I. “NGƯỜI ĐÃ CHỊU THỬ THÁCH VỀ MỌI PHƯƠNG DIỆN CŨNG NHƯ TA, NHƯNG KHÔNG PHẠM TỘI”
Sự thánh thiện của nhân tính Đức Kitô
Trong Phúc Âm thứ tư, có một câu chuyện với nét bề ngoài hoàn toàn tương đương với lời tuyên tín của Phêrô ở Cêsarêa Philípphê. Số là, sau bài giảng về bánh sự sống, tại hội đường Capharnaum, và phản ứng tiêu cực của một số môn đệ, Đức Giêsu quay ra hỏi các Tông Đồ có muốn bỏ Ngài không, Phêrô đáp: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,68-69).
Tước hiệu “Đấng Thánh của Thiên Chúa” ở đây thay thế cho tước hiệu “Đức Kitô” (Mc 8,29), hay “Đức Kitô của Thiên Chúa” (Lc 9,20), hay “Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16), mà chúng ta thấy trong lời tuyên tín của Phêrô ở Cêsarêa. Cũng trong trường hợp này, lời tuyên bố của Phêrô được coi như một mạc khải từ trên, chứ không phải là kết quả của suy luận hay diễn dịch của con người.
Trong các sách Phúc Âm, chúng ta lại thấy cùng một tước hiệu “Đấng Thánh của Thiên Chúa”, trong một bối cảnh hoàn toàn ngược lại, cho dù sự kiện cũng xẩy ra tại hội đường Capharnaum. Một người bị thần ô uế ám bắt đầu la lên, ngay khi thấy Đức Giêsu xuất hiện: “Ông Giêsu Nadaret, chuyện chúng tôi can gì đến ông, mà ông đến tiêu diệt chúng tôi sao. Tôi biết ông là ai rồi: ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Lc 4,34). Nhận thức về chính sự thánh thiện của Đức Kitô ở đây là tương phản nhau. Giữa Chúa Thánh Thần, Đấng ở trong Đức Giêsu, và thần ô uế, có một sự đối lập chết người, và ma quỷ là kẻ đầu tiên có kinh nghiệm về điều đó. Chúng không thể “chịu đựng” được sự thánh thiện của Đức Kitô.
Tước hiệu “Đấng Thánh của Thiên Chúa” nhiều lần gặp lại trong Tân Ước, và có liên quan đến Chúa Thánh Thần mà Đức Giêsu đã lãnh nhận khi Ngài vào thai (x. Lc 1,35), hoặc khi Ngài chịu phép rửa ở sông Giođan. Sách Khải huyền đơn giản gọi Đức Giêsu là “Đấng Thánh”: “Đây là lời của Đấng Thánh…” (Kh 3,7). Đó là một tước hiệu vào loại lâu đời nhất và giàu ý nghĩa nhất, có thể giúp chúng ta khám phá một khía cạnh ít được nghiên cứu, về con người của Đức Kitô, và khơi dậy trong chúng ta lòng khao khát và hoài niệm về sự thánh thiện.
1. Một sự thánh thiện tuyệt đối
Có vẻ lạ khi chúng ta dành suy tư đầu tiên này về tín điều nhân tính của Đức Giêsu, để xét sự thánh thiện của Ngài; nhưng động lực sẽ xuất hiện rõ ràng sau này, khi chúng ta xét vấn đề nhân tính của Đức Kitô trong thế giới hôm nay. Lúc này, chúng ta chỉ cần lưu ý rằng chủ đề về sự thánh thiện của Đức Giêsu hay chủ đề về việc không có bất cứ tội lỗi nào nơi Ngài, được Tân Ước liên kết chặt chẽ với chủ đề về nhân tính của Ngài, “giống chúng ta mọi sự, trừ ra tội” (Dt 4,15).
Quả thực, trong Tân Ước, sự thánh thiện của Đức Giêsu được đặc biệt nhấn mạnh, ở khía cạnh tiêu cực là không có tội. Đức Giêsu nói với các kẻ thù: “Ai trong các ông chứng minh được là tôi có tội?” (Ga 8,46). Về điểm này chúng ta thấy có sự nhất trí trong chứng từ của các Tông Đồ: “Đấng chẳng hề biệt tội là gì” (2Cr 5,21); “Người không hề phạm tội; chẳng ai thấy miệng Người nói một lời gian dối” (1Pr 2,22); “Người đã chịu thử thách về mọi phương diện như ta, nhưng không phạm tội” (Dt 4,15); “Một vị Thượng Tế thánh thiện, vẹn toàn, vô tội, tách biệt khỏi đám tội nhân” (Dt 7,26). Trong thư thứ nhất, Gioan không ngừng tuyên bố: “Người là Đấng thanh sạch… nơi Người không có tội… Người là Đấng Công Chính” (1Ga 3,3-7).
Trước lời quả quyết nhất trí là tuyệt đối không có bất cứ tội lỗi nào nơi con người Giêsu Nadaret, có hai câu hỏi được đặt ra: trước hết, do đâu mà các Tông Đồ biết rằng không có bất cứ tội lỗi nào nơi Đức Giêsu, vì mọi quả quyết về vấn đề này đều đến từ các ngài? Thứ hai, sự kiện không có bất cứ tội lỗi nào nơi Đức Giêsu đến từ đâu? Nói cách khác, làm sao Đức Giêsu, một con người như những người khác, lại có thể không mắc tội lỗi nào?
Thần học truyền thống, thời Thượng cổ cũng như thời Trung cổ, đã hoàn toàn không biết đến vấn đề thứ nhất – vốn có bản chất lịch sử và thông diễn học, và điển hình là hiện đại – và đặt ngay ra vấn đề thứ hai, thuộc hữu thể học. Thần học ấy lập tức đi tìm nền tảng hoặc nguyên tắc của sự việc, như một lẽ tự nhiên đối với văn hóa thời bấy giờ, mà không quá quan tâm đến sự phát triển của nó. Các Giáo Phụ luôn cho rằng việc Đức Kitô không thể có tội bắt nguồn từ ngôi hiệp, hoặc – như chủ trương của một số người thuộc trường phái Antiokia – từ sự kết hợp luân lý giữa Thiên Chúa và con người, được thể hiện nơi Đức Giêsu Nadarét. Nói rằng Ngài có thể phạm tội cũng giống như nói rằng ngay cả Thiên Chúa cũng có thể phạm tội, một điều cực kỳ phi lý.
Chẳng hạn, đây là cách Origen giải thích về việc Đức Giêsu không thể phạm tội: “Chúng tôi tin rằng sức nóng của lời Chúa đến với mọi thánh nhân; nhưng trong linh hồn này [linh hồn Đức Kitô], chính lửa thần linh đã cư ngụ, theo bản thể, và từ ngọn lửa ấy mà một phần sức nóng đến với những người khác. Quả thực, những lời: “Thiên Chúa là Thiên Chúa của ngài, đã tôn phong ngài vượt trổi các đồng liêu, mà xức cho dầu thơm hoan lạc” (Tv 45,8) cho thấy rằng linh hồn này, được xức dầu bằng “dầu thơm hoan lạc”, tức là bằng lời và sự khôn ngoan của Thiên Chúa, được xức dầu khác với những người dự phần với Ngài, tức là các thánh tiên tri và tông đồ. Thật vậy, Kinh Thánh nói những người này vội vã “đến với mùi hương thơm ngát của Ngài” (x. Dc 1,4 tt); trong khi linh hồn này chính là bình dầu thơm, thì tất cả những người xứng đáng dự phần vào hương thơm của Ngài và họ đã trở thành các tiên tri và tông đồ. Vì vậy, cũng như mùi của dầu thơm không giống với chất của dầu thơm, thì Đức Kitô cũng khác với những người cùng dự phần với Ngài. Và cũng giống như chiếc bình chứa đựng chất của dầu thơm không thể chấp nhận mùi hôi, khi mà những người dự phần vào mùi của nó, nếu họ tránh xa quá lâu hương thơm của nó, có thể đón nhận mùi hôi xẩy đến, thì cũng thế, Đức Kitô, là bình đựng chất dầu thơm, không thể đón nhận mùi hôi; và những người dự phần với Đức Kitô, càng ở gần chiếc bình thì càng dự phần vào mùi thơm của nó”[5].
Do đó, theo quan điểm này, Đức Giêsu không có tội, vì linh hồn của Ngài kết hợp theo bản thể (sau này người ta sẽ nói là theo ngôi hiệp) với chính nguồn mạch thánh thiện, là Ngôi Lời. Thần học gần đây, được gọi là khởi giảng, đã đi theo con đường hơi ngược lại. Bỏ qua một bên vấn đề hữu thể học – đó là: nơi Đức Kitô, việc Ngài không có tội đến từ đâu? – thần học đó đặt ra vấn đề mang tính quyết định, tức là: các Tông Đồ biết hoặc tin chắc Đức Giêsu không có tội, việc này đến từ đâu? Câu trả lời là: từ sự phục sinh! Sự tin chắc Đức Kitô không có tội không đến từ việc quan sát trực tiếp cuộc sống của Ngài. Dưới con mắt của những người khác, cuộc đời hoặc cách cư xử của Đức Giêsu là hàm hồ, nghĩa là có thể bị đánh giá theo nhiều cách khác nhau. Ngài có thể được coi là kẻ báng bổ nhất hoặc tội nhân lớn nhất, hoặc là vị thánh vĩ đại nhất và là người công chính tuyệt vời nhất. Chỉ với sự phục sinh, như thánh Phaolô đã nói ở Arêôpagô, Thiên Chúa mới đưa ra “bằng chứng chắc chắn” liên quan đến Đức Giêsu (x. Cv 17,31). Đức Giêsu “đã được Chúa Thánh Thần chứng thực là công chính” nhờ sự phục sinh, nghĩa là Ngài được tuyên xưng là công chính (x. 1Tm 3,16). Phục sinh là lúc Chúa Thánh Thần thuyết phục thế giới về “sự công chính” của Đức Kitô (x. Ga 16,10). Nếu không có sự phán xét này của Thiên Chúa, mọi khả năng hiểu biết sẽ bị cấm đoán đối với các Tông Đồ và đối với chính chúng ta. Do đó, việc Đức Kitô không thể phạm tội không bắt nguồn từ một a priori (điều tiên nghiệm), nhưng từ một a posteriori (điều hậu nghiệm), không phải từ điều khởi đầu cuộc sống của Ngài, tức sự ngôi hiệp, nhưng từ điều kết thúc cuộc sống ấy, tức sự phục sinh.
Tất cả điều đó chắc chắn tạo nên một bước tiến. Tuy nhiên, quan điểm khởi giảng gần đây không mâu thuẫn, không thay thế, cũng không khiến cho quan điểm truyền thống của các Giáo Phụ và các Công đồng thành vô dụng, như đôi khi người ta muốn diễn giải như vậy, nhưng chỉ bổ sung cho nó và hoàn thiện nó. Thậm chí chúng cần thiết cho nhau. Qua sự phục sinh, Đức Giêsu đã tỏ ra và được công nhận là vô tội, như – luôn luôn qua sự phục sinh – Ngài đã tỏ ra là “Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng” (x. Rm 1,4). Nhưng phải chăng việc Đức Giêsu, qua sự phục sinh, đã tỏ ra là “Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng” loại trừ việc Ngài đã là Con Thiên Chúa, trước thời điểm đó? Sự phục sinh đưa thực tại ra ánh sáng, nó không tạo ra thực tại này từ hư không; ai chủ trương ngược lại tức là rơi vào lạc thuyết dưỡng tử. Cũng như vậy đối với sự bất khả phạm tội. Sự bất khả này hẳn sẽ có trong cuộc đời Đức Giêsu, ngay cả khi, theo giả thuyết, không ai chú ý đến nó. Do đó, các Giáo Phụ không đặt ra một vấn đề sai lầm khi các ngài nghiên cứu nền tảng của sự bất khả phạm tội này, và tìm thấy nền tảng này trong sự kết hợp giữa nhân tính và thần tính nơi Ngài.
Bởi vậy, điều cần làm là không bác bỏ lối giải thích hữu thể học truyền thống, để chỉ theo lối giải thích khởi giảng hiện đại, và ngược lại, cũng không bác bỏ lối giải thích phong phú hiện đại, để chỉ bám vào lối giải thích cũ; đúng hơn, phải tổng hợp cả hai. Như thế, nguyên tắc của Truyền Thống được an toàn, đó là được phong phú nhờ tiến triển, trong khi thái độ ngược lại sẽ phá hủy nó, khi đưa một nguyên tắc khác thay thế nguyên tắc của Truyền Thống. Chúng ta có hai nguồn ánh sáng cho phép chúng ta, từ hai phía đối lập, khám phá ra sự thánh thiện của Đức Giêsu: sự phục sinh và sự nhập thể. Sự phục sinh cho phép chúng ta quả quyết rằng nơi Đức Kitô không có tội lỗi; sự ngôi hiệp cho phép chúng ta quả quyết rằng nơi Đức Kitô không thể có tội lỗi. Một bên đặt nền móng cho tình trạng vô tội của Đức Kitô, trong khi bên kia cũng đặt nền móng cho sự bất khả phạm tội, một điều gì đó còn hơn thế nữa. Chúng ta phải sử dụng cả hai nguồn ánh sáng này. Xét riêng rẽ, mỗi quan điểm trong hai đều có bất lợi nghiêm trọng là làm cho sự thánh thiện thực sự của Đức Giêsu trong Phúc Âm trở nên không quan trọng, trong khi đó chính sự thánh thiện này lại quan trọng hơn hết cho việc chúng ta bắt chước Đức Kitô.
Cho rằng sự thánh thiện của Đức Kitô chỉ dựa trên sự phục sinh mà thôi cũng có thể có nguy hiểm: đó là mặc nhiên quan niệm sự phục sinh của Đức Giêsu – dưới ánh sáng của khái niệm công chính hóa nơi Luther – như một sự công chính hóa ngoại tại; như một tuyên bố về sự công chính, được thực hiện trong sự xét đoán tối cao của Thiên Chúa, bất kể có hay không có sự công chính này và sự thánh thiện này nơi con người Đức Kitô.
Sự vô tội, hoặc không có tội lỗi, nơi Đức Kitô khi đó sẽ hệ tại ở sự phán xét của Thiên Chúa về vấn đề này, khi Người cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết. “Sự công chính của Đức Giêsu ở bên ngoài Ngài, trong đôi tay của Chúa Cha, trong sự phán xét của Thiên Chúa.”[6] Đúng là người ta thừa nhận rằng “Đức Giêsu thực sự vô tội”, nhưng điều này dường như không quan trọng lắm; trong khi đó, đối với các tác giả Tân Ước, sự việc lại quan trọng đến nỗi các ngài không ngừng trở lại với nó.
2. Một sự thánh thiện được sống
Thế nên, ngay cả trong bối cảnh thần học hiện nay, chúng ta không phải sợ khi tham chiếu các sách Phúc Âm, chiêm ngắm sự thánh thiện của Đức Kitô trong đó, như thể sự thánh thiện mà Đức Giêsu đã sống chỉ là sự phóng chiếu niềm xác tín mà các Tông Đồ có được chỉ sau cuộc Vượt Qua của Ngài.
Việc quan sát các sách Phúc Âm khiến chúng ta đột nhiên thấy rằng sự thánh thiện của Đức Giêsu không chỉ là một nguyên tắc trừu tượng, hay một diễn dịch siêu hình, nhưng là một sự thánh thiện thực sự, được sống từng giây phút và trong những tình huống cụ thể nhất của cuộc sống. Lấy một ví dụ, các Mối Phúc không chỉ là một chương trình sống đẹp mà Đức Giêsu vạch ra cho người khác; đó là cách sống riêng và kinh nghiệm của Ngài, mà Ngài mạc khải cho các môn đệ của mình, kêu gọi họ bước vào lãnh vực thánh thiện của Ngài. Ngài dạy những gì Ngài làm; chính vì vậy Ngài có thể nói: “Anh em hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29). Ngài yêu cầu tha thứ cho kẻ thù, và chính Ngài còn đi xa tới mức tha cho những kẻ đang đóng đinh mình, khi nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).
Không chỉ tình tiết cụ thể này khác mới có thể minh họa cho sự thánh thiện của Đức Giêsu, mà còn bất cứ hành động hay lời nào phát ra từ miệng Ngài. Kierkegaard viết: “Chẳng ai thấy miệng Ngài nói một lời gian dối” (x. 1Pr 2,22), nhưng tất cả nơi Ngài đều là sự thật. Trong tình yêu của Ngài không có khoảng cách nào – ngay cả khoảng cách của một khoảnh khắc, một tình cảm, một dự phóng – giữa nghĩa vụ và việc chu toàn lề luật. Ngài không nói “vâng” như người anh, cũng không nói “không” như người em (x. Mt 21,28tt), vì lương thực của Ngài là làm theo ý Thiên Chúa (x. Ga 4,14). Như vậy, Ngài là một với Chúa Cha, là một với mỗi đòi hỏi của lề luật; như vậy, mối quan tâm duy nhất của Ngài là chu toàn nó, đó là điều cần thiết duy nhất trong đời Ngài. Tình yêu nơi Ngài được chuyển thành một hành động vĩnh viễn. Không lúc nào trong đời Ngài, dù chỉ một lần, tình yêu của Ngài tan thành một tình cảm trống rỗng, bằng lòng với những lời nói tan biến theo thời gian. Không bao giờ có một cảm tưởng tự mãn hay một thái độ thu mình lại, ngại dấn thân. Không, tình yêu của Ngài luôn hoạt động, ngay cả khi Ngài khóc, thì đó không phải là lãng phí thời gian, mà là vì Giêrusalem không nhận ra những gì mang lại bình an cho mình (x. Lc 19,41). Ngài biết điều đó. Và nếu những người đeo tang, những người đứng trước mộ Ladarô, không biết chuyện gì sẽ xảy ra, thì Ngài biết mình sẽ làm gì. Tình yêu của Ngài hiện diện trong những sự việc nhỏ nhất, cũng như trong những sự việc lớn nhất; và Ngài đã không tập trung cao độ hơn trong một vài dịp lớn, như thể những giờ phút khác của cuộc sống hàng ngày xa lạ với các đòi hỏi của lề luật. Ngài vẫn như vậy trong mọi trường hợp: khi chết trên thập giá tại đồi Canvê, thì cũng như khi được sinh ra trong máng cỏ ở Bêlem”.[7]
Bản văn này làm nổi bật sự toàn thiện của Đức Giêsu, xét trên phương diện tình yêu. Lịch sử linh đạo Kitô giáo đã đưa ra ánh sáng nhiều hình thức khác nhau của sự thánh thiện và toàn hảo, tất cả xét tổng thể đều phải quy về Đức Kitô, vì chúng phát xuất từ Ngài. Một trong số đó là lý tưởng về sự khiêm nhường và tâm hồn trong sạch, được thực hành trong chế độ đan tu Đông phương. Nó bao gồm việc dần dần loại bỏ tâm trí khỏi mọi ý nghĩ vô ích hoặc hướng ngoại, thông qua một cuộc đấu tranh khủng khiếp và rất tế nhị, cho đến khi hoạt động duy nhất còn lại là nghĩ tưởng về Chúa và cầu nguyện. Trạng thái siêu phàm này, Đức Giêsu đã sống suốt cuộc đời của Ngài. Ngài có thể nói rằng lương thực và hơi thở của Ngài là làm theo ý muốn của Chúa Cha.
Sự thánh thiện của Đức Kitô, trong trật tự đạo đức, biểu thị cái vô hạn, là cái không kém phần vĩ đại cũng như quan trọng hơn cái vô hạn siêu hình. Cũng vậy, khi xem xét tính vô hạn đạo đức hay sự toàn hảo này, tâm trí của chúng ta không biết làm gì. Không tội lỗi nào, không một khoảnh khắc nào tách rời khỏi ý muốn của Chúa Cha, không có chút gián đoạn nào giữa ý muốn làm điều thiện và thực sự làm điều thiện! “Tôi hằng làm những điều đẹp ý Người” (Ga 8,29).
Như chúng ta thấy, sự thánh thiện của Đức Kitô là kết quả của hai yếu tố: một, tiêu cực, là triệt để không có bất cứ tội nào, và hai, tích cực, là gắn bó liên tục và tuyệt đối với ý muốn của Chúa Cha. Nơi Đức Giêsu, có một sự trùng hợp hoàn hảo giữa là, phải là và có thể là. Trên thực tế, trong cuộc đời của mình, Ngài không chỉ làm những gì phải làm mà còn làm tất cả những gì có thể làm, mà trong trường hợp của Ngài, điều này vô cùng giá trị. Tiêu chuẩn không phải là một luật, nhưng là tình yêu.
Ngày nay, chúng ta có thể cảm nhận được một khía cạnh mới về sự thánh thiện của Đức Kitô, vốn đã vượt khỏi tầm tay các Giáo Phụ, do một số điều kiện, do nền văn hóa của thời đại các ngài và do không muốn ủng hộ lạc giáo Ariô. Khi đặt sự thánh thiện của Đức Kitô trên nền tảng ngôi hiệp, hoặc trên sự nhập thể, các ngài buộc phải gán cho Đức Giêsu một sự thánh thiện thiết yếu, tồn tại nơi Ngài ngay từ đầu cuộc đời, và bất biến, và dòng thời gian cùng lắm là có thể góp phần bày tỏ, chứ không phát triển. Theo họ, Chúa Thánh Thần mà Đức Giêsu đã lãnh nhận khi chịu phép rửa không nhằm thánh hóa nhân tính của Đức Kitô, nhưng là nhân tính của chúng ta. Thánh Athanasiô viết: “Việc Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Đức Giêsu, tại sông Giođan, liên quan đến chúng ta, vì Ngài đã mặc lấy thân xác chúng ta; việc đó không xảy ra để hoàn thiện Ngôi Lời, nhưng để thánh hóa chúng ta”.[8] Vào thời kỳ đó, thừa nhận Đức Kitô có thể hoàn hảo là điều nguy hiểm, vì những người phái Ariô sẽ lập tức kết luận rằng, nếu đúng như vậy, thì Ngôi Lời cũng có thể hoàn hảo, và nếu Ngài có thể hoàn hảo, thì Ngài không thực sự là Thiên Chúa.
Ngày nay chúng ta không có loại điều kiện này. Ngoài ra, chúng ta có thể nhận ra, trong cuộc đời của Đức Giêsu, một sự thánh thiện kép: một sự thánh thiện khách quan, hoặc được ban cho, thuộc về trật tự cá nhân, phát sinh từ ngôi hiệp, hoặc thuộc về trật tự thừa tác (nghĩa là liên kết với vai trò thiên sai của Ngài), bắt nguồn từ việc xức dầu của phép rửa của Ngài, – và một sự thánh thiện chủ quan, do Ngài muốn và thủ đắc theo thời gian, do hoàn toàn đáp ứng với ý muốn của Chúa Cha. Đức Giêsu là Đấng “Chúa Cha đã thánh hiến và sai đến thế gian” (Ga 10,36), nhưng Ngài cũng là Đấng “tự thánh hiến chính mình” (Ga 17,19), nghĩa là tự hiến mình cho thánh ý Chúa Cha.
Đức Giêsu tiến triển trong sự thánh thiện, như Người tiến triển trong sự “khôn ngoan và tuổi tác” (Lc 2,52). Không phải sự đáp ứng của Ngài trước những đòi hỏi của ý muốn Thiên Chúa là bất toàn vào một lúc nào đó, nhưng nó hoàn hảo vào lúc đó, theo những gì Chúa Cha yêu cầu và những gì có thể ban cho Ngài, tương xứng với mức độ phát triển mà nhân tính và ơn gọi của Ngài đã đạt tới. Cho rằng sự thánh thiện của Đức Kitô trước sau như một, cả trước lẫn sau lời “xin vâng” cao cả và khủng khiếp ở Ghếtsêmani, tức là làm cho cuộc đời và thậm chí mầu nhiệm vượt qua của Ngài mất ý nghĩa. Trước hết, Đức Giêsu đã sống trong tình huống mà chúng ta gọi là “hướng về sự thánh thiện”. Chúng ta có nhiều dấu hiệu cho thấy điều đó, chẳng hạn như tiếng than mà có ngày Ngài đã thốt lên: “Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất” (Lc 12,50).
Trong các Phúc Âm, chúng ta cũng khám phá ra một điều quan trọng khác, liên quan đến sự thánh thiện của Đức Giêsu, hay đúng hơn, nhận thức của Ngài biết mình vô tội, luôn làm theo ý Chúa Cha. Nhận thức của Đức Giêsu là một tinh thể trong suốt. Không một lời thú tội dù nhỏ nhất, không một lời xin lỗi, không một lời xin tha, cả đối với Thiên Chúa lẫn đối với con người. Luôn luôn tin chắc mình đúng và chính trực, mình đã làm tốt; thái độ đó của Ngài hoàn toàn khác với sự tự phụ của một người tin rằng mình chính trực. Việc không có lỗi và thú nhận tội lỗi như vậy không phụ thuộc vào đoạn Phúc Âm này khác, hoặc lời khẳng định này khác của Phúc Âm, mà người ta có thể nghi ngờ tính chất lịch sử của nó, nhưng toát ra từ toàn bộ Phúc Âm. Đó là một lối sống lộ ra trong mọi sự. Người ta có thể tìm tòi những góc ẩn khuất nhất của Phúc Âm: kết quả luôn giống nhau. Đó là một dấu chỉ thần linh không thể phủ nhận, một dấu chỉ cho thấy con người này không chỉ là một người, cho dù có cao cả mấy đi nữa. Ý tưởng về một nhân tính đặc biệt thánh thiện và gương mẫu không đủ để giải thích tất cả những điều đó. Nếu Đức Giêsu chỉ là một con người, thì sự thánh thiện của Ngài thà bị phủ nhận hơn là được chứng minh bằng việc tin rằng Ngài vô tội. Một sự chắc chắn như vậy, một sự loại trừ tội lỗi như vậy, như những gì thấy nơi Đức Giêsu Nadaret, chắc chắn sẽ cho thấy một nhân tính ngoại lệ, nhưng ngoại lệ trong kiêu căng, chứ không phải trong sự thánh thiện. Một nhận thức có bản chất này, hoặc tự nó tạo thành tội lỗi lớn nhất từng phạm – lớn hơn tội của Lucifer – hoặc đó là sự thật thuần túy. Sự phục sinh của Đức Kitô chứng minh rằng đó là sự thật thuần túy.
Nhận thức Đức Giêsu vô tội thì dễ giải thích hơn là nhận thức về việc Ngài là Con Thiên Chúa. Thật vậy, tội lỗi khi tồn tại sẽ tự biểu hiện dưới dạng tiếc nuối và hối hận. Có một hiện tượng học về tội lỗi mà chúng ta có thể quan sát được. Là một con người, Đức Giêsu không thể ý thức mình là Con một của Chúa Cha, hoặc nếu có, thì không vì thế mà chúng ta có thể giải thích điều đó đã xảy ra như thế nào, vì đó là một bước nhảy vọt từ bản tính này sang bản tính khác. Nhưng với tư cách là một con người, Ngài hoàn toàn có thể nhận thức mình không có tội, bởi vì trạng thái tinh thần này thuộc về lãnh vực bản tính con người. Chính vì Đức Giêsu ý thức mình không có tội mà Gioan đã muốn công bố bằng cách đặt lên môi miệng Ngài câu nói chưa từng nghe mà chúng ta đã nhắc ở trên: “Ai trong các ông chứng minh được là tôi có tội?” (Ga 8,46).
3. “Tu solus Sanctus”
Phụng vụ của Giáo Hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm sự thánh thiện của Đức Kitô, khi hướng về Ngài trong Kinh Vinh Danh mà kêu lên: “Tu solus Sanctus“, chỉ có Chúa là Đấng Thánh. Tất nhiên, “chỉ” không phải trong Ba Ngôi, nhưng giữa lòng nhân loại. Chỉ mình Ngài là con người hoàn toàn thánh thiện, đích thực là “Đấng Thánh của Thiên Chúa”.
Chính nhờ sự thánh thiện mà Đức Giêsu tạo nên chóp đỉnh tuyệt đối của mọi thực tại và lịch sử. Pascal đã đưa ra nguyên tắc nổi tiếng về ba trật tự hay bình diện của thực tại: trật tự thân xác hay vật chất, trật tự tinh thần hay trí khôn, và trật tự thánh thiện. Có một khoảng cách vô biên, thuộc bản chất định tính (de nature qualitative), giữa trật tự trí khôn và trật tự vật chất; nhưng có một khoảng cách “còn vô biên hơn vô biên” giữa trật tự thánh thiện và trật tự trí khôn, bởi vì thuộc bình diện siêu nhiên. Những thiên tài, thuộc trật tự trí khôn, không cần to xác, không cần lắm của; những cái đó không thêm gì cho họ cả. Cũng vậy, các thánh, thuộc trật tự bác ái, “không cần to xác hay thông minh vượt trội, những cái đó không thêm gì cho họ cũng không lấy đi điều gì của họ. Họ được Thiên Chúa và các thiên thần nhìn thấy, chứ không phải các thân xác hay tâm trí tò mò: đối với họ, Thiên Chúa là đủ”. Đấng Chí Thánh là Đức Giêsu Kitô cũng thế: “Đức Giêsu Kitô, không có của cải, không có sản phẩm khoa học, thuộc trật tự thánh thiện. Ngài không phát minh, Ngài không cai trị; nhưng Ngài khiêm nhường, nhịn nhục, thánh thiện, thánh đối với Thiên Chúa, khủng khiếp đối với ma quỷ, không có tội lỗi nào… Để rạng ngời trong triều đại thánh thiện của mình, thì đến với tư cách là một vị vua quả là vô ích đối với Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô; thế nhưng Ngài đã đến đó với sự rạng rỡ trong trật tự của mình”.[9]
Trong trật tự thánh thiện, Đức Giêsu không chỉ là chóp đỉnh, mà còn là nguồn mạch, bởi vì chính từ Ngài – chúng ta sẽ thấy sau – mà phát sinh trong lịch sử tất cả sự thánh thiện của các thánh và của Giáo Hội. Sự thánh thiện của Đức Kitô phản ánh chính sự thánh thiện của Thiên Chúa, biểu hiện hữu hình của Thiên Chúa, hình ảnh của Thiên Chúa. Các Giáo Phụ gán cho Đức Kitô danh hiệu “hình ảnh lòng nhân hậu của Người” (Kn 7,26), mà Kinh Thánh dành cho Đức Khôn Ngoan[10]. Điều mà Thư gửi tín hữu Do Thái nói về Đức Kitô, liên quan đến vinh quang và bản thể của Chúa Cha, cũng được nói như vậy, liên quan đến sự thánh thiện của Ngài: “Người Con này là tia sáng và dấu ấn của sự thánh thiện của Người” (x. Dt 1,3). Chính lời tung hô “Tu solus Sanctus” mà Giáo Hội dâng lên Đức Kitô, là lời tung hô trong sách Khải huyền dâng lên Thiên Chúa: “Lạy Chúa, nào có ai không kính sợ Chúa? Ai mà chẳng tôn vinh danh Ngài? Vì chỉ có Ngài chí thánh chí tôn” (Kh 15,4).
“Thánh”, qadosh, là tước hiệu thánh thiêng nhất trong Kinh Thánh. Không gì có thể cho chúng ta cảm nhận về Thiên Chúa bằng sự gần gũi và sự thánh thiện của Người. Ấn tượng mạnh mẽ nhất mà Isaia kể lại cho chúng ta thị kiến của ông về Thiên Chúa là ấn tượng về sự thánh thiện của Người, được các thiên thần Sêraphim tung hô bằng những lời sau: “Thánh, Thánh, Thánh, Chúa là Thiên Chúa các đạo binh” (Is 6,3). Trong các cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu cũng vậy, cũng đã xẩy ra điều tương tự.
Thuật ngữ qadosh trong Kinh Thánh gợi ra ý tưởng về sự tách rời, về tính khác biệt. Thiên Chúa là Đấng Thánh vì là “Đấng Hoàn Toàn Khác”, so với tất cả những gì con người có thể nghĩ và làm. Người là Đấng Tuyệt Đối, theo nghĩa gốc của ab solutus, nghĩa là tách ra khỏi tất cả những gì khác và đứng riêng. Người là Đấng Siêu Việt, theo nghĩa ở ngoài mọi phạm trù của chúng ta. Nhưng tất cả những điều này phải được hiểu theo nghĩa đạo đức hơn là siêu hình học, nghĩa là không chỉ liên quan đến hữu thể mà còn liên quan nhiều hơn đến hành động của Thiên Chúa. Đặc biệt những phán đoán của Thiên Chúa, các công trình và đường lối của Người, trong Kinh Thánh, được coi là thánh hay là quyền (x. Đnl 32,4; Đn 3,27; Kh 16,7). Tuy nhiên, “thánh” nơi Thiên Chúa, không vì thế mà là một khái niệm chủ yếu tiêu cực, hàm nghĩa tách khỏi điều xấu, hoặc không có điều xấu, hoặc một hỗn hợp tốt xấu nào đó; nó là một khái niệm hết sức tích cực. Nó cho thấy một sự “viên mãn tinh tuyền”. Nơi chúng ta, sự “viên mãn” không bao giờ tương hợp với sự “tinh tuyền”. Hai khái niệm mâu thuẫn nhau. Sự tinh tuyền của chúng ta luôn đạt được “bằng nghệ thuật loại bỏ”, nghĩa là bằng cách thanh tẩy bản thân, loại bỏ những điều xấu ra khỏi hành động của chúng ta. Đối với Thiên Chúa cũng như đối với con người Giêsu Nadaret, thì không thế. Viên mãn và tinh tuyền cùng tồn tại và tạo thành “sự đơn giản” và sự thánh thiện nổi bật của Thiên Chúa. Kinh Thánh diễn tả khái niệm này cách hoàn hảo, khi nói rằng Thiên Chúa “không cần thêm hay bớt điều gì” (Hc 42,21). Là sự tinh tuyền hoàn toàn, không được lấy đi bất cứ điều gì khỏi Người; là sự viên mãn hoàn toàn, không gì có thể được thêm vào cho Người.
Theo nghĩa này, sự thánh thiện của Đức Kitô, như sự viên mãn tinh tuyền, đồng nhất với vẻ đẹp của Đức Kitô. Chiêm ngắm sự thánh thiện của Đức Kitô đồng thời cũng là chiêm ngắm vẻ đẹp khôn tả của Ngài. Một số linh ảnh Đông phương về Đức Kitô và Pantocrator (Đấng Toàn Năng), chẳng hạn như linh ảnh của Rublev, dường như diễn tả một cách linh hoạt ý tưởng về Thiên Chúa, Đấng “rạng ngời thánh thiện” (x. Xh 15,11).
Trong các Phúc Âm, chúng ta thường thấy cảm thức về sự tốt lành và thánh thiện của Đức Giêsu, được diễn tả bằng khái niệm về cái đẹp. “Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp (kalos) cả” (x. Mc 7,37). Đức Giêsu tự nhận mình là “mục tử tốt (kalòs)” và nói rằng Người đã cho người ta thấy nhiều việc tốt lành (kalà) (x. Ga 10,11- 32). Trên núi Tabor, Phêrô kêu lên: “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay (kalòn)” (Mt 17,4). Trong tất cả các đoạn văn trên, từ “tốt lành” hay “tốt” dịch từ tiếng hy lạp kalòs, theo sát chữ, có nghĩa là “đẹp”.
Trong Kinh Thánh, giống như thánh thiện, điều gì có liên quan với Thiên Chúa đều đẹp đẽ. Thánh Grêgôriô Nyssê viết: “Ngoài Chúa ra, dường như không có gì là đẹp đối với con; ngược lại, Chúa là Đấng duy nhất thực sự đẹp. Và không chỉ đẹp, mà còn là yếu tính vĩnh cửu và cá nhân của vẻ đẹp”[11]. Dostoievsky, người đã cố gắng thể hiện, nơi một trong những nhân vật của mình, lý tưởng về cái đẹp từ lòng tốt, tuy nhiên không hoàn toàn thành công, thì như để xin lỗi, ông đã viết trong một bức thư: “Trên thế giới một hữu thể tuyệt đối đẹp, là Đức Kitô, nhưng sự xuất hiện của hữu thể vô cùng đẹp đẽ này rõ ràng là một phép màu vô tận”[12]. Giáo Hội cũng diễn tả ấn tượng về vẻ đẹp mà Giáo Hội cảm nhận được trước sự hiện diện của Đức Kitô, và Giáo Hội làm như vậy bằng cách dâng lên Ngài lời Thánh vịnh tung hô: “Giữa thế nhân Ngài vô song tuyệt mỹ” (Tv 45,3).
4. “Được thánh hóa trong Đức Giêsu Kitô”
Bây giờ chúng ta hãy xem sự thánh thiện của Đức Kitô có ý nghĩa gì đối với chúng ta và những gì sự thánh thiện này đòi hỏi. Nói cách khác, chúng ta hãy đi từ khởi giảng sang khuyến thiện, từ điều được làm sang điều phải làm. Nhưng trước hết có một tin vui. Quả thật có một tin mừng và một lời loan báo vui mừng – mà giờ đây chúng ta muốn đón nhận – không chỉ có Đức Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa, không chỉ có chuyện chúng ta cũng phải nên thánh thiện và tinh tuyền, mà còn có sự kiện Đức Giêsu truyền đạt, ban tặng, dâng hiến cho chúng ta sự thánh thiện của Ngài. Sự thánh thiện của Ngài cũng là sự thánh thiện của chúng ta. Đúng hơn: chính Ngài là sự thánh thiện của chúng ta. Quả thật, có lời chép rằng Ngài đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sự thánh hóa và cứu chuộc chúng ta (1Cr 1,30).
Bất cứ cha mẹ nhân loại nào cũng có thể truyền lại cho con những gì họ có, nhưng không phải những gì họ là. Nếu họ là một nghệ sĩ, một học giả, hay thậm chí là một vị thánh, người ta không nói rằng con của họ sinh ra cũng sẽ là nghệ sĩ, học giả hay thánh nhân. Cùng lắm họ có thể giúp con yêu thích những mẫu người đó, dạy cho chúng thành những mẫu người đó, nhưng không truyền lại cho con những mẫu người đó như một gia sản. Trái lại, qua phép rửa, Đức Giêsu chuyển đạt cho chúng ta không chỉ những gì Ngài có, mà cả những gì Ngài là. Ngài là thánh và làm chúng ta nên thánh; Ngài là Con, và làm cho chúng ta thành con cái Thiên Chúa.
Sau khi đã chiêm ngưỡng sự thánh thiện và sự bất khả phạm tội của Đức Kitô, chúng ta còn phải chiếm đoạt hoặc biến sự thánh thiện tuyệt vời đó thành của chúng ta; khoác lên mình và bao bọc mình “bằng chiếc áo choàng chính trực công minh” (x. Is 61,10). Người ta đã có thể viết: “Những gì thuộc về Đức Kitô thì thuộc về chúng ta hơn là những gì đến từ chúng ta”[13]. Cũng như trong thực tế, chúng ta thuộc về Đức Kitô hơn thuộc về chính chúng ta (x. 1Cr 6,19-20), cũng vậy, Đức Kitô thuộc về chúng ta, thân mật với chúng ta hơn chính chúng ta. Khi đó, chúng ta hiểu vì sao thánh Phaolô muốn tìm lại chính mình, không phải với sự thánh thiện hay sự công chính cá nhân của mình, bắt nguồn từ việc tuân giữ lề luật, nhưng với sự thánh thiện phát xuất từ niềm tin vào Đức Kitô, nghĩa là với sự thánh thiện đến từ Thiên Chúa (x. Pl 3,9). Ngài coi đó là sự thánh thiện của mình, không phải sự thánh thiện riêng của mình, nhưng là sự thánh thiện của Đức Kitô.
Nói cách khác, giờ đây chúng ta đến với học thuyết về ân sủng của Đức Kitô, học thuyết phân biệt đức tin Kitô giáo với tất cả các tín ngưỡng và tôn giáo khác mà người ta biết. Đối với đức tin Kitô giáo, Đức Kitô không chỉ là một mẫu mực thánh thiện siêu phàm, cũng không phải là một “thầy dạy công lý” đơn thuần, mà còn hơn thế đến vô cùng. Ngài là nguyên nhân và hình thức sự thánh thiện của chúng ta. Để hiểu được sự mới mẻ của quan điểm này, việc đối chiếu với các tôn giáo khác có thể hữu ích. Chẳng hạn, chúng ta hãy xem điều xảy ra trong Phật giáo. Sự giải thoát của đạo Phật là một sự giải thoát cá nhân và bất khả chuyển đạt. Người môn đệ không có trước mặt mình một khuôn mẫu có thể là đối tượng để bắt chước thần bí hay cứu độ; anh ta không có ân sủng. Anh phải tìm sự cứu rỗi nơi chính mình. Đức Phật cung cấp cho anh một giáo thuyết, nhưng không có cách nào giúp anh thực hiện nó. Ngược lại, Đức Giêsu nói: “Nếu người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thật sự là những con người tự do” (Ga 8,36). Đối với người Kitô hữu, không có chuyện tự giải thoát. Có được Đức Kitô giải thoát, thì mới được tự do.
Nói rằng chúng ta tham dự vào sự thánh thiện của Đức Kitô cũng giống như nói rằng chúng ta tham dự vào Chúa Thánh Thần, Đấng đến từ Ngài. Theo thánh Phaolô, ở hoặc sống “trong Đức Kitô Giêsu” cũng tương đương với ở hoặc sống “trong Chúa Thánh Thần”. Thánh Gioan thì viết: “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được rằng chúng ta ở lại trong Người và Người ở lại trong chúng ta: đó là Người đã ban Thần Khí của Người cho chúng ta” (1Ga 4,13). Đức Kitô ở với chúng ta, và chúng ta ở trong Đức Kitô, nhờ Chúa Thánh Thần. Vì thế, chính Chúa Thánh Thần thánh hóa chúng ta. Không phải Chúa Thánh Thần nói chung chung, nhưng là Chúa Thánh Thần ở nơi Đức Giêsu Nadaret, đã thánh hóa nhân tính của Ngài, ngự trong Ngài như trong một chiếc bình bằng gốm, mà Ngài đã đổ tràn trên Giáo Hội vào Lễ Ngũ Tuần. Chính vì vậy, sự thánh thiện nơi chúng ta không phải một sự thánh thiện thứ yếu, cũng không phải một sự thánh thiện nào khác, nhưng luôn là sự thánh thiện của Đức Kitô. Chúng ta thực sự được “thánh hóa trong Đức Kitô Giêsu” (1Cr 1,2). Cũng như, nhờ phép rửa, thân xác con người được dìm và rửa trong nước, cũng vậy, có thể nói linh hồn con người cũng được rửa trong sự thánh thiện của Đức Kitô. Nói về phép rửa, thánh Tông Đồ bảo rằng: “Anh em đã được tẩy rửa, được thánh hóa, được nên công chính nhờ danh Chúa Giêsu Kitô, và nhờ Thần Khí của Thiên Chúa chúng ta” (1Cr 6,11).
Đặc biệt, hai phương tiện cho phép chúng ta chiếm đoạt được sự thánh thiện của Đức Kitô: đức tin và các bí tích. Đức tin là khả năng duy nhất giúp chúng ta tiếp xúc với Đức Kitô. Thánh Augustinô nói: “Ai tin vào Đức Kitô là chạm đến Ngài”[14]. Nếu chúng ta tự hỏi làm sao kinh nghiệm về Thiên Chúa, được thực hiện bởi một người đã xuất hiện cách đây hai nghìn năm, tại một thời gian và một không gian giới hạn, lại có thể vượt thời gian và không gian này và được truyền đạt cho mọi người, trở thành kinh nghiệm và sự thánh thiện riêng của họ, câu trả lời là ở đức tin. Đối với Đức Kitô, Đấng truyền đạt sự thánh thiện như thế, sự việc này là có thể, do Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là con người, là Đấng trung gian; sự cứu độ được Ngài thực hiện đã xảy đến trong nhân loại, đã được thai nghén và mong muốn cho mọi người và do đó được dành cho họ, và từ sự kiện này, theo một nghĩa nào đó, xét theo luật thì sự cứu độ đó thuộc về họ. Nhưng đối với người được truyền đạt một sự thánh thiện như vậy, cụ thể là con người, thì chỉ đức tin mới có thể làm được điều đó. Thánh Phaolô nói chính nhờ đức tin mà Đức Kitô ngự trong tâm hồn chúng ta (x. Ep 3,17).
Phương tiện thứ hai giúp chúng ta có được sự thánh thiện của Đức Kitô là các bí tích, đặc biệt là Thánh Thể. Nhờ Thánh Thể, chúng ta tiếp xúc không chỉ, như trong trường hợp nghe lời Chúa, với nhân đức này khác hoặc giáo lý của Đức Kitô, mà còn với chính “Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Qua Thánh Thể, “Chúa Kitô được tuôn đổ vào trong chúng ta và kết hợp với chúng ta, thay đổi và biến đổi chúng ta thành Ngài, giống như một giọt nước trong đại dương dầu thơm vô tận. Đó là những hiệu quả mà dầu này có thể tạo ra, nơi những người bắt gặp nó: nó không chỉ làm cho họ thơm tho, không chỉ làm cho họ hít thở mùi thơm này, nhưng còn biến đổi bản chất của họ, bằng hương thơm của dầu này, đến độ chúng ta trở nên hương thơm ngọt ngào của Đức Kitô”[15].
5. “Được kêu gọi nên thánh”
Cho đến lúc này, chúng ta đã làm hai việc trước sự thánh thiện của Đức Kitô: đầu tiên là chiêm ngắm, sau đó là chiếm đoạt. Chúng ta vẫn còn một việc cuối cùng phải làm, nếu không thì mọi sự có nguy cơ bị treo lơ lửng trong chỗ không và vô ích: đó là bắt chước sự thánh thiện này. Bằng cách này, chúng ta không chuyển “sang một thể loại khác”, nghĩa là: từ chú giải sang khổ hạnh, từ thần học sang suy nghĩ đạo đức. Chính đó là sai lầm đã đưa thần học đến một tính trung lập và kỹ thuật lệch lạc, đến độ một nghiên cứu nào đó về thần học thường triệt tiêu đức tin và lòng đạo đức của giới trẻ, thay vì làm chúng phát triển. Đối với Tân Ước, không thể tưởng tượng được việc suy nghĩ về Đức Kitô mà không kết thúc bằng một lời kêu gọi, một kiểu “Vậy…”. “Vậy tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện vả đẹp lòng Thiên Chúa”: đây là cách thánh Phaolô kết thúc phần trình bầy của ngài về mầu nhiệm Đức Kitô, trong thư gửi tín hữu Rôma (Rm 12,1). Có lý do chính đáng để người ta nói rằng, “theo quan điểm Kitô giáo, mọi sự, tuyệt đối mọi sự, phải mang tính xây dựng, và kiểu trình bày khoa học này, vì không đưa tới chỗ xây dựng, chính vì thế mà phản Kitô giáo”[16]. Người ta không bảo chiều kích xây dựng phải luôn luôn hiện diện, theo cùng một cách thức và cùng một mức độ rõ ràng, nhưng điều chắc chắn cần thiết là chiều kích ấy có thể được nhìn thấy như thông suốt, và thỉnh thoảng phải được bày tỏ ra.
Sau khi chiêm ngưỡng sự thánh thiện của Đức Kitô và việc chiếm hữu nó nhờ đức tin, giờ đây chúng ta đi đến chỗ bắt chước nó. Thế nhưng, nếu chúng ta đã được “hiến thánh trong Đức Kitô Giêsu” thì chúng ta còn thiếu điều gì? Chúng ta tìm ra câu trả lời khi đọc câu kế tiếp tiếp của thư thánh Phaolô: “Kính gửi…những người đã được hiến thánh trong Đức Kitô Giêsu, được kêu gọi làm dân thánh, cùng với tất cả những ai ở bất cứ nơi nào kêu cầu danh Chúa của chúng ta, Đức Giêsu Kitô” (1Cr 1,2). Các tín hữu được “hiến thánh trong Đức Kitô Giêsu”, đồng thời họ được “kêu gọi làm dân thánh”. Tiếp ngay sau tin vui cho biết chúng ta là thánh, và sự thánh thiện của Đức Kitô là của chúng ta, là lời mời gọi nên thánh: “Anh em hãy sống thánh thiện trong cách ăn nết ở, để nên giống Đấng Thánh đã kêu gọi anh em, vì có lời Kinh Thánh chép: Hãy sống thánh thiện, vì Ta là Đấng Thánh” (1Pr 1,15-16).
Chúng ta đã thấy, trong suốt cuộc đời của mình, chính Đức Giêsu cũng được hiến thánh (“Đấng được Chúa Cha hiến thánh và sai đến thế gian”) và “tự hiến thánh mình” (vì họ, Con hiến thánh chính mình con). Nơi Đức Giêsu, có một sự thánh thiện được ban và một sự thánh thiện thủ đắc. Điều này mở ra cho chúng ta chân trời bao la về về việc bắt chước Đức Kitô. Có người viết: “Vì thời Trung Cổ ngày càng xa lạc khi nhấn mạnh khía cạnh Đức Kitô như một gương mẫu, nên Luther nhấn mạnh khía cạnh khác, quả quyết rằng Đức Kitô là một hồng ân và việc chấp nhận hồng ân này thì tùy thuộc vào đức tin”[17]. Nhưng tác giả của nhận xét trên, tuy là một tín đồ Tin lành, viết thêm rằng từ đây “điều phải nhấn mạnh chính là khía cạnh Đức Kitô mẫu mực”, để giáo lý đức tin không bị giản lược thành một chiếc lá vả che đậy những thiếu sót phản Kitô giáo nhất[18].
Chúng ta có phần khai triển tuyệt vời của Công đồng Vatican II, trong một bản văn nói về lời mời gọi phổ quát nên thánh, gửi tới những người đã chịu phép rửa. Công đồng cũng đặt nền tảng cho việc mời gọi các Kitô hữu nên thánh trên sự thánh thiện của Đức Giêsu, “Đấng Thánh của Thiên Chúa”. Sau khi đã nhắc lại các bản văn Kinh Thánh nói về sự thánh thiện của Đức Kitô và của Giáo Hội đã được Ngài hiến thánh, bản văn Công đồng nói tiếp: “Vì thế, tất cả mọi người trong Giáo Hội, hoặc thuộc hàng giáo phẩm hoặc được hàng giáo phẩm dìu dắt, đều được kêu gọi nên thánh, như lời thánh Tông Đồ dạy: “Ý muốn của Thiên Chúa là anh em nên thánh” (1Tx 4,3)[19]. Đây không phải là một sự thánh thiện mới, được thêm vào sự thánh thiện đã lãnh nhận từ Đức Kitô, nhờ đức tin và các bí tích, nhưng là duy trì, phát triển và thể hiện trong cuộc sống, sự thánh thiện đã lãnh nhận từ Đức Kitô. Công đồng nói tiếp: “Với ơn Chúa, họ phải gìn giữ và hoàn thành trong đời sống sự thánh thiện mà họ đã lãnh nhận”[20]. Sự thánh thiện của Đức Kitô được phản ánh qua muôn ngàn màu sắc, đa dạng như các vị thánh trong Giáo Hội, không vị thánh Kitô hữu nào giống vị thánh nào, nhưng sự thánh thiện này là sản phẩm của một ánh sáng độc nhất. “Không ai tự mình có sự thánh thiện, và sự thánh thiện này không phải là công việc của nhân đức con người, nhưng tất cả đều nhận được nó từ Đức Kitô và qua trung gian của Ngài; giống như có nhiều tấm gương được đặt dưới mặt trời: tất cả đều chiếu sáng và phát ra những tia sáng, đến nỗi có thể nghĩ rằng người ta có thể tưởng đang chiêm ngưỡng nhiều mặt trời, nhưng trên thực tế chỉ có một mặt trời chiếu sáng nơi mọi tấm gương đó”[21].
Lời kêu gọi nên thánh này là việc làm cần thiết và cấp bách nhất của Công đồng. Không có nó, tất cả những việc làm khác là bất khả hoặc vô ích; tuy nhiên, chính lời kêu gọi này có nguy cơ bị bỏ quên nhiều nhất, vì chỉ có Thiên Chúa và lương tâm mới đòi hỏi và yêu cầu điều đó, chứ không phải áp lực hay lợi ích của các nhóm đặc biệt trong Giáo Hội. Đôi khi người ta có cảm tưởng rằng sau Công đồng, trong một số giới và một số gia đình dòng, người ta cố gắng “làm ra những vị thánh” hơn là “chính mình trở nên thánh”, nghĩa là vận động cho các đấng sáng lập hoặc các đồng bạn của mình được phong thánh, hơn là bắt chước những mẫu gương và những nhân đức của họ.
6. Tìm về sự thánh thiện
Nỗ lực hướng tới sự thánh thiện của chúng ta rất giống với hành trình của dân riêng trong sa mạc, tiến về đất hứa. Quả thực, nó cũng là một cuộc hành trình gồm những điểm dừng chân và khởi hành liên tục. Thỉnh thoảng, mọi người dừng lại trong sa mạc và dựng lều, vì họ mệt mỏi, hoặc vì họ đã tìm thấy nước hoặc thức ăn, hoặc vì họ cảm thấy dừng lại là đúng. Nhưng rồi bất ngờ mệnh lệnh của Thiên Chúa phải cuốn lều và lại lên đường. Thiên Chúa nói với Môsê: “Đứng dậy, ra khỏi đây, ngươi và dân người tiến về đất ta đã hứa”; và toàn thể cộng đồng, đã nhổ trại và lại lên đường (x. Xh 15,22; 17,1).
Trong đời sống của Giáo Hội, những khởi đầu định kỳ mới này và những giai đoạn này trên đường được đánh dấu bằng sự khởi đầu của một năm phụng vụ mới, hoặc một mùa cao điểm trong năm, chẳng hạn Mùa Vọng và Mùa Chay. Đối với mỗi người chúng ta, thời điểm nhổ trại và lại lên đường khi chúng ta cảm thấy, bên trong chính mình, lời cảnh báo bí ẩn đến với chúng ta từ ân sủng. Đó không phải là mong muốn có thể phát xuất từ “máu thịt”, nhưng chỉ đến từ Cha trên trời. Đây là một khoảnh khắc hồng phúc, một cuộc gặp gỡ khôn tả giữa Thiên Chúa và thụ tạo, giữa ân sủng và tự do, sẽ có những âm hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến muôn đời. Trước hết đó là một khoảnh khắc dừng chân. Chúng ta tạm rời xa vòng xoáy công việc hoặc nhịp điệu của các công việc hàng ngày; chúng ta rời xa chúng một chút. Có thể nói, chúng ta tách mình ra để nhìn vào cuộc sống của mình, như thể từ bên ngoài, hoặc từ trên cao, và xem chúng ta đang đi đâu. Đây là giây phút của sự thật, giây phút của những câu hỏi cơ bản: “Tôi là ai? Tôi từ đâu đến? Tôi đi đâu? Tôi muốn gì?”
Người ta nói rằng chính thánh Bênađô thỉnh thoảng cũng dừng lại và lặp đi lặp lại như thể đang đối thoại với chính mình: “Bernarde, ad quid venisti?” Này Bênađô, tại sao ngươi đi tu và vào đan viện?[22] Đó cũng là điều chúng ta cũng nên làm. Gọi tên chúng ta (vì nó hữu ích) và hỏi: “Ad quid venisti?” Tại sao ngươi ở đây và làm công việc ngươi đang làm? Chẳng phải là làm tròn ý muốn của Thiên Chúa, Đấng thánh hóa ngươi sao? Và nếu là để thánh hóa ngươi, có phải đúng là điều ngươi đang làm không? Léon Bloy đã nói rất đúng: Chỉ có một nỗi bất hạnh duy nhất trong đời, xứng đáng với tên gọi và không thể sửa chữa được, đó là không sống thánh.
Trong Tân Ước, chúng ta thấy đoạn văn mô tả về một mẫu hoán cải, mà chúng ta có thể định nghĩa là hoán cải–thức tỉnh, hoặc hoán cải ra khỏi tình trạng hâm hẩm. Người ta thấy nó trong sách Khải huyền. Trong cuốn sách này, chúng ta đọc được bảy lá thư, được viết cho các thiên thần (một số giải thích là viết cho các “giám mục”) của các Giáo Hội tương ứng ở Tiểu Á. Những lá thư này được xây dựng trên cùng một lược đồ. Chính Chúa Giêsu phục sinh, Đấng Thánh, lên tiếng. Trong thư gửi thiên thần ở Ephêsô, Ngài bắt đầu bằng cách công nhận những gì người nhận thư đã làm tốt: “Ta biết các việc ngươi làm, nỗi vất vả và lòng kiên nhẫn của ngươi…Ngươi có lòng kiên nhẫn và đã chịu khổ vì danh Ta, mà không mệt mỏi”. Sau đó, Ngài liệt kê những gì không làm Ngài hài lòng: “Ngươi đã để mất tình yêu thuở ban đầu”. Và đến lúc này tiếng kêu của Đấng Phục Sinh vang lên, giữa những người đang say ngủ, như tiếng kèn thổi trong đêm: Metanòeson, nghĩa là: Hãy hoán cải! Hãy phấn chấn lên! Hãy thức dậy! (x. Kh 2,1tt).
Đó là lá thư đầu tiên trong bảy lá thư. Chúng ta biết lá thư thứ bảy, nói với thiên thần của Giáo Hội Laođiki, nghiêm khắc hơn rất nhiều: “Ta biết các việc ngươi làm, ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi!” Vậy hãy nhiệt thành và hối cải ăn năn : Zeleue oun kai metanòeson (Kh 3,15tt). Giống như tất cả những lá thư khác, lá thư này cũng kết thúc với lời cảnh báo bí ẩn này: “Ai có tai thì hãy nghe điều Thần Khí nói với các Hội Thánh” (Kh 3,22). Dựa vào ngữ cảnh, không nghi ngờ gì về điều Thần Khí nói với các Hội Thánh; Người nói: hoán cải, thức tỉnh!
Vậy phải làm gi? Thánh Augustinô gợi ý cho chúng ta: hãy bắt đầu đánh thức lòng khao khát. Ngài viết: “Tất cả cuộc đời của một Kitô hữu tốt lành bao gồm một ước muốn thánh thiện (hay ước muốn nên thánh): Tota vita christiana boni, sanctum desiderium est. Nhờ ước muốn, bạn mở rộng lòng, để rồi bạn có thể được thỏa mãn, khi bạn đạt tới hưởng kiến. Bằng cách chờ đợi, Thiên Chúa mở rộng ước muốn của chúng ta, bằng ước muốn, Người mở rộng tâm hồn chúng ta và, bằng cách mở rộng nó, Người làm cho nó có khả năng hơn. Vì vậy, chúng ta hãy sống bằng ước muốn, thưa anh em, vì chúng ta phải được thỏa mãn”[23]. Người ta không nên thánh nếu không có một ước muốn mạnh mẽ nên thánh. Người ta không làm được điều gì lớn nếu không muốn làm lớn. Ước muốn là ngọn gió căng buồm đưa thuyền tiến tới; nó là động cơ của đời sống thiêng liêng.
Nhưng ai có thể có ước muốn nên thánh, nếu Chúa Thánh Thần không phú bẩm điều đó trong người ấy? Chính vì thế thánh Bonaventura đã kết thúc cuốn Hành trình của tâm trí hướng về Thiên Chúa của mình bằng những lời linh hứng này: “Sự khôn ngoan mầu nhiệm và ẩn giấu này, không ai biết được nó ngoại trừ người nhận được nó, không ai nhận được nó ngoại trừ người khao khát nó, và không ai khao khát nó, ngoại trừ người
được Chúa Thánh Thần, do Đức Kitô gửi đến, làm cho cháy bừng tận thâm sâu nơi mình”[24].
