III. NGƯƠI CÓ TIN KHÔNG?

Thần tính của Đức Kitô trong Phúc Âm Gioan

1. “Nếu các ông không tin là Tôi Hằng Hữu…”

Một ngày kia, tôi đang cử hành Thánh lễ trong một đan viện. Đoạn Phúc Âm được phụng vụ đề nghị đọc trích trong Gioan, trong đó Đức Giêsu nhiều lần tuyên bố “Tôi Hằng Hữu”: “Nếu các ông không tin là Tôi Hằng Hữu, các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết… Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu… Thật tôi bảo thật các ông, trước khi có ông Abraham, thì tôi, Tôi Hằng Hữu” (Ga 8,24, 28, 58). Trong sách bài đọc, khác với mọi quy tắc ngữ pháp, những chữ Tôi Hằng Hữu được viết hoa, chắc hẳn kết hợp với một nguyên nhân khác mầu nhiệm hơn, gây ra một tia lửa. Lời này “bùng nổ” trong tôi. Tất nhiên, tôi biết rằng trong Phúc Âm Gioan có rất nhiều egô eimi, “Tôi Hằng Hữu”, được Đức Giêsu thốt ra, là một sự kiện quan trọng trong Kitô học. Nhưng đó là kiến ​​thức trơ ỳ, không có hậu quả. Điều đó không bao giờ làm phiền tôi. Tuy nhiên, ngày hôm đó thì khác hẳn. Đó là Mùa Phục sinh, và dường như chính Đấng Phục Sinh vừa công bố thánh danh Ngài trước trời đất. “Tôi Hằng Hữu” của Ngài soi sáng và choán đầy vũ trụ. Tôi cảm thấy mình thật nhỏ bé, giống như ai đó đang tham dự, từ xa và tình cờ, một cảnh tượng đột ngột và phi thường, hoặc một cảnh tượng vĩ đại của thiên nhiên. Đó không phải là một cảm xúc đơn thuần của niềm tin: nó là một trong những cảm xúc mà, một khi đã qua đi, sẽ để lại trong lòng một hoài niệm lớn.

Với mong muốn biết thêm về “Tôi Hằng Hữu” của Đức Kitô, tôi đã nại đến các bài chú giải hiện đại về Phúc Âm thứ IV và tôi thấy chúng gần như nhất trí khi thấy những lời này của Đức Giêsu ám chỉ đến danh Thiên Chúa, chẳng hạn trong Isaia 43,10: “Để các người nhận biết và tin Ta, và hiểu rõ Ta vẫn là Ta”. Vả lại, lâu trước đó, thánh Augustinô đã liên hệ giữa lời khẳng định này của Đức Giêsu với việc mạc khải danh Thiên Chúa, trong Xuất Hành 3,14, và ngài đã kết luận: “Đối với tôi, dường như Đức Giêsu Kitô khi nói: “Nếu các ông không tin là Tôi Hằng Hữu”, Ngài không muốn nói gì khác hơn điều này: “Nếu các ông không tin tôi là Thiên Chúa, các ông sẽ chết trong tội lỗi của các ông”. Tạ ơn Chúa vì những gì Đức Kitô đã nói “nếu các ông không tin”, chứ không phải “nếu các ông không hiểu”. Nếu bạn không hiểu, đức tin sẽ giải phóng bạn”[50].

Cho phép tôi bắt đầu suy tư về thần tính Đức Kitô bằng ký ức cá nhân này, vì trong khuôn khổ của Phúc Âm thứ IV, một sự thật như thế được diễn tả cách xúc động nhất, chính là trong “Tôi Hằng Hữu” của Đức Kitô. Người ta có thể nêu vấn nạn rằng đây là những lời của Gioan, tạo ra những bước phát triển sau này của đức tin, mà Đức Giêsu không góp gì trong đó. Nhưng đây chính là vấn đề. Chính là những lời của Đức Giêsu; và chắc hẳn của Đức Giêsu Phục Sinh, Đấng từ nay sống và nói “trong Thần khí”; nhưng luôn là Đức Giêsu, cũng một Đức Giêsu Nadaret. Ngày nay, đối với những lời nói của Đức Giêsu trong các sách Phúc Âm, người ta có thói quen phân biệt giữa những lời “xác thực” và những lời “không xác thực”, nghĩa là giữa những lời thực sự do Ngài nói trong suốt cuộc đời của Ngài, và những lời các Tồng Đồ gán cho Ngài sau khi Ngài qua đời. Nhưng sự phân biệt này rất mơ hồ và, nếu nó có thể đúng trong trường hợp của bất cứ tác giả con người nào, thì không phải như vậy trong trường hợp của Đức Kitô. Hiển nhiên là không có vấn đề nghi ngờ tính chất hoàn toàn nhân bản và lịch sử của các tác phẩm Tân Ước, sự đa dạng của các thể loại văn chương và các “hình thức”, và càng không thể quay trở lại ý tưởng xưa cũ về cảm hứng ngôn từ và hầu như máy móc. Đó chỉ là vấn đề xem liệu sự linh hứng Kinh Thánh có còn hay không còn ý nghĩa đối với các Kitô hữu; và khi chúng ta nói rằng Kinh Thánh là “lời của Thiên Chúa”, thì xem liệu độ chính xác của những chữ “của Thiên Chúa” có còn một ý nghĩa khác biệt về định tính so với bất cứ trường hợp nào khác, hoặc chỉ là một cách diễn đạt giống như một cách diễn đạt khác.

Đức Giêsu khẳng định rằng Thần Khí sẽ làm chứng cho Ngài, Người sẽ “lấy những gì là của Thầy mà loan báo cho anh em (x. Ga 16,14), và ở đâu Người làm chứng cho Ngài hơn, nếu không phải trong Kinh Thánh do Người linh hứng.

Nhưng còn có gì đó hơn nữa. Đức Giêsu khẳng định Ngài sẽ tiếp tục nói nhờ Thần Khí, là Thần Khí “của Ngài”. Ngài nói: “Sẽ đến giờ Thầy không còn dùng dụ ngôn mà nói với anh em nữa, nhưng Thầy sẽ nói rõ cho anh em về Chúa Cha, không còn úp mở” (Ga 16,25). Chính Thầy, chứ không ai khác, sẽ nói cho anh em về Chúa Cha! Qua những lời này, Đức Giêsu ám chỉ lúc nào trong tương lai? Đó không phải là lúc Ngài còn sống ở trần gian, vì Ngài đang trong hôm trước ngày chịu nạn; đó không phải là lúc vĩnh cửu, lúc Ngài không cần nói về Chúa Cha nữa. Ngài ám chỉ đến thời kỳ sau cuộc Vượt Qua của Ngài và lễ Ngũ Tuần, khi nhờ Thần Khí của Ngài, Ngài sẽ đưa các môn đệ đến với tất cả sự thật về mối tương quan của Ngài với Chúa Cha (x. Ga 16,13), một điều, như chúng ta biết, đã xẩy ra trong lịch sử. Chắc chắn, có thể có người nói rằng ngay cả những lời “Thầy sẽ nói với anh em về Chúa Cha” là do tác giả sách Phúc Âm, nhưng không lạ sao, khi Gioan khẳng định điều đó, và như vậy ngài tin rằng sau lễ Vượt Qua, cũng chính Đức Giêsu còn tiếp tục mạc khải mình và mạc khải Chúa Cha?

2. “Ông làm chứng cho chính mình”

Vậy chính Đức Giêsu, bằng câu “Tôi Hằng Hữu” và bằng vô số cách khác, tự xưng mình là Thiên Chúa trong Phúc Âm thứ IV. Như vậy, Ngài đã làm rõ một yêu sách mà, trong suốt cuộc đời trần thế của Ngài, đã được hình thành ngay cả một cách mặc nhiên. Quả thực, các môn đệ chưa thể mang nổi gánh nặng của một mạc khải như thế.

Nhưng động lực này chỉ là thứ yếu. Lý do khiến Đức Giêsu để dành sự hiểu biết đầy đủ về chính mình trong thời kỳ hậu phục sinh – và do đó cho lời chứng của các Tông Đồ – thì khác và mang tính quyết định hơn: đó là vì chính sự chết và sự sống lại của Ngài là chìa khóa giúp hiểu Ngài là ai. Theo nghĩa này, lời chứng của các Tông Đồ – thực tế là các tác phẩm của Tân Ước – là một phần không thể thiếu trong việc Đức Giêsu tự mạc khải mình. Ở đó, nhờ Thần Khí của mình, Ngài đã bầy tỏ điều Ngài không thể nói trực tiếp trước khi chết và sống lại. Trước khi biết “Đức Giêsu là Thiên Chúa”, điều quan trọng là phải biết “Đức Giêsu là Thiên Chúa nào”, và điều này chỉ được bày tỏ trên thập giá và trong sự phục sinh.

Do đó, không chỉ tác giả Phúc Âm công bố Đức Giêsu là “Thiên Chúa”, mà chính Đức Giêsu cũng tự xưng như vậy. Nhưng ở đây, ngay trong cuộc đời của Đức Kitô, đã xảy ra một cuộc tranh chấp gắt gao: “Ông làm chứng cho chính mình, lời chứng của ông không thật” (Ga 8,13). Đức Giêsu trả lời: “Tôi có làm chứng cho chính mình đi nữa, thì lời chứng của tôi vẫn là chứng thật” (Ga 8,14). Câu trả lời này chỉ có vẻ bề ngoài là vô lý và trái ngược với quan niệm của chúng ta về lời chứng. “Nếu một người có một sự hiểu biết hoàn hảo về chính mình, sự hiểu biết không thể chia sẻ với bất kỳ ai khác, thì lời chứng của người đó thực tế là lời chứng duy nhất có thể giữ lại”[51]. Đây chính là trường hợp của Đức Giêsu và của một mình Ngài. Một mình Ngài biết mình đến từ đâu và đi đâu; một mình Ngài đến từ trời, tất cả những người khác đều đến từ đất (x. Gl 8,14.23). Đức Giêsu làm chứng cho mình, vì cùng một lý do như Thiên Chúa, theo Kinh Thánh, “đã không thể lấy danh ai cao trọng hơn mình mà thề, nên đã lấy chính danh mình mà thề” ​​(Dt 6,13).

Đức Giêsu minh họa sự kiện này bằng cách nại tới hình ảnh ánh sáng. Ngài nói: “Tôi là ánh sáng thế gian” (Ga 8,12). Thánh sử nói: (Ngài là) “ánh sáng thật” (Ga 1,9). Ánh sáng của thế gian có thể nhận được ánh sáng của thế gian chăng? Mặt trời có thể nhận ánh sáng của một ngọn nến chăng? Đặc tính của ánh sáng là tự nó là ánh sáng, soi sáng mọi vật, không bị vật nào khác soi sáng. Ánh sáng chỉ có thể tỏa sáng, hy vọng có những đôi mắt rộng mở để đón nhận nó. “Vậy ý nghĩa thực sự trong câu trả lời của Đức Giêsu là lời tuyên bố của Ngài tự nó là bằng chứng của chính nó. Quả thực, chỉ bằng cách tỏa chiếu ánh sáng, người ta mới có thể đưa ra thực chất một cách hiệu quả cho lời khẳng định rằng chính mình là “ánh sáng”. Mục đích của toàn bộ Phúc Âm là cho thấy rằng công việc của Đức Kitô tự nó có sức thuyết phục: erga (các công việc) của Ngài là ánh sáng”[52]. Gioan Tẩy Giả chắc chắn làm chứng về ánh sáng (x. Ga 1,8), nhưng giống như một ngọn đèn nhỏ vẫn cháy sáng chờ rạng đông và tắt đi khi mặt trời vừa mọc. Chính ngài lui đi khi nói: “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (Ga 3,30). Chỉ một hữu thể có thể làm chứng cho Đức Giêsu và thực sự làm chứng cho Ngài, đó là Chúa Cha. Liên tục và bằng nhiều cách, Chúa Cha làm chứng cho Đức Kitô, bằng những lời Kinh Thánh nói về Người (x. Ga 5,19), bằng những lời Người ban cho Ngài loan báo và những công việc Người giao cho Ngài hoàn thành. Nhưng tất cả những điều này giả thiết một điều kiện, để có hiệu quả: mang trong mình “lời”, hay “tình yêu của Chúa Cha”, hay “của Thiên Chúa”. yêu mến ánh sáng và muốn thi hành thánh ý Thiên Chúa (x. Ga 5,38; 5,41; 7,17; 8,47). Rất nhiều cách khác nhau để nói lên cùng một điều.

Mọi chứng từ đến từ bên ngoài đều rơi vào khoảng không, nếu nó không tìm thấy trong tâm hồn một khả năng lắng nghe và đón nhận. Ánh sáng có thể chiếu sáng bao nhiêu tùy thích, nhưng nếu con mắt phải tiếp nhận ánh sáng nhắm lại, thì trên thực tế, dường như ánh sáng đó không chiếu sáng. Trong trường hợp này, việc một người không nhìn thấy không có nghĩa là không có ánh sáng, nhưng là người đó bị mù. Đức Giêsu có thể cho thấy thần tính của Ngài, nguồn gốc từ trời của Ngài, nhưng nếu không có cơ quan tiếp nhận mạc khải này, hoặc có nhưng không hoạt động, thì sẽ không có sự công nhận nào xảy ra, không có đức tin nào phát sinh. Cũng giống như khi nói với một người lạ không biết ngôn ngữ của người nói: lời nói lọt vào tai anh ta, nhưng chúng chẳng có ý nghĩa gì đối với anh ta, chúng chỉ là âm thanh. Chính trong bối cảnh Ngài tuyên bố câu “Tôi Hằng Hữu” – như thể Ngài đang chống lại sự thiếu giao tiếp giữa Ngài và thính giả – mà Đức Giêsu nói: “Tại sao các ông không hiểu lối nói của tôi? Là vì các ông không thể nghe lời tôi nói” (Ga 8,43).

Câu trả lời luôn luôn giống nhau: một số người không có lời Chúa trong họ, và dấu hiệu cho thấy họ không có lời ấy chính là vì họ không tin (x. Ga 5,38). Nếu họ thuộc về Thiên Chúa, họ sẽ nhận ra Ngài đang nói lời của Thiên Chúa. Giống như một người đến từ một đất nước xa xôi, gặp ngay những người nói là cùng quê, nhưng khi nói tiếng mẹ đẻ với họ, họ không hiểu. Đây là dấu hiệu rõ ràng cho thấy họ đã nói dối và không đến từ cùng một đất nước, bởi vì Ngài biết “Ngài đến từ đâu”. Đó cũng là nhận xét đau đớn tương tự của các Tông Đồ sau lễ Phục Sinh. Trước Hội đồng Do thái cứng lòng tin, Phêrô tuyên bố: “Về những sự kiện đó, chúng tôi xin làm chứng cùng với Thánh Thần, Đấng mà Thiên Chúa đã ban cho những ai vâng lời Người” (Cv 5,32). Ở đây, các Tông Đồ gọi là “Chúa Thánh Thần”, còn Đức Giêsu lại gọi là “Lời”, hay “tình yêu của Chúa Cha”, nhưng rõ ràng là về cùng một thực tại, nghĩa là sự tương ứng bên trong, mà chỉ một mình nó mới có thể cho phép đón nhận chứng từ bên ngoài, về Đức Giêsu trong thời của Ngài, và bây giờ là chứng của các Tông Đồ. Tầm nhìn thu hẹp lại trong tâm hồn con người; chính đây là chỗ quyết định xem ai sẽ là tín hữu, ai không.

3. “Làm sao các ông có thể tin được?”

Nhưng tại sao một số người không có “lời” này hoặc Thần Khí này, vốn cho phép họ nhận ra những gì Đức Giêsu nói về mình là đúng, và Ngài thực sự là Con Thiên Chúa? Có lẽ chính Thiên Chúa phân biệt đối xử và làm mù quáng, đã tiền định cho một số người tin và những người khác không tin chăng? Cần biết rằng một số người, chẳng hạn như Calvin, đã thực sự giải thích sự việc theo cách này. Nhưng khi đó làm sao người không tin chịu trách nhiệm, và có thể bị “xét xử” bởi lời Đức Giêsu và những việc Ngài làm? Đúng là chính Gioan viết, về một số người: “Sở dĩ họ không thể tin là vì ngôn sứ Isaia còn nói: Thiên Chúa đã làm cho mắt chúng ra đui mù và lòng chúng ra chai đá, kẻo mắt chúng thấy và lòng chúng hiểu được mà hoán cải, rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành” (Ga 12,39-40; x. Is 6,9 tt). Nhưng chúng ta biết phải hiểu những đoạn Kinh Thánh này muốn nói gì: không phải chính Thiên Chúa làm mù quáng hay làm cứng lòng, nhưng Người cho phép tâm trí ra mù quáng và lòng dạ ra chai đá, như là hậu quả của sự lựa chọn tự do và sự phản kháng từ trước của con người. Thánh Phaolô nói: “Vì tuy biết Thiên Chúa, họ đã không tôn vinh hay cảm tạ Người cho phải đạo. Trái lại, đầu óc họ suy luận viển vông, và tâm trí ngu si của họ hóa ra mê muội…Vì họ đã không thèm nhận biết Thiên Chúa, nên Người đã để mặc họ theo trí óc lệch lạc mà làm những điều bất xứng” (Rm 1,21.28). Chính thánh Phaolô đã chỉ rõ ai mới là kẻ thực sự làm con người mù quáng khi viết: “Tin Mừng chúng tôi rao giảng có bị che khuất, thì chỉ bị che khuất đối với những người hư mất, đối với những kẻ không tin. Họ không tin, vì tên ác thần ở đời này đã làm cho tâm trí họ ra mù quáng, khiến họ không thấy bừng sáng lên Tin Mừng nói về vinh quang của Đức Kitô, là hình ảnh Thiên Chúa” (2Cr 4,3-4). Thánh Augustinô cũng cho rằng Thiên Chúa “không bỏ rơi, nếu Người không bị bỏ rơi”[53]. Dù nói thế, nhưng vẫn còn một phần mầu nhiệm trong việc một số người tin và một số thì không; và điều đó phải làm cho chúng ta cảm thấy sợ hãi, nhưng là sợ hãi hữu ích. Tuy vậy chúng ta phải quan tâm đến những gì tùy thuộc chúng ta, chứ không phải những gì tùy thuộc Chúa. Về Thiên Chúa, chúng ta biết rằng Người luôn công bằng và ngay thẳng trong mọi việc Người làm, và như thế phải là đủ cho chúng ta.

Liên quan đến những gì tùy thuộc chúng ta, chính Đức Giêsu đã chỉ ra gốc rễ của sự cứng lòng tin nơi con người, nghĩa là tại sao người cứng lòng tin “không thể” tin: “Các ông tôn vinh lẫn nhau, và không tìm kiếm vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa, thì làm sao các ông có thể tin được?” (Ga 5,44). Một lần khác, ngay sau khi vừa nhắc lại những lời của ngôn sứ Isaia, thánh sử viết: “Tuy nhiên, ngay cả trong giới lãnh đạo Do Thái cũng có nhiều người đã tin vào Đức Giêsu. Nhưng họ không dám xưng ra, vì sợ bị nhóm Pharisiêu khai trừ khỏi hội đường. Thật thế, họ chuộng vinh quang của người phàm hơn là vinh quang của Thiên Chúa” (Ga 12,42-43).

Vậy đâu là kẻ thù của niềm tin vào thần tính của Đức Kitô? Lý trí chăng? Không, đó là tội, và chính xác là tội kiêu ngạo, tìm kiếm vinh quang của mình. Ai bị chi phối bởi việc tìm kiếm vinh quang riêng của mình thì không thể tin, vì trong đức tin, không có vinh quang của con người, cũng như không có “sự độc đáo”. Trái lại, để tin, người ta phải tùng phục, “tùng phục Thiên Chúa”, như thánh Phêrô đã nói (x. Cv 5,32). Đúng là ai tin thì “sẽ thấy vinh quang Thiên Chúa” (Ga 11,40), nhưng đây là vinh quang của Thiên Chúa, chứ không phải vinh quang riêng của mình. Tin, chính là thường trực đứng dưới thước đo của cái tuyệt đối, liên tục nghĩ tới sự hư vô của mình.

Do đó, đồng minh tuyệt vời của đức tin, preambulum (điều đi trước) thực sự của nó, chính là sự khiêm nhường. Thiên Chúa che giấu thần tính của Người trong sự khiêm nhường của xác thịt và thập giá. Bởi vậy, không ai có thể khám phá ra nó, nếu không chấp nhận khiêm nhường và nếu không trở nên nhỏ bé. Như thể có ai đang tìm kiếm một vật gì đó, mà lại đi theo hướng ngược với hướng của vật đó: người ấy sẽ không bao giờ tìm thấy nó. Người không lấy lòng khiêm nhường tìm kiếm thần tính Đức Kitô, thì có tìm kiếm cũng vô ích. Đức Giêsu nói: Chúa Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, đặc biệt mầu nhiệm về ngôi vị của Ngài, nhưng lại mạc khải cho những kẻ bé mọn (x. Mt 11,25).

Phải nói rằng kiêu ngạo là một đồng minh đắc lực trong công việc làm mù quáng của nó: chính là sự không trong sạch, nô lệ cho vật chất, và nói chung, là một cuộc sống vô trật tự và bất lương. Đó là điều mà thánh sử Gioan khẳng định, khi, một lần nữa, ngài nại đến hình ảnh ánh sáng: “Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa. Quả thật, ai làm điều ác, thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê ghét” (Ga 3,19-20). Ở đây, không chỉ là vấn đề về sự ô uế của xác thịt (ánh sáng cũng là tình yêu, còn bóng tối là thù ghét), mà còn là vấn đề về nó, như kinh nghiệm xác nhận. Sự vô trật tự về đạo đức dập tắt Thần Khí, chỉ Thần Khí mới có thể nhận ra chứng từ bên ngoài của Đức Giêsu và các Tông Đồ: “Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với xác thịt” (Gl 5,17). Một xã hội ngày càng lún sâu vào chủ nghĩa duy vật và vô trật tự về đạo đức là một xã hội ngày càng ít tin vào thần tính của Đức Kitô. Thực tế, sự vô trật tự về đạo đức trở thành một lời trách cứ thường xuyên. Trong một cuộc đối thoại hư cấu với những người không tin, Pascal viết: Họ nói: “Nếu tôi có đức tin, tôi sẽ sớm từ bỏ thú vui nhục dục”. Nhưng tôi nói cho bạn hay: “Nếu bạn từ bỏ thú vui nhục dục, bạn sẽ sớm có đức tin”[54]. Sự trong sạch là chỗ dựa lớn lao cho niềm tin vào thần tính của Đức Kitô. “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8). Họ cũng sẽ thấy Thiên Chúa nơi Đức Giêsu, họ sẽ nhận ra thần tính của Ngài.

Chắc chắn có những động lực khác ngăn cản người ta tin vào Đức Kitô: một số có lỗi, số khác thì không; nhưng những động lực tôi đã nhấn mạnh – nhất là tìm kiếm vinh quang riêng của mình – thuộc vào số phổ biến nhất, đặc biệt khi là về những người đã biết Đức Giêsu và thậm chí có lẽ đã tin vào Ngài một lúc nào đó.

4. “Việc Thiên Chúa, là tin vào Đấng Người đã sai đến”

Theo Tân Ước, thần tính của Đức Kitô – và do đó, tính phổ quát của sứ mạng và ơn cứu độ của Ngài – là đối tượng cụ thể và chính yếu của hành vi tin. “Tin”, không thêm chi tiết nào khác, từ nay có nghĩa là tin vào Đức Kitô. Nó cũng có thể có nghĩa là tin vào Thiên Chúa, nhưng với tư cách là Đấng đã sai Con mình đến thế gian. Đức Giêsu nói với những người đã tin vào Thiên Chúa thật; chủ yếu của việc Ngài nhấn mạnh về đức tin từ đây liên quan đến yếu tố mới này từ ngày Ngài đến thế gian, đó là Ngài nói nhân danh Thiên Chúa. Tóm lại, tư cách của Ngài là Con Một của Thiên Chúa.

Đặc biệt, chính Gioan là người đã biến thần tính của Đức Kitô và tử hệ thần linh của Ngài thành dự phóng nền tảng cho Phúc Âm của mình, chủ đề mang lại cho nó tất cả sự thống nhất. Ngài kết thúc Phúc Âm của mình bằng câu: “Những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Ga 20,31). Và ngài dùng những hạn từ tương tự để kết thúc lá thư đầu tiên của mình: “Tôi đã viết những điều đó cho anh em là những người tin vào danh Thiên Chúa, để anh em biết rằng anh em có sự sống đời đời” (1Ga 5,13).

Khảo sát nhanh Phúc Âm thứ IV, từ góc độ tin vào thần tính của Đức Kitô, cho thấy thần tính tạo nên cả phác thảo lẫn cốt lõi của đức tin. Tin vào Đấng Chúa Cha đã sai đến được coi là “công việc của Thiên Chúa”, là điều làm đẹp lòng Thiên Chúa cách tuyệt đối (x. Ga 6,29). Do đó, việc không tin như thế được coi là “tội lỗi” ở mức cao nhất: “Đấng Bảo Trợ sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi: về tội lỗi, vì chúng không tin vào Thầy” (Ga 16,8-9).

Một ranh giới được vạch ra rõ ràng, phân biệt hai hạng người trong nhân loại: những người tin và những người không tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Ai tin vào Ngài thì không bị lên án, nhưng ai không tin thì đã bị lên án rồi; ai tin thì có sự sống, ai không tin thì sẽ không có sự sống (x. Ga 3,18.36). Một cách cụ thể, mạc khải của Đức Kitô càng tiến triển, thì người ta càng chứng kiến ​​​​sự hình thành của hai bên. Một số người nói rằng “họ tin vào Ngài”, những người khác nói rằng “họ không tin vào Ngài”. Tại Cana, các môn đệ đã tin vào Ngài (Ga 2,11); số còn đông hơn – trong một bối cảnh khác – là những người Samari “tin vào Ngài vì lời Ngài” (Ga 4,41). Ngay cả sau khi Ngài chết, niềm tin vào Ngài sẽ vẫn là ranh giới phân chia lớn lao giữa lòng nhân loại: một đàng, sẽ có những người dù không thấy cũng sẽ tin (x. Ga 20,29), đàng khác, sẽ có tất cả những người từ chối tin. So với sự phân biệt này, tất cả những người khác, đã được biết đến trước đây, chiếm vị trí thứ hai. Tình tiết liên quan đến Tôma là một lời mời gọi mặc nhiên mà Gioan gửi đến độc giả. Đọc đến cuối cuốn sách, họ được mời gấp sách lại, quỳ gối xuống và đến lượt mình kêu lên: “Lậy Chúa tôi và Thiên Chúa của tôi” (Ga 20,28). Chính trong lời tuyên tín rõ ràng và long trọng này vào thần tính của Đức Kitô mà Gioan đạt được mục tiêu khi viết sách Phúc Âm của mình.

Người ta vẫn còn kinh ngạc trước công việc mà Thần Khí Đức Giêsu đã giúp Gioan thực hiện. Gioan đã lần lượt xem xét các chủ đề, biểu tượng, kỳ vọng, tất cả những gì sống động về mặt tôn giáo, cả trong thế giới Do thái lẫn trong thế giới Hy lạp, đưa tất cả những yếu tố đó vào phục vụ cho một ý tưởng độc nhất, đúng hơn, một con người độc nhất: Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Thế. Phúc Âm Gioan không tập trung vào một biến cố, nhưng tập trung vào một con người. Ở điểm này, ngài cũng khác với Phaolô; tư tưởng của Phaolô, dù cũng bị Đức Kitô chi phối, nhưng vẫn có trung tâm điểm, còn hơn cả con người Đức Kitô, là công trình cứu độ và mầu nhiệm vượt qua của Ngài.

Đọc các tác phẩm của một số học giả, thuộc “Trường phái lịch sử tôn giáo”, người ta thấy rất ít điều phân biệt mầu nhiệm Kitô giáo với thần thoại tôn giáo Ngộ đạo và Mandéen, hoặc với triết học tôn giáo Hy lạp và bí hiểm. Biên giới mờ dần, những chỗ song song rất nhiều. Đức tin Kitô giáo, đặc biệt là đức tin của thánh Gioan, trở thành một trong những biến thể của thứ thần thoại hay thay đổi và tính tôn giáo phổ biến này. Điều đó có nghĩa gì? Nó chỉ có nghĩa là người ta không kể đến điều cốt yếu: sức sống và sức mạnh lịch sử đằng sau các hệ thống và các biểu tượng. Các sinh vật thì khác nhau, nhưng các bộ xương tất cả đều giống nhau. Một khi giản lược thành một bộ xương, cách biệt với sự sống mà nó đã tạo ra, nghĩa là với Giáo Hội, sứ điệp Kitô giáo có nguy cơ lẫn lộn với những sứ điệp khác cùng thời.

Gioan không truyền đạt cho chúng ta một tập hợp các học thuyết tôn giáo cổ thời, nhưng là một khởi giảng đầy uy lực. Ngài đã sử dụng ngôn ngữ của những người đương thời để lớn tiếng bầy tỏ, qua trung gian của ngài và với tất cả sức lực, chân lý duy nhất cứu độ, Lời tuyệt hảo, là: “Ngôi Lời”. Ngài đã thực sự “bắt mọi trí khôn vâng phục Đức Kitô.” Đức Kitô của Gioan là “người thừa kế tất cả mọi sự”. Ngài là “Logos toàn thể”, theo kiểu gọi của thánh Giustinô, Đấng tập hợp nơi mình tất cả các mảnh sự thật, rải rác đây đó, giống như những hạt giống, giữa các dân tộc[55]. Ngài là Đức Kitô, thừa kế “mọi nỗ lực của con người”, “ông vua đã nhận triều cống từ những dân tộc không tin mình đã gửi cho ông những cống vật đó”[56].

Một công việc như công việc này không được thực hiện trên giấy tờ với bốn hoặc năm cuốn sách đang mở trước mặt. Sự tổng hợp đức tin vào Đức Kitô của thánh Gioan được thực hiện “tại chỗ”, nghĩa là bằng cách cầu nguyện, sống Đức Kitô, nói về Ngài; và tại sao không bằng cách cũng nói với Mẹ Ngài, người sau này đã sống cùng tác giả trong nhà của tác giả, hoặc thậm chí chỉ bằng cách đứng gần bà và nhìn bà. Thật vậy, có một điều chắc chắn, không tùy thuộc vào vấn đề của tác giả Phúc Âm thứ IV: Đức Maria hiện diện trong các môi trường mà các truyền thống của Phúc Âm thứ IV được hình thành, vì “người môn đệ được Đức Giêsu yêu” đã đem bà đi theo. Ngay cả ngày nay, chính vì nguồn gốc đặc biệt này, kết quả tổng hợp của Gioan không thể được hiểu trên giấy, với bốn hoặc năm cuốn sách mở mà người ta tham khảo.

Chỉ có một sự chắc chắn được mạc khải, dựa trên chính thẩm quyền và sức mạnh của Thiên Chúa, mới có thể bộc lộ ra, xuyên suốt cuốn sách, với sự nhấn mạnh và mạch lạc như vậy, và luôn đi đến cùng một kết luận, bắt đầu từ hàng ngàn điểm khác nhau: đó là đi đến sự đồng nhất hoàn toàn giữa Chúa Cha và Chúa Con, và liên hệ tới Chúa Cha là về tình yêu đối với Chúa Con và liên hệ tới Chúa Con là về sự vâng phục Chúa Cha. Thật không may, trong thế kỷ của chúng ta, có những học giả nổi tiếng đã đánh giá Phúc Âm Gioan bằng cách áp dụng cùng một thái độ mà họ đã quen áp dụng khi đánh giá luận án cao học của một trong những sinh viên của họ. Hầu như chỉ chú ý đến những chỗ vay mượn, đến thư mục, luôn sẵn sàng bắt lỗi anh ta ở điểm này hay điểm khác, và không có khả năng nhận thức được điều cơ bản duy nhất, điều đã thúc đẩy Gioan nói rằng Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa; rằng nơi Đức Giêsu, nhân loại tiếp xúc với sự sống vĩnh cửu và với chính Thiên Chúa, mà không gặp rào cản nào.

“Thiên Chúa lại đã không để cho sự khôn ngoan của thế gian ra điên rồ đó sao?” (1Cr 1,20). Phải, ngài đã chứng minh sự khôn ngoan là điên rồ, và điều tồi tệ nhất là sự khôn ngoan thường rất lâu mới nghi ngờ và nhận ra điều đó. Nhiều người bình luận bằng mọi cách lời này của Phaolô, mà không nhận ra rằng ngài đang nói về chính họ. Đức Giêsu nói rằng chính vì các ông nói: “Chúng tôi thấy!” nên tội các ông vẫn còn. Nếu các ông thực sự đui mù, nếu các ông thực sự điên rồ, ngu dốt và biết mình như vậy, các ông sẽ không có tội; nhưng vì các ông nói: “Chúng tôi thấy” nên tội các ông vẫn còn (x. Ga 9,40-41).

Tôi đã nói rằng Gioan đã học ngôn ngữ của những người đương thời để, qua ngôn ngữ đó, lớn tiếng nói lên chân lý cứu độ này : Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, Ngôi Lời là Thiên Chúa. Điều này, theo truyền thống Kitô giáo, đã mang lại cho ngài tước hiệu “nhà thần học”. Hơn nữa, thuật ngữ này đã được đưa vào từ vựng Kitô giáo, với một ý nghĩa rất chính xác và khác với ý nghĩa mà nó có trước đó, kể từ thời Platon và trước nữa. Trong các nguồn Kitô giáo, thuật ngữ này xuất hiện lần đầu tiên ở số nhiều (theologountes) trong một bản văn của thế kỷ II, để chỉ những người “tuyên xưng Đức Kitô là Thiên Chúa”[57]. Đây là điều Gioan làm, và nó cho chúng ta thấy điều mà mọi nhà thần học Kitô giáo ngày nay nên làm, để xứng đáng với tước hiệu này.

5. “Phúc thay người nào không vấp phạm vì tôi”

Thần tính của Đức Kitô là đỉnh cao nhất, là Everest của đức tin. Chính là một hành vi khó khăn hơn nhiều so với việc chỉ tin vào Thiên Chúa. Nếu từ quan điểm khách quan, cụ thể là quan điểm của dữ kiện đức tin, thần tính tạo nên, đối với Tân Ước – như chúng ta đã thấy cho đến nay – điều quan trọng nhất cho việc tin vào công việc tuyệt hảo của Thiên Chúa, thì từ quan điểm chủ quan, cụ thể là hành vi tin của chúng ta, nó là điều khó tin nhất.

Khó khăn này có liên quan đến khả năng xảy ra và, thậm chí, tính chất không thể tránh khỏi của “cớ vấp phạm”. Đức Giêsu nói: “Phúc thay người nào không vấp phạm vì tôi” (Mt 11,6). Cớ vấp phạm bắt nguồn từ việc kẻ tự xưng là Thiên Chúa lại là một người mà mọi người đều biết hết: “Chúng ta biết ông xuất hiện từ đâu rồi”, người Pharisêu nói như vậy (Ga 7,27). Celsus kêu lên: “Con Thiên Chúa là một người sống cách đây vài năm ư?” Một người nào đó của “hôm qua và hôm kia”, một người “sinh ra tại một ngôi làng xứ Giuđêa, do một thiếu nữ dệt vải đáng thương”[58].

Chỉ có đức tin mới có thể vượt qua cớ vấp phạm. Thật ảo tưởng khi nghĩ đến việc loại bỏ nó, bằng cách tích lũy những bằng chứng lịch sử về thần tính của Đức Kitô và của Kitô giáo. Về đức tin chân chính, chúng ta đang ở trong tình huống của những người mà Đức Giêsu đã gặp trong cuộc đời của Ngài, hoặc đúng hơn, có lẽ, trong tình huống của những người, sau lễ Vượt Qua, đã nghe ​​Gioan và các Tông Đồ khác tuyên bố rằng Đức Giêsu Nadarét. – con người này “sinh ra ở một thị trấn ít người biết đến của Giuđêa” bị tất cả mọi người từ chối và bị đóng đinh – là Con Thiên Chúa và là chính Thiên Chúa.

Có người nói: người ta chỉ có thể thực sự tin trong tình trạng đồng thời, làm cho mình trở thành đồng thời với Đức Kitô và các Tông Đồ. Nhưng không phải lịch sử, quá khứ giúp chúng ta tin sao? Kierkegaard viết: Không phải đã một nghìn tám trăm năm, kể từ khi Đức Kitô sống sao? Không phải tên của Ngài đã được công bố và được người ta tin trên toàn thế giới sao? Chẳng phải giáo thuyết của Ngài đã thay đổi bộ mặt trái đất, đã thâm nhập đầy thắng lợi vào mọi môi trường sao? Và chẳng phải lịch sử đã chứng minh đủ, và hơn cả đủ nữa, rằng Ngài hiện hữu, và là Thiên Chúa sao? Không, lịch sử đã không chứng minh; lịch sử sẽ không thể làm điều đó mãi mãi! Làm sao dựa trên kết quả của một cuộc đời con người, chẳng hạn như cuộc đời của Đức Giêsu, có thể kết luận khi nói: Ergo, vậy thì, con người này là Thiên Chúa? Một dấu vết trên đường là kết quả của việc ai đó đã đi qua trên con đường này. Tôi có thể sai lầm khi tin rằng đó là một con chim chẳng hạn. Xem xét kỹ hơn, tôi có thể kết luận rằng đó không phải là một con chim, mà là một con vật khác. Nhưng ngay cả khi tiếp tục xét kỹ hơn, tôi không thể đi đến kết luận rằng đó không phải là một con chim hay một con vật khác, nhưng là một tinh thần, bởi vì một tinh thần, theo bản tính, không thể để lại dấu vết trên đường. Điều này phần nào đúng với trường hợp của Đức Kitô. Chúng ta không thể kết luận Ngài là Thiên Chúa chỉ bằng cách xem xét những gì chúng ta biết về Ngài và cuộc đời của Ngài, nghĩa là bằng cách quan sát trực tiếp. Ai muốn tin vào Đức Kitô thì buộc phải trở nên người đồng thời với Ngài trong sự hạ mình. Vấn đề là: bạn có muốn hay không muốn tin rằng Ngài là Thiên Chúa, như Ngài đã nói? Liên quan đến cái tuyệt đối, chỉ có một thì: thì hiện tại; đối với ai không đồng thời với tuyệt đối, thì tuyệt đối không tồn tại. Và vì Đức Kitô là Đấng tuyệt đối, nên dễ nhận thấy rằng đối với Ngài, chỉ có một tình huống có thể xảy ra: tình huống của sự đồng thời. Một trăm, ba trăm, hay một nghìn tám trăm năm không thêm gì cho Ngài cũng không làm cho Ngài bớt đi điều gì; chúng không làm Ngài thay đổi cũng không mạc khải Ngài là ai, vì chỉ có đức tin mới có thể bày tỏ cho biết Ngài là ai.[59]

Do đó, theo viễn tượng này, người ta không thể trở thành tín hữu nếu không đến với Đức Kitô trong tình trạng hạ mình, như một dấu chỉ của cớ vấp phạm và một đối tượng của đức tin. Ngài chưa trở lại trong vinh quang và vì thế Ngài vẫn luôn là kẻ hạ mình. Đúng là một cái gì đó đang thiếu cho nhãn quan này. Thiếu lưu ý phải có đối với sự phục sinh của Đức Kitô. Đấng mà chúng ta gặp hôm nay không chỉ là Đấng đã hạ mình, mà còn là Đấng đã hạ mình và đã được tôn vinh. Cũng thiếu lưu ý phải có đối với chứng từ của các Tông Đồ. Đức Giêsu đã nói Chúa Thánh Thần “sẽ làm chứng về Thầy. Cả anh em nữa, anh em cũng làm chứng về Thầy” (Ga 15,26-27). Khi nói về sự phục sinh của Đức Kitô, Phêrô bảo rằng về những sự kiện đó, chúng tôi xin làm chứng cùng với Thánh Thần, Đấng mà Thiên Chúa đã ban cho những ai vâng lời Người (Cv 5,32).

Tuy nhiên, không hoàn toàn chính xác khi khẳng định: “chỉ có một bằng chứng duy nhất về chân lý của Kitô giáo: bằng chứng bên trong, argumentum Spiritus Sancti (bằng chứng của Chúa Thánh Thần)”[60]. Thực ra, có một bằng chứng vô hình, do chứng từ của Thần Khí làm thành, và một bằng khác bên ngoài, nhưng cũng quan trọng, do chứng từ của các Tông Đồ làm thành. Ngoài chiều kích cá nhân, trong đức tin còn có một chiều kích cộng đoàn: “Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi” (1Ga 1,3). Quả quyết của Kierkegaard, theo đó mối tương quan đích thực duy nhất với Đức Kitô không được thực hiện nhờ “mười tám thế kỷ” của lịch sử Kitô giáo, nhưng nhờ vào tính đồng thời, là một quả quyết cần được xác định rõ. Mười tám thế kỷ của lịch sử và tính đồng thời không được mâu thuẫn nhau, nhưng được duy trì với nhau. Tính đồng thời, như Tân Ước hiểu, không gì khác hơn là Chúa Thánh Thần, Đấng chính là sự hiện diện và trường tồn của Đức Giêsu trên thế giới, Đấng “ở với chúng ta luôn mãi” (x. Ga 14,16). Mười tám thế kỷ – ngày nay là hai mươi – về mặt thần học không gì khác hơn là Giáo Hội. Tuy nhiên, theo quan điểm của Công giáo, Chúa Thánh Thần và Giáo Hội là những điều kiện làm cho mối tương quan của chúng ta với Đức Kitô trở nên khả thi, một mối tương quan đúng là chỉ trở nên hữu hiệu qua trung gian đức tin và qua việc bắt chước kiểu mẫu là Đức Kitô.

Nhưng bất chấp những dè dặt này, trong cách đặt vấn đề về thần tính của Đức Kitô, vẫn có một yếu tố sâu xa của sự thật, mà nhất là người Công giáo chúng ta cần ý thức về nó. Vậy nói một cách đơn giản hơn, những lời của Kierkegaard về việc tin nơi người đồng thời có nghĩa gì? Những lời đó muốn nói rằng tin vào thần tính của Đức Kitô là bổn phận của mỗi người. Tin trong tình huống đồng thời cũng có nghĩa là chỉ có một mình tin. Như tôi đã nói, thần tính của Đức Kitô là đỉnh cao Everest của đức tin. Nhưng trong việc leo lên Everest, không phải những người khuân vác, những sherpas (người dẫn đường), những người mang chúng ta và hành lý của chúng ta lên một độ cao nhất định, để chúng ta chỉ còn đi bộ những trăm mét cuối cùng. Mỗi người phải thực hiện toàn bộ quá trình leo núi. Đó thực sự là một bước nhảy vọt vô tận, mà một thế kỷ hay một thiên niên kỷ ít hơn hay nhiều hơn không thêm vào cũng không bớt đi điều gì. Về điều đó thì tương tự như vậy, sự kiện có hai, hoặc hai tỷ người tin, về cơ bản không thay đổi độ khó của sự việc. Chắc chắn, người ta có thể tìm được sự giúp đỡ cho đức tin của mình, khi những người khác xung quanh bạn cũng đang làm như vậy, nhưng điều này vẫn chưa phải là tin, theo nghĩa đen, với động lực duy nhất là chính Thiên Chúa. Do đó, chúng ta không thể lý luận như thể những tín hữu đi trước chúng ta đã làm điều chủ yếu và ngày nay, chúng ta chỉ cần tiếp tục và đưa nỗ lực của họ đến kết quả cuối cùng. Nếu như vậy, việc tin vào Đức Kitô sẽ ngày càng dễ dàng hơn khi chúng ta càng tiến đi trong lịch sử; thế mà, thay vào đó, chúng ta thấy rằng trường hợp ở đây không phải như vậy. Ngày nay không dễ tin cũng không khó tin hơn so với thời của Gioan, của Athanasiô hay của Luther. Mọi sự dựa trên “sức mạnh chứng minh mà lời Thiên Chúa tự nó sở hữu, là lời tác động trong lời nói và hành động của Đức Giêsu”[61], và trên sự kiện lời đó tìm thấy, hoặc không tìm thấy, một tâm thế đón nhận nó.

Chắc chắn là có những “dấu chỉ”, những “công việc”. Đức Giêsu thường xuyên đề cập chúng. Ngài nói hãy tin ít nhất vì những công việc Ngài làm; nếu Ngài không làm biết bao nhiêu dấu lạ, trách nhiệm của họ sẽ nhẹ đi (x. Ga 5,36; 10,25-37). Nhưng những gì xảy ra xung quanh Đức Giêsu chứng tỏ rằng các dấu chỉ không đủ để làm cho người ta tin. Ngay cả khi tận mắt chứng kiến, người ta vẫn có thể tìm ra hàng trăm lý do để không tin. “Người đã làm ngần ấy dấu lạ trước mắt họ, thế mà họ vẫn không tin vào Người” (Ga 12,37). Câu chuyện về người mù từ lúc mới sinh minh họa rất rõ sự kiện này: ngay cả trước những dấu chỉ gây ấn tượng nhất, vẫn có khả năng mở lòng ra hoặc đóng cửa lòng lại với ánh sáng. Một lần khác, Đức Giêsu vừa mới làm dấu lạ vĩ đại cho bánh hóa ra nhiều, thì đã có một số người hỏi Ngài: “Ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy mà tin?” (Ga 6,30), như thể dấu lạ trước đó chẳng giúp gì cho họ cả. Vả lại, chính Đức Giêsu đã cảnh báo về một đức tin chỉ dựa trên việc nhìn thấy các dấu chỉ; Ngài nghi ngờ những ai không tin, nếu họ không thấy dấu chỉ nào (x. Ga 4,48); và khi một số tin vào Ngài khi “thấy dấu chỉ”, thì có lời chép là Đức Giêsu “không tin họ” (x. Ga 2,23-24).

Vậy không nên coi thường các dấu chỉ. Nếu có một tâm thái nội tâm nào đó để nhận ra sự thật, thì các công việc của Đức Kitô có thể đưa ra bằng chứng hiển nhiên cho thấy rằng chính quyền năng thần linh hoạt động trong các công việc đó và do vậy, Đức Giêsu là trung gian của sự sống vĩnh cửu. Nhưng sự quan trọng của những công việc và những dấu chỉ này là gì, ngoài lúc chúng được thực hiện? Liệu chúng có đủ cơ sở để kết luận rằng rõ ràng đó phải là Thiên Chúa đích thân không? Chẳng phải thế giới Hy lạp cũng có nhiều người có phép thần thông, nghĩa là những người làm nên những điều kỳ diệu hay sao? Bởi vậy, phải kết luận rằng, theo Gioan, các công việc của Đức Kitô chỉ tổng thể công việc của Ngài, vốn hệ tại ở chỗ mang lại sự sống đời đời cho thế gian, hơn là một vài lần chữa lành lẻ tẻ. Bất cứ ai lắng nghe sứ điệp đều được mời gọi xem xét liệu có thực sự không thể tìm thấy một lối sống mới trong Giáo Hội hay không[62]. Nhưng một kinh nghiệm như vậy chỉ có thể có được bằng cách đến với Đức Kitô, nghĩa là bằng cách tin. Và điều này một lần nữa chứng tỏ rằng chỉ nhờ đức tin, người ta mới có đủ chứng từ về Đức Giêsu, và đức tin tự nó là một chứng từ.

6. “Corde creditur”: Tin tự đáy lòng

Tất cả những điều này kích thích chúng ta thực hiện việc thanh tẩy đức tin của mình. Thánh Phaolô nói rằng “có tin thật trong lòng, mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng, mới được ơn cứu độ” (Rm 10,10). Theo quan niệm Công giáo, việc tuyên xưng đúng đắn đức tin, cụ thể là giai đoạn thứ hai của quá trình này, thường nổi bật đến mức làm lu mờ giai đoạn thứ nhất, là giai đoạn quan trọng nhất và diễn ra trong sâu thẳm bí ẩn của cõi lòng. “Chính từ đáy lòng mà đức tin nảy sinh”[63]. Corde creditur, người ta tin bằng cả tấm lòng; hoặc, người ta chỉ thực sự tin tự đáy lòng.

Hành vi tin đầu tiên này, chính vì nó diễn ra trong tâm hồn, nên là một hành vi “độc nhất”, chỉ có thể được thực hiện bởi một hữu thể duy nhất, hoàn toàn chỉ một mình với Thiên Chúa. Trong Phúc Âm Gioan, chúng ta nghe Đức Giêsu không ngừng hỏi: “Ngươi có tin không?” Ngài hỏi người mù từ lúc mới sinh, sau khi chữa lành cho anh: “Anh có tin vào Con Người không?” (Ga 9,35); Ngài hỏi Mátta: “Chị có tin thế không?” (Ga 11,26); và mỗi lần, câu hỏi này gây ra tiếng kêu đức tin phát ra từ ​​tấm lòng: “Vâng, lạy Chúa, con tin!” Kinh Tin Kính cũng bắt đầu theo cách này, ở số ít: “Tôi tin…”, chứ không phải: “Chúng tôi tin…”

Khi câu “tôi tin” được nói lên theo cách này, trong trạng thái thú nhận chân thật, chính là lúc thời gian mở ra cho vĩnh cửu (“ai tin vào Ngài thì được sống đời đời”), ngay cả khi khoảnh khắc này rất có thể nằm trong một trạng thái, hoặc một tình huống thường xuyên của đức tin. Đó là trường hợp cao cả nhất, thi vị nhất của sự “lộ diện của hữu thể”; bản thể ẩn giấu nơi con người Giêsu, hay trong chính chữ “Thiên Chúa”, được lộ diện, được soi sáng; và khi đó, như thánh Gioan nói, người ta nhìn thấy vinh quang của Thiên Chúa. Người ta không chỉ tin, nhưng người ta biết, người ta thấy, người ta chiêm ngưỡng: “Chúng con đã tin và chúng con nhận biết” (Ga 6,69); “chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người” (Ga 1,14); “điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng là Lời sự sống” (x. 1Ga 1,1).

Trong phép rửa, Giáo Hội đã tiên liệu và hứa trước đức tin của tôi; Giáo Hội bảo đảm cho đứa trẻ là tôi, là một ngày kia, khi trở thành người lớn, nó sẽ tin. Bây giờ, tôi phải chứng minh rằng Giáo Hội đã không lầm về tôi. Chính tôi là người phải tin. Tôi không còn có thể làm điều đó thông qua một trung gian, hoặc thông qua một tổ chức trung gian. Tôi không thể để Giáo Hội tin thay cho tôi được nữa. “Anh có tin không?”: chữ “anh” này không có lối thoát. Người ta không thể ẩn mình trong đám đông, cũng như – như tôi đã nói – núp sau Giáo Hội. Cả chúng ta nữa, phải chấp nhận chịu đựng điều đó, chịu cuộc kiểm tra này. Đừng coi mình được miễn. Nếu, với câu hỏi này của Đức Giêsu, bạn trả lời ngay lập tức, thậm chí không cần suy nghĩ về nó: “Tất nhiên con tin”, và nếu bạn thậm chí thấy lạ, khi một tín hữu, một linh mục hay một giám mục được hỏi một câu hỏi loại đó, thì điều đó có lẽ có nghĩa là bạn chưa khám phá ra ý nghĩa thực sự của việc tin rằng Đức Giêsu là Thiên Chúa, rằng bạn chưa bao giờ đi xuống những miền sâu của đức tin. Bạn chưa bao giờ trải qua cảm giác choáng váng tột độ của lý trí đi trước hành vi tin. Đó là đức tin chưa qua thử thách của cớ vấp phạm. Đã có lúc các môn đệ tưởng mình đã đạt đến tột đỉnh của đức tin: “Giờ đây chúng con nhận ra Thầy biết hết mọi sự… Vì thế, chúng con tin Thầy từ Thiên Chúa mà đến”. Đức Giêsu đáp: “Bây giờ anh em tin à?” và Ngài báo trước với họ rằng chẳng bao lâu nữa họ sẽ vấp phạm vì Ngài và tất cả sẽ bị phân tán, bỏ mặc Ngài một mình (x. Ga 16,29-32). Biết bao lần đức tin của chúng ta vào Đức Giêsu lại không giống với đức tin của các môn đệ trong hoàn cảnh này sao? Chúng ta ngây thơ tin chắc từ đây sẽ tin cách mạnh mẽ và dứt khoát, trong khi Đức Giêsu biết chúng ta, biết rất rõ rằng, ngay khi xẩy ra thử thách, thực tế sẽ rất khác và sẽ cho thấy chúng ta không tin vào Ngài cách nghiêm túc. Cụm từ “Giờ đây chúng con tin” thường xuất hiện như bức ảnh chụp về đức tin của chúng ta.

Đức tin đích thực là đức tin vượt qua nguy hiểm của thử thách và cớ vấp phạm, chứ không phải đức tin chưa bao giờ cảm nhận được sự to lớn của sự kiện. Nếu một người thấy gần như bình thường, vì nhiều lần đã nghe nói Đức Giêsu, con người này, là Thiên Chúa, và Thiên Chúa là con người, thì đó là một dấu hiệu ngao ngán của sự hời hợt, có lẽ xúc phạm Thiên Chúa như, nếu không muốn nói là hơn, sự hoài nghi của người đánh giá sự việc quá lớn, quá không xứng đáng với Thiên Chúa, không thể có, vì ý tưởng của anh ta về sự khác biệt vô hạn xét theo phẩm chất giữa Thiên Chúa và con người, thì lớn. Không được hạ thấp những việc Thiên Chúa đã làm khi nhập thể, bằng cách coi đó là một việc bình thường và dễ hiểu.

Trước tiên, cần phải hủy diệt nơi chúng ta, những người tin, và nơi chúng ta, những người của Giáo Hội, xác tín sai lầm là đã tin rồi; phải biết nghi ngờ – tất nhiên là đối với chúng ta, không phải đối với Đức Giêsu – để sau đó có thể tìm kiếm một đức tin đích thực hơn. Không muốn chứng minh bất cứ điều gì với bất cứ ai, nhưng nội tâm hóa đức tin, khám phá lại căn rễ của nó trong lòng chúng ta, biết đâu lại không phải là điều tốt trong một thời gian. Ba lần Đức Giêsu hỏi Phêrô: “Con có yêu mến Thầy không?”. Ngài biết rằng lần đầu và lần thứ hai câu trả lời đến quá nhanh, nên không thể thật. Cuối cùng, lần thứ ba thì Phêrô đã hiểu. Câu hỏi về đức tin cũng phải được đặt ra như thế; ba lần, được  nhấn mạnh, cho đến khi chính chúng ta nhận ra điều đó và thấy rõ sự thật: “Ngươi có tin không? Ngươi có tin không? Ngươi có thực sự tin không?” Có lẽ cuối cùng chúng ta sẽ trả lời: “Không, lạy Chúa, con không thực sự tin triệt để. Xin giúp đỡ sự cứng lòng tin của con!”

7. “Tin tưởng vào” Đức Giêsu Kitô

Tính cách cá nhân của hành vi tin được làm nổi bật bằng chính việc sử dụng động từ “tin” trong Phúc Âm Gioan. Chúng ta thấy ở đó kiểu nói “tin vào” (croire à”), coi đó là sự thật. Chẳng hạn tin vào Kinh Thánh (x. Ga 2,22), vào Môsê, vào Đức Kitô (x. Ga 5,46). Chúng ta cũng thấy kiểu nói “tin rằng” (croire que) (trong tiếng Hy lạp: hoti) có nghĩa là tin chắc rằng, hoặc đơn giản là tin. Chẳng hạn tin Đức Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa, tin Ngài là Đức Kitô, được Chúa Cha sai đến, v.v. (x. Ga 6,69; 11,42; 14,11).

Nhưng bên cạnh những cách sử dụng quen thuộc này, còn có một cách sử dụng khác, không được biết đến trong ngôn ngữ thế tục, trong khi nó được tác giả Phúc Âm yêu thích nhất: đó là kiểu nói “tin vào” (croire en) (tiếng Hy lạp: eis), như trong câu: “Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào (eis) Thầy” (Ga 14, 1). Trong trường hợp này, tin có nghĩa là tin tưởng, tin cậy vào Đấng mà mình tin, để xây dựng cuộc đời mình trên Ngài. Thuật ngữ này bao hàm một niềm tin hoàn toàn và vô điều kiện, phải thay thế cho tất cả sự an toàn, một sự tin tưởng nhờ đó trái tim không còn có thể bị bối rối bởi bất cứ điều gì. Đức Giêsu đòi hỏi cho mình một lòng tin tưởng giống như Thiên Chúa đòi hỏi nơi dân Người trong Cựu Ước.

Thánh Augustinô đã từng nhấn mạnh tầm quan trọng của kiểu nói “tin tưởng vào”. Bình luận về Gioan 6,29 (“Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến”), thánh nhân viết: “Ngài nói tin vào Ngài, chứ không phải tin Ngài. Phải, vì nếu anh em tin vào Ngài, thì anh em cũng tin Ngài. Ma quỉ đã tin Ngài, nhưng chúng không tin vào Ngài. Người ta cũng có thể nói như vậy đối với các Tông Đồ: chúng ta tin Phaolô, nhưng chúng ta không tin vào Phaolô, chúng ta tin Phêrô, nhưng chúng ta không tin vào Phêrô (x. Rm 4,5). Vậy tin vào Ngài có nghĩa gì? Đó là khi tin thì yêu mến Ngài và trở thành bạn hữu của Ngài; khi tin thì thân thiết với Ngài và vào số các chi thể của Ngài. Đây là đức tin mà Thiên Chúa muốn nơi chúng ta, nhưng Người không thể tìm thấy nơi chúng ta, nếu chính Người không ban nó cho chúng ta”[64].

Nói cách khác, tin tưởng “vào” chỉ áp dụng cho Thiên Chúa. Giáo Hội tuân thủ nghiêm ngặt cách sử dụng này; quả thực, trong Kinh Tin Kính, chúng ta buộc phải đọc “Tôi tin kính (en) Thiên Chúa là Cha… tin kính (en) Đức Giêsu Kitô… tin kính (en) Chúa Thánh Thần… Chúng ta không đọc (trong nguyên bản tiếng Hy lạp và tiếng Latinh) : Tôi tin kính (en) Hội Thánh, tin kính (en) phép tha tội, nhưng đọc: Tôi tin (à) Hội Thánh, tin (à) phép tha tội, v.v.

“Tin tưởng vào” Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, là một điều hoàn toàn khác và còn hơn cả việc “tin rằng” Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Kiểu nói thứ hai bao hàm một đức tin không thể chia cắt, tự nó không chấp nhận tiệm tiến; nó có, hoặc nó không có; người ta tin, hoặc người ta không tin. Ngược lại, kiểu nói thứ nhất có rất nhiều mức độ và người ta không bao giờ hết tiến triển. Nói khác đi, người ta có thể ngày càng tin tưởng hơn vào Đức Kitô, ngày càng phó thác mình cho Ngài và đồng hóa mình trong Ngài, cho tới chỗ lấy niềm tin vào Con Thiên Chúa làm lẽ sống của mình. Theo kiểu thánh Phaolô, người đã có thể nói: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).

8. Hoa quả của lòng tin vào Đức Kitô Con Thiên Chúa

Hoa quả của lòng tin vào thần tính của Đức Kitô thật kỳ diệu và cũng thần linh. Hoa quả đầu tiên là sự sống đời đời: ai tin vào Ngài thì được sự sống đời đời (x. Ga 3,5; 5,24; 6,40; 6,47). Chính Phúc Âm đã được viết ra để chúng ta tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa và nhờ tin mà được sống muôn đời (x. Ga 20,31). Đối với Gioan, sự sống đời đời không chỉ là sự sống bắt đầu sau khi chết, nhưng là sự sống mới của con cái Thiên Chúa, được mạc khải từ nay cho những ai tin: Ai tin vào Người thì đã “vượt từ cõi chết đến cõi sống” (Ga 5,24). Đức tin cho phép thế giới thần linh ùa vào trong thế giới này, là thế giới chúng ta. Chính vì thế tin có nghĩa là một cái gì đó hoàn toàn khác với tin vào một “thế giới bên kia”, vào một cuộc sống sau khi chết; là đã trải nghiệm sự sống và vinh quang của Thiên Chúa. Ai tin thì ngay từ bây giờ được thấy vinh quang Thiên Chúa (x. Ga 11,40).

Hoa quả của đức tin là sự sống, còn được nhấn mạnh bằng những hình ảnh khác. Ai tin vào danh Đức Kitô thì “sinh bởi Thiên Chúa”, người ấy lãnh nhận quyền được làm con Thiên Chúa (x. Gl 1,12-13); đi từ bóng tối đến ánh sáng (x. Ga 12,46), sẽ làm những công việc mà chính Đức Giêsu đã làm (x. Ga 14,12). Nhưng trên hết, ai tin thì lãnh nhận Chúa Thánh Thần, chính Thần Khí này thông ban sự sống đời đời cho chúng ta một cách cụ thể: “Đức Kitô muốn nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Ngài sẽ lãnh nhận” (Ga 7,39). Những kẻ tin vào Ngài! Đức tin thiết lập sự tiếp xúc giữa Đức Kitô và người tín hữu, mở ra con đường giao thông mà Chúa Thánh Thần đi qua. Chúa Thánh Thần được ban cho những ai tin vào Đức Kitô. Đức tin – tôi dùng một hình ảnh táo bạo – giờ đây là ngọn giáo của người lính, đâm vào cạnh sườn của Đức Kitô, từ đó chảy ra các dòng nước hằng sống của Thần Khí.

Đó là hoa quả của lòng tin vào Đức Kitô, Con Thiên Chúa, mà Gioan đã khám phá ra vào lúc cuối đời, có lẽ sau khi đã trải nghiệm, và được ngài mô tả trong thư thứ nhất: “Ai là kẻ thắng được thế gian nếu không phải là người tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa” (1Ga 5,5). Thắng thế gian có nghĩa là thắng sự thù nghịch, cứng lòng tin, hận thù và bách hại của thế gian. Nhưng không chỉ có vậy. Chiến thắng này còn có ý nghĩa hiện sinh, phi luận chiến; thắng thế giới có nghĩa là thắng thời gian, sự quyến rũ, tinh thần thế gian. Ai tin thì thoát khỏi luật suy tàn và chết chóc. Họ vượt lên trên thời gian. Cuối cùng, họ tham dự vào chiến thắng của Đức Kitô, Đấng đã nói: “Can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33). Nhưng chỉ đức tin nào có phẩm chất đặc biệt mới có thể đạt được kết quả này: đó là đức tin đã trải qua hoặc đang trải qua thập giá. Thực sự chính trên thập giá mà Con Chiên đã chiến thắng (x. Kh 5,5).

Ngày nay, hơn bao giờ hết, Giáo Hội đang tìm kiếm một điều gì đó thắng được thế gian; không phải để thống trị nó, nhưng để cứu nó, để giúp nó hoán cải. Một cái gì đó mạnh hơn sức mạnh to lớn của thế gian đang chống lại đức tin và quyến rũ con người. Lời Thiên Chúa bảo đảm với chúng ta là có điều này, đó là tin vào Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa: “Điều làm cho chúng ta thắng được thế gian, đó là lòng tin của chúng ta” (1Ga 5,4).

Chính vì thế Đức Kitô không muốn xây Giáo Hội của Ngài trên điều gì khác ngoài đức tin vào Ngài, với tư cách là Con Thiên Chúa. Phêrô trở thành Đá, Kefas, Đá Tảng, vào lúc được Chúa Cha mạc khải, ngài tin vào nguồn gốc thần linh của Đức Giêsu. Thánh Augustinô bình giải: “Trên tảng đá này, Thầy sẽ xây dựng đức tin mà anh đã tuyên xưng. Trên sự kiện anh đã nói: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, Thầy sẽ xây dựng Giáo Hội của Thầy”[65]. Giáo Hội được xây trên hành vi tin đầu tiên, theo thứ tự thời gian, vào thần tính của Đức Kitô. Điều đó vẫn còn là nền móng của Giáo Hội, cho phép Giáo Hội thắng thế gian và các cửa hỏa ngục. Công việc của Thiên Chúa khác với công việc của con người biết bao! Tất cả tòa nhà đồ sộ của Giáo Hội dựa trên một điều vô hình, rất mong manh, nhưng không ai thắng nổi: dựa trên lòng tin vào Đức Kitô, Con Thiên Chúa, và trên lời hứa cho đức tin này. Tự bản thân, Giáo Hội là bằng chứng hữu hình về sự thật của lời này: ai tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa thì đã thắng thế gian.

9. Kinh giáo đầu mời gọi tin

Trong Kinh Thánh có một Thánh vịnh nhan đề “lời mời gọi” mà phụng vụ dạy chúng ta đọc khi khởi sự một ngày mới:

“Hãy vào đây ta cúi mình phủ phục

Quỳ trước tôn nhan Chúa là Đấng dựng nên ta

Bởi chính Người là Thiên Chúa ta thờ” (Tv 95,6-7)

Những lời này, người Kitô hữu chúng ta có thể và cũng phải thưa lên với Đức Kitô: “Hãy vào đây ta cúi mình phủ phục; hãy lấy đức tin mà tiến lại gần Ngài, Ngài là Thiên Chúa chúng ta”. Cách tốt nhất để kết thúc một bài suy niệm về thần tính của Đức Kitô là khuyên bảo nhau tin. Điều Gioan nói về Phúc Âm của ngài cũng có giá trị cho những suy niệm của chúng ta: “Những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa” (Ga 10,31). Và không gì ngoài điều đó.

Tất cả các sách Phúc Âm là một lời khuyến khích tin. Câu hỏi lớn của Đức Giêsu, qua các sách Phúc Âm, là: Anh em có tin không? Anh có tin không? “Kinh Tin Kính” mà Giáo Hội dùng để trả lời câu hỏi này, là câu trả lời thỏa đáng duy nhất. Giáo Hội tiến bước và trước sự chứng kiến ​​​​của cả thế giới, Giáo Hội tuyên bố: “Tôi tin!” Và rồi Thiên Chúa lại không yêu Giáo Hội hay sao? Thậm chí ngày nay, một điều gì đó mới mẻ và vô cùng lớn lao xảy ra, mỗi khi có người, không do dự nữa, ra khỏi phạm vi thuần túy tường thuật, giải thích, thảo luận hoặc nhận định, thậm chí ngưỡng mộ, và nói: “Tôi tin!” Chính trong những lúc như vậy, khi mà có người tin, thì Đức Giêsu vui mừng trong Thánh Thần. Đức Giêsu đã và vẫn là một người tìm kiếm đức tin, như, và vô cùng hơn, những người đi tìm vàng. Chính Ngài, Con Một của Chúa Cha, giờ đây ở trước mặt con người và nói: “Dừng tay lại, hãy biết Ta đây là Thiên Chúa” (Tv 46,11). Ngài không cầu xin họ, không ăn mày niềm tin hay lòng biết ơn, giống như bao tiên tri giả và những nhà sáng lập các tôn giáo hão huyền. Lời nói của Ngài đầy thẩm quyền của Thiên Chúa. Ngài không nói: “Hãy tin tôi, tôi van anh, hãy lắng nghe tôi”; nhưng nói: “Hãy biết Ta đây là Thiên Chúa!” Dù ngươi có thích hay không, có tin hay không, Ta đây là Thiên Chúa!

Có lời chép rằng những đạo sĩ “phủ phục xuống thờ lạy Ngài” và sau đó “mở tráp ra, họ dâng cho Ngài những lễ vật là vàng, nhũ hương và mộc dược” (x. Mt 2,11). Chúng ta cũng hãy mở tráp lòng mình và dâng lên Đức Giêsu món quà đức tin của chúng ta. Corde creditur: tin tận đáy lòng, lòng được tạo ra để tin. Nếu lòng ta dường như trống rỗng, hãy xin Chúa Cha đổ đầy nó bằng đức tin. Đức Giêsu nói: “Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha không lôi kéo người ấy” (x. Ga 6,44). “Bạn chưa cảm thấy bị lôi cuốn sao? Hãy xin cho mình được lôi cuốn”[66]. Bạn không được rơi vào thứ sai lầm là tin rằng đức tin vào thần tính Đức Kitô có thể đến từ chính chúng ta. Chớ gì chúng ta có thể một mình leo lên đỉnh Everest. Chính Cha trên trời, chứ không phải xác thịt và máu huyết, ngày đó đã “mạc khải” cho Phêrô biết Đức Giêsu là ai. Chính Chúa Cha đã ban cho ông đức tin để ông tin, và Đức Giêsu đã tuyên bố ông có phúc vì điều đó. Đức tin tốt nhất là đức tin có được bằng lời cầu nguyện, hơn là bằng học hỏi.

Phần trước Phần tiếp