II. ĐỨC GIÊSU KITÔ, CON NGƯỜI MỚI

Tin vào nhân tính Đức Kitô hôm nay

1. Đức Kitô, “con người hoàn hảo”

Trong cuộc đời trần thế của Đức Giêsu và cả sau ngày Phục Sinh, không ai nghĩ đến chuyện nghi ngờ về thực tại nhân tính của Đức Kitô, nghĩa là Ngài có thực sự là một con người như những người khác hay không. Ai lại không biết mẹ Ngài, anh em Ngài, quê quán, tuổi tác, nghề nghiệp của Ngài sao? Điều gây tranh cãi không phải là nhân tính, nhưng là thần tính của Ngài. Người Do Thái buộc tội Ngài như sau: “Ông là người phàm mà lại tự cho mình là Thiên Chúa” (Ga 10,33). Chính vì vậy, khi nói về nhân tính của Đức Giêsu, Tân Ước quan tâm đến sự thánh thiện của nhân tính này hơn là sự thật hay thực tại của nhân tính này.

Chưa đầy một thế kỷ sau cái chết của Đức Giêsu, người ta xác nhận tình hình này đã thay đổi hoàn toàn. Trong các thư của thánh Gioan, người ta biết rằng một số người phủ nhận Đức Kitô đã đến “trong xác phàm” (x. 1Ga 4,2-3; 2Ga 7). Trong các thư của mình, một trong những mối bận tâm chính của thánh Ignatiô Antiôkia là chứng minh sự thật về nhân tính của Đức Giêsu và về những hành động do Ngài thực hiện bằng xác phàm, đó là: Ngài đã thực sự sinh ra, đã thực sự chịu đau khổ, thực sự đã chết, chứ không phải “chỉ có vẻ bề ngoài, như một số người nói, những người không có Thiên Chúa cũng như không có đức tin”[25]

Nói tóm lại, chúng ta đang phải đối mặt với lạc giáo Ảo thân, vốn phủ nhận thực tại nhập thể và thực tại thân xác con người Đức Kitô. Tertullianô tóm tắt các hình thức khác nhau của lạc giáo này, vào thời của ông: “Marcion phủ nhận xác thịt của Đức Kitô, thì cũng phủ nhận sự sinh ra của Ngài. Apellê thừa nhận xác thịt, nhưng phủ nhận sự sinh ra. Cuối cùng là Valentê, thừa nhận cả hai, cả xác thịt lẫn sự sinh ra, ngoại trừ việc ông giải thích chúng theo cách riêng của mình. Quả thực, ông coi như thuộc về thế giới có vẻ bề ngoài (to dokein), chứ không phải thế giới thực tế, không chỉ xác thịt của Đức Kitô, mà cả chính sự thụ thai, thai kỳ, việc Ngài sinh ra do Đức Trinh Nữ và tất cả những gì khác”[26]. Tertullianô kết luận: “Do đó, chúng ta phải quan tâm đến nhân tính của Chúa, bởi vì thần tính của Ngài đã được bảo đảm. Chính nhân tính của Ngài mới bị đặt thành vấn đề, cũng như sự thật và phẩm chất của nó”. Vậy, theo tác giả này, đây là một điều sống còn đối với đức tin, đến độ ông phải thốt lên với một kẻ lạc giáo: “Hãy nể nang với điều là niềm hy vọng duy nhất của toàn thế giới (Parce unicae spei totius orbis). Tại sao bạn lại muốn phá hủy gương mù cần thiết của đức tin? Điều “không xứng đáng” với Thiên Chúa là sự cứu độ cho tôi”[27].

Trong Tân Ước, mọi chú ý đều đổ dồn vào tính mới mẻ của nhân tính Đức Kitô (vào Đức Kitô con người “mới” và Ađam “mới”); giờ đây, tất cả tập trung vào sự thật – hay sự vững chắc – hữu thể học của nó. Trong bối cảnh mới này, Đức Giêsu là một “con người hoàn hảo” (teleios anthropos), không theo nghĩa luân lý “thánh thiện”, “vô tội” (như trong Ep 4,13), nhưng theo nghĩa siêu hình “trọn vẹn” và thực sự hiện hữu.

Điều gì đã gây ra, trong một thời gian quá ngắn, một sự đảo ngược viễn tượng như vậy? Đơn giản là đức tin Kitô giáo từ nay phải đối mặt với một chân trời văn hóa mới, đương đầu với những thách thức và vấn đề của văn hóa mới này, là văn hóa Hy lạp. Quả thật, đối với văn hóa mới này nhiều nhân tố đã góp phần làm cho việc loan báo về một Thiên Chúa đến trong xác thịt không thể chấp nhận được. Trên hết là nhân tố thần học: làm sao Thiên Chúa, Đấng bất biến và bất khả thụ cảm, lại có thể được sinh ra, lớn lên, và tệ hơn nữa, chịu đau khổ trên thập giá? Một nhân tố vũ trụ học: vật chất là lãnh vực của hóa công hạng hai (le démiurge) và không có khả năng cứu độ: vậy làm sao có thể gán cho Thiên Chúa một thân thể vật chất? Một nhân tố nhân học: chính linh hồn cấu tạo nên con người thực, có bản chất thuộc thiên giới và thần linh; còn thân xác (sôma) là nhà mồ (sema) hơn là bạn đồng hành của linh hồn; tại sao Đấng Cứu Thế đến để giải phóng linh hồn bị vật chất cầm tù, lại phải bị giam hãm trong một thân xác? Cuối cùng, một nhân tố Kitô học: làm sao Đức Kitô có thể là con người “vô tội”, nếu Ngài tiếp xúc với vật chất tự nó là xấu? Làm sao Ngài có thể thuộc về thế giới của Thiên Chúa, nếu Ngài thuộc về thế giới khả giác, vốn không tương thích với thế giới của Thiên Chúa?[28]

Có thể nói, Giáo Hội phải từng bước chinh phục niềm tin của mình vào nhân tính đầy đủ của Đức Kitô. Một cuộc chinh phục sẽ không kết thúc cho đến thế kỷ thứ VII. Lúc đầu, trong cuộc đấu tranh chống lạc giáo Ảo thân, người ta đã tin chắc về thực tại thân xác nhân loại của Đức Kitô và việc Ngài sinh ra làm người từ lòng Đức Maria. Sau đó, trong cuộc đấu tranh chống lạc giáo Apollinariô Laođiki, người ta đã tin chắc về sự hiện hữu của một linh hồn nhân loại nơi Đức Kitô; cuối cùng, chính xác là vào thế kỷ thứ VII, trong cuộc đấu tranh chống lại lạc giáo Nhất ý (hérésie monothélite), người ta đã tin chắc về sự hiện hữu của một ý chí và một sự tự do của con người nơi Đức Kitô. Do đó, Đức Kitô có một thân xác, thân xác này được phú ban một linh hồn và linh hồn này được tự do! Chính vì thế Ngài thực sự “giống chúng ta mọi đàng”.

Tất cả những thành tựu này, ngoại trừ thành tựu cuối cùng, được thêm vào sau này, đã được đưa vào định tín của Calcêđonia; liên quan đến Đức Kitô, chúng ta tin rằng Ngài “hoàn hảo về thần tính và hoàn hảo về nhân tính, là Thiên Chúa thật và là người thật, là kết quả của một linh hồn có lý trí và một thân xác, đồng bản thể với Chúa Cha xét về thần tính, và đồng bản thể với chúng ta xét về nhân tính, giống chúng ta mọi đàng, trừ ra tội”[29].

Như thế, tín điều về Đức Kitô “con người thật” đã được hình thành, vẫn còn hiệu lực và không thay đổi cho đến nay.

2. Tín điều Đức Kitô “con người thật”, trong bối cảnh văn hóa hiện nay

Tiếp theo cuộc gặp gỡ với văn hóa thời bấy giờ và vì một số lạc giáo thoát thai từ đó, tất cả mối quan tâm dành cho Đức Kitô “con người” đã chuyển từ vấn đề về sự mới mẻ, hay sự thánh thiện, của nhân tính này sang vấn đề về sự thật của nó, hay sự viên mãn hữu thể học. Mọi sự xoay quanh ý tưởng về việc Ngôi Lời đảm nhận một nhân tính. Sự kiện cơ bản là Đức Kitô đảm nhận, hoặc trở thành những gì chúng ta đang là; thay vì đặt lại vấn đề về con người, con người làm sao thì Ngài mặc lấy như vậy. Chỉ như thế, thì toàn bộ con người mới có khả năng được cứu. “Con người sẽ không được cứu trong toàn thể của mình nếu Đức Kitô đã không đảm nhận con người trong toàn thể của nó”[30]. Đức Kitô phải có một thân xác, để thân xác chúng ta được cứu chuộc; Ngài phải có một linh hồn, để linh hồn chúng ta được cứu chuộc, và Ngài phải có một ý chí tự do, để sự tự do của chúng ta được cứu chuộc.

Khi đó, Giáo Hội đã biết cách rút ra từ sách Khải huyền phương thuốc phù hợp với căn bệnh của thời điểm này. Điều phiền phức là theo thời gian, tình hình văn hóa và bản chất của các mối đe dọa chống lại đức tin đã thay đổi, trong khi phản ứng lại không thay đổi tương xứng. Thật vậy, một sự quan sát cẩn thận cho thấy tất cả các vấn đề đặt ra hiện nay liên quan đến nhân tính Đức Kitô (ít nhất khi xác định chính con người Đức Kitô, nghĩa là trong các cuộc tranh luận về Kitô học), tiếp tục xoay quanh một vấn đề cũ không tồn tại nữa. Ngày nay, không ai phủ nhận Đức Giêsu là một con người, như những người theo thuyết Ảo thân đã phủ nhận. Do đó, chúng ta đang chứng kiến ​​một hiện tượng kỳ lạ và đáng lo ngại: nhân tính “thật” của Đức Kitô được đưa ra, như một sự thay thế ngầm cho thần tính của Ngài, như một loại đối trọng. Trong loại chạy đua của nhiều người này, đi đầu là người sẽ tiến xa nhất trong việc quả quyết nhân tính “đầy đủ” của Đức Giêsu Nadaret. Theo một tác giả đương đại, sự kiện làm người cách đầy đủ và toàn vẹn cũng bao hàm, nơi Đức Giêsu, “khả năng phạm sai lầm”[31], không kể đau khổ, lo âu, cám dỗ và nghi ngờ. Sự quả quyết này là hoàn toàn mới mẻ trong truyền thống Kitô giáo.

Như thế, tín điều Đức Giêsu “con người thật” đã trở thành một chân lý không làm ai ngạc nhiên, không gây lo lắng cũng như phiền hà cho bất cứ ai, hoặc tệ hơn nữa, trở thành một chân lý nguy hiểm được dùng để hợp pháp hóa, hơn là phản kháng lại tư tưởng thế tục. Quả quyết nhân tính đầy đủ của Đức Kitô ngày nay giống như phá một cửa ra vào đã mở tung.

Các dấu hiệu của khuynh hướng này có thể nhìn thấy được, cả ở cấp độ cao nhất của thần học lẫn ở cấp độ phổ biến nhất của não trạng thông thường và các phương tiện truyền thông đại chúng. Đối với một số người, trong cụm từ “con người thật”, tính từ “thật” chỉ có nghĩa là phần dư thừa của nhân tính ở nơi Đức Kitô, sự tuyệt vời hoặc mẫu mực của nhân tính Ngài, mà các tín hữu gọi là “thần tính” của Ngài. Trong quan niệm thế tục hiện đại, khái niệm về con người, trên thực tế, đòi hỏi một sự tự chủ hoàn toàn và tuyệt đối, ở đó Thiên Chúa và con người không tương thích và loại trừ lẫn nhau; “Nơi nào Thiên Chúa sinh ra, nơi đó con người chết”.

Người ta thấy những ý tưởng này nơi các tác giả cố gắng khắc họa một “Đức Giêsu cho những người vô thần”[32]. Nhưng một số nỗ lực đối với Kitô học hiện đại cũng cho thấy một khuynh hướng tương tự, dưới một hình thức khác. Một trong những tác giả này, khi khẳng định nhân tính của Đức Kitô, đã vượt xa chính Công đồng Calcêđônia, bằng cách gán cho Đức Kitô không chỉ một xác thịt, một linh hồn và một ý chí nhân loại, mà còn cả ngôi vị nhân loại, mà hệ quả tất yếu, không tránh được, là khẳng định rằng Ngài không phải là Thiên Chúa, hoặc khẳng định rằng Ngài là “hai ngôi vị” chứ không phải “một ngôi vị”. Khi ấy, người ta nói về một “sự siêu việt nhân loại” của Đức Kitô, theo đó Đức Kitô sẽ vượt lên trên lịch sử, không phải với tư cách Thiên Chúa, nhưng với tư cách con người. Người ta cũng nói về một “chủ nghĩa nhân bản Kitô học toàn vẹn”[33]. Như chúng ta thấy, việc nhấn mạnh vào nhân tính đã bị lạm dụng quá mức.

Người ta cũng thấy xu hướng này trong não trạng chung. Cuốn phim Cơn cám dỗ cuối cùng của Chúa, được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết của Nikos Kazantzakis (một tín đồ Chính thống giáo bị Giáo Hội của ông rút phép thông công vì tác phẩm này) cho chúng ta thấy một Đức Giêsu suốt đời tìm cách tuyệt vọng thoát khỏi những đòi hỏi của thánh ý Chúa Cha, và cuối cùng trên thập giá, như thể bị thôi miên bởi những hình ảnh tội lỗi. Đây là một minh họa cực đoan và vụng về của não trạng này, nhưng nó có giá trị chỉ dẫn. (Tôi nói “vụng về”, vì giả sử Đức Kitô có thể bị cám dỗ về điều gì đó trên thập giá, chắc chắn không phải là về dâm dật – phải là người không hiểu gì về sự dâm dật, cũng như về thập giá, thì mới có thể nghĩ như vậy – bất quá là về sự tức giận thôi). Thế mà, để bảo vệ cuốn phim, vẫn có một nhà thần học đã nói: “Nếu Đức Giêsu là người thật, thì tại sao lại công phẫn về tất cả những điều đó? Con người thật được tạo ra như thế mà!” Tác giả của một bài bình luận tích cực nói rằng, từ kinh nghiệm riêng của mình, ông ta cảm thấy như thể gần gũi hơn với Đức Giêsu, người có những nghi ngờ, những bấp bênh, những nổi loạn của mình. Ở đây, theo một cách nào đó, người ta thấy lặp lại những gì đã xảy ra vào thời kỳ ngoại giáo: khi không muốn từ bỏ những tật xấu của mình, chẳng hạn ngoại tình và trộm cắp, người ngoại giáo đã làm gì? Augustinô đã tự hỏi như thế. Trong thần thoại của họ, họ gán chính những tật xấu ấy cho các vị thần của họ, để coi mình có đáng tha thứ khi phạm những tật xấu đó không[34]. Và trên thực tế, ai có thể đổ lỗi cho con người về điều mà chính thần minh cũng không tránh khỏi?

Nguyên nhân của tất cả những điều đó là do việc khẳng định nhân tính đầy đủ của Đức Kitô ngày nay rơi vào một địa hình văn hóa hoàn toàn trái ngược với địa hình của các thế kỷ đầu tiên, khi tín điều Đức Kitô “con người thật” được hình thành. Các Giáo Phụ sống trong một văn hóa được đánh dấu bằng chủ thuyết duy linh và sự mất tin tưởng (ít nhất trên lý thuyết) vào vật chất. Ngày nay chúng ta đang sống trong một văn hóa được đánh dấu bằng chủ thuyết duy vật, đề cao vật chất và thân xác. Vậy thì, thách thức và tranh luận mà nền văn hóa hiện đại liên quan đến con người ngỏ lời với đức tin là gì? Diễn ngôn không chỉ còn liên quan đến bản tính con người nữa, hay con người như một thực thể, nhưng là con người như một dự phóng. Hai tuyên ngôn nổi tiếng, được viết trong bối cảnh mới này, đã đưa ra ánh sáng một cách thô thiển lý tưởng về con người “trần thế” và về con người “làm chủ chính mình”: “Nếu Thiên Chúa hiện hữu, con người chẳng là gì cả… Thiên Chúa không hiện hữu. Thật vui, nước mắt vui mừng! Allêluia! Không còn thiên đường! Không còn địa ngục! Không còn gì ngoài trái đất!”[35] “Không còn gì trên trời – không phải Thần Thiện, không phải Thần Ác, cũng không có ai ra lệnh cho tôi… Vì tôi là một con người, và người nào cũng phải phát minh ra con đường của mình”[36]

Ngày nay có một loại thuyết Ảo thân ngược lại. Không còn phải vật chất là sự “phóng chiếu”, hay hình ảnh hão huyền, của thế giới thần linh và thiêng liêng như trong quan niệm của Platon, mà ngược lại, chính thế giới thần linh là sự phóng chiếu và hình ảnh của con người lịch sử. Chính Thiên Chúa được coi là hình ảnh của con người chứ không phải con người là hình ảnh của Thiên Chúa. Đó là ý thức hệ của chủ nghĩa thế tục cấp tiến, may mắn lại không phải là ý thức hệ duy nhất tồn tại và được chấp nhận trên thế giới ngày nay, nhưng chắc chắn khá phổ biến và nguy hiểm. Nếu Tertullianô đã nói: “Chúng ta hãy quan tâm đến nhân tính của Đấng Cứu Thế, vì thần tính của Ngài được bảo đảm”, thì ngày nay, trong bối cảnh văn hóa mới, chúng ta phải nói: “Chúng ta hãy mau mắn lại bắt đầu quan tâm đến thần tính của Đức Kitô, vì nhân tính của Ngài quá an toàn. Chúng ta hãy tái khám phá những gì Đức Kitô khác với chúng ta, vì những gì Ngài có chung với chúng ta thì quá an toàn và không thể chối cãi. Bên cạnh Đức Kitô con người “thật”, chúng ta hãy tái khám phá Đức Kitô con người “mới”!”

Phải làm gì trước tình hình mới đã được tạo ra trong vấn đề tín điều Kitô học? Lịch sử của tư tưởng Kitô giáo và của chính mạc khải Kinh Thánh chứa đầy những ví dụ về các lời khẳng định, được khai triển để đáp ứng những vấn đề cụ thể của một thời kỳ, và sau đó được lấy lại và thích nghi để đáp ứng những đòi hỏi mới, hoặc để đương đầu với những lạc giáo mới và khác nhau. Chúng ta có thể dễ dàng chứng minh tiến trình của quá trình này, liên quan đến tín điều về sự duy nhất của Đức Kitô. Công thức nói về Đức Kitô “duy nhất và đồng nhất” (unus et idem), do Irênê đặt ra để chống lại người phái Ngộ đạo[37], sau đó được Cyrillô Alexanđria và Công đồng Calcêđônia sử dụng theo một nghĩa rất khác, trong đó chủ thể duy nhất và đồng nhất là ngôi vị hiện hữu từ trước của Ngôi Lời nhập thể. Tín điều là một “cấu trúc mở”, do đó có thể được áp dụng cho các bối cảnh luôn mới, trong khi vẫn duy trì chân tính cơ bản của nó, và như thế sống động và hoạt động vô thời hạn. Nó chỉ được phép hành động, bằng cách áp dụng nó vào tình huống mới. Quả thực, tín điều không áp dụng một cách máy móc và theo cùng một cách cho tất cả các tình huống nối tiếp nhau qua nhiều thế kỷ. Để đạt được một sự thích nghi tương xứng, mỗi lần cần phải đặt nó tiếp xúc với nền tảng của nó, tức là Kinh Thánh.

Tín điều có giá trị mẫu mực; nó mời gọi chúng ta hôm nay làm điều các Giáo Phụ đã làm vào thời các ngài. Từ những dữ kiện Kinh Thánh, các ngài đã lấy những gì cần để đáp ứng nhu cầu của lúc này và để bảo vệ phần đức tin khi đó là chủ đề tranh luận, bỏ qua một bên những gì không thuộc chủ đề đó. Để bảo vệ sự kiện Đức Giêsu là người, chỉ cần, chẳng hạn, để ý đến việc nhập thể, tức là lúc Ngôi Lời đảm nhận con người. Nếu đến một lúc nào đó, điều cần thiết nhất không còn là khẳng định “Đức Giêsu là người” nữa, nhưng là làm sáng tỏ “Đức Giêsu là con người nào”, thì hiển nhiên khi đó, chỉ tính đến việc nhập thể mà thôi thì không đủ, nhưng còn phải tính đến mầu nhiệm vượt qua, nghĩa là không chỉ việc đản sinh của Đức Kitô, mà cả cuộc đời và cái chết của Ngài nữa.

Trong tinh thần này, chúng ta hãy quay về Tân Ước và tra vấn về nhân tính của Đấng Cứu Thế. Chúng ta sẽ thấy rằng việc đó không đưa đến chỗ giảm bớt tầm quan trọng của tín điều về nhân tính “hoàn hảo” của Đức Kitô, được định tín ở Calcêđônia, nhưng khám phá ra nơi tín điều này những sự phong phú và những hàm ý mới mẻ.

3. Đức Giêsu, con người “mới”

Như đã nói, Tân Ước không quan tâm đến việc khẳng định Đức Giêsu là một con người “thật”, cho bằng khẳng định Ngài là con người “mới”. Thánh Phaolô định nghĩa Đức Kitô là “Ađam cuối cùng (eschatos)”, nghĩa là “con người cuối cùng”, mà Ađam thứ nhất chỉ là một bản phác thảo và một sự thực hiện bất toàn (x. 1Cr 15,45 tt; Rm 5,14). Đức Kitô đã mạc khải con người mới, con người “được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, trong sự công chính và sự thánh thiện chân thật” (Ep 4,24; x. Cl 3,10).

Như ta thấy, “sự mới mẻ” của con người mới không hệ tại ở một thành phần mới nào đó mà con người sẽ có thêm, so với con người trước đó, nhưng hệ tại ở sự thánh thiện. Đức Kitô là con người mới, vì Ngài là Đấng Thánh, người công chính, con người theo hình ảnh Thiên Chúa. Tuy nhiên, đây không phải là một sự mới mẻ tùy thể, nhưng là một sự mới mẻ thuộc yếu tính, và không chỉ liên quan đến hành động của con người, mà còn liên quan đến hữu thể của người đó.

Con người thực sự là gì? Đối với tư tưởng thế tục, và đặc biệt tư tưởng Hy lạp, chính là một bản tính, một hữu thể được xác định từ điều nó có, từ khi sinh ra: “một con vật có lý trí”, hoặc bất cứ định nghĩa nào khác mà người ta muốn đưa ra về bản tính này. Nhưng đối với Kinh Thánh, con người không chỉ là bản tính, nó còn là ơn gọi, bình đẳng với bản tính: con người cũng là điều mà nó được mời gọi trở thành, thông qua việc thực thi sự tự do của mình, trong sự vâng phục Thiên Chúa. Các Giáo Phụ diễn tả điều đó, khi dựa vào bản văn Sáng thế 1,26, phân biệt giữa khái niệm “hình ảnh” và khái niệm “sự giống nhau”. Do bản tính hoặc do sinh ra, con người là “hình ảnh của Thiên Chúa”, nhưng con người chỉ trở thành “giống như Người” trong suốt cuộc đời của mình, nhờ nỗ lực giống như Thiên Chúa, nhờ sự vâng phục. Do việc chúng ta hiện hữu, chúng ta là hình ảnh Thiên Chúa, nhưng do việc chúng ta vâng phục, chúng ta cũng giống như Người, vì chúng ta muốn những gì Người muốn. Một tổ phụ trong sa mạc ở những thế kỷ đầu tiên đã nói: “Trong sự vâng phục, việc giống với Thiên Chúa được thực hiện, chứ không chỉ sự kiện là hình ảnh của Người”[38].

Nhân tiện, chúng ta phải nói rằng cách định nghĩa con người dựa trên cơ sở ơn gọi của người đó, chứ không dựa trên cơ sở bản tính, được tư tưởng đương đại chia sẻ, cho dù trong tư tưởng đương đại, không có chiều kích vâng phục, chủ yếu đối với Kinh Thánh, và cho dù chỉ tồn hữu chiều kích tự do, ở đó, thay vì ơn gọi, người ta nói về dự phóng (“Dự phóng” là phạm trù trung tâm, được sử dụng để nói về con người, trong Hữu thể và thời gian của M. Heidegger và Hữu thể và hư vô của J.-P. Sartre). Chính vì thế, cũng từ quan điểm này, câu trả lời hữu hiệu nhất cho những đòi hỏi của tư tưởng hiện đại không ở chỗ nhấn mạnh Đức Kitô “con người thật”, được hiểu theo nghĩa cổ xưa là “đầy đủ về bản tính”, cho bằng nhấn mạnh Đức Kitô “con người mới”, mạc khải dự phóng dứt khoát của con người.

Do đó, dự phóng của Thiên Chúa không giới hạn ở việc làm người, như thể đã tồn tại một khuôn mẫu hoặc một hình ảnh con người vốn đã đẹp đẽ và hoàn chỉnh, và con người sẽ đến, có thể nói, lẻn vào trong kiểu mẫu đó. Dự phóng cũng cho thấy con người là ai; nơi con người biểu lộ chính khuôn mẫu, vì chính con người là “hình ảnh Thiên Chúa” đích thực và hoàn hảo (Cl 1,15). Không phải Đức Giêsu được mời gọi trở nên đồng hình đồng dạng với hình ảnh của chúng ta, mà đúng hơn, chúng ta được mời gọi trở nên “đồng hình đồng dạng với hình ảnh là Chúa Con” (Rm 8,29). Công đồng Vatican II nói rất đúng: “Thật vậy, mầu nhiệm về con người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể. Bởi vì, Ađam, con người đầu tiên, đã là hình bóng của Ađam sẽ đến, là Chúa Kitô. Chúa Kitô, Ađam mới, trong khi mạc khải về Chúa Cha và tình yêu của Ngài, đã cho con người biết rõ về chính họ”[39]. Các Giáo Phụ thích lặp lại: “Thiên Chúa đã làm người để con người trở thành Thiên Chúa.” Ngày nay chúng ta phải thêm vào tiền đề này một tiền đề khác: Thiên Chúa đã làm người để con người trở thành người. Con người cách đầy đủ và đích thực.

Vì vậy, Đức Giêsu không chỉ là người giống mọi người, mà còn là người mà tất cả những người khác phải giống. Theo một nghĩa nào đó, “con người cuối cùng” này cũng là con người nguyên thủy, nếu đúng như các Giáo Phụ đã nói, là theo hình ảnh của con người tương lai này – theo hình ảnh của Hình Ảnh – mà Ađam đã được tạo ra. Irênê viết: “Con người theo hình ảnh của Thiên Chúa (St 1,2). Hình ảnh của Thiên Chúa là Con Thiên Chúa (Cl 1,15), và con người được tạo thành theo hình ảnh của Ngài”[40].

Tất cả những điều này tạo ra một sự áp dụng mạch lạc lời khẳng định của Phaolô, theo đó Đức Kitô là “Trưởng Tử của mọi tạo vật” (Cl 1,15), và lời khẳng định của Gioan, liên quan đến Ngôi Lời “nhờ Ngài mà muôn vật được tạo thành” (x. Ga 1,3). Con người không chỉ có khuôn mẫu riêng của mình trong Đức Kitô, mà còn có “hình thức bản thể” riêng. Cũng như khi thực hiện một bức tượng, hình thức hoặc dự án – mà, trong tư tưởng – đi trước việc thực hiện, lấy chất liệu và định hình nó, cũng vậy Đức Kitô, nguyên mẫu của con người, đẽo gọt và định hình nó theo hình ảnh của Ngài, xác định bản tính đích thực của nó. Cabasilas viết: “Nếu bằng một kỹ xảo nào đó, chúng ta có thể nhìn thấy tận mắt linh hồn của nghệ nhân, chúng ta sẽ thấy ở đó ngôi nhà, bức tượng hay bất kỳ tác phẩm nào khác, mà không có chất liệu”[41]. Đối với Gioan, Phaolô và các tác giả được linh hứng khác, không phải nhờ “kỹ xảo”, nhưng nhờ mạc khải của Thiên Chúa, mà các ngài đã “nhìn thấy” linh hồn của Nghệ Nhân là Thiên Chúa, và thoáng thấy ở đó con người lý tưởng chứa đựng trong Đức Kitô, mà không có chất liệu. Thật thú vị khi thấy lại, theo một cách gần như giống hệt nhau, nhãn quan của các Giáo Phụ về tương quan giữa con người và Đức Kitô, nơi một nhà thần học hiện đại như K. Barth, vì điều đó chứng minh rằng nó không phải không phù hợp với lối suy nghĩ hiện đại, và chỉ không phù hợp với sự vô tín hiện đại. Barth viết: “Con người là một hữu thể người, theo mức độ là một hữu thể duy nhất với Đức Giêsu, anh ta có nền tảng trong sự lựa chọn của Thiên Chúa và, đàng khác, trong mức độ là một hữu thể duy nhất với Đức Giêsu, anh ta được cấu tạo bằng việc lắng nghe Lời Chúa”[42].

Nhìn dưới ánh sáng này, kiểu nói “ngoại trừ tội lỗi” (absque peccato) áp dụng cho Đức Giêsu (x. Dt 4,15), không có vẻ như là một sự hạ thấp nhân tính trọn vẹn và vĩnh viễn của Đức Kitô, như thể, trong mọi sự, Ngài là một con người thật như chúng ta, ngoại trừ một điều: tội lỗi; như thể tội lỗi là một đặc điểm thiết yếu và tự nhiên của con người. Không những không hạ thấp nhân tính đầy đủ của Đức Kitô, kiểu nói “ngoại trừ tội lỗi” là một đặc điểm nổi bật trong nhân tính đích thực của Ngài, vì tội lỗi là “thượng tầng kiến trúc” duy nhất, yếu tố duy nhất thêm cách bất hợp pháp vào kế hoạch của Thiên Chúa dành cho con người. Thật đáng ngạc nhiên khi người ta đã coi đó là thứ “thuộc con người” nhất, mà chính ra đó lại là thứ ít thuộc con người nhất. Thánh Augustinô viết: “Sự đồi bại của con người đã đi đến chỗ kẻ bị khuất phục bởi lòng tham thì được coi là một con người, trong khi kẻ đã khuất phục được lòng tham lại không được coi là con người. Kẻ chiến thắng cái ác không phải là con người, trong khi những kẻ bị cái ác đánh bại, lại là con người.”[43] “Thuộc về con người” được dùng để chỉ ra những điểm chung của con người và động vật, hơn là những gì phân biệt chúng, chẳng hạn như trí khôn, ý chí, lương tâm, sự thánh thiện.

Do đó, Đức Giêsu là người “thật”, không phải mặc dù sự kiện là Ngài không có tội, nhưng chính Ngài không có tội. Trong lá thư tín lý nổi tiếng, thánh Lêô Cả đã gợi hứng cho định tín của Calcêđonia và, ở một số khía cạnh, tạo thành bài bình luận hay nhất về nó, đã viết: “Là Thiên Chúa thật, Ngài được sinh ra như một con người thật sự, trong một bản tính toàn vẹn và hoàn hảo, được tô điểm bằng tất cả các đặc quyền, cả thần linh lẫn nhân loại. Tuy nhiên, khi nói “nhân loại”, chúng ta ám chỉ những gì ngay từ đầu tạo hóa đã đặt nơi chúng ta và sau đó đến để khôi phục lại; trong khi, nơi Chúa, không có dấu vết nào của những gì tên cám dỗ đã thêm vào và con người bị cám dỗ đã đón nhận. Không được nghĩ rằng, vì muốn chia sẻ những yếu đuối của chúng ta, Ngài cũng đã dự phần vào lỗi lầm của chúng ta. Ngài đã đảm nhận thân phận nô lệ, nhưng không nhiễm tội; như thế, Ngài làm cho con người được phong phú, mà không làm giảm giá trị Thiên Chúa”[44].

Từ bản văn này, chúng ta thấy, bằng cách làm sống lại tín điều, khởi đi từ Kinh Thánh, trong đường hướng Truyền Thống, với cảm thức về Giáo Hội, nó không còn là một chân lý cổ xưa, không thể ngăn chặn sự tấn công của tư tưởng hiện đại, “như một bức tường đổ xuống và như một hàng rào sụp đổ”, trái lại, trở thành một chân lý mới và tràn đầy hiệu lực, nó có “sức mạnh phá đổ các pháo đài, phá hủy các lý luận và mọi thành lũy, trước sự hiểu biết về Thiên Chúa, khiến mọi trí khôn phải vâng phục Đức Kitô” (x. 2Cr 10,4-6). Kierkegaard đã đúng khi nói rằng “thuật ngữ tín điều của Giáo Hội nguyên thủy giống như một lâu đài thần tiên, nơi có những công chúa duyên dáng nhất và những hoàng tử hào hoa nhất đang chìm trong giấc ngủ: chỉ cần đánh thức họ là đủ để họ trỗi dậy trong tất cả vinh quang của họ”[45].

Tín điều về Đức Kitô, “con người thật” và “con người mới”, có khả năng đảo ngược hoàn toàn não trạng. Nó buộc chúng ta phải đi từ một Đức Kitô “được đo lường” theo thước đo nhân loại của chúng ta, sang Đức Kitô “là thước đo” nhân loại chúng ta; từ Đức Kitô bị các triết gia và lịch sử xét đoán, sang Đức Kitô xét đoán các triết gia và lịch sử. Triết gia mà chúng ta vừa đề cập đã viết: “Khi chấp nhận sinh ra và xuất hiện ở Giuđêa, không phải Ngài đã để cho lịch sử thẩm xét; Ngài là Đấng thẩm xét, và cuộc đời Ngài là cuộc thẩm xét không những thế hệ của Ngài, mà tất cả nhân loại nữa”[46].

4. Vâng phục và sự mới mẻ

Giờ đây chúng ta còn một việc là vắn tắt làm sáng tỏ một điểm cuối cùng: con người mới, được Đức Kitô mạc khải, hiện diện như thế nào, và đâu là đặc điểm chính yếu phân biệt con người ấy với con người “cũ”? Quả thực chúng ta phải biết con người mới này, ngay từ lúc chúng ta được kêu gọi “mặc lấy Ngài”. Cả lần này nữa, chúng ta đã đi từ khởi giảng sang khuyến thiện, từ việc chiêm ngắm Đức Kitô, con người “mới”, đến chỗ bắt chước sự mới mẻ của Ngài.

Thánh Phaolô tóm tắt sự khác biệt giữa hai loại người, bằng phản đề bất tuân–vâng phục: “Cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính” (Rm 5,19). Chính vì vậy, như tôi đã nói ở trên, để khám phá ra “Đức Giêsu là một con người”, thì chỉ cần xét đến việc nhập thể, nhưng để khám phá ra “Đức Giêsu là con người nào” thì cũng cần phải xét đến mầu nhiệm vượt qua. Vì chính đó là nơi Ađam mới tỏ mình ra là Đấng vâng phục.

Con người mới là con người không làm gì “tự mình”, hay “vì mình”, cũng không vì vinh quang của mình. Đó là người mà lương thực là làm theo ý muốn của Chúa Cha, là vâng phục cho đến chết và là cái chết thập giá. Con người mới là con người sống lệ thuộc hoàn toàn và tuyệt đối vào Thiên Chúa, và tìm thấy ở đó sức mạnh, niềm vui và sự tự do của mình. Ngài không thấy ở đó một giới hạn cá nhân nào, nhưng là con đường để vượt qua những giới hạn của mình. Tóm lại, trong sự lệ thuộc này, Ngài tìm thấy “hữu thể” của mình. Đức Giêsu nói: “Khi các ông giương cao con người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu, và biết tôi không tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy tôi thế nào thì tôi nói như vậy” (Ga 8,28). “Tôi Hằng Hữu”, bởi vì “Tôi không tự mình làm bất cứ điều gì”. Hữu thể của Đức Kitô bắt nguồn từ sự tùng phục Chúa Cha. Ngài “hằng hữu” vì Ngài “vâng phục”.

Hữu thể con người được đánh giá theo mức độ tùy thuộc vào Thiên Chúa, Đấng tác tạo ra nó, đến độ, trong đỉnh cao tột cùng của nó mà Đức Giêsu Kitô cấu tạo nên, trùng hợp với Hữu Thể tuyệt đối là chính Thiên Chúa, và đến độ có thể nói, thậm chí với tư cách là một con người, “Tôi Hiện Hữu!”. “Sự khẳng định thực sự về con người” và “chủ nghĩa nhân bản” hệ tại ở đó. Những đại biểu của các loại chủ nghĩa nhân bản khác có thể không chấp nhận khẳng định này và thậm chí chống lại nó, nhưng chúng ta biết đó là sự thật. Nếu con người không chỉ là bản tính, mà còn là ơn gọi, thì chính khi đó ơn gọi của con người được thực hiện, đó là “theo hình ảnh của Thiên Chúa và giống Người”.

Liên hệ tới con người mới này, các tín hữu phải làm hai việc: công bố và mặc lấy nó, nghĩa là sống nó. Đối với việc công bố, chúng ta có gương của các Giáo Phụ lỗi lạc của Giáo Hội thế kỷ thứ IV: Basiliô, Grêgôriô Nadian, Grêgôriô Nyssê, Augustinô… Đây là những người đã thấm nhuần văn hóa của thời đại các ngài; khi nói về những người đối thoại ngoại giáo của mình, các ngài đã có thể nói: “Họ là người Hy Lạp ư? Tôi cũng vậy!” Nhưng các ngài sẽ hoán cải, bị coi là điên rồ trước mắt những người thông thái, khi đón nhận sự khiêm nhường của Đức Kitô, và do đó các ngài sẽ trở thành “nguồn” trong đó hình thành một lối suy nghĩ mới, một nhãn quan mới về con người, “nơi dung hợp” văn hóa Hy lạp được Kitô hóa và Kitô giáo được Hy lạp hóa, theo nghĩa tích cực của thuật ngữ, nghĩa là đã trở thành “Hy Lạp với người Hy Lạp”. Các ngài thu nạp tư tưởng về con người vốn là tư tưởng của văn hóa của các ngài, bảo vệ những gì có giá trị – chẳng hạn khẳng định “chúng ta thuộc dòng giống Thiên Chúa” (Cv 17,28) – và sửa chữa những gì sai lầm, chẳng hạn khẳng định “xác thịt không thể được cứu”. Đây là điều chúng ta cũng phải làm ngày nay, trước văn hóa của chúng ta, một văn hóa không khó thừa nhận sự cứu chuộc và tính ưu việt của vật chất, trong khi lại thấy khó thừa nhận rằng chúng ta “thuộc dòng giống Thiên Chúa”, do Người tạo dựng. Các Giáo Phụ cũng đã cứu văn hóa của các ngài bằng cách buộc nó, từ bên trong, mở ra cho những chân trời mới. Các ngài cũng biết cách nhìn nhận những chinh phục vĩ đại của văn hóa thời các ngài, chứ không chỉ lên án những khuyết điểm của nó; đây cũng là điều chúng ta phải làm.

Vào thời kỳ đó, điểm dễ chạm nọc là “sự khôn ngoan”; còn ngày nay, là sự “tự do”. Thánh Phaolô nói: “Trong khi người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà dân ngoại cho là điên rồ, nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, Đức Kitô là sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (x. 1Cr 1,22-24). Chúng ta có thể nói: “Con người ngày nay tìm kiếm sự tự do và độc lập, còn chúng ta, chúng ta rao giảng một Đức Kitô vâng lời cho đến chết, là sức mạnh của Thiên Chúa và sự tự do của Thiên Chúa”.

Tất cả những sai lạc mà chúng ta nghe được ngày nay về nhân tính Đức Kitô và những cuộc đấu tranh và nổi dậy được cho là của Ngài, cũng như nghĩ rằng Đức Kitô không đầy đủ, nếu Ngài không có “ngôi vị con người” của Ngài, phát xuất từ sự kiện là cuối cùng người ta cam chịu đối với những giả định trước của chủ nghĩa nhân bản vô thần, theo đó có sự cạnh tranh gay gắt và sự không tương thích giữa Thiên Chúa và con người, và “Thiên Chúa sinh ra ở đâu thì ở đó con người chết đi”. Thay vì tiêu diệt những lập luận chống lại đức tin, bằng cách bắt tất cả trí khôn của con người phục tùng đức tin, thì chính đức tin, bằng cách này, phục tùng trí khôn của con người.

5. “Nếu người Con có giải phóng các ông”

Tuyên xưng Đức Kitô là Đấng “vô tội” chắc chắn không nhằm gây ra mâu thuẫn với thế giới và con người ngày hôm nay, nhưng trái lại, để khơi dậy nơi họ niềm tin tưởng và hy vọng. Không có nhiều chủ đề Phúc Âm có sức mạnh giải phóng như chủ đề đó. Tôi vẫn còn nhớ chính tôi đã “khám phá” ra sự thánh thiện của Đức Kitô như thế nào. Quan sát hành động và suy nghĩ của mình, tôi thấy rõ không gì trong số chúng có thể tự cho mình là hoàn toàn trong sạch và không có một chút hư hoại nào do tội lỗi của tôi. Tình huống này thúc đẩy tôi suy nghĩ tìm một lối thoát nào đó, theo cách thánh Phaolô đã kêu lên: “Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này?” (Rm 7,24). Chính khi đó tôi khám phá ra Đức Giêsu “vô tội” và lần đầu tiên tôi hiểu được tầm quan trọng to lớn của câu xen “ngoại trừ tội lỗi” trong Kinh Thánh. Nhãn quan này gieo vào tâm hồn tôi một sự an bình và tin tưởng lớn lao, như người đắm tầu tìm được một vật để bám vào. Vậy tội lỗi – tôi lặp lại – không phải nơi nào cũng có mặt, nó cũng không toàn năng nữa! Đã có – và vẫn còn có – một điểm trong vũ trụ nơi nó bắt đầu rút lui mà chắc chắn sẽ kết thúc bằng sự loại bỏ vĩnh viễn. Khi đó, tôi mong muốn mở Kinh Thánh, với hy vọng tìm thấy một bản văn nói với tôi cách nào đó, về Đức Giêsu vô tội. Mắt tôi dừng lại ở đoạn Phúc Âm Gioan, trong đó Đức Giêsu nói: “Thật, tôi bảo thật các ông: hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội…Vậy nếu người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thật sự là những con người tự do” (Ga 8,34-36). Tôi hiểu rằng ở đây Đức Giêsu không nói về bất cứ sự tự do nào, cũng không phải sự tự do nói chung, nhưng là sự tự do liên quan tới tội lỗi: nếu người Con làm cho bạn thoát khỏi tội lỗi, thì bạn sẽ thực sự được tự do. Một ngày nào đó, chúng ta cũng vậy, chúng ta sẽ được giải thoát khỏi tội lỗi, nghĩa là được tự do “thật sự”, bằng một sự tự do mà bây giờ chúng ta thậm chí không thể tưởng tượng nổi. Bắt đầu với đoạn thư 2Cr 3,17 (“Ở đâu có thần khí Chúa, ở đó có tự do”), thánh Augustinô cho ta biết bí mật của sự tự do đích thực. Ngài nói: “Nơi nào có Thần Khí của Chúa, thì chúng ta không còn bị thú vui phạm tội cám dỗ, chính đó là sự tự do; nơi nào không có Thần Khí, chúng ta bị thú vui phạm tội cám dỗ, và chính đó là sự nô lệ”[47]. “Thần Khí của Chúa” là Thần Khí của Chúa Giêsu.

Tất cả những điều này chứa đựng lời loan báo Đức Kitô, con người mới. Nhưng còn hơn cả việc loan báo con người mới cho thế giới, chúng ta được kêu gọi mặc lấy con người ấy và sống con người ấy: “Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4,22-24).

Chúng ta không thể bắt chước Đức Kitô trong thần tính của Ngài, trong các phép lạ hoặc trong sự phục sinh của Ngài. Hơn nữa, chúng ta không được bắt chước Ngài như một người “thật”, bởi vì, với tư cách là một người, đúng hơn Ngài đã bắt chước chúng ta. (Thiên Chúa nói : người ta luôn nói về việc noi gương Đức Giêsu Kitô, là việc con người bắt chước, trung thành bắt chước con ta… Nhưng cuối cùng, đừng quên rằng con ta đã bắt đầu với việc đặc biệt bắt chước con người. Trung thành cách đặc biệt. Việc bắt chước ấy đạt tới chỗ đồng hóa hoàn toàn. Khi vì quá trung thành, quá hoàn hảo, Ngài bắt chước sinh ra. Và bắt chước chịu khổ. Và bắt chước sống. Và bắt chước chết”[48]). bởi vậy chúng ta không thể bắt chước Đức Giêsu, với tư cách Thiên Chúa, và chúng ta không được bắt chước Ngài, như một con người thuần túy. Ngược lại, chúng ta có thể và chúng ta phải bắt chước Đức Giêsu Kitô, như một con người “mới”, con người không mắc tội.

Không phải ai cũng có thể loan báo Đức Kitô, con người mới, cho thế giới bằng lời nói và chữ viết. Trong nhiều đoạn văn kiện, Công đồng đã làm điều này. Đức Gioan Phaolô II làm điều này thường xuyên, trong các bài diễn từ của ngài và nhất là trong thông điệp Redemptor hominis (Đấng Cứu Chuộc con người). Nhưng mọi người đều có thể sống và làm chứng về Ngài trong chính con người của họ. Thánh Phanxicô Assisi ít nói về con người mới, nhưng tất cả những người viết tiểu sử của ngài, sau khi ngài qua đời, đều có cùng một xác tín rằng nơi ngài, “một con người mới” đã xuất hiện trên thế giới: “Có những người thuộc mọi hoàn cảnh, và thuộc cả hai phái tính, chạy đến gặp con người mới này, được trời ban cho thế giới”[49].

Ai được mời gọi để dùng lời nói công bố cho thế giới hôm nay con người là Đức Kitô, cũng biết rằng lời nói của mình chỉ trở nên đáng tin cậy bằng đời sống của mình và hơn nữa bằng cái chết của mình. Là người Kitô hữu, đôi khi chúng ta buồn lòng trước sự mù quáng và cứng lòng của những người đương thời đề cao sự độc lập và tự chủ tuyệt đối của con người, cả về luân lý lẫn liên quan tới Thiên Chúa. Chúng ta hoàn toàn ngạc nhiên trước sự quá đáng và hubris (sự ngạo mạn) của một số tự phụ, chẳng hạn như những tự phụ chúng ta vừa nhắc đến. Chúng ta nhận ra rằng mình không thể làm gì, lời nói là không đủ, và những lời kêu gọi có thẩm quyền, như lời kêu gọi của Vatican II, rơi vào quãng không. Tuy nhiên, có một điều chúng ta có thể làm, là không hành động giống họ, không bắt chước họ! Cả chúng ta nữa, đừng biến sự tự do và độc lập của mình thành một kho báu được canh giữ cẩn thận, không ai có quyền chạm vào. Một thần tượng. Thật vậy, không cần phải đi xa hơn, tôi nhận thấy, nơi bản thân tôi, thật dễ dàng biết bao đối với tôi khi nhận ra sự quá đáng của những tuyên bố về sự tự chủ tuyệt đối, được ghi lại trong các tác phẩm của những triết gia và được thực hiện bởi những người cùng thời với tôi; ngược lại, tôi không nhận thấy chúng hiện diện trong cuộc sống cá nhân của tôi và ảnh hưởng đến các lựa chọn của tôi, Con người cũ đã bố trí một đội quân để bảo vệ sự tự do của mình. Nó sẵn sàng hy sinh thực tế mọi sự, kể cả sức khỏe của mình, nhưng không phải sự tự do của mình. Nó nói: “Mọi sự, nhưng không phải sự tự do của tôi”. Trong khi đó, ngược lại, chúng ta phải “trao nộp” cho Thiên Chúa sự tự do của ta, nếu chúng ta muốn bắt chước Đức Giêsu. Chính từ đó mà con đường trở về với Thiên Chúa của chúng ta phải bắt đầu: nơi mà từ đó đã khởi sự con đường đã đưa chúng ta xa rời Thiên Chúa.

Do đó, chúng ta phải rất coi trọng lời kêu gọi cởi bỏ con người cũ, cùng những dục vọng của nó. Cởi bỏ con người cũ có nghĩa là cởi bỏ ý riêng, và mặc lấy con người mới có nghĩa là chấp nhận ý muốn của Thiên Chúa. Mỗi lần chúng ta quyết định, ngay cả trong vấn đề nhỏ nhất, phá vỡ “ý muốn xác thịt” và từ bỏ chính mình, chúng ta tiến một bước về phía Đức Kitô, con người mới. Về Ngài, có lời chép: “Đức Kitô không chiều theo sở thích của mình: Christus non sibi placuit” (Rm 15,3), Đó là một loại quy tắc chung để phân định các tâm trí. Không tìm kiếm, cũng không làm ngay lập tức những gì, theo cách nói của con người, chúng ta thích làm hoặc nói. Trong mọi hoàn cảnh, chúng ta không thể biết được đâu là ý muốn của Thiên Chúa phải thực hiện, điều Thiên Chúa muốn hay không muốn nơi chúng ta; nhưng bù lại, chúng ta biết ý muốn của chúng ta không được làm là gì. Người ta nhận ra nó bằng một số dấu hiệu không thể sai lầm, có thể nhận ra bởi bất cứ ai có chút thói quen xét mình. Cả chúng ta nữa, trong mọi khó khăn và nghi ngờ, hãy học cách lặp lại, như một kiểu cầu nguyện vắn, điều Đức Giêsu đã nói: “Tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi” (Ga 5,30); “Tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi” (Ga 6,38). Tôi không ở đây, trong địa vị này, trong hoàn cảnh này, để làm theo ý tôi, nhưng theo ý Thiên Chúa! “Sự mới mẻ” của con người mới được đo lường – như  chúng ta đã thấy – bằng sự vâng phục và bằng sự phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa.

Phần trước Phần tiếp