của Hội Thánh mà ban cho con ơn tha thứ và bình an.”
Một số Giáo Phụ coi dầu người Samari Tốt Lành đổ trên vết thương của nạn nhân là biểu tượng của Chúa Thánh Thần[247]. Một bài dân ca tôn giáo của người nô lệ da đen ở châu Mỹ (negro spiritual)[248] diễn tả ý tưởng này bằng hình ảnh gợi ý về một thứ nhựa thơm ở Galaad: “Ở Galaad có một thứ nhựa thơm chữa lành các tâm hồn bị thương tích”. Galaad, một địa danh được nói đến trong Cựu Ước, nổi tiếng về các loại dầu thơm[249]. Nghe bài hát này, người ta nghĩ đến một người bán hàng rong trên các đường phố, vừa đi vừa rao tên và giá trị món hàng của mình. Tất cả Giáo Hội sẽ phải là “người bán hàng rong” này. Dầu thơm mà Giáo Hội cống hiến ngày hôm nay không còn phải là dầu ở Galaad nữa, nhưng là chính Chúa Thánh Thần.
Chữ viết và Thần Khí, luật và lòng thương xót
Chúa Thánh Thần là chìa khóa mở vấn đề rất tế nhị của tương quan giữa luật và lòng thương xót. Chú giải những lời của Phaolô nói về chữ viết thì giết chết và Thần Khí làm cho sống[250], thánh Tôma viết như sau:
“Ở đây, chữ viết chỉ tất cả luật thành văn ở bên ngoài con người, kể cả những lệnh truyền luân lý trong Phúc âm. Kết quả là ngay cả chữ viết của Phúc Âm cũng sẽ “giết chết”, nếu bên trong con người không có ân sủng chữa lành của đức tin[251].”
Trước đó, cũng thánh tiến sĩ cho biết “ân sủng của đức tin” có nghĩa gì; ngài viết: “Đó chính xác là ân sủng của Chúa Thánh Thần, được ban cho những ai tin vào Đức Kitô, cấu tạo trước tiên thành luật mới[252]. Đó là một khẳng định gay go mà không ai trong chúng ta dám định thức, nếu không phát xuất từ hai vị đại tiến sĩ của Giáo Hội La tinh, Augustinô và Tôma Aquinô. Vả lại, chính lời của Đức Kitô và kinh nghiệm của các Tồng Đồ xác nhận điều đó. Nếu chỉ cần công bố các Mối Phúc và những giáo huấn luân lý chứa đựng trong Phúc Âm là đủ để được sống đời đời, tại sao Đức Giêsu đã phải chết và sống lại để ban chúng ta có được Chúa Thánh Thần? Chính vì vậy mà Ngài sẽ nói cho các Tông Đồ là Ngài đi để gửi Đấng Bảo Trợ đến thì tốt hơn[253]. Chúng ta hãy nhìn kinh nghiệm của các Tông Đồ, đã từng nghe tất cả các lệnh truyền của chính tác giả Phúc Âm, tuy vậy chỉ có thể đem chúng ra thực hành khi Chúa Thánh Thần xuống trên họ vào ngày lễ Ngũ Tuần.
Kết luận chúng ta rút ra ở đây là rất rõ: nếu chính các lệnh truyền Phúc Âm mà không có Chúa Thánh Thần đã là “chữ giết chết”, phải nói sao về những luật Giáo Hội, quy luật của đan viện, những khoản Giáo luật, kể cả những khoản quy định về hôn nhân? Thần Khí không bãi bỏ cũng không bước qua Lề Luật[254]; ngược lại, Thần Khí giáo huấn khi Lề Luật phải đứng sang một bên nhường chỗ cho lòng thương xót. Dĩ nhiên không phải mọi “chữ viết” đều giết chết, nhưng chỉ chữ nào cho rằng chỉ mình nó và một lần dứt khoát quy định sự sống, thậm chí thay thế cho sự sống.
Chúa Thánh Thần mạc khải lòng thương xót của Chúa Cha
Một trong những hoạt động chủ yếu của Chúa Thánh Thần đối với lòng thương xót là thay đổi trong tâm hồn con người hình ảnh của Thiên Chúa mà họ có, tiếp theo sau tội lỗi. Một trong những lý do, thậm chí có lẽ là lý do chính nhất, về sự tha hóa của con người hiện đại bởi tôn giáo và đức tin, như đã nói ở trên, là hình ảnh rất xấu xí mà họ có về Thiên Chúa. Nó cũng là lý do của một thứ Kitô giáo yếu ớt, thiếu đà tiến và niềm vui, được sống như một bổn phận hơn là như một quà tặng, do cưỡng ép hơn là do lôi cuốn.
Quả thực, đâu là hình ảnh “được xác định trước” về Thiên Chúa trong vô thức tập thể của con người, một vô thức hoạt động cách tự động (trong ngôn ngữ máy tính gọi là “mặc định”)? Để khám phá ra nó, chỉ cần đặt ra câu hỏi này: “Đâu là những ý tưởng, lời nói, tình cảm tự phát nơi bạn, lúc đọc đến câu này trong Kinh Lạy Cha: ‘Ý Cha thể hiện’”? Nói chung, khi đọc câu đó, người ta thầm cúi đầu như cam chịu, chuẩn bị cho điều tệ nhất.
Một cách vô thức, ý muốn của Thiên Chúa gắn liền với tất cả những gì khó chịu, đau đớn, với tất cả những gì, cách này hay cách khác, có thể được coi là hạn chế tự do hoặc phát triển cá nhân. Gần như thể Thiên Chúa là kẻ thù của mọi lễ lạc, hoan hỉ, vui thú. Người ta không nghĩ rằng ý muốn của Thiên Chúa trong Tân Ước được gọi là eudokia[255], nghĩa là thiện tâm, yêu thương. Như vậy, nói “ý Cha thể hiện” cũng là nói: “xin cho ý định yêu thương của Cha được hoàn tất nơi con”. Đức Maria, cũng như Đức Giêsu, nói lời “Fiat” (xin vâng) là như thế.
Nói chung, Thiên Chúa được coi như Hữu Thể tối cao, Đấng Toàn Năng, Chúa của thời gian và Lịch sử, nghĩa là như một thực thể cần thiết cho mỗi người từ bên ngoài; không chi tiết nào của đời sống con người thoát khỏi tay Ngài. Sự vi phạm Lề Luật, tức sự bất tuân ý muốn của Thiên Chúa, nhất thiết dẫn tới mất trật tự trong sự sắp đặt từ muôn đời mà Thiên Chúa muốn. Do đó, sự công bình vô biên của Ngài đòi phải được sửa chữa, phải đem lại cho Thiên Chúa một sự gì đó để tái lập trật tự rối loạn trong tạo thành. Sự sửa chữa này đòi phải mất mát, hy sinh. Tuy vậy vì không bao giờ có thể bảo đảm là sự “đền bồi” được cân xứng, nên mới có tâm trạng lo âu trước cái chết và sự xét xử. Thiên Chúa là một ông chủ đòi phải được đền trả đến cùng!
Chắc chắn người ta đã không bao giờ không biết đến lòng thương xót của Thiên Chúa! Nhưng người ta đã chỉ giao phó cho Ngài nhiệm vụ làm dịu bớt những khắc nghiệt không thể tránh khỏi của công lý. Đó là một người điều chỉnh, một ngoại lệ, không phải là quy tắc. Trên thực tế, người ta thường cho tình yêu và sự tha thứ của Thiên Chúa tùy thuộc vào tình yêu và sự tha thứ của một người đối với những người khác; nếu bạn tha thứ cho người xúc phạm tới bạn, thì Thiên Chúa sẽ có thể tha thứ cho bạn. Như vậy phát sinh mối tương quan trao đổi với Thiên Chúa. Người ta đã không bảo phải tích lũy công đức để được vào Thiên đàng đó sao? Người ta đã không coi là rất quan trọng những nỗ lực phải chu toàn, những Thánh lễ phải cử hành, những ngọn nến phải thắp lên, những tuần cửu nhật phải làm đó sao?
Tất nhiên tất cả những việc trên đây đã từng giúp cho nhiều người trong quá khứ bày tỏ cho Thiên Chúa tình yêu của họ, không thể vứt vào sọt rác, nhưng phải được tôn trọng. Thiên Chúa cho hoa nở trong mọi khí hậu, cho các vị thánh của Ngài xuất hiện trong mọi mùa. Tuy vậy không thể phủ nhận rằng có nguy cơ rơi vào trong một thứ tôn giáo duy lợi, tôn giáo của “do ut des[256]”. Ở nền tảng của tất cả những cái đó, người ta giả thiết trước là mối tương quan với Thiên Chúa tùy thuộc vào con người. Một cách vô thức, con người tự phụ là đã “trả được giá thục hồi cho Thiên Chúa[257]”, không muốn mình là con nợ, nhưng là chủ nợ của Thiên Chúa.
Từ đâu mà có hình ảnh méo mó này về Thiên Chúa? Chúng ta để qua một bên những lý do tùy tiện và cá nhân do mối liên hệ không tốt với người cha dưới đất đôi khi gây ra những hậu quả trong mối tương quan với Chúa Cha trên trời. Lý do cơ bản cắt nghĩa hình ảnh đáng sợ “được xác định trước” này về Thiên Chúa rõ ràng là do Lề Luật. Bao lâu sống dưới chế độ tội lỗi, chế độ Lề Luật, con người thấy Thiên Chúa như một ông chủ khó tính, không thỏa mãn với các ước muốn trần tục của mình bằng những quả quyết: “Ngươi phải…, ngươi không được…” là những lệnh truyền: người không được thèm muốn tài sản của người thân cận, vợ của người thân cận… Trong tình trạng này, con người xác thịt chất chứa trong đáy lòng nỗi oán hận ngấm ngầm đối với Thiên Chúa, họ thấy Ngài như một kẻ thù nghịch với hạnh phúc của họ, và nếu điều đó tùy thuộc vào họ thì thật may mắn nếu Ngài không hiện hữu[258].
Việc đầu tiên được Chúa Thánh Thần làm khi Người đến với ta là mạc khải cho ta khuôn mặt khác của Thiên Chúa; giúp ta khám phá ra Người như một đồng minh, một người bạn, một người, vì chúng ta, “đã không tiếc chính Con Một[259]”; tóm lại, như một người Cha nhân từ đã ban cho chúng ta Lề Luật để bảo vệ, không phải để bóp nghẹt, tự do của chúng ta. Khi ấy tình con thảo dâng lên trong lòng tự nhiên biến thành một tiếng kêu: Abba, Cha ơi! Như thể nói: “Con không biết cha, con biết cha chỉ nghe đồn; nhưng giờ đây con biết cha, biết cha là ai, biết rằng cha yêu con thật tình và ủng hộ con.” Người con thế chỗ cho tên nô lệ, tình yêu thế chỗ cho sợ hãi. Chính như thế mà trên bình diện chủ quan và hiện sinh, chúng ta có thể “sinh bởi Thần Khí[260]”.
Trong những thời cuối cùng, thêm vào Lề Luật còn có một động lực khác khiến người ta oán giận Thiên Chúa: sự đau khổ của con người, nhất là sự đau khổ của những người vô tội. Một người không có đức tin viết: “Sự đau khổ của những người vô tội là đá tảng của vô thần”. Tính lưỡng nan là như sau: “Hoặc Thiên Chúa có thể chiến thắng sự dữ, nhưng Ngài không muốn, vậy Ngài không phải là cha; hoặc Ngài muốn thắng nhưng không thể, vậy Ngài không toàn năng.” Vấn nạn này có từ xưa, nhưng làm người ta nhức óc sau những biến cố bi thảm của Thế chiến thứ hai. Một tác giả đã viết: “Người ta không thể tin vào một Thiên Chúa là Cha sau Auschwitz”.
Trong chương nhất, tôi đã tìm cách minh giải cho câu trả lời mà Chúa Thánh Thần đã nói cho Giáo Hội về vấn đề này, tức là Thiên Chúa chịu khổ với con người. Thiên Chúa không đứng ở xa mà nhìn, với thái độ dửng dưng, con người chịu khổ trên mặt đất. Trước câu hỏi tôi vừa nhắc lại, câu trả lời phải là: Thiên Chúa có thể chiến thắng sự dữ, nhưng Ngài không muốn làm như thế (ít nhất theo cách thông thường và nói chung) để không làm mất đi sự tự do của con người. Thiên Chúa muốn chiến thắng sự dữ – và Ngài sẽ làm – nhưng bằng một kiểu chiến thắng mới, chiến thắng của tình yêu bằng cách chấp nhận sự dữ cho mình và biến nó thành sự thiện, mãi mãi.
Năm Lòng Thương Xót sẽ có thể có được hiệu quả tuyệt vời biết bao, nếu nó giúp tái lập sự thật về khuôn mặt của Thiên Chúa là Cha mà Đức Giêsu đã đến trần gian mạc khải cho chúng ta.
Trở thành những người bảo trợ
Tước hiệu Đấng Bảo Trợ không chỉ nói cho ta về lòng thương xót của Thiên Chúa đối với ta, mà con mở ra cả một cánh đồng hoạt động cho lòng thương xót của con người đối với nhau. Nói khác đi, chính chúng ta cũng phải trở thành những người an ủi! Nếu đúng người Kitô hữu phải là một alter Christus, thì cũng đúng họ phải là một “Đấng Bảo Trợ khác”.
Nhờ Chúa Thánh Thần, tình yêu của Thiên Chúa được đổ vào lòng ta[261]; nghĩa là hoặc tình yêu nhờ đó Người yêu ta, hoặc tình yêu làm ta có khả năng mến Thiên Chúa và yêu người thân cận. Áp dụng cho lòng thương xót – là hình thức của tình yêu trước sự đau khổ và tội lỗi của người được yêu – lời này của Thánh Tông Đồ còn cho chúng ta biết một điều rất quan trọng: không những Đấng Bảo Trợ an ủi chúng ta, Người còn thúc đẩy chúng ta an ủi, làm chúng ta có khả năng an ủi và tỏ lòng thương xót. Quả thực thánh Phaolô viết:
“Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người là Cha giầu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an. Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi con gian nan thử thách, để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó[262].”
Thuật ngữ Hy lạp của từ Đấng Bảo Trợ (parakaleo) bắt gặp bốn lần, dưới hình thức động từ hay danh từ, trong bản văn chứa đựng nét chủ yếu cho một thần học về sự an ủi. Sự an ủi từ Thiên Chúa mà đến, Đấng là “Cha mọi niềm an ủi”. Sự an ủi đến với người đang đau khổ, nhưng không dừng lại ở người đó; nó đạt tới mục đích cuối cùng khi người đã có kinh nghiệm về sự an ủi đến lượt mình biết dùng nó để an ủi người khác.
Nhưng an ủi thế nào? Chính đó là điều quan trọng. An ủi với niềm an ủi nhận được từ Thiên Chúa, một sự an ủi của Thiên Chúa chứ không phải của con người. Không phải chỉ biết lặp lại những lời vô bổ hợp với tình huống (“Cứ can đảm lên, đừng gục ngã, rồi bạn sẽ thấy, mọi sự rồi sẽ ổn thôi!”), nhưng nói những lời “thực sự an ủi” như đã chép trong Kinh Thánh, “nhờ đó chúng ta vững lòng trông cậy[263]”. Chính như thế mà người ta hiểu được những phép lạ mà chỉ một lời hay một cử chỉ, trong bầu khí cầu nguyện, có thể thực hiện nơi đầu giường một bệnh nhân. Chính Thiên Chúa an ủi qua trung gian là chúng ta.
Một cách nào đó có thể nói rằng Chúa Thánh Thần cần đến chúng ta để là Đấng Bảo Trợ. Người muốn an ủi, bảo vệ, khuyên nhủ, nhưng Người không có miệng, không có tay để sự an ủi được thực hiện cách hữu hình. Hoặc, đúng hơn, Người dùng tay của ta, mắt của ta, miệng của ta. Cũng như linh hồn hành động, di chuyển, cười nói qua các chi thể của thân thể ta, cũng vậy Chúa Thánh Thần làm với các phần tử của Thân Thể Người là Giáo Hội và chúng ta. “Vì thế, anh em hãy an ủi nhau”, như lời thánh Phaolô khuyên các Kitô hữu tiên khởi[264]. Câu này dịch theo mặt chữ, thì động từ an ủi sẽ là “làm cho anh em thành những người an ủi” nhau. Nếu chúng ta không làm cho sự an ủi và thương xót mà chúng ta nhận được từ Chúa Thánh Thần lan tỏa quanh ta, nếu chúng ta chỉ ích kỷ giữ lại cho riêng mình, thì chúng sẽ mau chóng bị mốc.
Chúng ta hãy xin với Đức Maria để lòng đạo đức Kitô giáo làm vinh dự cho hai tước hiệu cùng nhau tạo nên ý nghĩa của Đấng Bảo Trợ nơi Mẹ: Đấng an ủi kẻ ưu phiền” và “trạng sư” bênh vực kẻ có tội. Mẹ thực sự trở thành “Đấng an ủi” cho ta. Một bản văn Công Đồng Vaticanô II viết: “Mẹ Chúa Giêsu […] chiếu sáng như dấu chỉ lòng cậy trông vững vàng và niềm an ủi cho dân Chúa đang lữ hành[265].”
