“Đức Giêsu thấy có một năng lực từ nơi mình phát ra,
Ngài liền quay lại giữa đám đông và hỏi: “Ai đã sờ vào áo tôi?” (Mc 5, 31)
Bài Đọc I: G Kn 1, 13-15; 2, 23-25
“Bởi ác quỷ ghen tương, nên tử thần đột nhập vào thế gian”.
Bài trích sách Khôn Ngoan.
Thiên Chúa không tạo dựng sự chết, chẳng vui mừng khi người sống phải chết. Người tác thành mọi sự cho có. Người tạo dựng mọi sự trên mặt đất đều lành mạnh, chúng không có nọc độc sự chết, và không có địa ngục ở trần gian.
Vì chưng, công chính thì vĩnh cửu và bất tử. Thiên Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Chúa, để sống vĩnh viễn. Nhưng bởi ác quỷ ghen tương, nên tử thần đột nhập vào thế gian: kẻ nào thuộc về nó thì bắt chước nó.
Bài Đọc II: 2 Cr 8, 7. 9. 13-15
“Sự dư thừa của anh em bù đắp lại sự thiếu thốn của những anh em nghèo khó”.
Bài trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, cũng như anh em vượt trổi về mọi mặt: về lòng tin, về hùng biện, về sự hiểu biết, về mọi hình thức nhiệt thành, cũng như về lòng bác ái của anh em, thì anh em cũng phải vượt trổi trong việc phúc đức này.
Vì anh em biết lòng quảng đại của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta: mặc dù giàu sang, Người đã nên thân phận nghèo khó, để nhờ việc nghèo khó của Người, anh em nên giàu có. Nhưng không lẽ để cho kẻ khác được thư thái, mà anh em phải túng thiếu, nhưng phải làm sao cho đồng đều. Trong hoàn cảnh hiện tại, sự dư giả của anh em bù đắp lại chỗ thiếu thốn của họ, để sự dư giả của họ bù đắp lại sự thiếu thốn của anh em, hầu có sự đồng đều như lời đã chép rằng: “Kẻ được nhiều, thì cũng không dư; mà kẻ có ít, cũng không thiếu”.
Tin mừng: Mc 5, 21-43
21 Khi ấy, Chúa Giêsu đã xuống thuyền trở về bờ bên kia, có đám đông dân chúng tụ họp quanh Người, và lúc đó Người đang ở bờ biển.
22 Bỗng có một ông trưởng hội đường tên là Giairô đến. 23 Trông thấy Người, ông sụp lạy và van xin rằng: “Con gái tôi đang hấp hối, xin Ngài đến đặt tay trên nó để nó được khỏi và được sống”.
24 Chúa Giêsu ra đi với ông ấy, và đám đông dân chúng cũng đi theo chen lấn Người tứ phía.
25 Vậy có một người đàn bà bị bệnh xuất huyết đã mười hai năm. Bà đã chịu cực khổ, tìm thầy chạy thuốc, tiêu hết tiền của mà không thuyên giảm, trái lại bệnh càng tệ hơn.
26 Khi bà nghe nói về Chúa Giêsu, bà đi lẫn trong đám đông đến phía sau Người, chạm đến áo Người, vì bà tự nhủ: “Miễn sao tôi chạm tới áo Người thì tôi sẽ được lành”.
27 Lập tức, huyết cầm lại và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh.
28 Ngay lúc ấy, Chúa Giêsu nhận biết có sức mạnh đã xuất phát tự mình, Người liền quay lại đám đông mà hỏi: “Ai đã chạm đến áo Ta?” Các môn đệ thưa Người rằng: “Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy tứ phía, vậy mà Thầy còn hỏi ‘Ai chạm đến Ta?’!” Nhưng Người cứ nhìn quanh để tìm xem kẻ đã làm điều đó.
29 Bấy giờ người đàn bà run sợ, vì biết rõ sự thể đã xảy ra nơi mình, liền đến sụp lạy Người và thú nhận với Người tất cả sự thật.
30 Người bảo bà: “Hỡi con, đức tin của con đã chữa con, hãy về bình an và được khỏi bệnh”.
31 Người còn đang nói, thì người nhà đến nói với ông trưởng hội đường rằng: “Con gái ông chết rồi, còn phiền Thầy làm chi nữa?” Nhưng Chúa Giêsu đã thoáng nghe lời họ vừa nói, nên Người bảo ông trưởng hội đường rằng: “Ông đừng sợ, hãy cứ tin”.
32 Và Người không cho ai đi theo, trừ Phêrô, Giacôbê và Gioan, em Giacôbê. 33Các Ngài đến nhà ông trưởng hội đường và Chúa Giêsu thấy người ta khóc lóc kêu la ồn ào, Người bước vào và bảo họ: “Sao ồn ào và khóc lóc thế? Con bé không chết đâu, nó đang ngủ đó”. 34 Họ liền chế diễu Người.
35 Nhưng Người đuổi họ ra ngoài hết, chỉ đem theo cha mẹ đứa bé và những môn đệ đã theo Người vào chỗ đứa bé nằm.
36 Và Người cầm tay đứa nhỏ nói rằng: “Talitha, Koumi”, nghĩa là: “Hỡi em bé, Ta truyền cho em hãy chỗi dậy!”
37 Tức thì em bé đứng dậy và đi được ngay, vì em đã được mười hai tuổi.
38 Họ sửng sốt kinh ngạc. 39 Nhưng Người cấm ngặt họ đừng cho ai biết việc ấy và bảo họ cho em bé ăn.
SUY NIỆM
A/ 5 phút với Lời Chúa
Với lối kể chuyện ngắn gọn và chính xác, Tin Mừng Mác-cô hôm nay thuật lại cho chúng ta về những mẫu gương của lòng tin: ông trưởng hội đường nhờ lòng tin vào Chúa mà con ông được hồi sinh; người phụ nữ bệnh băng huyết đã 12 năm, không cần lý luận nhiều lời, bà chỉ sờ vào áo của Ngài với tấm lòng tin tưởng, và chính nhờ lòng tin đó bà đã được cứu chữa.
Mời Bạn: Phải chăng ngày hôm nay, cậy vào những phương tiện kỹ thuật hiện đại, trình độ trí thức cao rộng cộng với tài lý luận sâu sắc, đức tin của con người hôm nay đã phai nhạt hay đã bị đánh mất? Chúa Giê-su Ki-tô mời gọi chúng ta tin vào Thiên Chúa và tin vào Ngài là Đấng Chúa Cha sai đến không phải để phế bỏ những phương tiện và khả năng Chúa ban mà là để chúng ta nhìn thấy sự hiện diện thiêng liêng và bàn tay uy quyền của Ngài ở với chúng ta giúp chúng ta vượt qua mọi thách đố của cuộc sống và xây dựng thế giới này tốt đẹp như thánh ý Chúa mong muốn.
Bạn chia sẻ một kinh nghiệm của bạn về một lần được cứu thoát, được chữa lành, hoặc tìm lại được đức tin đã mất.
Sống Lời Chúa: Trước khi làm việc, bạn dừng lại giây lát hướng lòng về Chúa với một cử chỉ diễn tả lòng tin.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, con tin, nhưng xin ban thêm đức tin cho chúng con.
B/ Lm. Inhaxio Hồ Thông
Chủ đề Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật này là “Thiên Chúa không làm ra sự chết, nhưng Đấng ban sự sống”.
Kn 1: 13-15; 2: 23-25.
Trong Bài Đọc I, tác giả sách Khôn Ngoan cho thấy rằng Thiên Chúa đã không làm ra sự chết; Ngài đã sáng tạo con người theo hình ảnh của Ngài để họ được trường tồn bất diệt.
2Cr 8: 7, 9, 13-15
Trong đoạn trích thư thứ hai gởi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô nhắc nhở rằng Đức Ki-tô đã hào phóng ban chính mạng sống của Ngài để giải thoát muôn người, vì thế, người Ki-tô hữu phải biết chia sẻ với anh chị em nghèo khổ bằng sự quảng đại và huynh đệ.
Mc 5: 21-43
Tin Mừng khẳng định: Đức Giê-su phục sinh bé gái mười hai tuổi. Ngài là Con Thiên Chúa hằng sống; Ngài nắm giữ quyền năng sự sống, tiêu diệt sự chết và thu tóm nó vào chỉ trong một giấc ngủ chốc lát.
BÀI ĐỌC I (Kn 1: 13-15; 2: 23-25)
Sách Khôn Ngoan là tác phẩm muộn thời nhất của bộ Cựu Ước. Sách được biên soạn vào giữa thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, ở A-lê-xan-ri-a, trong môi trường Do thái chịu ảnh hưởng văn hóa Hy lạp. Vào thời đại nầy thành phố A-lê-xan-ri-a là thủ đô của văn hóa Hy lạp, nhưng cũng là thành phố lớn nhất của Do thái Hải Ngoại (người ta ước lượng khoảng vài trăm ngàn người Do thái sinh sống ở thành phố nầy).
1.Bối cảnh:
Chúng ta không biết tên tuổi của tác giả sách Khôn Ngoan. Ông viết bằng tiếng tiếng Hy lạp cho đồng bào Do thái Hải Ngoại của ông, họ không còn biết tiếng Hy bá nữa. Sách Khôn Ngoan đã được soạn thảo trong bối cảnh văn hóa Hy-lạp đã quyến rủ người Do thái và đang làm cho nhiều người lung lay niềm tin truyền thống của dân tộc mình. Tác giả đã muốn ngăn ngừa những nguy cơ bội giáo. Ông cực lực công kích ngoại giáo và tội thờ ngẫu tượng.
Tác giả là một con người đạo hạnh, rất gắn bó với truyền thống Do Thái giáo. Tuy nhiên, tư tưởng thần học của ông đã tiếp xúc với triết lý Hy-lạp. Việc tiếp xúc nầy rất có lợi: ngôn từ mà ông sử dụng trong sách Khôn Ngoan thì thâm thúy hơn, suy luận hơn, rộng mở với siêu hình học hơn so với các sách minh triết trước đó (sách Gióp, Châm Ngôn, Giảng Viên, Huấn Ca). Thánh Phao-lô và thánh Gioan, hai nhà thần học Tân Ước, sẽ gặp thấy ở nơi tác phẩm nầy những trực giác cho Ki-tô học của mình.
Tác giả mượn vài tư tưởng của văn hóa Hy lạp như quan niệm về sự bất tử của linh hồn. Nhưng tác giả không chấp nhận quan niệm về con người của văn hóa Hy lạp: ông tháp nhập viễn cảnh nầy vào trong chiều sâu của tư tưởng Do Thái giáo truyền thống.
2.Thiên Chúa không làm ra cái chết.
Tác giả khẳng định: “Thiên Chúa đã sáng tạo con người cho họ được trường tồn bất tử”. Tác giả còn xác quyết xa hơn nữa: “Những ai trông cậy vào Người, sẽ am tường sự thật; những ai trung thành, sẽ được Người yêu thương và cho ở gần Người” (3: 9). Đây là lần đầu tiên trong Cựu Ước xuất hiện lời khẳng định về cuộc sống sau cái chết, trong mối thân tình với Thiên Chúa. Thật ra, niềm hy vọng về cuộc sống bên kia nấm mồ đã được phát biểu nhiều lần, nhất là trong các Thánh Vịnh, trong số đó Thánh Vịnh nổi tiếng nhất là Tv 16, Thánh Vịnh về Đấng Mê-si-a. Niềm hy vọng nầy là tiếng kêu vang lên của người vô tội, họ xin Thiên Chúa xét xử ngõ hầu người công chính không cùng chịu chung số phận như quân vô đạo.
Nhưng vào thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, tác giả sách Khôn Ngoan nêu lên niềm tin vào cuộc sống mai hậu nầy với một niềm xác tín thanh thản. Vấn đề thưởng phạt đã làm bận lòng các nhà ưu tú Ít-ra-en từ lâu, nay đã gặp thấy giải pháp. Trong phần thứ nhất của tác phẩm, tác giả đối lập cách sống của quân vô đạo và cách sống của những người công chính ở dưới thế, và số phận khác nhau của họ sau khi chết. Người công chính chỉ chịu một cái chết bên ngoài, số phận của họ thì bất tử. Quân vô đạo phải chịu cả cái chết thể lý lẫn cái chết tinh thần, nghĩa là không được hưởng nhan thánh Chúa.
3.Quan niệm con người theo Kinh Thánh:
Tác giả sách Khôn Ngoan không đơn giản chuyển quan niệm Hy lạp về sự bất tử của linh hồn sang tư tưởng Do thái, vì quan niệm về con người của hai nền văn hóa nầy rất khác nhau.
Trước tiên, chúng ta hãy ghi nhận rằng có vài điểm tương đồng về cuộc sống bên kia sự chết giữa quan niệm Do thái và quan niệm Hy lạp. Theo quan niệm Do thái cũng như Hy lạp, những vong nhân sống trong cõi âm ti buồn phiền tăm tối mà người Do thái gọi “shéol” và người Hy lạp gọi “hadès”. Họ có chung một niềm tin với các dân tộc khác theo đó Mẹ Đất đã sinh ra con người và sẽ tiếp nhận con người vào trong lòng đất mẹ của mình.
Trong huyền thoại Hy lạp, vài vị anh hùng ưu việt đạt đến một cuộc sống tốt hơn, được cất lên bên cạnh các thần linh như Ménelas và Héraclès, hay được mang vào Đảo Hạnh Phúc, như Achille, trong sử thi hậu Homère. Cũng vậy, trong truyền thống kinh thánh, ông Kha-nốc (St 5: 24), ngôn sứ Ê-li-a (2V 2: 11) là những người được cất lên trên trời và đang sống.
Trong tư tưởng Hy lạp, vào thế kỷ thứ năm trước Công Nguyên, Socrate khẳng định công khai sự bất tử của linh hồn, và cuộc sống trường cửu bên cạnh các thần linh. Platon sẽ khai triển những bằng chứng về sự bất tử của linh hồn trong tác phẩm Phédon. Tuy nhiên, theo quan niệm “nhị nguyên” của Platon, linh hồn khác với thân xác; linh hồn có trước thân xác; thân xác chỉ là tù ngục giam hãm linh hồn.
Quan niệm Do thái về linh hồn thì rất khác. Con người được tạo thành một thực thể duy nhất gồm linh hồn và thân xác. Linh hồn là nguyên lý sự sống. Nguồn sống nầy đến từ hơi thở của Thiên Chúa, tức là thần khí. Nếu Thiên Chúa rút lại hơi thở của Ngài, con người chết. Ảnh hưởng quan niệm Hy-lạp về sự bất tử của linh hồn không làm thay đổi, nhưng củng cố quan niệm của Kinh Thánh về con người. Sách Khôn Ngoan nói: “Linh hồn người công chính ở trong tay Thiên Chúa” (3: 1). Linh hồn đón nhận phẩm chất, nhân cách, và có khả năng thấy Thiên Chúa.
Người Do thái có một cơ hội lớn lao để đạt tới quan niệm về “sự sống lại của thân xác” trước khi mở lòng ra trước quan niệm về sự bất tử của linh hồn. Như vậy, những nhà tư tưởng của người Do thái có thể cưỡng kháng lại nhị nguyên thuyết của người Hy-lạp. Thân xác, do bàn tay của Đấng Tạo Hóa tạo nên, không bị khinh chê nhưng duy trì chiều kích cao cả của nó: cuộc sáng tạo nguyên thủy là tốt đẹp.
4.Cái nhìn lạc quan về con người.
“Vì Người đã sáng tạo muôn loài cho chúng hiện hữu” (nghĩa là cho chúng có một cuộc sống bền vững). “Mọi loài thọ tạo trên thế giới đều hữu ích cho sinh linh”. Tư tưởng lạc quan nầy quy chiếu về chương đầu tiên của sách Sáng Thế. “Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp” là điệp khúc tiếp liền sau mỗi một hành vi sáng tạo trong suốt “sáu ngày tạo dựng”.
Niềm lạc quan của tác giả còn đi xa hơn nữa và được diễn tả ở nơi một lời khẳng định táo bạo: “Âm phủ (quyền lực của tử thần) không thống trị trên mặt đất, vì đức công chính thì trường sinh bất tử”. Vì thế, những sức mạnh của sự dữ và sự chết xem ra hoành hành trên cõi thế và thường chiến thắng, nhưng người công chính đánh bại sự chết vì họ được bảo đảm một cuộc sống bất tử.
Tác giả hoàn tất sự chứng minh của mình bởi hai lập luận quan trọng: trước hết, con người được trường tồn bất diệt vì được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa; sau nữa, tác nhân của sự chết là quỷ dữ.
Lập luận thứ nhất dựa trên chuyện tích thứ nhất của sách Sáng Thế: “Thiên Chúa phán: Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta” (St 1: 26). Sách Khôn Ngoan nói: “Họ được Thiên Chúa dựng nên làm hình ảnh của bản tính Người”. Lập luận chủ yếu về sự bất tử của con người như vậy rõ ràng thuần túy Kinh Thánh, không chịu ảnh hưởng của văn hóa Hy-lạp.
Lập luận thứ hai ám chỉ đến ám chỉ đến chuyện tích thứ hai của sách Sáng Thế về sự thử thách và sa ngã khi tác giả viết: “Chính vì quỷ dữ ganh tị mà cái chết đã xâm nhập thế gian”. Ở đây, cái chết mà tác giả nhắm đến trước hết là cái chết thần thiêng, cái chết thực sự. Cái chết thể lý được liên kết với con người, nhưng chỉ dẫn quân vô đạo đến cái chết thần thiêng.
Tác giả sách Khôn Ngoan là người đầu tiên cho chuyện tích sa ngã một giá trị tôn giáo. Đức Giê-su sẽ củng cố quan điểm nầy: “Ngay từ đầu, nó là tên sát nhân. Nó đã không đứng về phía sự thật, vì sự thật không ở trong nó” (Ga 8: 44).
BÀI ĐỌC II (2Cr 8: 7, 9, 13-15)
Thánh Phao-lô đã thực hiện một cuộc lạc quyên giúp Giáo Đoàn Giê-ru-sa-lem: Giáo Đoàn nầy đang lâm cảnh túng thiếu. Sử gia Gio-sê-phút (cuối thế kỷ thứ nhất) kể ra một nạn đói kém dài lâu đã hoành hành xứ Pa-lết-tin, dưới thời các quan tổng trấn Cút-pi-út Fa-đút và Ti-be A-lê-xan-đê, tức giữa những năm 44-48. Sách Công Vụ Tông Đồ nói với chúng ta về một nạn đói lớn đã xảy ra dưới thời hoàng đế Cơ-lau-đi-ô (41-45 trước Công Nguyên). “Các môn đệ mới quyết định là mỗi người tùy theo khả năng của mình, sẽ gởi quà giúp đỡ anh em ở miền Giu-đê. Và họ đã làm việc ấy: gởi đến cho hàng kỳ mục qua tay ông Ba-na-ba và ông Sao-lô” (Cv 11: 28-30).
Vì thế, trong thư gởi cho các tín hữu Ga-lát, thánh Phao-lô nhắc lại việc thánh nhân lên Giê-ru-sa-lem vào thời kỳ nầy (chắc chắn vào năm 46); chính vào thời điểm này thánh Phê-rô, thánh Gioan và thánh Gia-cô-bê, lãnh đạo Giáo Đoàn Giê-ru-sa-lem, vẫn tiếp tục đảm nhận trách nhiệm loan báo Tin Mừng cho “những người được cắt bì”; còn thánh Ba-na-ba và thánh Phao-lô thì được ủy quyền giao nhiệm vụ loan báo Tin Mừng cho “các dân ngoại” với một điều kiện là họ phải lo cho những tín hữu túng thiếu tại Giê-ru-sa-lem.
Thánh Phao-lô không bao giờ quên lời hứa của ngài: “chúng tôi phải nhớ đến những người túng thiếu, điều mà tôi vẫn gắng làm” (Gl 2: 10), thậm chí cho dù các Ki tô hữu Giê-ru-sa-lem không còn phải lâm vào cảnh quá túng quẫn đi nữa.
1.Ý nghĩa của lạc quyên:
Việc lạc quyên giúp đỡ Giáo Đoàn Giê-ru-sa-lem chiếm một chỗ quan trọng trong những hoạt động của thánh nhân. Thánh nhân đã đặt bầu nhiệt huyết vào công việc nầy, vì ngài thấy ở đó một cơ hội cho những người tân tòng, dù xuất thân từ Do thái giáo hay lương dân, thực hành đức ái huynh đệ và chia sẻ những của cải; cũng như chứng tỏ sự gắn bó của họ với Giáo Hội-Mẹ. Đây là cử chỉ hiệp nhất, lòng biết ơn đối với Giáo Hội Mẹ từ đó Lời Chúa được tỏa lan và những ân phúc đức tin được trao ban.
Quả thật, trong thư gởi tín hữu Rô-ma, thánh nhân viết: “Nhưng bây giờ tôi còn phải đi Giê-ru-sa-lem để phục vụ dân thánh ở đó, vì miền Ma-kê-đô-ni-a và miền A-khai-a đã có nhã ý đóng góp để giúp những người nghèo trong số dân thánh ở Giê-ru-sa-lem. Họ đã có nhã ý làm như vậy, nhưng thật ra họ cũng có bổn phận đối với dân thánh ở đó. Bởi vì dân ngoại đã được chia sẻ các phúc lộc thiêng liêng của dân thánh ở Giê-ru-sa-lem, thì họ cũng có bổn phận dùng của cải vật chất mà giúp đỡ lại…” (Rm 15: 16-28). Trong thư thứ hai gởi tín hữu Cô-rin-tô, thánh nhân ám chỉ đặc biệt đến điều nầy: “Về điều nầy …vì anh em là những người đầu tiên, chẳng những đã thực hiện công cuộc đó, mà còn đã quyết định làm ngay từ năm ngoái” (2Cr 8: 10).
Trong đoạn trích thư hôm nay, thánh Phao-lô mời gọi các tín hữu Cô-rin-tô hãy mở rộng tấm lòng mà giúp đỡ giúp đỡ các anh chị em đang lâm cảnh túng thiếu.
2.Mở rộng tấm lòng.
Thánh Phao-lô khéo léo kể ra những đức tính trổi vượt của các tín hữu Cô-rin-tô: đức tin, lời Chúa, sự hiểu biết, lòng hăng say trong mọi lãnh vực, vì thế họ phải bổ sung vào đây tấm lòng quảng đại trong dịp lạc quyên nầy nữa.
Nếu họ nhiệt tâm thực hành đức ái, chính vì thánh nhân đã chuyển lửa của ngài cho họ. Nhưng động lực chính yếu là mẫu gương của Đức Ki tô (trọng tâm của đoạn văn này). Trong một biểu thức gây ấn tượng mạnh, thánh Phao-lô gợi lên rằng Đức Ki tô “vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó, vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có”.
3. “Lá lành đùm lá rách”:
Tuy nhiên, thánh nhân biết rằng các tín hữu Cô-rin-tô không phải là những người giàu có. Vì thế, thánh nhân tự đặt mình vào hoàn cảnh của họ khi đòi hỏi họ chia sẻ với những người túng thiếu không phải những gì cần thiết cho sự sống của mình, nhưng sự dư giả của mình: “Trong hoàn cảnh hiện tại, anh em có được dư giả, là để giúp đỡ những người đang lâm cảnh túng thiếu; để rồi khi được dư giả, họ cũng sẽ giúp đỡ anh em. Lúc anh em lâm cảnh túng thiếu. Như thế, sẽ có sự đồng đều, hợp với lời đã chép: Kẻ được nhiều thì không dư, mà người được ít thì không thiếu”.
TIN MỪNG (Mc 5: 21-43)
Đoạn văn nầy kết hợp hai câu chuyện phép lạ: phục sinh con gái ông Gia-ia (5: 21-24, 35-43) và chữa lành người phụ nữ băng huyết (5: 25-34). Đây là một ví dụ nữa về cách thức tháp nhập “hai câu chuyện khác nhau vào trong một bài trình thuật” (x. 1: 21-28; 2: 1-12; 6: 7-30; 11: 12-21). Hai câu chuyện có nhiều điểm chung: hai bệnh nhân là phái nữ; con số mười hai: người phụ nữ bị bệnh đã mười hai năm, còn cô gái đã mười hai tuổi (5: 25, 42); hai phép lạ được thực hiện một cách kín đáo: phép lạ chữa lành bệnh xuất huyết nan y của một phụ nữ không thể kiểm chứng được; còn phép lạ cho một bé gái sống lại chỉ có vài nhân chứng và với lệnh truyền không được kể cho ai biết chuyện nầy; trong cả hai trường hợp, đức tin vẫn đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình tiếp cận với Chúa Giê-su.
Việc đan kết hai câu chuyện vào trong một bài trình thuật cũng được gặp thấy tại Mt 9: 18-26 và tại Lc 8: 40-56, nhưng câu chuyện của Mác-cô có nhiều tình tiết sinh động nhất. Toàn bộ bài trình thuật bày tỏ nhiều chi tiết sống động của một chứng nhân mắt thấy tai nghe mà thánh ký nhận được từ nguồn của mình hay từ những kỷ niệm của thánh Phê-rô mà thánh ký chuyển tải: ví dụ như câu trả lời của các môn đệ mà thánh ký đã xây dựng thành ngôn ngữ nói: “Thầy coi, dân chúng chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi: ‘Ai đụng vào tôi?’”; hay thánh ký đặt trên miệng Chúa Giê-su lệnh truyền bằng ngôn ngữ A-ram, ngôn ngữ nói của Ngài: “Ta-li-tha-kum”. Nhờ những chi tiết sống động này, chúng ta dễ dàng nhận thấy ở đây diễn tiến và ý nghĩa của những sự kiện. Đức Giê-su không vội vàng đến nhà ông trưởng hội đường; thời gian trôi qua giữa Đức Giê-su và người phụ nữ mắc bệnh xuất huyết dẫn đến đứa bé gái thật sự chết. Cũng như trong câu chuyện cho anh La-da-rô sống lại (Ga 11), Đức Giê-su không vội vã ra đi khi nghe tin anh La-da-rô đau nặng; Ngài đến sau khi bạn Ngài đã qua đời bốn ngày rồi. Như vậy, trong câu chuyện nầy, Chúa Giê-su loan báo một dấu hiệu còn lớn hơn dấu hiệu chữa lành bệnh tật: Ngài có quyền trên cả sự chết.
1.Bối cảnh và các nhân vật.
Đức Giê-su đã ở vùng đất của dân Ghê-ra-sa, vùng đất dân ngoại, ở đó Ngài đã chữa lành một người bị quỷ ám nguy hiểm; dân làng sợ hãi xin Ngài rời khỏi vùng đất của họ. Vì thế, Ngài xuống thuyền, trở sang bờ bên kia Biển Hồ, vùng đất Ít-ra-en. Tức khắc “một đám rất đông tụ lại chung quanh Ngài”. Đây là nét tiêu biểu của Tin Mừng Mác-cô, thánh ký thích ghi lại những chuyển động của dân chúng: “đám đông tuôn đến với Ngài”, “họ đến với Ngài”, “họ đi theo và chen lấn Ngài”, “họ thích thú lắng nghe Ngài”, vân vân.
Và nầy, một viên trưởng hội đường rẻ đám đông đến gặp Ngài. Viên chức sắc Do thái nầy bày tỏ lòng kính trọng và niềm tin tưởng vào Đức Giê-su: ông phủ phục dưới chân Ngài và khẩn thiết nài xin Ngài đến cứu giúp đứa con gái thập tử nhất sinh của ông. Phải ghi nhận rằng bản văn của Mác-cô có nhiều sắc thái sinh động hơn bản văn của Mát-thêu và Lu-ca. Viên trưởng hội đường nói lên ước nguyện của mình: “Xin Ngài đến đặt tay trên cháu”. Ông đã chứng kiến nhiều lần Đức Giê-su chữa lành bệnh tật bằng cách đặt tay. Đáp lại niềm tin tưởng đầy cảm động của ông, Đức Giê-su liền ra đi với ông. Nhưng trên đường đi, trong đoàn người chen chúc nầy, xuất hiện một người phụ nữ mắc bệnh băng huyết từ mười hai năm rồi vẫn vô phương cứu chữa.
2.Chúa Giê-su với người phụ nữ mắc bệnh nan y.
Thánh Mác-cô thường giữ cung giọng trực tiếp và bình dân cho câu chuyện của mình: “Có một người phụ nữ kia bị băng huyết đã mười hai năm, bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đã nhiều lần đến tán gia bại sản, mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác”. Thánh Lu-ca, thầy thuốc, sẽ giữ chừng mực hơn trong ngôn từ của mình: “Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm, không ai có thể chữa được” (Lc 8: 43).
Theo văn hóa Do thái, bệnh tình của bà là trường hợp nghiêm trọng về luật thanh sạch, vì máu là điều cấm kỵ. Vì thế, tuyệt đối cấm không ai được đụng chạm đến bà để khỏi làm cho mình ra ô uế (Lv 15: 19-30). Đó là lý do tại sao bà lẫn mình vào trong đám đông để không ai nhận ra và rón rén tiến lại phía sau Ngài vì bà không thể công khai cầu xin Ngài chữa bà. Bà hy vọng mình được chữa lành một cách vụng trộm. Cử chỉ của bà thật khiêm tốn: không tìm kiếm bất cứ điều gì ngoài một ước nguyện đơn giản: “Tôi mà sờ được áo Người thôi, là sẽ được cứu”.
“Ngay lúc đó, Đức Giê-su thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra”. Đừng hiểu những từ ngữ nầy theo mặt chữ. Thật ra, Đức Giê-su biết người phụ nữ nầy là ai và bà đang nghĩ gì trong lòng. Thánh Mác-cô đề cao quyền năng của Đức Giê-su được xem như một loại năng lực có thể phát huy tác động một cách riêng biệt và hầu như độc lập, vì thế thánh ký diễn tả theo quan niệm dân gian về các danh y thời đó. Chúng ta không gặp thấy tư tưởng như thế tại thánh Mát-thêu: trong câu chuyện của mình, Đức Giê-su liền quay lại thấy bà, và nói với bà mà không cần chờ đợi lời giải thích của bà: “Này con, cứ yên tâm, lòng tin của con đã cứu chữa con” (Mt 8: 22). Trái lại. thánh Lu-ca bày tỏ cùng một cách thức như thánh Mác-cô. Nhiều lần thánh Lu-ca viết: “Tất cả đám đông tìm cách sờ vào Người, vì có một năng lực tự nơi Người phát ra, chữa lành hết mọi người” (Lc 6: 19). Trong câu chuyện nầy, thánh Lu-ca diễn tả như thánh Mác-cô: “Đức Giê-su thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra” (Lc 8: 47).
Những ghi nhận của Mác-cô và Lu-ca nầy đã làm tốn không biết bao giấy mực, thậm chí có người tự hỏi phải chăng những chi tiết này phát xuất từ các sách tin mừng ngụy thư. Riêng cử chỉ của người phụ nữ còn thúc đẩy các nhà chú giải đề xuất biết bao lời giải thích. Ông Calvin phát hiện ở nơi cử chỉ của người phụ nữ nầy thái độ tương tự như thái độ tôn thờ các thánh tích mà ông kết án. Theo cùng một tinh thần, các nhà phê bình khác so sánh câu chuyện nầy với các câu chuyện được tường thuật trong sách Công Vụ: bệnh nhân được chữa lành nhờ khăn và áo đã chạm đến da thịt của thánh Phao-lô (Cv 19: 11) hay nhờ cái bóng của thánh Phê-rô chạm đến (Cv 5: 15).
Vấn đề vẫn luôn luôn được đặt ra. Tất cả việc chữa lành nhờ đụng chạm đến thánh tích nào đó được định vị trên một đỉnh núi nguy hiểm mà triền dóc nầy là lòng mộ đạo hay triền dóc kia là mê tín dị đoan. Tuy nhiên, chúng ta phải cẩn trọng khi đọc bản văn Tin Mừng; bài học rất sáng tỏ. Rõ ràng Đức Giê-su giúp người phụ nữ hiểu: bà không được chữa lành vì bà đã chạm đến áo của Ngài, nhưng vì bà đã có niềm tin: “Nầy bà, đức tin của bà đã chữa bà”. Quả thật, trong đám đông chen lấn quanh Ngài, không thiếu những người đã chạm đến áo của Ngài, nhưng không nhận được bất cứ ân ban nào. Để đón nhận ân sủng của Đức Giê-su, cần thiết phải có một thái độ sẵn sàng bên trong. Cũng xảy ra như vậy đối với việc phục sinh con gái viên trưởng hội đường: cô bé được sống lại là nhờ lời đáp trả của Đức Giê-su cho đức tin của người cha.
3.Đức Giê-su với viên trưởng hội đường.
Người nhà viên trưởng hội đường thông báo cho ông: “Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa?”. Đối với họ, quyền năng của Đức Giê-su cũng chỉ là quyền năng chiến thắng bệnh tật. Chắc chắn viên trưởng hội đường cũng đồng quan điểm với họ. Nghe thế, Đức Giê-su nói với ông trưởng hội đường: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi”. Nếu chúng ta muốn nắm bắt nét nghĩa của động từ được Mác-cô dùng ở đây, phải dịch: “Hãy kiên vững trong đức tin của ông”, có nghĩa ông có đức tin rồi và phải tiếp tục tin. Như vậy, Ngài mở cho người cha đau khổ nầy một con đường hy vọng. Vì thế, ông không ngăn cản Đức Giê-su nhưng để Ngài vào nhà ông.
Chúng ta sẽ tham dự vào một hoạt cảnh tương tự ở Bê-ta-ni trong câu chuyện phục sinh La-da-rô, em trai của hai chị em Mác-ta và Ma-ri-a. Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày” (Ga 11: 39). Đức Giê-su trả lời bằng cách đòi hỏi chị phải tin vào Ngài: “Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?” (Ga 11: 40).
4.Ý nghĩa của cái chết:
“Con bé có chết đâu, nó ngủ đấy!”. Ngài cũng sẽ nói với các môn đề về cái chết của anh La-da-rô như vậy: “La-da-rô, bạn của chúng ta đang yên giấc” (Ga 11: 11). Đây không là một hình bóng, nhưng là một sự khẳng định mang tính mặc khải: cái chết chỉ là một giấc ngủ khai mở sự sống, như chúng ta đã gặp thấy nhiều lần trong văn chương Kinh Thánh cũng như ngoài Kinh Thánh. Tất cả chi tiết của hoạt cảnh đều tuân theo chiều hướng nầy.
Sau khi vào nhà viên trưởng hội đường, Đức Giê-su truyền lệnh cho mọi người ra ngoài hết, rồi dẫn cha mẹ và ba người môn đệ cùng đi với Ngài, Phê-rô, Gia-cô-bê và Gioan, vào nơi đứa bé đang nằm. Đức Giê-su cầm lấy tay đứa bé và nói: “Ta-li-tha-kum” (“Ta-li-tha”: “cô bé”, và “kum”: “hãy chỗi dậy”). Mác-cô đã bảo tồn từ A-ram, ngôn ngữ nói của Đức Giê-su, trong bản văn của mình.
“Hỡi cô bé, hãy chỗi dậy”, động từ “chỗi dậy” sẽ trở thành thuật ngữ để chỉ biến cố Phục Sinh của Đức Ki-tô. Cô bé liền chỗi dậy và đi lại được. Đức Giê-su bảo họ cho đứa bé ăn. Lời dặn dò nầy có một mục đích tức thời, nhằm cho cha mẹ của cô bé hiểu rằng cô bé thật sự sống lại chứ không là một bóng ma. Cũng vậy, sau khi sống lại, Đức Giê-su cũng hỏi các môn đệ còn nghi nan ngờ vực: “Ở đây anh em có gì ăn không?” (Lc 24: 41). Tuy nhiên, lời dặn dò nầy còn mặc khải một ý nghĩa sâu xa hơn nữa, cử chỉ nầy mang tính biểu tượng và ngôn sứ: việc chỗi dậy bên kia cái chết mở ra những thực tại thần thiêng mà các ngôn sứ đã diễn tả bằng những hình ảnh về bàn tiệc Thiên Chúa: bữa ăn cánh chung.
“Cô bé đã mười hai tuổi”. Con số “mười hai” cũng có giá trị dấu chỉ: con số của sự tuyển chọn. Thánh Mác-cô đã dùng con số nầy rồi đối với người phụ nữ mắc bệnh băng huyết đã “mười hai” năm. “Mười hai” Tông Đồ, nối nghiệp mười hai chi tộc Ít-ra-en, là dấu chỉ của Vương Quốc Thiên Chúa. Trong sách Khải Huyền, con số người được tuyển chọn là “một trăm bốn mươi bốn ngàn” người, tức là gấp ngàn lần của 12 x 12 (Kh 7: 4).
5.Những nhân chứng:
Ngoài cha mẹ của đứa bé ra, những nhân chứng về cuộc phục sinh bé gái là ba Tông Đồ, Phê-rô, Gia-cô-bê, và Gioan. Chính ba vị Tông Đồ nầy sẽ được Đức Giê-su dẫn lên núi để chứng kiến cuộc Biến Hình của Ngài. Trong câu chuyện Biến Hình, khi “các ông kinh hoàng ngã sấp mình xuống đất”, Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo: “Chỗi dậy đi, đừng sợ” (Mt 17: 7). Cũng là cử chỉ và lời nói mà Ngài đã làm và nói với con gái của viên trưởng hội đường. Có một mối liên hệ giữa biến cố Phục Sinh và biến cố Biến Hình; đây là hai khía cạnh bất khả phân sau cái chết.
C/ Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
CON CÁI ÁNH SÁNG
Qua Lời Tổng Nguyện của Chúa Nhật 13 Thường Niên, năm B này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa đã rủ lòng thương nhận chúng ta làm nghĩa tử để chúng ta trở thành con cái ánh sáng, xin Chúa đừng để chúng ta sa vào cảnh tối tăm lầm lạc, nhưng gìn giữ chúng ta luôn rạng ngời ánh sáng chân lý Chúa.
Con cái ánh sáng, thì phải luôn rạng ngời ánh sáng chân lý Chúa, không được thất trung cùng Chúa, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, sách Samuen quyển I cho thấy: Vốn là một tín hữu trung thành của Chúa, Saun đã dùng quyền lực của một quân vương để phục vụ các xác tín của mình, nhưng, trong một tình trạng nguy kịch, ông sinh hốt hoảng và làm chuyện mê tín xưa ông đã tìm cách diệt trừ, là đi coi đồng bóng. Vua Saun chết vì đã thất trung với Đức Chúa, chẳng tuân giữ lời Đức Chúa truyền. Đức Chúa đã chuyển trao vương quyền cho ông Đavít. Vì ông Saun lại còn kiếm một mụ đồng bóng mà thỉnh vấn nữa.
Con cái ánh sáng, thì phải luôn rạng ngời ánh sáng chân lý Chúa, phải khao khát làm cho mọi người được đến gần ánh sáng, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI nói: Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng, vì tôi đã được chính Đức Kitô sai đi. Tôi là tông đồ và tôi cũng là chứng nhân. Mục đích càng xa, sứ mạng càng khó, thì tình yêu Đức Kitô lại càng thôi thúc tôi mạnh mẽ hơn. Đấng cứu độ chúng ta là Đức Kitô Giêsu đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử. Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác. Tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng, nhờ Người và cho Người. Người có trước muôn loài muôn vật, và tất cả đều tồn tại trong Người.
Con cái ánh sáng, thì phải luôn rạng ngời ánh sáng chân lý Chúa, nếu không, sẽ rơi vào cạm bẫy của Satan và sẽ phải chết, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, sách Khôn Ngoan đã cho thấy: Chính vì quỷ dữ ganh tị mà cái chết đã xâm nhập thế gian. Những ai về phe nó đều phải nếm mùi cái chết. Con cái ánh sáng, thì phải luôn rạng ngời ánh sáng chân lý Chúa, hãy vững tin vào Chúa, vì Chúa sẽ thương giải cứu, như trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 29, vịnh gia đã cho thấy: Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài, vì đã thương cứu vớt, không để quân thù đắc chí nhạo cười con. Lạy Chúa, từ âm phủ Ngài đã kéo con lên, tưởng đã xuống mồ mà Ngài thương cứu sống. Con cái ánh sáng, thì phải luôn rạng ngời ánh sáng chân lý Chúa, bằng cách sống quảng đại và giàu lòng bác ái, như trong bài đọc hai của Thánh Lễ, thánh Phaolô nói: Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có.
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Đấng Cứu Độ chúng ta là Đức Giêsu Kitô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh. Trong bài Tin Mừng, thánh Máccô tường thuật lại việc Đức Giêsu cứu sống con gái ông trưởng hội đường. Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Chính Người đã tỏ cho chúng ta thấy Thiên Chúa vô hình, chính Người là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo, và chính trong Người, mà tất cả tồn tại. Người là Thầy và là Đấng cứu chuộc nhân loại. Người là khởi nguyên và cùng tận, là Anpha và Ômêga, là nguyên lý nhiệm mầu và tối hậu giải thích lịch sử nhân loại và vận mệnh chúng ta. Chính Người là Đấng trung gian nối liền đất với trời. Vì chúng ta, Người đã sinh ra, đã chết và đã sống lại. Chính nhờ Người, mà chúng ta được nhận làm nghĩa tử và trở thành con cái ánh sáng. Ước gì đời sống của chúng ta luôn rạng ngời ánh sáng chân lý Chúa. Ước gì được như thế!
D/ Lasan Ngô Văn Vỹ, O.Cist
Hai phép lạ của lòng tin
Tin không phải là loan tin, đưa tin giống như những tin tức thời sự chúng ta nghe xem hằng ngày nhưng Tin là thái độ mở lòng đón nhận, tín thác vào đấng luôn yêu thương cho chúng ta được sống trong hân hoan, hi vọng.
Hai câu chuyện Tin Mừng hôm nay, cho chúng ta niềm phấn khởi để luôn tín thác vào Chúa. Hai con người khác nhau, hai thân phận khác nhau nhưng cùng có một niềm tin mạnh mẽ vào Chúa, đó là viên thủ lãnh và người đàn bà bị băng huyết 12 năm. Họ đã biết đặt trọn niềm tín thác vào Chúa trong một hoàn cảnh ngặt nghèo chẳng còn gì để hy vọng nữa. Đối với chúng ta một người đã chết rồi thì làm sao mà làm cho sống lại được?
Thế mà vị thủ lãnh ấy vẫn cứ tin tưởng rằng Đức Giêsu sẽ làm cho con gái ông sống lại, ông đã tỏ lộ lòng tin mạnh mẽ qua hành động: sụp xuống dưới chân Chúa và khẩn khoản nài xin: “Con gái tôi vừa mới chết. Nhưng xin Thầy đến đặt tay lên cháu là nó sẽ sống”.
Cũng vậy, với lòng tin tha thiết, người đàn bà băng huyết tiến đến sờ vào tua áo của Chúa vì bà tự nhủ rằng: “Tôi chỉ cần sờ được vào tua áo của Người thôi là tôi sẽ được cứu chữa”.
Cuộc sống thường ngày của chúng ta cũng có những nỗi đau khổ, cũng có những bệnh tật. Có lẽ chúng ta cũng đã chạy đến với Chúa. Nhưng xin Chúa ban cho chúng ta có được lòng tin mạnh mẽ như viên thủ lãnh hay người phụ nữ băng huyết trong câu chuyện Tin Mừng hôm nay, để thấy mọi sự đều là ân phúc đối với ai có lòng tin. Còn tin Chúa là còn hạnh phúc. Trái lại, không gì bất hạnh bằng khi không còn niềm tin.
Một triết gia vô thần có tham vọng chứng minh cho mọi người rằng không có Thiên Chúa. Để thực hiện ý định đó, ông nhận nuôi một trẻ mồ côi từ thuở bé. Ông cho nó ở riêng trong một căn phòng và cấm không ai được nói với nó về Thiên Chúa hay tôn giáo. Năm tháng trôi qua, bé ngày càng khôn lớn.
Nhân ngày đại lễ, triết gia mở tiệc thiết đãi bạn bè, khách dự tiệc tò mò muốn biết hiện tình về đứa trẻ mà ông nuôi dưỡng. Ông bảo họ: “Hãy đến mà xem, rồi các bạn sẽ thấy tận mắt, Thiên Chúa chính là sự bịa đặt của con người, là một điều ngu dại của các linh mục Công giáo muốn nhồi sọ kẻ ngu dại”.
Nói xong ông dẫn khách đến khu vườn mà ông cho là thiên đàng của đứa con nuôi của ông. Nhưng ông hết sức kinh ngạc thấy đứa con này quỳ trên bãi cỏ, mắt hướng về phía mặt trời, hai tay giang rộng và lớn tiếng nói: Ông mặt trời ơi, ông đẹp quá, xin cho tôi nhắn với Đấng đã tạo nên ông và tôi là tôi yêu mến Người. Chứng kiến cảnh tượng đó, vị triết gia vô thần quá tức giận, quát mắng đứa trẻ trước mặt quan khách. Nhưng đứa trẻ nói: “Thưa ba, tất cả mọi sự tốt đẹp chung quanh con đều nói lên có Đấng quyến phép đã tạo dựng mọi sự trên trời dưới đất. Con có bổn phận phải thờ lạy và cảm tạ Đấng ấy”.
Vâng, con người chỉ thực sự an vui khi biết tuyệt đối tin tưởng, cảm tạ Đấng tạo dựng nên mình.
Một lần kia Mẹ Têrêsa Calcutta nói với phóng viên: “Muốn có đức tin, ông hãy cầu nguyện. Người ta phải cầu nguyện mới có đức tin, bởi vì đức tin là một ân ban của Thiên Chúa”.
Đức tin không là kết quả của những cuộc tìm kiếm, như triết gia Pascal đã có lần nói rằng: “Nếu bạn muốn có đức tin, bạn hãy quỳ gối xuống và cầu nguyện”.
Chúng ta cầu chúc cho nhau vững lòng tín thác vào Chúa để dù khi thịnh vượng hay lúc gian nan, chúng ta vẫn chan chứa niềm an vui vì có Chúa ở cùng. Amen
E/ Lm. Giuse Đinh Lập Liễm
A. DẪN NHẬP
Sách thánh dạy chúng ta: “Thiên Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Ngài” để con người được tham dự vào sự sống vĩnh cửu, nhưng chương trình ấy đã bị phá vỡ bởi tội lỗi con người, và từ đó sự chết đã nhập vào thế gian, khiến con người phải chết (Kn 1, 13-15). Ngoài ra, con người còn phải chịu nhiều đau khổ như bệnh tật, thiên tai, hận thù, chiến tranh, chém giết nhau… Chúng rình rập chúng ta như săn đuổi con mồi, hòng chộp bắt chúng ta, đánh quỵ chúng ta và sớm đẩy ta xuống mồ.
Nhưng sách Khôn ngoan hôm nay dạy chúng ta: “Thiên Chúa không tạo dựng sự chết, chẳng vui mừng khi kẻ sống phải chết” (Kn 1, 13). Ngài muốn cứu sống chúng ta, đem lại hạnh phúc và bình an cho chúng ta. Vì thế, nếu chúng ta biết tin tưởng và kêu cầu Ngài thì được cứu sống (Đáp ca: Tv 29).
Chúa sẽ nghe lời chúng ta kêu cầu nhưng đòi hỏi chúng ta phải đặt hết niềm tin vào Ngài và cộng tác với ơn Ngài theo gương người đàn bà băng huyết và ông trưởng hội đường Giairô trong bài Tin mừng hôm nay. Ngoài ra, chúng ta cần có thái độ tích cực và khôn ngoan trước những đau khổ, trước những gian nan thử thách mà Chúa gửi đến cho chúng ta: “Ông đừng sợ, hãy vững tin” (Mc 5, 36).
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1: Kn 1, 13-15; 2, 23-24
Sách Khôn ngoan được soạn vào khoảng thế kỷ I trước công nguyên. Tác giả là một người rất ư lạc quan. Dưới con mắt của ông, Tạo hoá mong muốn mọi sự tồn tại và danh dự của Ngài không cho phép cái chết thắng sự sống. Mọi sự có lẽ sẽ hài hoà, nếu tội lỗi không xen vào chương trình sáng tạo để làm nó bị lạc hướng và dẫn nó đến cái chết, bởi vì con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, để cho loài người được sống vĩnh viễn.
Để giải quyết vấn đề do cái chết đặt ra, tác giả bèn liên kết cái chết thể xác với cái chết tinh thần: sở dĩ có sự chết là do tội lỗi mà ra. Tuy nhiên, cái chết thể xác nằm trong viễn tượng Phục sinh, vì nó sẽ khai mở tới sự sống đời đời.
+ Bài đọc 2: 2Cr 8, 7-9.13-15
Lúc ấy cộng đoàn Giêrusalem đang gặp nạn đói, thánh Phaolô đang tổ chức một cuộc lạc quyên để giúp đỡ cộng đoàn này. Để thuyết phục tín hữu tích cực tham gia đóng góp, Ngài đã đưa ra gương sáng của Đức Giêsu Kitô, Đấng giàu sang vô cùng, đã tự ý trở nên nghèo khó để làm cho loài người được nên giàu có.
Cuộc lạc quyên này sẽ chứng tỏ sự bình đẳng giữa người Do thái và Hy lạp: người Do thái đã chia sẻ cho người Hy lạp những đặc ân tinh thần, thì cũng là điều bình thường, khi người Hy lạp chia sẻ cho người Do thái những may mắn của họ về vật chất trong lúc này. Như thế, sự dư dả của người này bù đắp sự thiếu thốn của người kia. Có như thế, “Kẻ được nhiều cũng không dư, mà kẻ có ít thì cũng không thiếu”.
+ Bài Tin mừng: Mc 5, 21-43
Thánh Marcô thuật lại cho chúng ta hai phép lạ có liên quan đến nhau: phép lạ làm cho con gái ông trưởng hội đường Giairô sống lại và phép lạ làm cho người đàn bà bị băng huyết đã 12 năm được khỏi. Hai phép lạ này gợi cho chúng ta hai điều:
1. Trước hết, hai phép lạ này mạc khải cho chúng ta về lòng nhân hậu của Đức Kitô, khiến không bao giờ cho Ngài được dửng dưng trước đau khổ của người khác. Đồng thời cũng hé mở cho chúng ta về quyền năng phát xuất từ Đức Giêsu: Ngài có thể làm cho khỏi bệnh dễ dàng, nhất là làm cho kẻ chết sống lại.
2. Những phép lạ này đòi hỏi đức tin nơi người muốn kêu xin. Đức tin cần thiết biết bao: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi” (Mc 5, 36). Đức tin của ông Giairô và người đàn bà băng huyết rất lớn: đặt hết tin tưởng vào Đức Kitô. Ngài dùng quyền năng cứu chữa và ban sự sống Ngài mang trong mình cho những ai, dù bề ngoài thất bại cách nào đi nữa, xin thì sẽ được như ý.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA: Sống trong niềm tin và hy vọng
I. TIN THÌ ĐƯỢC SỐNG
Bài đọc 1 hôm nay nhắc cho chúng ta tư tưởng lạc quan về cuộc sống. Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Ngài, để con người được tham dự vào sự sống vĩnh cửu, được hạnh phúc đời đời, nhưng con người đã phá vỡ kế hoạch của Thiên Chúa vì phạm tội. Tuy nhiên, Thiên Chúa giàu lòng thương xót sẽ nhận lời những ai thành khẩn kêu xin Ngài (Đáp ca: Tv 29). Tư tưởng này được minh chứng bằng hai phép lạ dưới đây:
1. Chữa người đàn bà băng huyết
Bỏ địa hạt Cêsarê, Đức Giêsu lại trở về Capharnaum. Thấy Ngài trở lại, dân chúng đến đón Ngài rất đông để được nghe giảng và xin phép lạ. Trong số đó, ông trưởng hội đường Giairô có đứa con gái bệnh nặng gần chết. Ông đến xin Ngài đến chữa cho con ông. Ngài nhận lời đi ngay.
Đang trên đường đi đến nhà ông Giairô thì dọc đường có một người đàn bà bị bệnh băng huyết đã 12 năm, không dám đến gần Ngài một cách công khai vì luật lệ cấm kỵ, vì bệnh băng huyết là một thứ bệnh nhơ nhớp, bệnh nhân không được công khai giao thiệp với dân chúng. Bà lén lút đến đàng sau Đức Giêsu với ý nghĩ rằng miễn sao chạm được vào gấu áo Ngài là khỏi bệnh ngay. Bà đã sờ vào được gấu áo Chúa nên bà cảm thấy lập tức trong mình đã được khỏi bệnh. Đức Giêsu biết rõ sự việc đã xảy ra và hỏi xem ai đã động đến gấu áo Ngài? Bà thành thật thú nhận việc đã làm, Đức Giêsu đã yên ủi và khích lệ bà: “Hỡi con, đức tin của con đã chữa con”.
2. Cứu sống con gái ông Giairô
Vừa chữa bệnh cho một người đàn bà bị băng huyết, Đức Giêsu vừa tiếp tục đi tới nhà ông Giairô. Tình cờ người nhà ông đến báo tin con ông đã chết rồi, đừng phiền đến Thầy nữa. Nhưng Đức Giêsu khích lệ ông: “Đừng sợ, hãy cứ tin”.
Quang cảnh nhà đứa bé thật nhộn nhịp: tiếng khóc của thân nhân cũng như của những người khóc mướn, tiếng trống tiếng kèn, cùng với lời báo tin của người nhà cũng như thái độ cười nhạo của những người chung quanh không tin vào quyền năng của Đức Giêsu cho thấy cô bé đã chết thật.
Nhưng ở đây Đức Giêsu lại bảo: “Cô bé không chết đâu, nó ngủ đấy”. Ngài nói thế là vì Ngài muốn tỏ ra rằng: Ngài làm cho kẻ chết sống lại dễ dàng như người ngủ thức dậy, để người khó tin được dễ hiểu.
Trước mặt 5 nhân chứng là cha mẹ cô bé và 3 môn đệ là Phêrô, Giacôbê và Gioan, Đức Giêsu cầm lấy tay cô bé và nói: “Hỡi em bé, Ta truyền cho em hãy trỗi dậy”. Và em bé trỗi dậy mạnh khoẻ. Ở đây Đức Giêsu tỏ ra có quyền trên sự chết và sự sống. Ngài làm chủ của kẻ sống và kẻ chết.
II. THIÊN CHÚA MUỐN ĐỨC TIN CỦA CHÚNG TA
1. Phép lạ và đức tin
Tất cả các phép lạ Đức Giêsu làm đều có ý khơi dậy lòng tin cho người ta. Không ai có thể chối cãi được những phép lạ Ngài đã làm như chữa bệnh, trừ quỷ, dẹp yên sóng gió, làm cho kẻ chết sống lại… Vì những phép lạ này làm công khai trước mặt nhiều người và làm ngay tức khắc nên mọi người phải công nhận. Khi chữa bệnh xong, Đức Giêsu hay nói với bệnh nhân: “Đức tin của con đã chữa con”.
Còn những nơi người ta không tin Ngài thì Ngài không làm phép lạ, như trường hợp ở quê hương Ngài vì “gần chùa gọi Bụt bằng anh”; còn đối với những luật sĩ và biệt phái chống đối Ngài thì Ngài cũng không làm phép lạ cho họ. Họ không thật lòng xin Ngài làm phép lạ mà chỉ thách thức Ngài thôi. Nếu không tin, không kêu xin Ngài thì làm gì có phép lạ?
Người đàn bà bị băng huyết này không dám công khai trực tiếp xin Chúa chữa bệnh cho bà, nhưng bà tự nhủ: “Tôi chỉ cần sờ vào gấu áo Ngài thì tôi sẽ được khỏi”. Nghĩ thế và bà đã dám làm, bất chấp luật lệ cấm đoán phiền phức và khắt khe. Điều đó chứng tỏ bà đã có đức tin vững mạnh, và thúc đẩy Chúa làm phép lạ. Kết quả là bà đã được như ý khi Chúa nói với bà: “Đức tin của con đã chữa con”.
Trường hợp ông trưởng hội đường Giairô cũng thế. Ông là một người có địa vị và thế giá trong dân. Điều này nói lên việc ông làm có ý thức và có thế giá. Thái độ khiêm nhường của ông trước mặt Đức Giêsu diễn tả niềm tin sâu xa của ông, ông đã quỳ mọp xuống dưới chân Chúa và khẩn khoản van xin: “Con bé nhà tôi gần chết rồi, xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu chữa và được sống”. Như vậy ông này phải tin Đức Giêsu là ai, có quyền phép thế nào ông ta mới có cử chỉ và thái độ khiêm nhường và kêu xin như thế. Qua thái độ tin tưởng và lời cầu xin ấy, ông đã được toại nguyện.
2. Phép lạ có còn hợp thời không?
Đứng trước những dữ kiện “phép lạ” Chúa làm mà Tin mừng kể lại (1/3 của Tin mừng Marcô), chúng ta thấy ngày nay có hai khuynh hướng trái ngược nhau. Một số khoa học gia cho rằng phép lạ chỉ gây rắc rối cho đức tin, dần dần khoa học sẽ giải quyết nhiều bệnh lý. Trái lại, ngày nay, phong trào Thánh Linh đang phát triển mạnh làm cho người ta tin tưởng rằng: trong một cộng đoàn có Chúa Thánh Thần hoạt động, phép lạ không còn là một sự phi thường. Kinh nghiệm bản thân và sự quan sát khách quan đã minh chứng điều đó (theo Sr Briege Mckenna, O.S.C, Des Miracles d’Aujourd’hui)
Sống trong không khí thực nghiệm và duy vật, người ngày nay, cả trong Kitô hữu, có khi là cả tu sĩ hay giáo sĩ, có khuynh hướng muốn phủ nhận phép lạ và chối bỏ các điều mầu nhiệm của đạo.
– Đối với phép lạ, họ cho là nghịch công lệ tự nhiên, trái với sự bất di dịch của Thiên Chúa. Không nghịch, không trái gì hết. Tin phép lạ là tin Thiên Chúa có thể làm được những việc mà không loài thọ tạo nào tự sức mình có thể làm được. Ta hãy nghe nhà văn hào J.J. Rousseau nói: “Thiên Chúa có làm được phép lạ không? Nghĩa là Ngài có thể làm khác với các định luật Ngài lập không? Câu hỏi ấy mà có ý đặt ra thực, thì quả là ngạo mạn, nếu không là vô lý. Đối với kẻ trả lời rằng không, thì phạt nó còn là quá hân hạnh cho nó, hạng ấy cứ giam vào ngục là xong”.
– Đối với các mầu nhiệm, họ bảo người tin có mầu nhiệm nghĩa là tin cái không hiểu được, là mê tín. Không phải là mê tín. Tin mầu nhiệm chỉ là công nhận rằng sự thông minh của Thiên Chúa vượt hẳn trí khôn ta. Ông Charles Nicolle, một bác học có hạng, khi trở lại Công giáo nói: “May mà còn có những mầu nhiệm của tôn giáo! Nếu không, thì thật là khả nghi, vì tôi sợ rằng đó chỉ là sản phẩm giả tạo của trí óc loài người. Mầu nhiệm của tôn giáo làm tôi an tâm. Nó là biểu hiệu của Thiên Chúa” (Lm. Trần Văn Khả, Phúc âm Chúa nhật năm B, tr 151-152).
Truyện: Phải chăng là phép lạ?
Trong chương trình “The Extraordinary” có kể câu chuyện lạ, xảy ra tại Melbourne, Australia vào năm 1987. Buổi sáng đẹp trời, một bà mẹ chở đứa con gái 7 tuổi đến trường. Đang lúc mẹ con trò chuyện vui vẻ, bất chợt một chiếc xe trọng tải đâm thẳng vào hông xe, nơi em bé ngồi. Em bé bị ngất xỉu. Sau khi cứu sống, hội đồng bác sĩ cho biết là em sẽ không bao giờ có thể đi lại được nữa! Em sống, nhưng mất nhiều khả năng tri giác và cảm xúc. Thật là tin buồn cho người mẹ. Tuy nhiên bà ngoại vẫn điềm tĩnh và có linh cảm rằng cháu của bà sẽ được ơn đặc biệt. Bà thường đến bệnh viện thăm và giúp cháu đọc kinh và cầu nguyện. Những ai thấy bệnh trạng của em bé đều thương hại cho em. Nhiều người ngạc nhiên là trên khuôn mặt của em luôn hiện lên sự bình an từ trong tâm hồn và niềm vui siêu nhiên. Sau khi rời bệnh viện, dần dần em đi học lại và theo kịp các bạn cùng lớp (Hà Ngọc Đoài).
Câu chuyện em bé hôm nay và con gái ông trưởng hội đường hôm xưa cũng tương tự. Xưa và nay cũng chỉ là một Thiên Chúa. Ngài luôn tươi trẻ với thời gian và luôn gần gũi trong không gian để an ủi và nâng đỡ những ai tìm đến Ngài.
III. ĐỨC TIN VÀ HÀNH ĐỘNG
1. Phải cộng tác với Chúa
Thánh Giacôbê đã khẳng định về sự cần thiết của việc làm song song với đức tin: “Đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết. Đàng khác, có người sẽ bảo: Bạn, bạn có đức tin; còn tôi, tôi có hành động. Bạn thử cho tôi thấy thế nào là tin mà không có hành động, còn tôi, tôi sẽ hành động để cho bạn thấy thế nào là tin” (Gc 2, 17-18).
Tin là cộng tác với ơn Chúa, và muốn sống đời đời cũng phải đồng hành với Chúa như người đàn bà băng huyết, bà nghĩ mình phải làm cái gì đó chứ không chỉ tin suông, nên bà đã đến với Chúa chớ không chờ Chúa đến với mình.
Ông Giairô cũng vậy, ông tin Đức Giêsu có thể cứu sống con ông, ông vội vã đến với Chúa. Cả hai đều tin tưởng vào Chúa và nỗ lực cộng tác với Ngài. Vì thế, chúng ta không thể cứ thụ động chờ Chúa làm phép lạ, nhưng hãy sử dụng hết những phương tiện Chúa ban, còn phần kia tuỳ Chúa định liệu.
Truyện: Hãy tự cứu mình trước
Câu chuyện xảy ra vào mùa thu, có một vùng quê bị một trận lụt dữ dội tàn phá, khiến cho một bà già bị kẹt trong căn nhà bà. Đang khi bà ta đứng tựa cửa sổ nhà bếp nhìn ra thì một chiếc thuyền xuất hiện, người lái thuyền bảo bà: “Hãy leo lên thuyền để thoát nạn”. Bà lão đáp lại: “Không, cám ơn, tôi tin vào Chúa, Ngài sẽ cứu tôi”. Người lái thuyền lắc đầu rồi bỏ đi.
Ngày hôm sau, cơn lụt dâng cao đến tầng hai của căn nhà. Đang lúc bà lão đứng tựa cửa sổ tầng hai ngắm nhìn con nước thì một chiếc thuyền khác lại xuất hiện. Người lái thuyền bảo bà: “Hãy lên thuyền để thoát nạn”. Bà già đáp lại: “Không, cảm ơn, tôi tin vào Chúa. Ngài sẽ cứu tôi”. Người lái thuyền lắc đầu rồi bỏ đi.
Ngày kế tiếp cơn nước dâng lên tận nóc nhà. Đang khi bà lão ngồi trên nóc nhà nhìn con nước dâng, một chiếc trực thăng lại hiện ra. Viên phi công dùng loa gọi vọng xuống: “Tôi sẽ thả một chiếc thang dây cho bà, hãy leo lên và bà sẽ thoát nạn”. Bà già lại nói: “Không, cảm ơn, tôi tin vào Chúa, Ngài sẽ cứu thoát tôi”. Viên phi công nhìn bà lắc đầu, rồi bỏ đi.
Ngày sau đó, cơn lụt nhận chìm ngôi nhà và bà lão bị chết đuối. Khi được đưa về trời, bà ta nói với thánh Phêrô: “Trước khi vào đây, tôi xin được phàn nàn một điều. Tôi đã tin chắc Chúa sẽ cứu tôi thoát khỏi trận lụt, thế mà Ngài lại để tôi bị chết chìm”. Thánh Phêrô bối rối nhìn bà lão đoạn lên tiếng: “Tôi chả hiểu Chúa có thể làm thêm điều gì được cho bà nữa, vì Ngài đã gửi tới cho bà những hai chiếc thuyền và một chiếc trực thăng rồi còn gì” (M. Link, Giảng lễ Chúa nhật, năm B, tr 254-255).
Bà lão trong trận lụt này quá lầm lẫn. Bà quên rằng Chúa thường hoạt động trong đời sống chúng ta xuyên qua những phương tiện bình thường. Bà quên rằng chúng ta phải làm hết phận vụ mình và hợp tác với Chúa bằng cách sử dụng những phương tiện bình thường Ngài ban cho ta. Nói cách khác, chúng ta không thể ngồi thụ động chờ Chúa làm phép lạ, mà phải dùng tất cả mọi phương tiện thông thường Chúa ban để tự giúp mình trước đã.
Tục ngữ Việt Nam đã nói lên chân lý này: “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”: con người phải bắt đầu làm đã, còn thành bại thế nào thì sẽ do Trời định liệu. Nhưng về phía Trời thì chắc chắn: “Thiên thượng bất phụ hảo tâm nhân”, Trời sẽ giúp cho những ai biết cố gắng dùng mọi phương tiện Chúa đã ban cho, đúng như tục ngữ Pháp có câu Aide-toi, le Ciel t’aidera: anh hãy tự giúp mình trước, Trời sẽ giúp mình sau.
2. Xét lại đức tin của mình
Qua thái độ của người đàn bà băng huyết và của ông trưởng hội đường Giairô, ta thử xét lại đức tin của chúng ta xem sao: Tin khi đời sống bình an, thuận buồm xuôi gió thì chưa hẳn là đức tin thật, nó phải được tôi luyện trong đau khổ, trong khó khăn, trong gian nan thử thách mà vẫn kiên trì, thì đức tin ấy mới có thể làm nên phép lạ.
Hay nói đúng hơn, lúc ấy Thiên Chúa mới trợ giúp, mới cứu chữa, vì khi đó chúng ta không tin vào sức riêng mình mà tin vào Chúa, thì Chúa phải thực hiện thôi. Như Abraham xưa, như Phêrô đi trên mặt biển, như người đàn bà và ông Giairô trong bài Tin mừng hôm nay, chúng ta hãy tin tưởng.
Cuộc đời của chúng ta không bao giờ hết đau khổ. Chúng ta có thể cảm nghiệm tình yêu của Thiên Chúa cả trong đau khổ. Sự hiện diện của Thiên Chúa không nhất thiết lấy đi đau khổ, nhưng cho chúng ta năng lực chuyển hoá đau khổ. Chúng ta cần Thiên Chúa giúp đỡ để linh hồn chúng ta không bị thu hẹp vào sự thụ động hoàn toàn, gần giống như những đồ vật, bị tác động nhưng không bao giờ hoạt động.
Thấu hiểu chân lý này, ông Francois Mauriac đã phát biểu: “Ngài đến không phải để cất sự đau khổ mà để hiện diện với đau khổ”. Như vậy nghĩa là Ngài đến ban đức tin cho chúng ta, để chúng ta biết chịu đựng đau khổ, biết chuyển hoá đau khổ, biến nó thành phương tiện để đạt tới ơn cứu độ. Bằng không thì chúng ta chịu đau khổ một cách vô ích và những đau khổ trở nên vô nghĩa.
Những ai không có đức tin thì gặp nhiều bất lợi trước đau khổ. Họ chịu đựng đau khổ gấp ba lần: họ chịu đựng bệnh tật, họ chịu đựng sự vô nghĩa của bệnh tật (vì đối với họ, bệnh tật chỉ là phiền toái, kết quả của một số phận mù quáng) và họ chịu đựng đau khổ vì cuộc sống của họ bị ngưng trệ. Họ coi bệnh tật của họ như một việc phải chịu đựng thay vì một việc phải sống. Đời sống của họ như bị giữ chặt lại, vì họ chờ đợi thụ động cho đến khi mọi việc trở lại bình thường để họ có thể bắt đầu cuộc sống trở lại.
Mặt khác, các bệnh nhân có đức tin ở trong một tình thế tốt hơn. Dù đức tin không giải thoát họ khỏi bệnh tật, hoặc làm giảm bớt đau khổ do bệnh tật gây ra, người có đức tin tiếp tục sống một cách mãnh liệt như trước đây, có khi còn mãnh liệt hơn. Họ có thể tìm thấy Thiên Chúa trong bệnh tật cũng như trong lúc khoẻ mạnh, và bệnh tật của họ có thể sinh ra kinh nghiệm có lợi là họ sẽ xin Chúa chữa lành cho bệnh tật ấy (Flor McCarthy).

