DẪN NHẬP
Anh hùng và thi sĩ
Lòng trào dâng những lời cẩm tú.
Miệng ngâm thơ mừng chúc thánh quân
(Tv 45,2)
Có nhiều con đường hoặc phương pháp tiếp cận con người Đức Giêsu. Chẳng hạn, người ta có thể bắt đầu trực tiếp từ Kinh Thánh, nhưng ngay cả trong trường hợp này, có thể vay mượn những con đường khác nhau: con đường kiểu mẫu song đối, theo sau là huấn giáo cổ xưa nhất của Giáo Hội, giải thích về Đức Giêsu dưới ánh sáng của những lời tiên tri và những hình bóng của Cựu Ước; con đường lịch sử tái tạo sự phát triển của niềm tin vào Đức Kitô, từ các truyền thống khác nhau, các tác giả và các tước hiệu Kitô học, hoặc từ các môi trường văn hóa khác nhau của Tân Ước. Ngược lại, người ta có thể bắt đầu từ những câu hỏi và vấn đề của con người hôm nay, hoặc trực tiếp từ niềm hy vọng vào chính Đức Kitô, rồi từ đó ngược lên Kinh Thánh. Tất cả những con đường này đã được khám phá rộng rãi.
Truyền thống Giáo Hội đã nhanh chóng xây dựng cách riêng của mình để tiếp cận mầu nhiệm Đức Kitô, cách riêng của mình để thu thập và sắp xếp dữ kiện Kinh Thánh liên quan đến Ngài, và cách này được gọi là tín điều Kitô học, con đường tín điều. Qua tín điều Kitô học, tôi muốn nói đến những chân lý cơ bản liên quan đến Đức Kitô, được các Công đồng chung đầu tiên định tín – nhất là Công đồng Calcêđônia – những chân lý đó, về bản chất, có thể được tóm tắt trong ba điểm sau: Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật, là người thật, Ngài là một ngôi vị.
Đến gần Đức Kitô, bằng con đường Truyền Thống và tín điều, có nghĩa là đến gần Ngài theo cách mà chính Ngài đã vạch ra, nhờ Thần Khí của Ngài, để đến với chúng ta. Ở đây giống như việc khám phá ra những nguồn mạch xa xôi của những con sông lớn: không có phương pháp nào bảo đảm hơn là đi ngược dòng chảy của chính con sông.
Trong những bài suy niệm này, tôi đã tìm cách tiếp cận con người Đức Giêsu bằng cách đi theo chính xác con đường này, vốn là con đường cổ điển trong Giáo Hội. Do đó, có sáu bài, hai bài dành cho nhân tính của Đức Kitô, hai bài cho thần tính của Ngài và hai bài cho sự duy nhất về ngôi vị của Ngài. Tiếp theo là chương kết thúc, hơi khác so với các chương trên, một kiểu bàn thêm, trong đó tôi cố gắng đánh giá có phê phán về những luận đề được đưa ra gần đây do một số trào lưu, được gọi là “Kitô học mới”, đặc biệt liên quan đến vấn đề về thần tính của Đức Kitô.
Tín điều Kitô học không được hiểu là một tổng hợp của tất cả các dữ kiện Kinh Thánh, một loại chắt lọc chứa đựng những quả quyết vô cùng phong phú liên quan đến Đức Kitô, mà người ta thấy trong Tân Ước, giản lược mọi sự thành công thức khô khan và cằn cỗi: “hai bản tính, một ngôi vị”. Nếu đúng như vậy, tín điều sẽ bị rút gọn một cách khủng khiếp và thậm chí còn nguy hiểm nữa. Nhưng đó không phải là trường hợp ở đây. Về Đức Kitô, Giáo Hội tin và rao giảng tất cả những gì Tân Ước khẳng định về Ngài, không loại trừ bất cứ điều gì. Thông qua trung gian tín điều, Giáo Hội chỉ tìm cách vạch ra một hệ quy chiếu, thiết lập một loại “luật nền tảng” mà bất cứ tuyên bố nào về Đức Kitô cũng phải tuân theo. Tất cả những gì được nói về Đức Kitô từ nay phải tôn trọng dữ kiện chắc chắn và không thể chối cãi này, đó là: Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là con người, trong cùng một ngôi vị.
Các tín điều là những “cơ cấu mở” sẵn sàng đón nhận tất cả những gì mà mỗi thời kỳ khám phá ra mới mẻ và xác thực trong lời Chúa, liên quan đến các chân lý mà các tín điều muốn định tín, chứ không muốn đóng lại. Chúng mở theo cách tiến triển từ bên trong, với điều kiện là luôn phải “cùng chiều hướng và cùng đường lối”. Điều đó có nghĩa là không có sự giải thích được đưa ra ở một thời kỳ lại mâu thuẫn với thời kỳ trước đó.
Tuy nhiên, thật đúng là qua nhiều thế kỷ, vai trò của tín điều đã bị lãng quên và mối liên hệ của nó với Kinh Thánh đã bị đảo ngược, đến nỗi Kinh Thánh không còn là nền tảng, và tín điều không còn là điều bày tỏ ra, nhưng tín điều là nền tảng, và Kinh Thánh là điều bày tỏ ra. Nói cách khác, không phải tín điều dùng để giải thích Kinh Thánh, nhưng là Kinh Thánh dùng để giải thích tín điều. Khi đó, Kinh Thánh được chia nhỏ, như đã thường bị chia nhỏ thành các câu nhỏ biệt lập, được tạo ra để hỗ trợ cho các luận đề tín lý đã được thiết lập trước, với danh nghĩa là các bằng chứng, trong số những bằng chứng khác, được rút ra từ lý trí, truyền thống, phụng vụ, v.v.
Một khi ý nghĩa nguyên thủy được phục hồi, tín điều tạo thành con đường an toàn nhất, hôm nay cũng như hôm qua, để khám phá Đức Giêsu thật. Và không chỉ an toàn nhất, mà còn đẹp nhất, trẻ nhất, đầy hứa hẹn nhất, giống như tất cả những điều không phải ngẫu hứng một sớm một chiều, theo lý thuyết mới nhất đang thịnh hành, nhưng chín muồi từ từ, nếu có thể nói như vậy, trước mặt trời và mặt nước của lịch sử mà tất cả các thế hệ đã đóng góp. Kierkegaard đã viết: “Hệ thống thuật ngữ tín điều của Giáo Hội nguyên thủy giống như một lâu đài thần tiên, nơi những công chúa và hoàng tử duyên dáng nhất đang ngủ say. Chỉ cần đánh thức họ, để họ đứng dậy trong tất cả vinh quang của họ”.[1]
Tuy nhiên, tiếp cận Đức Kitô bằng con đường tín điều không có nghĩa là cam chịu lặp đi lặp lại không ngừng, chán ngắt, cũng những điều liên quan đến Ngài, dù chỉ bằng cách thay đổi từ ngữ. Điều này có nghĩa là đọc Kinh Thánh theo Truyền Thống, với con mắt Giáo Hội, nghĩa là đọc Kinh Thánh theo cách luôn cũ và luôn mới. Theo thánh Irênê, chân lý được mạc khải “giống như một thứ rượu quý hiếm chứa trong một chiếc bình quý giá, nhờ công việc của Chúa Thánh Thần, nó không ngừng trẻ hóa và cũng làm cho chiếc bình chứa nó trẻ lại”[2]. Giáo Hội có thể đọc Kinh Thánh theo cách luôn mới, bởi vì chính Giáo Hội không ngừng được Kinh Thánh đổi mới! Đó là bí mật lớn và rất đơn giản do thánh Irênê khám phá ra: nó giải thích sự trẻ trung vĩnh cửu của Truyền Thống, và do đó giải thích các tín điều, là biểu hiện cao nhất của Truyền Thống.
Nhưng những lời này của thánh Irênê cũng cho thấy đâu là điều kiện, hay đúng hơn, tác nhân chính của sự mới mẻ và tươi trẻ vĩnh cửu này: đó là Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần giúp Giáo Hội thu thập các kích thích luôn mới, là điều, theo thời gian, phản ánh lịch sử và suy tư của con người (những gì được gọi là “thời điềm”) và, dưới sự thúc đẩy này, mời gọi chúng ta đọc lời Chúa theo cách ngày càng mới mẻ và sâu sắc hơn. Một Giáo Phụ mô tả Chúa Thánh Thần là “ánh sáng của các tín điều”. Một định nghĩa gây ngạc nhiên, cống hiến cho chúng ta một niềm hy vọng táo bạo. Vào thời kỳ của chúng ta, khi chúng ta đòi hỏi và cảm nghiệm phần nào một sự đổi mới biết bao nhiêu điều trong Giáo Hội, dưới tác động của Chúa Thánh Thần – cầu nguyện, đời sống tu trì, các định chế – thì đây, một lãnh vực khác bỗng hình thành, nơi Chúa Thánh Thần có thể và muốn đem lại một sức sống mới: lãnh vực tín điều.
Canh tân tín điều nhờ Chúa Thánh Thần không có nghĩa là chúng ta nói về Chúa Thánh Thần càng nhiều càng tốt, liên hệ đến bất cứ vấn đề thần học nào. Chúa Thánh Thần giống như ánh sáng. Ánh sáng chiếu sáng và cho phép nhìn thấy mọi sự, không phải khi chúng ta đặt nó trước mắt hay khi chúng ta xác định nguồn gốc của nó, nhưng là khi nó ở phía sau chúng ta và chiếu sáng mọi sự trước mặt chúng ta, trong khi, có thể nói, nó ở bên ngoài. Thần Khí là Đấng chiếu sáng trên Đức Giêsu Kitô và làm cho cho người ta nhận biết Ngài. Thánh Phaolô coi Đức Giêsu như một “mầu nhiệm được mạc khải cho các thánh Tông Đồ và các tiên tri nhờ trung gian của Chúa Thánh Thần” (x. Ep 3,5). Cũng như người ta không thể tuyên xưng “Đức Giêsu là Chúa”, nếu không phải “trong Chúa Thánh Thần” (x. 1Cr 12,3), cũng vậy, người ta không thể tuyên xưng Ngài là “Thiên Chúa thật và người thật”, nếu không phải “trong Chúa Thánh Thần”. Cùng một sự khác biệt như vậy, về phương diện đích danh tôn giáo của nghệ thuật thánh, giữa một linh ảnh Đông phương về Mẹ Thiên Chúa và một Madonna của Leonardo da Vinci, Botticelli hoặc Raphael; cũng khác biệt như vậy giữa một diễn từ về Đức Kitô được thực hiện “trong Chúa Thánh Thần” và một diễn từ, thậm chí rất uyên bác và hoàn hảo về mặt kỹ thuật, nhưng không được thực hiện trong Chúa Thánh Thần. Một bài giúp người ta tin và cầu nguyện, bài kia thì không.
Về điều đó, tín điều chia sẻ đặc quyền của Kinh Thánh, miễn là có những phân biệt cần thiết. Người ta không thể hiểu ý định sâu xa nhất của Kinh Thánh, được Chúa Thánh Thần linh hứng, nếu không đọc theo cách “thiêng liêng”, nghĩa là trong Chúa Thánh Thần; cũng như vậy là đối với tín điều, do Giáo Hội định tín, dưới ảnh hưởng của Chúa Thánh Thần: người ta không thể hiểu được bản chất và sự năng động sâu xa của nó, nếu không phải dưới ánh sáng của cùng một Chúa Thánh Thần.
Trong những bài suy niệm này, đây là mục tiêu mà tôi đã đặt ra cho mình: cho thấy Chúa Thánh Thần, Đấng làm sống động mọi sự trong Giáo Hội, cũng có thể và trên hết làm sống động tín điều Công giáo, làm cho nó tỏa sáng với một ánh sáng mới, cho các tín hữu yêu mến nó, sau khi đã đưa nó đến gần với kinh nghiệm của họ. Cho thấy tín điều không chỉ mang những điều chắc chắn, mà còn mang lại nghị lực cho Giáo Hội. Tóm lại là đề ra một phác thảo về Kitô học “có chiều hướng Thần Khí”.
Vào thời kỳ như thời kỳ hiện nay, thời mà chúng ta đang chứng kiến rất nhiều người từ chối, trong đức tin, tất cả những gì có tính khách quan, được lưu truyền và ràng buộc về mặt giáo lý, có lợi cho các hình thức mới của tôn giáo bí truyền và phi thời gian – nơi mọi sự đều để tùy vào sở thích thiêng liêng của cá nhân và “kinh nghiệm” riêng của mình – việc tái khám phá bản chất thực sự và “bộ mặt” thực sự của các tín điều thuộc đức tin Kitô giáo xem ra là một nhiệm vụ cấp bách và quan trọng. Nói với những người ngoại giáo vào thời của mình, Tertullianô cho biết: “Chân lý Kitô giáo chỉ đòi hỏi một điều: không bị lên án mà không biết: ne ignorata damnetur“[3].
Những gì tôi thực sự nói được có thể rất ít, nhưng đủ để tôi thể hiện khả năng đưa ra ý tưởng, với hy vọng rằng nó sẽ được những người khác, những người có thể làm tốt hơn tôi, đón nhận và thực hiện. Trong nỗ lực này, công trình của Kierkegaard đã giúp tôi rất nhiều; thực sự tác giả này – với một chút dè dặt – đã có công lớn trong việc đưa các chân lý tín điều của Giáo Hội cổ thời vào trọng tâm của tư tưởng hiện đại, nhưng không vì vậy mà làm tan biến chúng trong tư tưởng này, như thế chứng minh rằng tín điều đức tin và tư tưởng hiện đại, trên thực tế, không phải là không tương thích với nhau, như đôi khi người ta đã nghĩ.
Cuối cùng là đôi lời về mục đích thực tế cho những người đón nhận những suy tư này. Chúng bắt nguồn từ các bài suy niệm tại Phủ Giáo hoàng trong Mùa Vọng. Nếu tôi quyết định cho in chúng, chính vì với hy vọng chúng có thể phục vụ như một sự tích hợp (intégration), dù chỉ khiêm tốn, và trong một số trường hợp, còn như một sự điều chỉnh, mà người ta sẽ nhớ đến khi học về Kitô học.
Nhưng, còn hơn cả việc học, tôi muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc loan báo Đức Kitô ngày hôm nay. Trước “làn sóng mới” Phúc Âm hóa, để chuẩn bị cho thiên niên kỷ thứ ba ngày Đức Kitô giáng sinh, chúng ta không chỉ cần những người chuyên môn về Kitô học, mà còn và trên hết những người say mê Đức Kitô, biết nói về Ngài và dọn đường cho Ngài, với cùng một sự khiêm tốn và nhiệt thành như những gì đã được Vị Tiền Hô, Gioan Tẩy Giả, thể hiện lần đầu tiên. Kierkegaard còn viết: “Cũng như khi đã tạo ra người nam và người nữ, Thiên Chúa cũng đã tạo ra anh hùng và thi sĩ, hoặc diễn giả. Thi sĩ không thể làm bất cứ điều gì vị anh hùng làm; ông chỉ có thể ngưỡng mộ, yêu mến vị anh hùng và vui mừng với người này. Không kém gì người này, tuy nhiên, ông được ưu ái, vì vị anh hùng, có thể nói, là điều tốt nhất của con người ông, thứ mà ông say mê, hạnh phúc khi chính ông không phải là anh hùng, để tình yêu của ông được biểu lộ bằng sự ngưỡng mộ. Thi sĩ là thiên tài nhớ lại; ông không thể làm gì khác ngoài nhớ lại điều đã được làm, ngưỡng mộ điều đã được thực hiện; ông không lấy gì từ tài sản của mình, nhưng ông rất gắn bó với kho tàng mà ông bảo vệ. Ông làm theo sự lựa chọn của con tim. Một khi đã tìm thấy đối tượng mình tìm kiếm, ông đi từ nhà này sang nhà khác, ca hát và diễn thuyết, để mọi người chia sẻ sự ngưỡng mộ của ông đối với vị anh hùng và tự hào về người này như ông. Đó là hành động của ông, nhiệm vụ khiêm tốn của ông, sự phục vụ trung thực của ông trong ngôi nhà của vị anh hùng”[4].
Tôi sẽ cho mình là hạnh phúc nếu có được một người trẻ, khi đọc những suy tư này, cảm thấy nẩy sinh trong mình ơn gọi được vào số những thi sĩ và người ngưỡng mộ, đi từ nhà này sang nhà khác, từ thành phố này đến thành phố khác, công bố danh xưng và tình yêu của Đức Kitô, vị “anh hùng” chân thật độc nhất của thế giới và lịch sử. Độc nhất vì Ngài cũng là Thiên Chúa.
