IV. NGÀI LÀ THIÊN CHÚA THẬT VÀ LÀ SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI

Thần tính của Đức Kitô và lời loan báo vĩnh cửu

 Khi viết thư cho một vị hồng y cùng thời với mình, thánh nữ Catarina Sienna nói rằng trên thân thể của  Giáo Hội phải phát ra một “tiếng hú” – hay tiếng gầm – để đánh thức những người chết nằm ở đó.[67] (thánh nữ đã chia sẻ niềm tin phổ biến vào thời của bà, theo đó sư tử có khả năng làm hồi sinh những sư tử con chết non bằng một tiếng gầm dũng mãnh). Tôi không biết lời nào, theo Catarina, phải được kêu lên vào thời của bà, trên thân thể Giáo Hội. Nhưng tôi biết hôm nay phải kêu lên lời nào để đánh thức những đứa con đang ngủ của Giáo Hội. Đó là từ “vĩnh cửu”. Đây là tiếng kêu báo thức người Kitô hữu, giống như lưỡi cày, có thể đánh luống cho vụ gieo hạt mới lời Chúa. Loan báo Phúc Âm cho những người, theo giả thuyết, có lẽ đã không còn biết ý tưởng về vĩnh cửu, thì cũng giống như gieo trên đá vậy.

Trong chương này, tôi muốn cho thấy thế nào là tín điều Đức Kitô, “Thiên Chúa thật và người thật”, có thể giúp chúng ta trong nhiệm vụ này, khi cho chúng ta lòng can đảm và đức tin vững chắc, cần thiết để tiếp tục kêu gọi những con người ngày nay hai chữ: “Vĩnh cửu! Vĩnh cửu!” Thậm chí chúng ta sẽ thấy làm sao chỉ riêng niềm tin vào thần tính của Đức Kitô đã làm cho từ “vĩnh cửu”, một khả năng cụ thể được ban cho con người, thành chính công việc của cuộc đời họ, chứ không phải một phạm trù thuần túy tư duy, hoặc một “hoài niệm (mơ hồ) về Đấng Hoàn Toàn Khác”[68] – một điều sẽ khác xa.

Đồng thời, điều đó sẽ cho phép chúng ta thu thập tất cả tầm quan trọng hiện sinh to lớn và tất cả tính thời sự của tín điều Kitô học. Thần học khởi giảng của thời đại chúng ta đã chuyển tất cả tầm quan trọng của Kitô học, từ “nơi chính nó”, tức Đức Kitô là như thế nào nơi Ngài, sang như thế nào “đối với tôi”, tức là ý nghĩa của Ngài đối với tôi và ơn cứu độ của tôi. Nhưng thần học ấy thường để ý nghĩa “đối với tôi” trong mơ hồ, biến nó thành một nguyên tắc trừu tượng và hình thức, không còn bất cứ nội dung thực sự nào. Nếu Đức Kitô đã sinh ra vì tôi, nếu vì tôi Ngài đã trở thành con người mới, nếu vì tôi mà Ngài “thánh hóa chính mình” (x. Ga 17,19), nếu Ngài chết vì tội của tôi, nghĩa là những biến cố này tra vấn tôi trực tiếp, điều đó có một ý nghĩa mà tôi phải đón nhận và bắt chước trong cuộc sống của mình.

Khi làm như vậy, chúng ta phục hồi một trong những khía cạnh phong phú nhất của tư tưởng hiện sinh, vốn rất sống động nơi người khởi xướng nó, nhưng thường bị những người tiếp tục nó sau đó đánh mất đi: xác tín rằng yếu tố “nghiêm túc” của Kitô giáo nằm trong việc sống, thực hành, hơn là trong việc hiểu, giải thích hoặc so sánh chân lý Kitô giáo với hệ thống triết học này khác. Nói khác đi, xác tín rằng Kitô giáo cần những vị thánh chứ không phải những thầy dạy, hoặc nếu cần những thầy dạy, thì đó chỉ là theo nghĩa mạnh về những người “tuyên xưng” Kitô giáo, những người khiêm tốn đảm nhận các đòi hỏi của Kitô giáo nơi mình, trong khi biết rằng không bao giờ có thể thực hiện chúng một cách hoàn hảo. Điều thực sự quan trọng – như Kierkegaard nhắc nhở chúng ta qua tựa đề các tác phẩm của ông – là “việc thực hành Kitô giáo”, nghĩa là thực tế sống đạo đó, thực hành đạo đó, ở lại trong đạo đó. Không có gì khác. Đức Giêsu nói: “Anh em đã biết những điều đó, anh em thật có phúc, nếu đem ra thực hành” (Ga 13,17). Hạnh phúc không hứa cho kiến ​​​​thức, mà cho thực hành.

Lần này nữa, để không đi quá xa chủ định tổng hợp giữa cái “nơi mình” và cái “cho tôi” của Kitô học, tôi sẽ chia bài suy niệm thành hai phần. Trong phần đầu, chúng ta sẽ suy niệm tín điều về hai bản tính nơi Đức Kitô và về cách thức mà tín điều này có thể diễn tả và hiện tại hóa cho con người ngày hôm nay. Trong phần sau, chúng ta sẽ thấy trách nhiệm loan báo không lệ thuộc vào cách trình bày mới về tín điều này và đặc biệt là cách nó đặt nền tảng cho tiếng kêu: “Vĩnh cửu! Vĩnh cửu!”

1. Từ hai “giai đoạn” đến hai “bản tính” của Đức Kitô

Tín điều hai bản tính của Đức Kitô, nghĩa là Đức Kitô là “Thiên Chúa thật và người thật”, được hình thành như thế nào? Lúc đầu, ngay sau lễ Vượt Qua, lược đồ được sử dụng để diễn tả mầu nhiệm con người Đức Giêsu không phải là lược đồ về hai bản tính hay yếu tính, thần tính và nhân tính, nhưng là hai thời, hay hai giai đoạn, của lịch sử của Ngài: giai đoạn trước khi phục sinh, sống trong những điều kiện bình thường của mọi người – lớn lên, đau khổ, chết – và giai đoạn khởi đầu bằng sự phục sinh của Ngài từ cái chết, và chịu ảnh hưởng bởi những đặc điểm hoàn toàn khác nhau. Chúng ta sẽ gọi giai đoạn thứ nhất là “sống theo xác thịt”, và giai đoạn thứ hai là “sống theo Thần Khí”. Như được diễn tả trong bản văn thư Rôma 1,2-4, Đức Kitô, vì được sinh ra làm người thuộc dòng dõi Đavít, đã sống một thời gian theo xác thịt, sống theo Thần Khí từ khi sống lại từ trong kẻ chết, và bày tỏ mình với tất cả quyền năng trong tư cách Con Thiên Chúa. Đó là một lược đồ lịch sử; sự kế tiếp nhau: xác thịt–tinh thần được kế tiếp bởi thời gian–vĩnh cửu. Hơn cả “bản tính” của Đức Kitô, điều khiến chúng ta quan tâm, theo viễn tượng này, là “thân phận” của Đức Kitô, “phương thức tồn tại” của Ngài: trước hết là trong thời gian, và sau đó là bên ngoài thời gian. Nói như ngày nay, chúng ta quan tâm đến hiện hữu (existence) hơn yếu tính (essence).

Từ sự hiểu biết ban đầu này về mầu nhiệm Đức Kitô, bắt đầu một tiến trình đào sâu, trong đó đức tin của Giáo Hội cố gắng ngày càng tiến xa hơn về thượng nguồn, hay tương đương với ngày càng đào sâu hơn, để khám phá ra chân tính đích thực của Đức Kitô.

Bước đầu tiên nhưng rất lớn theo hướng này là đảo ngược lược đồ. Không phải xác thịt trước, rồi đến Thần Khí, thời gian trước, rồi đến vĩnh cửu, mà ngược lại, trước là Thần Khi, sau đến xác thịt, trước là vĩnh cửu, sau đến thời gian. Điều này bắt đầu với thánh Phaolô. Trong thư Philip 2,6-8, ngài nói về Đức Giêsu như là Đấng trước hết mang “thân phận Thiên Chúa”, đã mặc lấy “thân phận nô lệ” vào một thời điểm nhất định của lịch sử, nghĩa là thân phận con người. Nhưng rõ ràng hơn cả là thánh Gioan. Gioan nói về Ngôi Lời “lúc khởi đầu là Thiên Chúa”, và một lúc nào đó, “đã trở nên người phàm” (x. Ga 1,1-14).

Một số bản văn của các Giáo Phụ cho phép chúng ta thấy viễn tượng này chuyển sang viễn tượng khác. Trong một văn phẩm của mình, thánh Ignatiô Antiôkia, khi diễn giải thư Rôma 1,3-4, nói rằng Đức Giêsu “thuộc xác thịt và thuộc thần khí”, bởi vì Ngài thoát thai “từ Đức Maria và từ Thiên Chúa”, Ngài “được sinh ra từ dòng dõi Đavít và từ Chúa Thánh Thần”[69]; nhưng trong một văn phẩm khác, thánh nhân đã đi theo lược đồ mới và nói về Đức Giêsu, Đấng trước hết “phi thời gian, vô hình và không chịu đau khổ”, sau đó trở thành “hữu hình và chịu đau khổ”[70]. Trong trường hợp trước, thời điểm chuyển qua còn là sự phục sinh của Đức Kitô; trong trường hợp sau, từ đây là sự nhập thể. Trong trường hợp trước, thứ tự là xác thịt–Thần Khí; trong trường hợp sau, đó là Thần Khí–xác thịt. Thứ tự mới này là thứ tự mà từ đây chúng ta thấy rõ trong một bản văn khác, được gọi là thời tông đồ, nơi chúng ta thấy Đức Kitô, “trước đang là Thần Khí, đã trở nên xác thịt”[71].

Bước thứ hai trong quá trình tiến hóa này không còn liên quan đến thứ tự nữa, nhưng liên quan đến ý nghĩa của các thuật ngữ Thần Khí–xác thịt, hoặc những gì tương ứng với chúng, trong ngôn ngữ của Gioan: Ngôi Lời–xác thịt. Những từ này không còn chỉ dùng để cho thấy hai thân phận, hoặc hai phương thức hiện hữu khác nhau của Đức Kitô, nhưng là hai thực tại, hai yếu tính hoặc bản tính. Ngày nay hẳn chúng ta sẽ nói sự chú ý đã chuyển từ hiện hữu sang yếu tính. Bản văn sau đây của Tertullianô đủ để khiến chúng ta đo lường tất cả con đường mà đức tin đã đi, trong hơn một thế kỷ rưỡi. Bình giải về bản văn Rôma 1,3-4, ông viết: “Thánh Tông Đồ dạy ở đây hai yếu tính của Đức Kitô. Bằng những từ “được sinh ra từ dòng dõi Đavít, theo xác thịt”, ngài chỉ định con người và con loài người; bằng những từ “được lập làm Con Thiên Chúa, theo Thần Khí”, ngài chỉ ra Thiên Chúa, Ngôi Lời, Con Thiên Chúa. Do đó, chúng ta thấy nơi Ngài một yếu tính kép”[72]. Một tác giả khác, muộn hơn một chút, xác nhận như sau: “Chúng ta tuyên xưng Đức Kitô thực sự là Thiên Chúa, theo Thần Khí, và thực sự là con người, theo xác thịt”[73]. Giáo lý về Đức Kitô “theo xác thịt và theo Thần Khí”, tức là nói về hai giai đoạn, đã trở nên rõ ràng như giáo lý về Đức Kitô, Thiên Chúa thật và người thật, tức là về hai bản tính.

Công đồng Calcêđônia chỉ phê chuẩn cách hiểu mới về đức tin này, khi nói về Đức Kitô “hoàn hảo về thần tính và hoàn hảo về nhân tính”. Thiên Chúa thật và người thật… sinh bởi Chúa Cha từ trước muôn đời, theo thần tính, và bởi Đức Maria, trong những ngày cuối cùng, theo nhân tính; một Đức Kitô duy nhất và đồng nhất, Con Thiên Chúa, nơi Ngài phải nhận biết hai bản tính, không lẫn lộn không phân chia”[74].

Lý do của sự tiến hóa này cũng giống như những gì chúng ta đã thấy ở trên, khi nói về nhân tính của Đức Kitô. Chúng ta đứng trước một trường hợp, trường hợp đầu tiên thuộc loại này và là mẫu mực, của việc hội nhập văn hóa đức tin. Vì lý do tương tự mà chúng ta đi từ Đức Kitô, con người “mới” (bao hàm sự tham chiếu tới thời gian) đến Đức Kitô, con người “thật” hoặc “trọn vẹn” (bao hàm sự tham chiếu tới hữu thể), giờ đây chúng ta đi từ hai giai đoạn, hoặc phương thức hiện hữu của Đức Kitô, đến hai bản tính của Ngài. Lý do là vì Phúc Âm phải được hội nhập vào một văn hóa, mà chỉ hữu thể hoặc yếu tính bất biến của sự vật mới thực sự quan trọng hơn nhiều so với quá trình trở thành và lịch sử của chúng. Cũng vì lý do này, chiều kích Thần Khí và vĩnh cửu của Đức Kitô giờ đây xẩy ra trước chiều kích thời gian và lịch sử. Quả thực, người ta nghĩ đúng là không thể có chuyện vĩnh cửu được sinh ra từ thời gian, cũng như sự sáng tạo ra nó, nhưng đúng hơn, thời gian được sinh ra từ vĩnh cửu, “theo sau” vĩnh cửu, nếu thực sự người ta có thể sử dụng những thuật ngữ “đi trước” và “theo sau”, cho những gì không có “trước” và “sau”. Chính sự chắc chắn về sự tiền hữu của Ngôi Lời đã khiến cho thứ tự giữa Đức Kitô theo xác thịt, và Đức Kitô theo Thần Khí, bị đảo ngược.

Do đó, liệu chúng ta có rời xa Kinh Thánh để đến với người Hy Lạp không? Chẳng phải Kitô giáo, và chính Đức Giêsu, bị Hy lạp hóa sao? Không, vì như chúng ta đã thấy, điều khẳng định ở đây đã có trong lời Chúa, nơi Phaolô và Gioan. Đòi hỏi mục vụ của việc loan báo chỉ góp phần làm nổi bật một khía cạnh cơ bản của dữ kiện mạc khải, mà nếu không, thì có lẽ đã vĩnh viễn chìm trong bóng tối.

Nhưng đồng thời, chúng ta đặt ra một nguyên tắc thách thức cả chúng ta nữa, theo một cách khác. Con đường đức tin đã không dừng lại với định tín của Calcêđônia. Như các Giáo Phụ đã có thể phân định, một cách chắc chắn, khía cạnh nào của sứ điệp có thể phục vụ tốt nhất để thiết lập một nhịp cầu với văn hóa của thời đại các ngài, thì chúng ta cũng phải biết cách khám phá ra, trong sứ điệp này, khía cạnh bày tỏ tốt nhất cho những con người ngày nay, bằng cách nếu cần thì bắt văn hóa hiện tại phải chịu sự phán xét của lời Chúa và giúp nó vượt qua những giới hạn và thiếu sót của nó, như các Giáo Phụ đã làm đối với văn hóa của thời đại các ngài.

2. Đức Kitô, tổng hợp vĩnh cửu và thời gian

Ngay khi bắt tay vào công việc bắt đầu lại từ Kinh Thánh, nhằm loan báo cách mới mẻ Đức Giêsu Kitô, chúng ta khám phá ra những điều đáng kinh ngạc. Quả thực, chúng ta thấy nó vẫn mang đến cho chúng ta những khả năng rất to lớn về một diễn từ hiện sinh, hiện đại về Đức Kitô – và do đó về con người –, giống như rất nhiều hạt giống sẵn sàng nảy mầm và đơm bông kết trái.

Các nhà khoa học tự nhiên và thực vật lấy làm lạ về những gì chứa đựng trong một hạt giống nhỏ mà khoa học luôn đưa ra ánh sáng. Nếu người ta viết ra tất cả thông tin chứa trong một hạt giống, thì kết quả sẽ là một loại bách khoa toàn thư. Mọi sự đều được lập trình đến từng chi tiết nhỏ nhất. Hãy tưởng tượng một chiếc máy tính tự nhiên trong đó lưu trữ một khối lượng dữ liệu không thể đếm được: khi nào nở và nở thế nào, mang quả gì, màu sắc và mùi vị ra sao, kích thước thế nào, phản ứng ra sao với tác nhân bên ngoài này khác, cách thích nghi với khí hậu khác nhau. Đôi khi, tất cả thông tin này vẫn hoạt động trong nhiều thế kỷ, nếu người ta có thể tin tưởng thông tin cho biết những hạt lúa mì vẫn còn sống và có khả năng nảy mầm đã được tìm thấy trong các kim tự tháp cổ đại của Ai Cập. Dưới sự thúc đẩy của cuộc khủng hoảng sinh thái hiện nay, người ta đã khám phá ra một cách hiểu biết tốt hơn về hạt giống, tài nguyên và các đồng minh tự nhiên của nó, có thể giúp không còn can thiệp thô bạo từ bên ngoài vào thực vật, bằng thuốc chống ký sinh trùng làm cho đất đai bị nhiễm độc và, về lâu về dài, gây hại cho chính cây trồng.

Sứ điệp được mạc khải cũng là một hạt giống. Về phần mình, Đức Giêsu so sánh sứ điệp ấy với “hạt giống nhỏ nhất trong mọi hạt giống” (Mt 13,32) và Ngài so sánh mình với hạt lúa gieo vào lòng đất (x. Ga 12,24). Giống như hạt giống, Ngài ẩn chứa nơi mình những nguồn tài nguyên không nghi ngờ mà hai nghìn năm sau chúng ta vẫn còn rất lâu mới khám phá hết được. Điều này đặc biệt áp dụng cho Kitô học. Trong khởi giảng của Tân Ước về Đức Giêsu Kitô, có những “thông tin” cho phép nó nảy nở trong mọi thời kỳ của lịch sử, “thích nghi” với bất cứ văn hóa nào, mà không bao giờ mâu thuẫn với chính nó, cũng không thay đổi bản tính. Bản thân nó có hệ thống phòng thủ riêng, và sự sống còn của nó không hề nhờ sự can thiệp từ bên ngoài và của con người, mang tính luận chiến hoặc biện hộ. Chỉ cần đặt nó vào trong điều kiện của nó, sử dụng các nguồn lực của nó, không phải bằng cách giam hãm nó, như trong nhà kính, trong sách vở và các công thức tín điều, nhưng bằng cách cho nó tiếp xúc với mảnh đất lịch sử sống động và luôn mới mẻ, và giúp nó phản ứng với mảnh đất này.

Do đó, chúng ta hãy tự hỏi xem ngày nay mảnh đất lịch sử sống động này xẩy ra như thế nào, và có gì mới so với thời cổ đại, khi tín điều Kitô học lần đầu tiên được ấn định. Tôi không có tham vọng mình có thể định nghĩa một cách ngắn gọn nét đặc trưng của văn hóa hiện đại. Tuy nhiên, tôi tin rằng chúng ta có thể nói điều gì đó về nó. Con người ngày nay là người đã khám phá ra “ý nghĩa lịch sử”, quan tâm đến sự hiện hữu, của mình và của sự vật, hơn là yếu tính, đến tự do hơn là bản tính. Người loan báo Phúc Âm không phải là người quyết định đó là điều tốt hay điều xấu, tiến bộ hay thụt lùi. Ngài phải trở nên hiện đại với người hiện đại, như Phaolô, Gioan và các Giáo Phụ đã trở thành “người Hy Lạp với người Hy Lạp” (x. Rm 1,14).

Về cơ bản, con người thời cổ đại và con người ngày nay không khác nhau nhiều về những điều chính yếu. Cả hai đều quan tâm đến số phận của mình và “phản ứng” trước một sứ điệp, nếu sứ điệp đó đến với họ trong cốt lõi sâu xa của cuộc sống của họ, nơi ẩn chứa những câu hỏi gây thắc mắc nhất: “Chúng ta là ai? Chúng ta đến từ đâu? Chúng ta sẽ đi đâu? Những câu hỏi này mà con người hôm nay đặt ra cho mình, thì con người của thế kỷ II sau Đức Giêsu Kitô cũng đã đặt ra cho họ rồi[75]. Vấn đề cứu độ, nghĩa là cứu độ học, là cánh cửa dẫn vào Kitô học. Điều thay đổi chỉ là cách trình bầy nhu cầu cứu độ này. Nếu có thời người ta coi sự cứu độ là cách tự cứu mình “khỏi” thế giới và “khỏi” thân xác, thì ngày nay người ta coi đó đúng hơn là cách cứu “thế giới” và “thân xác”, ngoài việc cứu linh hồn.

Như vậy, chúng ta thấy tín điều Kitô học phải nói gì cho con người của thời đại chúng ta, được đánh dấu bằng vấn đề “hiện hữu và thời gian”, như được diễn tả qua tựa đề một tác phẩm triết học nổi tiếng của thế kỷ chúng ta.

Trong thư thứ nhất, Gioan nói về Đức Kitô: “Chúng ta ở trong Thiên Chúa thật, ở trong Con của Người là Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là sự sống đời đời” (1Ga 5,20). Hai khái niệm “Thiên Chúa thật” và “sự sống đời đời” được áp dụng cho Đức Kitô, đã trở lại trong các tác phẩm của Gioan, với tầm quan trọng và tần suất như nhau. Trong các tuyên bố tín điều của mình, tư tưởng cổ đại chỉ sử dụng khái niệm đầu tiên trong hai: “Thiên Chúa thật”, cuối cùng người ta rút ra công thức, được vĩnh viễn hóa bằng tín biểu Nicêa: “Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật.” Vẫn còn nhiều điều để khám phá về ý nghĩa, đối với Kitô học, khi nói rằng Đức Giêsu là “sự sống vĩnh cửu”, nơi Ngài không chỉ thần linh xuất hiện trên trái đất, mà cả vĩnh cửu nữa. Chúng ta đang có việc cần giải quyết với một trong những hạt giống đang chờ nảy mầm, hoặc – như tôi đã nói ở đầu chương này – với một tiếng kêu chờ được thốt ra trên thân thể Giáo Hội.

Cũng trong lá thư này, Gioan, người được coi là tác giả Tân Ước hay hướng về hữu thể học nhất, nói về Đức Kitô như là “sự sống đời đời ở bên Chúa Cha và được tỏ bầy cho chúng ta” (x. 1Ga 1,2). Công thức “sự sống đời đời được tỏ bầy” rõ ràng là cùng một cách cấu tạo với công thức: “Ngôi Lời đã làm người” (Ga 1,14). Nó diễn tả, bằng những thuật ngữ vĩnh cửu và thời gian, điều mà trong Lời tựa được diễn tả bằng những thuật ngữ Lời và xác thịt, nghĩa là bằng thực tại hữu thể học. Cũng ở đây, Kitô học cổ đại đã thu thập và phát triển công thức “Ngôi Lời–xác thịt” và thậm chí hoàn toàn xây dựng trên đó, trong khi cách diễn tả khác, mặc dù có một ý nghĩa to lớn đối với con người, vẫn được coi trọng. Quả thực, nó cho thấy nơi Đức Kitô, vĩnh cửu đã tỏ hiện hữu hình, nghĩa là đã đi vào thời gian, và có thể nói, đã đến để gặp gỡ chúng ta.

Khía cạnh này của mầu nhiệm Đức Kitô không những vẫn còn đó, nguyên vẹn, trong Kinh Thánh, nơi chúng ta có thể tiếp cận nó, nhưng bằng cách nhìn ngược lại lịch sử phát triển tín điều, chúng ta sớm nhận ra rằng nó cũng không vắng bóng trong suy tư của các Giáo Phụ, và thậm chí còn đi kèm với suy tư này, ngay cả khi lén lút, giống như một loại nốt nhạc phụ. Thánh Ignatiô Antiôkia chẳng hạn, nói về Đức Kitô như một người “vượt trên thời gian và phi thời gian (achronos), và là người tỏ hiện hữu hình”[76]. Thánh Lêô Cả nói về sự nhập thể như một biến cố, nhờ đó “Đấng đã hiện hữu trước thời gian bắt đầu hiện hữu trong thời gian”[77].

Do đó, nơi Đức Kitô, chúng ta không chỉ có sự kết hợp, “không lẫn lộn, cũng không phân chia”, giữa Thiên Chúa và con người, mà còn giữa vĩnh cửu và thời gian. Khi giải thích định tín của Calcêđônia, thánh Maximô Vị Tuyên giáo viết: Đức Kitô đã kết hợp nơi mình cách hiện hữu tự nhiên và cách hiện hữu siêu nhiên; Ngài đã kết hợp hai điều trái ngược, tức là nội tại và siêu việt[78].

Nhưng, như tôi đã nói, tất cả điều này vẫn là “nốt phụ”, hầu như không nghe được. Chính Kierkegaard đã bất ngờ nâng nó lên vị thế của một át âm (dominante). Mầu nhiệm Đức Kitô, mà nơi thánh Maximô và nơi các Giáo Phụ nói chung, được diễn tả ưu tiên như một mầu nhiệm siêu việt và nội tại, nghĩa là trong tương quan với không gian, thì nơi ông, được diễn tả như một nghịch lý giữa vĩnh cửu và thời gian, nghĩa là trong tương quan với thời gian. Ông viết: “Nghịch lý chủ yếu nằm ở chỗ Thiên Chúa, Đấng vĩnh cửu, đã đến trong thời gian, với tư cách một con người cụ thể”[79]. Nhập thể là giao điểm giữa vĩnh cửu và thời gian. Nó tạo nên sự mới mẻ tuyệt đối, không lặp lại.

Điều đó có nghĩa là Đức Giêsu – Đấng “trung gian giữa Thiên Chúa và con người” (1Tm 2,5) – cũng là trung gian giữa vĩnh cửu và thời gian. Ngài là cây cầu bắc qua vực thẳm để có thể đi từ bờ bên này sang bờ bên kia. “Cái mới đến từ bước nhảy”[80], và tất cả sự mới mẻ của Đức Kitô chính là đến từ “bước nhảy” đã được thực hiện nơi Ngài, từ muôn thuở cho đến thời gian. Nhưng một bước nhảy rất đặc biệt, như thể ai đó, trong khi giữ một chân ở bờ nơi anh ta đang đứng, lại đặt chân kia sang bờ đối diện. Quả thực, Đức Kitô “ở ngoài thời gian, bắt đầu hiện hữu trong thời gian”.

Bởi vậy, Đức Kitô được coi là thực tại duy nhất có khả năng cứu con người khỏi tuyệt vọng. Ngài thay đổi số phận con người và làm cho một “hữu-thể-dành-cho-cái-chết”[81] trở thành một “hữu-thể-dành-cho-vĩnh-cửu”. Tín điều Kitô học là yếu tố duy nhất có khả năng cung cấp một lý do khách quan để vượt thắng nỗi lo âu của cuộc sống.

Ở đây không cần phải nói thời gian là gì, vĩnh cửu là gì. Chúng ta biết rằng vĩnh cửu và thời gian không kém phần vô biên và không thỏa hiệp với nhau, giống như thần linh và nhân loại, Thần Khí và xác thịt[82]. Chính vì vậy, chúng tạo thành một sự chuyển vị thích đáng tín điều Đức Kitô Thiên Chúa và con người, trên bình diện hiện sinh và lịch sử. Một sự chuyển vị không làm suy yếu tín điều, nhưng vẫn giữ nguyên tính chất tuyệt đối và mầu nhiệm. Sự khác biệt vô hạn về phẩm chất giữa thời gian và vĩnh cửu cũng đã trở thành một sự gần gũi vô hạn nơi Ngài. Cả hai yếu tố đó nơi cùng một con người, “không lẫn lộn, không phân chia”.

3. Từ tín điều đến đời sống

Cái “chồi” Kitô học trong Kinh Thánh này mang tính thời sự và quý giá biết bao, nó đang nở hoa trước mắt chúng ta trên thân cây tín điều truyền thống! Kết quả là, tín điều lại trở nên rất gần gũi với cuộc sống của mỗi người. Tất cả có thể chưa có khả năng hoặc chưa sẵn sàng để cảm nhận được tầm quan trọng của việc trở thành “những người thông phần bản tính Thiên Chúa” (2Pr 1,4). Ngày nay, ai còn phấn khích – như đã xảy ra thời thánh Grêgôriô Nadian – với ý nghĩ trở thành “Thiên Chúa, nếu có thể nói được như thế”[83]. Trái lại, từ đó mà ngài suy nghĩ, ai cũng nhận ra tính chất hư ảo của thời gian trôi đi và sự bấp bênh của đời sống con người. Chúng là một lời cảnh báo, vì chúng rất đúng, đối với tất cả mọi người không phân biệt, những lời này mà một trong những nhà thơ của chúng ta đã mô tả điều kiện và tâm trạng của những người lính, trong các chiến hào ở tiền tuyến, trong Thế chiến thứ nhất[84]:

Người ta đứng giống như

những chiếc lá

trên cây

vào mùa thu.

Do đó, nếu ngày nay, không phải ai cũng nhạy cảm với viễn tượng trở thành “những người thông phần bản tính Thiên Chúa”, thì ngược lại, tất cả đều nhạy cảm với viễn tượng trở thành (để sử dụng các hạn từ mà Maximô Vị Tuyên giáo đã giải thích dài dòng cách diễn đạt của thư 2Pr 1,4) “những người thông phần sự vĩnh cửu của Thiên Chúa”[85].

Để trả lời cho một người bạn đã trách ông quá khát vọng về vĩnh cửu, như thể đó là một hình thức kiêu ngạo và tự phụ, thì một hôm, de Unamuno nói: “Tôi không nói rằng chúng ta xứng đáng một thế giới bên kia, và lôgíc cũng không chứng minh điều đó; tôi nói rằng chúng ta cần nó, dù chúng ta có xứng đáng hay không. Thế thôi. Tôi nói rằng những gì trôi qua không làm tôi thỏa mãn, tôi khao khát vĩnh cửu, và không có nó thì mọi sự đều không quan trọng đối với tôi. Tôi cần nó, tôi cần nó! Không có nó, thì không còn niềm vui sống, và niềm vui sống không còn gì để nói với tôi. Thực quá dễ dàng khi quả quyết: “Phải sống, phải bằng lòng với cuộc sống”. Và những người không bằng lòng thì sao?”[86] Không phải người khao khát vĩnh cửu thì coi thường thế giới và cuộc sống ở đời này, nhưng đúng hơn, anh ta không ham muốn nó. Cũng tác giả trên đã nói: “Tôi yêu cuộc sống đến nỗi đánh mất nó dường như là điều tồi tệ nhất đối với tôi. Những người tận hưởng cuộc sống, ngày này qua ngày khác, không cần lo lắng về việc liệu họ có phải mất nó hoàn toàn hay không, những người đó thực sự không yêu cuộc sống”[87]. Thánh Augustinô đã từng nói: “Sống tốt có ích gì nếu không được sống mãi mãi?”[88]

Nhưng giờ đây làm thế nào để đi từ tín điều sang cuộc sống, từ Đức Kitô “nơi chính mình” sang Đức Kitô “cho tôi”? Làm thế nào, từ những xem xét về Đức Kitô, có thể làm vọt lên tiếng kêu và lời hứa: “Vĩnh cửu! Vĩnh cửu!” Đó là vấn đề áp dụng vào khái niệm vĩnh cửu, điều mà các Giáo Phụ đã khẳng định về thần tính của Đức Kitô, trong học thuyết “trao đổi”. Các ngài thích lặp đi lặp lại: “Thiên Chúa đã làm người để con người trở thành Thiên Chúa”[89]. Phần chúng ta, chúng ta có thể nói: vĩnh cửu đã đi vào thời gian, để thời gian có thể có được vĩnh cửu. Đức Giêsu đến để ban cho chúng ta sự sống của Thiên Chúa, chứ không chỉ để tỏ cho chúng ta thấy sự sống đó. Bước nhảy từ vĩnh cửu sang thời gian làm cho bước nhảy từ thời gian sang vĩnh cửu có thể xảy ra. Do đó, niềm hy vọng về sự vĩnh cửu của chúng ta là một phần không thể thiếu của tín điều Kitô học, nó nảy sinh từ đó, như mục tiêu và hoa trái của nó. Hy vọng về vĩnh cửu là sự hoàn thành của niềm tin vào nhập thể.

Thuyết thiên cảm (illuminisme) đã đặt ra vấn đề nổi tiếng sau đây: làm thế nào người ta có thể đạt tới vĩnh cửu, khi còn đang trong thời gian, và làm thế nào người ta có thể đưa ra một điểm khởi đầu lịch sử cho một ý thức vĩnh cửu?[90] Nói khác đi, làm sao người ta có thể biện minh cho tham vọng của đức tin Kitô giáo là hứa ban sự sống đời đời và đe dọa hình phạt cũng đời đời cho những hành vi được thực hiện trong thời gian? Câu trả lời duy nhất chấp nhận được cho vấn đề này, được xác định như “nút thắt gordien * của đức tin Kitô giáo”, là câu trả lời dựa trên niềm tin vào sự nhập thể của Thiên Chúa. Trong Đức Kitô, vĩnh cửu xuất hiện trong thời gian; Ngài đã mang lại cho con người ơn cứu độ vĩnh cửu. Chính vì vậy, trước Ngài – và chỉ trước Ngài – có thể thực hiện hành vi, mặc dù được thực hiện trong thời gian, nhưng lại quyết định sự vĩnh cửu.[91]

Trên thực tế, một hành vi như vậy bao gồm việc tin vào thần tính của Đức Kitô. Thánh sử Gioan viết: “Tôi đã viết điều đó cho anh em là những người tin vào danh Con Thiên Chúa, để anh em biết rằng anh em có sự sống đời đời” (1Ga 5,13). Tin vào thần tính của Đức Kitô mở ra cánh cửa dẫn vào cuộc sống vĩnh cửu, giúp chúng ta có thể thực hiện bước nhảy vô tận. Trước Đức Giêsu Kitô, chính vì Ngài vừa là con người vừa là Thiên Chúa, nên có thể đưa ra một quyết định sẽ có những hậu quả vĩnh cửu.

4. Vĩnh cửu, vĩnh cửu!

Chúng ta đã đến thời điểm mà cuối cùng có thể gặt hái thành quả của tất cả hành trình đã trải qua : sự vĩnh cửu. Đây là nơi chúng ta sẽ dừng lại. Chúng ta sẽ tập trung vào từ này, cho tới khi làm cho nó sống lại. Có thể nói, chúng ta sẽ lại sưởi ấm cho nó bằng hơi thở của chúng ta, cho tới khi nó lấy lại sức sống. Là vì “vĩnh cửu” đã trở thành một hạn từ chết; chúng ta đã để nó chết, như để một đứa trẻ bị bỏ rơi chết, do không ai cho nó bú nữa. Cũng như khi đang trên con tàu tiến về thế giới mới, khi đã hết hy vọng tới nơi muốn đến, thì một buổi sáng bỗng vang lên tiếng kêu của người canh gác: “Thấy đất liền rồi! Thấy đất liền rồi!” cũng vậy, tiếng kêu phải vang lên trong Giáo Hội: “Vĩnh cửu đây rồi! Vĩnh cửu đây rồi!”

Điều gì sẽ xảy ra với từ đã từng là động cơ bí mật, hoặc cánh buồm, đã đẩy (con thuyền) Giáo Hội trong cuộc hành hương xuyên thời gian, từng là cực thu hút tư tưởng của các tín hữu, từng là “chất men” nâng tâm hồn lên cao, giống như trăng tròn làm thủy triều dâng lên giữa biển khơi? Trong im lặng, người ta để đèn dưới đáy thùng, cuốn cờ hiệu lại, như một đội quân đang rút lui. “Thế giới bên kia đã trở thành một trò đùa, một đòi hỏi không chắc chắn đến nỗi không những không còn ai tôn trọng nó, mà người ta cũng không còn bàn về nó nữa, đến mức người ta thậm chí ra mặt chế nhạo khi nghĩ rằng đã có thời ý tưởng này biến đổi toàn bộ cuộc sống”[92]

Hiện tượng này có một tên rất rõ ràng. Được định nghĩa trong tương quan với thời gian, nó được gọi là chủ nghĩa thế tục, hay chủ nghĩa trần thế; được định nghĩa trong tương quan với không gian, nó được gọi là chủ nghĩa nội tại. Đó là điểm mà ngày nay đức tin, sau khi đã đón nhận một văn hóa cụ thể, cũng phải tỏ ra có khả năng đặt vấn đề nghi ngờ về nó từ bên trong, thúc đẩy nó vượt qua những khép kín tùy tiện và những mâu thuẫn của nó.

Chủ nghĩa thế tục (ở đây tôi không nói về chủ nghĩa có phẩm chất tốt) kéo theo sự quên đi, hoặc gạt sang một bên, số phận vĩnh cửu của con người, để hoàn toàn gắn chặt với saeculum, nghĩa là với thời hiện tại và thế giới này. Người ta coi nó như một lạc giáo ngấm ngầm và phổ biến nhất của thời hiện đại và, thật không may, tất cả chúng ta đều bị nó đe dọa về mặt này hay mặt khác. Thông thường, chính chúng ta, những người, theo lý thuyết, đấu tranh chống lại chủ nghĩa thế tục, lại là tòng phạm hoặc nạn nhân. Chúng ta bị “trần tục hóa”; chúng ta đã đánh mất ý thức, sở thích về vĩnh cửu và thân tình với nó. Từ “vĩnh cửu”, hay “thế giới bên kia” (tương đương về không gian với vĩnh cửu) trước tiên đụng chạm đến sự nghi ngờ của chủ nghĩa Mác, theo đó niềm tin vào vĩnh cửu xa lạ với nhiệm vụ lịch sử biến đổi thế giới và cải thiện những điều kiện của cuộc sống hiện tại, và do đó tạo thành một loại bằng chứng ngoại phạm và trốn tránh thực tế. Dần dần, cùng với sự nghi ngờ, lãng quên và im lặng bao trùm từ này, chủ nghĩa duy vật và đam mê tiêu dùng đã làm nốt phần còn lại, trong các xã hội thừa mứa, thậm chí còn đi xa tới chỗ khiến cho việc còn nói về vĩnh cửu trong giới có học xem ra là chuyện kỳ lạ, thậm chí gần như không phù hợp. Ai còn dám nói về “tứ chung” – sự chết, sự phán xét, địa ngục, thiên đường – có tương ứng là sự khởi đầu và những hình thức của vĩnh cửu? Chúng ta đã nghe bài giảng cuối cùng về sự sống vĩnh cửu khi nào? Tuy nhiên, phải công nhận rằng trong Phúc Âm, Đức Giêsu chỉ nói về sự sống đó.

Đâu là hậu quả thực tế của sự lu mờ ý tưởng về vĩnh cửu? Thánh Phaolô thuật lại lời của những người không tin sự sống lại từ trong kẻ chết: “Chúng ta cứ ăn uống đi, vì ngày mai chúng ta sẽ chết” (1Cr 15,32). Khát vọng tự nhiên được sống “luôn mãi”, khi nó bị bóp méo, trở thành khao khát hay điên cuồng muốn sống “tốt”, tức là sống thoải mái. Phẩm chất tóm lại thành số lượng. Khi ấy thiếu một trong những động lực hữu hiệu nhất của đời sống luân lý. Có thể là sự suy yếu này của ý tưởng về vĩnh cửu không hành động theo cùng một cách giữa các tín hữu; có thể nó không đi đến một kết luận thô tục như điều thánh Tông Đồ thuật lại; nhưng nó cũng tác động nơi họ, nhất là bằng cách làm giảm khả năng can đảm đương đầu với đau khổ. Chúng ta hãy hình dung một cái cân thiên bình với hai khay, một khay đựng những quả cân nhỏ, khay bên kia đựng vật phải cân. Nếu đặt thêm quả cân khay bên này, khay bên kia sẽ nhấc lên và làm lệch cán cân.

Đó là tình trạng của chúng ta, chúng ta thấy mình bị giảm tới mức đó. Chúng ta đã đánh mất trọng lượng và thước đo mọi sự là vĩnh cửu, và chính vì thế những sự việc và đau khổ trần gian dễ dàng đưa linh hồn chúng ta xuống đất. Mọi sự dường như quá nặng nề, quá đáng đối với chúng ta. Đức Giêsu nói: “Nếu tay hoặc chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi; thà cụt tay, cụt chân mà anh được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai tay chân mà bị ném vào lửa đời đời. Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; thà chột mắt mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào lửa hỏa ngục” (Mt 18,8-9). Ở đây, chúng ta thấy trọng lượng của vĩnh cửu tác động như thế nào, khi nó hiện diện và hoạt động, nó có thể dẫn tới đâu. Nhưng chúng ta, vì đã không còn nhìn đến vĩnh cửu, nên đã thấy quá đáng khi bị yêu cầu nhắm mắt lại trước một cảnh tượng khó coi.

Thay vào đó, khi bạn đang nằm trên mặt đất, sắp bị gian truân đè bẹp, hãy lấy đức tin ném lên chiếc khay bên kia của cái cân sức nặng quá lớn do ý nghĩ về vĩnh cửu tạo ra, và bạn sẽ thấy rằng sức nặng của gian truân sẽ trở nên nhẹ nhõm hơn và chịu được hơn. Phải công nhận với nhau rằng điều đó có là gì, so với vĩnh cửu? Ngàn năm cũng tựa “một ngày” (2Pr 3,8), chúng tựa “hôm qua đã qua đi mất rồi, khác nào một trống canh thôi” (Tv 90,4). Tôi nói tựa “một ngày” là sao? Giống như một thoáng, ngắn hơn một hơi thở.

Về trọng lượng, chúng ta hãy nhớ lại điều thánh Phaolô nói, người đã được cả một khối vinh quang tuyệt vời khi phải chịu đau khổ: “Thật vậy một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời. Vì thế, chúng ta mới không chú tâm đến những sự vật hữu hình, nhưng đến những thực tại vô hình. Quả vậy, những sự vật hữu hình thì chỉ tạm thời, còn những thực tại vô hình mới tồn tại vĩnh viễn” (2Cr 4,17-18). Sức nặng của gian truân thì “nhẹ nhàng”, vì nó chỉ “nhất thời”, trọng lượng của vinh quang thì “quá lớn”, vì nó là “đời đời”. Chính vì thế mà cũng thánh Tông Đồ có thể nói: “Tôi nghĩ rằng những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mạc khải nơi chúng ta” (Rm 8,18).

Thánh Phanxicô Assisi, trong “Tổng Tu nghị Chiếu” nổi tiếng, đã có một bài phát biểu đáng nhớ với các anh em của mình về chủ đề này: “Hỡi các anh em, chúng ta đã hứa những điều vĩ đại, nhưng những điều Thiên Chúa đã hứa với chúng ta còn vĩ đại hơn nhiều; chúng ta hãy giữ những điều chúng ta đã hứa, và tin tưởng chờ đợi những điều đã được hứa cho chúng ta. Thú vui của thế gian ngắn ngủi, nhưng nỗi đau theo sau nó là vĩnh cửu. Nỗi đau đời này nhỏ nhoi, nhưng vinh quang đời sau thì vô cùng.”[93] Bạn của chúng ta, triết gia Kierkegaard, đã diễn tả bằng một ngôn ngữ tinh tế hơn, cùng quan điểm với quan điểm của Người Nghèo. “Người ta chỉ chịu khổ một lần, nhưng chiến thắng thì vĩnh cửu. Vậy người ta cũng chỉ chiến thắng một lần thôi sao? Chắc chắn là thế. Tuy nhiên, có một sự khác biệt vô hạn: lần duy nhất chịu khổ là một chốc một thoáng, và lần duy nhất chiến thắng thì vĩnh cửu; vậy lần duy nhất chịu khổ, một khi đã qua, không phải là bất cứ lần nào, cũng vậy là lần duy nhất chiến thắng, theo một nghĩa khác, vì nó không bao giờ qua đi; lần duy nhất chịu khổ là một bước chuyển hoặc một sự chuyển tiếp; lần duy nhất chiến thắng là một sự chiến thắng kéo dài mãi mãi”.[94]

Tôi chợt nhớ đến một hình ảnh. Một đám đông không đồng nhất và bận rộn; có kẻ làm việc, kẻ cười, người khóc, kẻ đi đi lại lại, người đứng tách ra, tất cả đều buồn bã. Một ông già từ xa đến, thở hổn hển, ông thì thầm một từ vào tai người đầu tiên ông gặp, sau đó không ngừng chạy đi nói với người khác. Ai nghe thấy thì chạy đi lặp lại cho người khác, và người này lặp lại cho người khác nữa. Và người ta chứng kiến ​​một sự thay đổi bất ngờ: kẻ đang nằm dưới đất buồn bã thì đứng dậy chạy về báo cho gia đình biết, người đang chạy dừng lại và quay trở lại; một số đang tranh cãi, sẵn sàng đấm đá nhau, thì ôm nhau mà khóc. Từ nào có thể tạo ra một sự thay đổi như vậy? Từ “vĩnh cửu”.

Đám đông này là toàn thể nhân loại. Và lời phải lan truyền giữa nhân loại, như một ngọn đuốc đang cháy, như tín hiệu chói sáng mà những người lính gác đã truyền cho nhau ngày xưa, từ tháp canh này sang tháp canh khác, chính là lời này: “Vĩnh cửu, vĩnh cửu!” Giáo Hội phải là ông lão làm sứ giả này. Giáo Hội phải kêu vang thông điệp này đến tai mọi người và tuyên bố trên các mái nhà trong thành phố. Thật bất hạnh nếu Giáo Hội cũng bị mất “thước đo”! Như thể muối đã nhạt. Khi ấy ai sẽ bảo vệ mạng sống khỏi hư hoại và phù phiếm? Ai sẽ đủ can đảm để còn nhắc lại cho những con người hôm nay câu thơ này, đầy sự khôn ngoan Kitô giáo, của một nhà thơ người Ý: “Mọi sự trên đời đều hư không, ngoại trừ vĩnh cửu.” Mọi sự, ngoại trừ vĩnh cửu và những gì cách này cách khác dẫn đến nó.

Các triết gia hay thi sĩ, tất cả đều có thể nói về vĩnh cửu và về vô tận, nhưng chỉ có Giáo Hội – với tư cách là người bảo vệ mầu nhiệm con người–Thiên Chúa – mới có thể biến từ này thành một thứ gì đó khác hơn là một cảm giác mơ hồ “hoài niệm về Đấng Hoàn Toàn Khác”. Bởi vì điều đó cũng nguy hiểm, là “chúng ta lôi kéo vĩnh cửu vào thời gian, giống như một cảnh tượng để vui thú”. “Được trình bầy như vậy, vĩnh cửu tạo ra một hiệu quả mê hoặc; chúng ta không còn biết đó là mơ hay thực, vĩnh cửu nhìn thời gian bằng đôi mắt u sầu, trầm ngâm, mơ mộng”[95]. Phúc Âm không để cho vĩnh cửu bị mất sạch nội dung của nó như vậy, bằng cách nhấn mạnh ngay điều cần phải làm: “Tôi phải làm gì để được sống đời đời?” (Lc 18,18). Vĩnh cửu trở thành “vấn đề” lớn của cuộc sống mà chúng ta ngày đêm chuyên tâm vào đó.

5. Hoài niệm về vĩnh cửu

Tôi đã nói rằng đối với những người tin, vĩnh cửu không chỉ là một “hoài niệm về Đấng Hoàn Toàn Khác”. Tuy nhiên nó cũng là như vậy. Không phải tôi tin vào sự tiền hữu của linh hồn và do đó chúng ta đã rơi vào trong thời gian, sau khi đã sống trong cõi vĩnh cửu và đã nếm hưởng nó, như Platon hay Origen đã từng tin như thế. Tôi nói về hoài niệm theo nghĩa là, được tạo ra để sống đời đời, chúng ta có trong lòng niềm khao khát tự nhiên về nó; chính vì vậy, lòng chúng ta không yên nghỉ và không thỏa mãn, bao lâu chúng ta không được nghỉ yên trong đó. Điều mà thánh Augustinô đã nói về hạnh phúc, chúng ta cũng có thể nói về vĩnh cửu: “Tôi đã biết nó ở đâu, để tôi nhớ đến và khao khát nó?”[96]

Con người sẽ còn là gì nếu người ta lấy đi sự vĩnh cửu khỏi tâm trí anh ta? Người ta bóp méo nó, theo nghĩa mạnh của hạn từ, nếu đúng như chính triết học đã nói, con người là “một sinh vật hữu hạn, có khả năng đạt tới vô hạn”. Nếu chúng ta phủ nhận yếu tố vĩnh cửu nơi con người, thì khi đó chúng ta phải lập tức kêu lên, như Macbeth đã kêu lên sau khi giết vua: “Không còn gì nghiêm trọng nữa trong cuộc đời phải chết, tất cả chỉ là trò đùa; vinh quang và danh dự đã hết; rượu đời đã cạn”[97].

Nhưng tôi tin rằng người ta cũng có thể nói tới hoài niệm về vĩnh cửu, theo một nghĩa đơn giản và cụ thể hơn. Đâu là người, khi nghĩ lại những năm tháng tuổi trẻ của mình, lại không nhớ tới một lúc nào, một hoàn cảnh nào, khi anh ta như cảm nhận được một mùi hương nào đó về vĩnh cửu, lúc mà anh ta như tiến tới ngưỡng cửa của vĩnh cửu này, thoáng thấy nó, ngay cả khi có lẽ anh không biết nói gì về khoảnh khắc ấy? Tôi nhớ một khoảnh khắc thuộc loại này trong đời. Lúc ấy tôi còn bé. Trời vào hè; nóng quá, tôi nằm ngửa trên bãi cỏ. Ánh mắt tôi bị hút vào bầu trời trong xanh, rải rác đây đó vài đám mây nhẹ, mầu trắng chói sáng. Tôi nghĩ: “Cái gì phía trên vòm trời này? và phía trên nữa?” Và cứ thế, từng đợt sóng nối tiếp nhau, tâm trí tôi bay vút về phía vô tận rồi mất hút, giống như một người nhìn thẳng vào mặt trời, bị lóa mắt và không còn nhìn thấy gì nữa. Sự vô tận của không gian bao hàm sự vô tận của thời gian. “Tôi tự nhủ vĩnh cửu là gì? Là luôn luôn, mãi mãi! Một nghìn năm và đây mới chỉ là bắt đầu, hàng triệu và hàng tỷ năm và đây mới chỉ là bắt đầu.” Một lần nữa, tâm trí tôi chao đảo, nhưng đó là một cảm giác đẹp, khiến tôi tiến bộ. Tôi hiểu những gì Leopardi viết trong bài thơ Vô tận (L’infinito) của ông: “Và đắm tàu ​​ở vùng biển này là điều ngọt ngào đối với tôi.” Tôi hiểu ý nhà thơ muốn gì khi ông nói đến “những khoảng không vô tận và những khoảng lặng tối cao” hiện ra trong tâm trí. Đến nỗi bây giờ tôi có đủ can đảm để nói với những người trẻ tuổi: “Hãy dừng lại, nằm xuống đi, cả các bạn nữa, nếu cần, hãy nằm ngửa trên cỏ, và một ngày nào đó hãy yên lặng nhìn lên bầu trời. Đừng nhìn sự cực khoái của vô tận ở chỗ khác, trong ma túy chẳng hạn, nơi chỉ có lừa dối và cái chết. Có một cách khác, rất khác, để thoát ra khỏi những “giới hạn” và trải nghiệm cảm xúc thực sự về vĩnh cửu. Hãy tìm kiếm cái vô hạn ở trên, chứ không phải ở dưới; bên trên bạn, chứ không bên dưới bạn.”

Tôi biết điều mà, trong phần lớn các trường hợp, ngăn cản chúng ta nói như thế, điều nghi ngờ nào làm cho các tín hữu không còn “thành thực”. Như người ta tự nhủ, trọng lượng của vĩnh cửu thì quá mức như người ta sẽ mong muốn và lớn hơn trọng lượng của gian truân, đúng vậy, nhưng chúng ta vác thập giá của mình trong thời gian, không phải trong vĩnh cửu; sức mạnh của chúng ta là sức mạnh của thời gian này, chứ không phải sức mạnh của vĩnh cửu; chúng ta bước đi trong đức tin, chứ không phải trong thị kiến, như thánh Tông Đồ nói (2Cr 5,7). Về cơ bản, chúng ta chỉ có niềm hy vọng những sự vô hình để chống lại sức lôi cuốn của những sự hữu hình: chúng ta chỉ có sự hứa hẹn hạnh phúc vĩnh cửu để chống lại sự hưởng thụ trực tiếp những sự vật ở đời này. “Chúng ta muốn được hạnh phúc trong xác thịt này. Cuộc sống hiện tại quá ngọt ngào!” những người cùng thời với thánh Augustinô đã nói như vậy[98].

Đây chính là sai lầm mà người tín hữu chúng ta phải dẹp bỏ. Hoàn toàn không đúng khi cho rằng vĩnh cửu, ở trần gian này, chỉ là một lời hứa và một hy vọng. Đó cũng là một sự hiện diện và một kinh nghiệm! Đây là lúc nhắc nhở bản thân về những gì chúng ta đã học được từ tín điều Kitô học. Trong Đức Kitô, “sự sống vĩnh cửu vốn ở với Chúa Cha được tỏ hiện”. Thánh Gioan nói: “Điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt.. và tay chúng tôi đã chạm đến… (x. 1Ga 1,1-3). Với Đức Kitô, Ngôi Lời nhập thể, vĩnh cửu đã ùa vào thời gian và chúng ta cảm nghiệm được điều đó mỗi khi tin, vì ai tin thì “đã có sự sống đời đời” (x. 1Ga 5,13). Mỗi lần trong Thánh Thể, chúng ta rước Mình Thánh Chúa Kitô; mỗi lần chúng ta nghe từ miệng Đức Giêsu, “những lời ban sự sống đời đời” (x. Ga 6,68). Đó là một trải nghiệm tạm thời, không hoàn hảo, nhưng có thật và đủ để cho chúng ta chắc chắn rằng vĩnh cửu thực sự tồn tại, và thời gian không phải là tất cả.

Sự hiện diện của vĩnh cửu, là hoa quả đầu mùa, trong Giáo Hội và nơi mỗi người chúng ta, có một tên riêng: Chúa Thánh Thần. Người được gọi là “bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta” (Ep 1,14; 2Cr 5,5) và đã được ban, để sau khi đã lãnh nhận hoa quả đầu mùa, chúng ta tha thiết khao khát đạt tới sự sung mãn của Người. Thánh Augustinô viết: “Đức Kitô đã ban cho chúng ta bảo chứng của Chúa Thánh Thần, nhờ đó, Đấng không thể lừa dối chúng ta trong mọi trường hợp, muốn bảo đảm với chúng ta về việc thực hiện lời hứa của Ngài, mặc dù, ngay cả khi không có bảo chứng này, chắc chắn Ngài đã giữ nó. Ngài đã hứa điều gì? Ngài đã hứa sự sống đời đời, mà Thần Khí đã được Ngài ban cho chúng ta, là bảo chứng. Sự sống đời đời là sự chiếm hữu của kẻ đã đến được quê trời; bảo chứng là niềm an ủi của kẻ vẫn còn đang hành trình. Nói “bảo chứng” thì chính xác hơn là “hoa quả đầu mùa”: hai thuật ngữ này có vẻ đồng nhất, nhưng có sự khác biệt về ý nghĩa không thể bỏ qua. Cho dù bằng bảo chứng hay hoa quả đầu mùa, người ta muốn bảo đảm rằng những gì đã hứa sẽ được giữ lời, nhưng trong khi bảo chứng được trả lại, khi những gì mà vì đó người ta đã nhận được nó, được hoàn thành, thì ngược lại, hoa quả đầu mùa không được trả lại, nhưng được thêm vào như một sự bổ sung cho những gì đáng được”[99]. Chính nhờ Chúa Thánh Thần mà chúng ta rên siết trong lòng, chờ đợi ngày được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang (x. Rm 8,20-23). Người là “Thánh Thần vĩnh cửu” (Dt 9,14), có thể khơi dậy trong chúng ta hoài niệm về vĩnh cửu và lại làm cho từ “vĩnh cửu” thành một lời sống động và hồi hộp, khơi dậy niềm vui chứ không phải sợ hãi.

Thần Khí lôi kéo hướng lên cao. Người là ruah YHWH, Hơi Thở của Thiên Chúa. Gần đây, người ta đã phát minh ra một phương pháp đưa tầu thuyền và các đồ vật bị rơi xuống đáy biển lên mặt nước, bao gồm việc bơm không khí, nhờ các buồng khí đặc biệt, để lôi xác thuyền đắm dưới đáy biển, và làm cho nó nổi lên dần dần sau khi đã làm cho nó nhẹ hơn nước. Chúng ta, những con người ngày hôm nay, giống như những vật thể rơi xuống biển. Chúng ta đã “chìm đắm” trong thời gian và tinh thần của thế gian. Chúng ta đã bị “thế tục hóa”. Chúa Thánh Thần đã được thổi vào Giáo Hội, với mục đích tương tự như mục đích chúng ta vừa mô tả: nâng chúng ta lên khỏi vực sâu và làm cho chúng ta ngày một vươn cao hơn, cho đến khi lại đưa chúng ta tới chỗ chiêm ngưỡng bầu trời vô tận, khiến chúng ta thốt lên, tràn ngập niềm vui hy vọng: “Vĩnh cửu, vĩnh cửu!”.

———-

* Biểu thức nút thắt Gordien chỉ định cách ẩn dụ một vấn đề không đưa ra giải pháp rõ ràng, cuối cùng được giải quyết bằng một hành động triệt để. Nói rộng ra, bản chất triệt để của giải pháp cho vấn đề này đã tạo ra cụm từ “cắt nút thắt Gordien”. Thành ngữ này bắt nguồn từ truyền thuyết về Alexander Đại đế (xem thêm trong Wikipedia tiếng Pháp)

Phần trước Phần tiếp