V. SỰ HIỂU BIẾT CAO CẢ VỀ ĐỨC KITÔ
Đức Giêsu Kitô, một “ngôi vị”
Mục đích của những bài suy niệm này về con người Đức Giêsu – như tôi đã nói ở đầu – là để chuẩn bị mảnh đất cho một làn sóng Phúc Âm hóa mới, nhân dịp kết thúc hai ngàn năm ngày Đức Kitô đến trần gian. Nhưng đâu là mục đích chính của mọi công cuộc Phúc Âm hóa và huấn giáo? Phải chăng là để dạy cho con người một số chân lý vĩnh cửu, hoặc truyền đạt các giá trị Kitô giáo cho thế hệ tiếp theo? Không phải vậy. Chính là đưa con người đến gặp gỡ cá nhân với Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất, để biến họ thành những “môn đệ” của Ngài. Mệnh lệnh quan trọng của Đức Kitô cho các Tông Đồ vẫn còn vang vọng: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19).
1. Cuộc gặp gỡ cá nhân với Đức Kitô
Đầu sách Phúc Âm của mình, Gioan cho chúng ta biết một người trở thành môn đệ của Đức Kitô như thế nào, bằng cách kể cho chúng ta nghe kinh nghiệm của ngài, tức là có một ngày chính ngài đã trở thành môn đệ Đức Giêsu như thế nào. Thật đáng đọc lại đoạn văn này; đây là một trong những mẫu gương đầu tiên và cảm động nhất về điều mà ngày nay chúng ta gọi là “chứng từ cá nhân”: “Hôm sau, ông Gioan lại đang đứng với với hai người trong nhóm môn đệ của mình. Thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói: ‘Đây là Chiên Thiên Chúa’. Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Đức Giêsu. Đức Giêsu quay lại, thấy các ông đi theo mình, thì hỏi: ‘Các anh tìm gì thế?’ Họ đáp: ‘Thưa rabbi (nghĩa là thưa Thầy), Thầy ở đâu?’ Người bảo họ: ‘Đến mà xem’. Họ đã đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào giờ thứ mười” (Ga 1,35-39).
Không có gì trừu tượng hay kinh viện trong cách trở thành môn đệ Đức Giêsu. Đó là cuộc gặp gỡ của các con người; đó là sự ra đời của một cuộc gặp gỡ, một tình bạn và một sự quen thuộc, được dành sẵn để kéo dài tất cả một cuộc đời và thậm chí tất cả một sự vĩnh cửu. Đức Giêsu quay lại và thấy có người đi theo mình, liền dừng lại và hỏi: “Các anh tìm gì thế?” Họ trả lời: “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?” Và như vậy, họ tuyên bố Ngài là Thầy của họ và quyết định trở thành môn đệ của Ngài, mà hầu như không nhận ra điều đó. Đức Giêsu không cho họ sách để học, cũng không cho họ những lệnh truyền để ghi nhớ, mà chỉ nói: “Đến mà xem”. Ngài mời họ ở lại với Ngài. Và giờ đây, từ một cuộc gặp gỡ cá nhân, lập tức phát sinh những cuộc gặp gỡ cá nhân khác, và ai đã biết Đức Giêsu cũng sẽ làm cho người khác biết Ngài. Tóm lại, đây là cách tin mừng được truyền đi. Một trong hai môn đệ là Gioan, người đã kể lại câu chuyện, người kia là Anrê. Anrê đi tìm “em mình là Simon và nói với em: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia”, và Anrê dẫn Simon đến gặp Đức Giêsu. Đức Giêsu nhìn chằm chằm vào Simon và nói: “Anh là Simon, con ông Gioan; anh sẽ được gọi là Kêpha” (x. Ga 1,41-42). Chính thủ lãnh các tông đồ đã đến với đức tin như thế: nhờ lời chứng của một người nào đó. Ngày hôm sau, cảnh tượng ấy được lặp lại. Đức Giêsu nói với Philipphê : “Anh hãy theo tôi!” Philipphê gặp Nathanael và nói với anh: “Đấng mà sách Luật và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp”, và trước lời phản đối của Nathanael, Philipphê đáp bằng cách lặp lại lời của Đức Giêsu: “Cứ đến mà xem” (x. Ga 1,45-46).
Nếu Kitô giáo – như đã được nói đi nói lại nhiều lần và rất đúng – trước hết không phải là một học thuyết, mà là một con người, Đức Giêsu Kitô, thì việc loan báo con người này và mối liên hệ với Ngài tạo nên yếu tố quan trọng nhất, khởi đầu cho mọi công cuộc Phúc Âm hóa đích thực và điều kiện để có thể làm công việc này. Đảo ngược trật tự này, đặt các học thuyết và nghĩa vụ của Phúc Âm trước khi khám phá ra Đức Giêsu, một cách nào đó, là đặt cái cầy trước con trâu, như người ta thường nói. Con người Đức Giêsu là thứ mở lòng ra cho việc chấp nhận mọi sự khác. Bất cứ ai đã từng biết Đức Giêsu đang sống thì không cần phải được kích thích nữa; bản thân người đó rất khao khát được biết tư tưởng, ý muốn, lời nói của Ngài. Không phải nhờ lời của Giáo Hội mà chúng ta chấp nhận Đức Giêsu, nhưng chính nhờ lời của Đức Giêsu mà chúng ta chấp nhận và yêu mến Giáo Hội. Do đó, điều đầu tiên mà Giáo Hội phải làm không phải là giới thiệu mình cho con người, nhưng là giới thiệu Đức Giêsu Kitô cho họ.
Nhân tiện, có một vấn đề mục vụ nghiêm trọng. Từ nhiều phía và với sự quan tâm, người ta tố giác cuộc di cư của nhiều tín hữu Công giáo sang các hệ phái Kitô giáo khác, nói chung là Tin lành. Nếu cố gắng xem xét hiện tượng này kỹ hơn một chút, người ta sẽ nhận ra rằng, nói chung, những tín hữu này bị thu hút bởi một lời giảng đơn giản và trực tiếp hơn, một lời giảng hoàn toàn dựa trên việc nhận Đức Giêsu là Chúa và là Đấng Cứu Độ của cuộc đời người ta. Thông thường, đây không phải là các giáo phái Tin lành lớn, mà là các giáo hội nhỏ phát sinh từ các phong trào thức tỉnh, và đôi khi thậm chí từ các nhóm hoặc giáo phái dựa trên “cuộc hoán cải thứ hai”. Sự mê hoặc mà kiểu rao giảng này tác động lên con người là hiển nhiên, và người ta không thể nói rằng nó luôn là một sự mê hoặc hời hợt và phù du, bởi vì nó thường làm thay đổi cuộc sống của những người này.
Các Giáo Hội có truyền thống tín lý và thần học mạnh mẽ, được trang bị một bộ máy lập pháp to lớn, đôi khi thấy mình ở thế bất lợi, chính vì sự phong phú và phức tạp của học thuyết của họ, trước một xã hội phần lớn đã mất đức tin Kitô giáo và, vì lý do này, cần phải khởi sự lại từ đầu, nghĩa là tái khám phá Đức Giêsu Kitô. Dường như vẫn còn thiếu công cụ tương xứng cho tình hình mới này, vốn là một thực tế trong các quốc gia Kitô giáo khác nhau. Trong quá khứ của chúng ta, chúng ta được chuẩn bị làm mục tử hơn là làm kẻ lưới người, nghĩa là sẵn sàng chăn dắt những người vẫn trung thành với Giáo Hội hơn là đưa những người khác đến với Giáo Hội, hoặc “đánh lưới lại” những người đã rời xa. Điều này cho thấy nhu cầu cấp bách của chúng ta đối với việc Phúc Âm hóa, một việc cũng đơn giản và thiết yếu, trong khi vẫn là người Công giáo, nghĩa là cởi mở với chân lý viên mãn và đời sống Kitô hữu; điều này có được bằng cách đặt Đức Giêsu Kitô làm khởi điểm và tiêu điểm của mọi sự, điểm mà từ đó chúng ta khởi đi và là điểm mà chúng ta luôn quay trở lại.
Sự nhấn mạnh này về tầm quan trọng của cuộc gặp gỡ cá nhân với Đức Giêsu Kitô không phải là dấu chỉ của chủ thuyết chủ quan hay tình cảm, nhưng là thể hiện, trên bình diện tu đức và mục vụ, tín điều trung tâm của đức tin chúng ta, cụ thể là Đức Giêsu Kitô là “một ngôi vị”. Trong bài suy niệm này, tôi muốn cho thấy làm sao tín điều công bố Đức Kitô là “một ngôi vị” không chỉ là một công bố siêu hình – điều không còn liên hệ đến bất kỳ ai, ngoại trừ cùng lắm là thần học gia nào đó – nhưng ngược lại tạo thành nền tảng của việc rao giảng Kitô giáo và bí mật sức mạnh của nó. Cách duy nhất để biết một người đang sống là có tương quan sống động với người đó.
Trong các Công đồng, Giáo Hội đã cô đọng yếu tính đức tin vào Đức Giêsu Kitô trong ba quả quyết: Đức Giêsu Kitô là người thật, Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật, Đức Giêsu Kitô chỉ là một ngôi vị. Đó là một loại tam giác tín điều, trong đó nhân tính và thần tính là hai cạnh và sự duy nhất ngôi vị là đỉnh. Điều này cũng đúng theo lịch sử. Trong cuộc đấu tranh chống lại phái Ngộ đạo, trước tiên nhân tính của Đức Kitô được bảo vệ. Sau đó, vào thế kỷ IV, trong cuộc đấu tranh chống lại chủ thuyết Ariô, điều tương tự cũng được thực hiện đối với thần tính của Ngài. Cuối cùng, trong các cuộc tranh luận ở thế kỷ V, thì đến lượt sự duy nhất của ngôi vị.
Sau khi đã suy niệm trong các chương trước về Đức Giêsu “con người thật” và Đức Giêsu “Thiên Chúa thật”, giờ đây chúng ta sẽ suy niệm về “ngôi vị”. Công đồng Calcêđônia nói: “Chúng tôi dạy rằng Đức Kitô phải được nhìn nhận như một ngôi vị, hay một chủ vị (hypostase), không bị tách rời hay phân chia thành hai ngôi vị, nhưng duy nhất và đồng nhất, Con một, Ngôi Lời và Chúa, Chúa chúng ta Đức Giêsu Kitô, “[100].
Chúng ta biết tầm quan trọng trung tâm của chân lý về ngôi hiệp hoặc kết hợp theo ngôi vị giữa con người và Thiên Chúa, trong Đức Kitô. Nó là “nút thắt” nối kết Ba Ngôi và Kitô học. Đức Kitô là một ngôi vị và ngôi vị này không ai khác hơn là Ngôi Lời, ngôi thứ hai trong Ba Ngôi, nhập thể trong lòng Đức Maria, cũng bắt đầu hiện hữu trong thời gian với tư cách một con người.
Thần tính và nhân tính, ngoài việc là hai bản tính, xuất hiện dưới ánh sáng này như hai giai đoạn hoặc hai cách hiện hữu, của cùng một ngôi vị: trước tiên là ngoài thời gian, sau đó là trong thời gian; trước tiên không có xác thịt, sau đó trong xác thịt. Chính trực giác, cùng với sự suy nghĩ chặt chẽ nhất, làm cho ơn cứu độ chúng ta tùy thuộc vào sáng kiến tự do của Thiên Chúa; sáng kiến này, từ tận gốc rễ, phản ánh tốt nhất bản chất sâu xa của Kitô giáo, tức là tôn giáo của ân sủng, của quà tặng, hơn là của chinh phục và việc làm, của việc Thiên Chúa xuống hơn là của việc lên tới Thiên Chúa. Trong Phúc Âm Gioan, Đức Giêsu nói: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3,13), điều đó có nghĩa là người ta không thể lên tới Thiên Chúa nếu Thiên Chúa không là Đấng đầu tiên xuống giữa chúng ta; điều đó có nghĩa là không có Kitô học nào khởi đi “từ dưới” (từ Đức Giêsu “nhân vị”) sẽ có thể thành công trong việc “lên trời”, nghĩa là lên tới chỗ bắt gặp niềm tin vào thần tính và sự tiền hữu của Đức Kitô. Và đó là điều kinh nghiệm gần đây còn chứng minh.
2. “Để tôi được biết Ngài, Ngài…”
Nhưng đó không phải là điều quan trọng cần làm sáng tỏ. Tín điều về ngôi vị duy nhất của Đức Kitô cũng là một “cơ cấu mở”, nghĩa là có khả năng nói với chúng ta ngày nay, đáp ứng những nhu cầu mới của đức tin, vốn không giống như ở thế kỷ V. Ngày nay, không ai phủ nhận Đức Kitô là “một ngôi vị”. Thật không may – như chúng ta đã thấy – có những người phủ nhận Đức Giêsu là một ngôi Thiên Chúa, thích khẳng định Ngài là một ngôi “con người” (một nhân vị). Nhưng không ai tranh cãi về sự duy nhất của ngôi vị Đức Kitô. Vả lại, không phải ở khía cạnh truyền thống này mà chúng ta sẽ tìm kiếm tính thời sự của tín điều của chúng ta.
Trên bình diện cuộc sống cụ thể, điều quan trọng nhất ngày nay trong tín điều Đức Kitô “một ngôi vị” không phải là tính từ “một”, mà là danh từ “ngôi vị”. Khám phá và loan báo Đức Giêsu Kitô không phải là một ý tưởng, một vấn đề lịch sử, không chỉ là một nhân vật, mà là một con người, và một con người đang sống. Đây là những gì ngày nay đang thiếu và là những gì chúng ta rất cần, để không chấp nhận việc Kitô giáo bị giản lược thành một ý thức hệ, hay đơn giản là một thần học.
Sự thật này cũng là một phần của lâu đài thần tiên, là hệ thống thuật ngữ tín điều của Giáo Hội nguyên thủy, nơi “những công chúa và hoàng tử duyên dáng nhất đang ngủ say. Chỉ cần đánh thức họ, để họ đứng dậy trong tất cả vinh quang của họ”[101]. Theo chương trình chúng ta đã ấn định – hồi sinh tín điều từ nền tảng Kinh Thánh – giờ đây chúng ta hướng về lời Chúa. Và vì mục đích của chúng ta ở đây là làm cho con người ngày nay có thể gặp gỡ cá nhân với Đức Kitô Phục Sinh, nên tôi sẽ bắt đầu từ Tân Ước, vốn nói với chúng ta về “cuộc gặp gỡ cá nhân” nổi tiếng nhất từng diễn ra, trên trái đất, với Đấng Phục Sinh: đó là cuộc gặp gỡ của Tông đồ Phaolô. “Saun, Saun… – Thưa Ngài, Ngài là ai? – Ta là Giêsu…” Cuộc gặp gỡ mà từ đó tuôn chảy muôn vàn phúc lành cho Giáo Hội, đã xẩy ra như thế (x. Cv 9,4-5).
Nhưng chúng ta hãy nghe chính ngài diễn tả cuộc gặp gỡ này như thế nào, cuộc gặp gỡ chia đôi cuộc đời của ngài: “Nhưng những gì xưa kia tôi cho là có lợi [được cắt bì, thuộc dòng tộc Đavit, thuộc nhóm Pharisiêu, vô phương trách cứ], thì nay vì Đức Kitô, tôi cho là thiệt thòi. Hơn nữa, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Kitô và được kết hợp với Người. Được như vậy, không phải nhờ sự công chính của tôi, sự công chính do luật Môsê đem lại, nhưng nhờ sự công chính do lòng tin vào Đức Kitô, tức là sự sông chính do Thiên Chúa ban, dựa trên lòng tin. Vấn đề là được biết chính Đức Kitô…” (Pl 3,7-10).
Ở đây, tôi nhớ lại giây phút mà bản văn này, đối với tôi, đã trở thành một “thực tại năng động”, vì lời Chúa thực sự được nhận ra, trong bản chất sâu xa nhất, chỉ nhờ các hoa trái của nó, nghĩa là nhờ những gì nó đã sản sinh ra trong cuộc sống của ta, hoặc trong cuộc sống của người khác. Trong khi học về Kitô học, tôi đã thực hiện nhiều nghiên cứu khác nhau về nguồn gốc của khái niệm “ngôi vị” trong thần học, về những định nghĩa và giải thích khác nhau. Tôi đã biết được những cuộc tranh luận bất tận về ngôi vị duy nhất hay chủ vị của Đức Kitô trong thời kỳ byzantin, về những phát triển hiện đại về chiều kích tâm lý của con người, với vấn đề “cái tôi” của Đức Kitô thoát thai từ đó… Theo một nghĩa nào đó, tôi biết mọi điều về con người Đức Kitô. Nhưng đây là một khám phá chưng hửng mà tôi đã thực hiện, vào một lúc nhất định: chắc chắn, tôi biết mọi sự về con người Đức Giêsu, nhưng tôi không biết chính Đức Giêsu! Tôi biết ý niệm về con người, hơn là chính con người đó.
Chính đoạn văn của Phaolô, được trích dẫn ở trên, đã giúp tôi hiểu được sự khác biệt. Điều làm tôi có ấn tượng nhất là câu: “để tôi được biết Ngài, Ngài…” và đặc biệt là đại từ “Ngài”. Chữ sau cùng đối với tôi dường như chứa đựng nhiều sự hơn toàn bộ các khảo luận về Kitô học. “Ngài” có nghĩa là Đức Giêsu Kitô, Chúa của tôi, “bằng xương bằng thịt”. Tôi nhận ra rằng tôi biết những cuốn sách viết về Đức Giêsu, các học thuyết, các lạc giáo, liên quan đến Đức Giêsu, các khái niệm liên quan đến Ngài, nhưng tôi không biết Ngài, với tư cách là một con người cụ thể, sống động. Ít nhất tôi không biết Ngài, khi tôi đến gần Ngài, qua việc học lịch sử và thần học. Cho đến lúc đó, tôi đã có một sự hiểu biết phi cá nhân (impersonnelle) con người Đức Kitô. Than ôi! Mâu thuẫn và nghịch lý quá thường xuyên như thế!
Vì sao “phi cá nhân”? Bởi vì sự hiểu biết này khiến chúng ta trở nên trung lập trước con người Đức Kitô, trong khi sự hiểu biết của Phaolô đã làm cho thánh Tông Đồ đành mất hết, coi mọi sự là rác rưởi và gieo vào lòng ngài một khát vọng cháy bỏng và không cưỡng lại được, là đến được với Đức Kitô, được thoát khỏi mọi sự, kể cả thân xác của mình, để được ở với Đức Kitô. Ngôi vị là một thực tại độc nhất. Không giống bất cứ yếu tố thụ tạo nào khác, ngôi vị chỉ có thể biết mình “với tư cách ngôi vị”, nghĩa là bằng cách thiết lập mối quan hệ trực tiếp với nó, để nó không còn là “nó” xa lạ, nhưng trở thành “nó” theo kiểu thân mật.
Từ quan điểm này, sự hiểu biết về ngôi vị Đức Kitô vẫn khác với sự hiểu biết về nhân tính và thần tính của Ngài, nghĩa là về các bản tính của Ngài. Đây là những đối tượng và các phần của tổng thể, người ta có thể diễn đạt và nghiên cứu chúng. Nhưng ngôi vị thì không. Ngôi vị là một chủ thể sống và nó là toàn thể. Vì vậy, người ta không thể hiểu nó hoàn toàn, trừ khi giữ gìn nó nguyên si, nghĩa là toàn bộ, và có tương quan với nó. Suy tư về khái niệm ngôi vị nơi Thiên Chúa, thánh Augustinô và toàn bộ thần học Latinh sau ngài, đã kết luận rằng “ngôi vị” có nghĩa là “tương quan”. Tư tưởng hiện đại – kể cả thế tục – đã xác nhận trực giác này. “Nhân cách đích thực bao gồm việc tìm thấy lại chính mình, bằng cách đắm mình trong người khác” (Hegel). Nhân vị là nhân vị trong hành động mà qua đó nó mở lòng với một người “bạn” và, trong tương quan này, nó ý thức được chính mình. Điều này áp dụng một cách cao siêu cho các ngôi Thiên Chúa trong Ba Ngôi, là những “tương quan thuần túy”, mặc dầu tồn hữu; nhưng theo một cách khác, nó cũng áp dụng cho mọi ngôi vị, của chúng ta hay của Đức Kitô. Do đó, người ta không thể biết ngôi vị trong thực tại của nó, nếu không có “tương quan” với nó. Chính vì thế người ta chỉ có thể biết Đức Giêsu, với tư cách là một ngôi vị, bằng cách có mối tương quan cá nhân với Ngài. Nói cách khác, bằng cách nhận ra Ngài là Chúa chúng ta.
Bước vào mối tương quan cá nhân với Đức Giêsu không giống như tương quan với bất cứ ai. Để là “thật”, tương quan này phải dẫn đến việc nhận ra và chấp nhận Đức Giêsu như chính Ngài, nghĩa là Chúa. Trong đoạn văn được trích dẫn ở trên, thánh Tông Đồ nói về một sự hiểu biết Đức Kitô, “cao vời”, “xuất chúng”, và thậm chí “tuyệt vời” (huperechon), khác với tất cả những người khác; rõ ràng là khác với việc biết Đức Giêsu “theo xác thịt”, – ngày nay chúng ta hẳn nói – theo lịch sử, một cách bề ngoài và “có tính khoa học”. Thánh Phaolô cũng nói một sự hiểu biết cao vời bao gồm những gì: “mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô, Chúa của tôi.” Vậy sự hiểu biết tuyệt vời về Đức Kitô, sự hiểu biết “cá nhân” của chúng ta về Ngài, hệ tại ở điều này: chúng ta nhận ra Đức Giêsu là Chúa chúng ta, nghĩa là lý do tồn tại của chúng ta, lợi ích tối cao của chúng ta, mục đích của cuộc đời chúng ta, niềm vui của chúng ta, luật pháp của chúng ta, người lãnh đạo chúng ta, Đấng Cứu Độ chúng ta, Đấng mà chúng ta thuộc về.
Chúng ta thấy làm thế nào có thể đọc – và thậm chí viết – hết cuốn này đến cuốn khác về Đức Giêsu Kitô, nhưng không vì thế mà thực sự biết Đức Giêsu Kitô. Sự hiểu biết về Đức Giêsu là một sự hiểu biết đặc biệt, tương tự như sự hiểu biết của chúng ta về mẹ của chúng ta. Ai thực sự biết mẹ mình? Người đã đọc nhiều cuốn sách hay về tình mẫu tử, hoặc nghiên cứu ý tưởng về tình mẫu tử, trong các nền văn hóa khác nhau và các tôn giáo khác nhau chăng? Chắc chắn là không! Người biết mẹ mình là người con, từ thời thơ ấu, một ngày nọ, biết mình được hình thành trong dạ của bà, được sinh ra trong đau đớn của bà, ý thức được mối ràng buộc duy nhất trên đời giữa bà và anh ta… Trong nhiều trường hợp, đó là một “mạc khải” thực sự và một kiểu “nhập môn” về mầu nhiệm của cuộc đời.
Đây là những gì xảy ra với Đức Giêsu. Người biết Đức Giêsu thực sự là ai – nghĩa là theo cách nội tại chứ không phải ngoại tại – là người, nhờ mạc khải, chứ không phải nhờ máu huyết – như trường hợp người mẹ – nhưng là của Cha trên trời, khám phá ra rằng mình được sinh ra nhờ Ngài, nhờ cái chết của Ngài, và mình hiện hữu về mặt thiêng liêng nhờ Ngài. Người biết Ngài là người, một ngày kia đọc trong sách Isaia, bài thơ nổi tiếng về người tôi tớ đau khổ, cảm nhận được tất cả sức mạnh mầu nhiệm của mối tương quan giữa Ngài với chúng ta, và toàn bộ bài thơ dựa trên tương quan đó (Is 53,5-6):
Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội…
Người đã chịu sửa trị, để chúng ta được bình an
đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành…
Nhưng Đức Chúa đã đổ trên đầu người
tội lỗi của chúng ta tất cả.
3. Đức tin chạm tới những sự vật
Làm sống lại tín điều nói về Đức Giêsu “một ngôi vị”, có nghĩa là đi từ chỗ xem xét yếu tính của ngôi vị đến chỗ xem xét sự hiện hữu của Ngài, tức là nhận ra rằng Đức Giêsu sống lại là một con người hiện hữu, đứng trước mặt tôi, và gọi tên tôi, như đã gọi Saun. Điều quan trọng là chúng ta phải nhận ra, cũng trong lãnh vực đức tin, chương trình mà triết gia Husserl và toàn bộ hiện tượng học ưa thích, bao gồm việc “đi đến những sự vật”; là chúng ta vượt ra ngoài những khái niệm, những lời, những tuyên bố về đức tin, như chúng là. Điều đó có nghĩa là, trong trường hợp hiện tại, thực tại đức tin là Đức Giêsu Kitô phục sinh và hằng sống. Thánh Tôma nói: “Đức tin không kết thúc ở những lời tuyên bố, nhưng trong những sự vật”[102]. Chúng ta không thể chỉ tin vào công thức “một ngôi vị”’, nhưng phải tiếp cận chính ngôi vị đó và, theo một nghĩa nào đó, chạm vào ngôi vị đó.
Có một sự hiểu biết là kinh nghiệm, tức là hành động nếm và sờ. Thánh Phaolô nói về việc đó khi ngài bảo: “Để tôi có thể biết Ngài…”. Ở đây, rõ ràng “biết” có nghĩa là “sở hữu”, theo ngôn ngữ Kinh Thánh. Không phải biết thông qua các khái niệm, nhưng trực tiếp và tức thời. Nói về Đấng Phục Sinh, thánh Augustinô bảo: “Nếu người ta không thể đụng đến Ngài khi Ngài còn ở thế gian, thì ai trong số những người phàm trần có thể chạm vào Ngài khi Ngài ngự trên trời? Vậy cú chạm này (x. Ga 20,17) biểu thị đức tin. Ai tin vào Đức Kitô thì chạm vào Ngài”[103]. Trong sự hiểu biết đức tin, đôi khi xảy ra trong một khoảnh khắc, tâm trí chúng ta “lóa mắt trước vẻ huy hoàng của chân lý, như một tia chớp”, và khi đó, “một loại tiếp xúc thiêng liêng (quidam spiritalis contactus)” được thiết lập với thực tại mà người ta tin[104].
Đây không phải là sự việc ở xa chúng ta; không ở trên bầu trời cũng không ở bên kia biển khơi, nhưng ở trong chính tâm hồn chúng ta và chúng ta phải biết cách nhận ra nó. Chẳng phải đã có lúc trong cuộc đời chúng ta, Đức Kitô đã lén lút hiện ra trước cái nhìn nội tâm của chúng ta, với tất cả vẻ uy nghi, dịu dàng và đẹp đẽ của Ngài, có lúc chúng ta cũng cảm thấy mình như thánh Tông Đồ, “được Chúa Kitô chiếm đoạt” (Pl 3,12), hay sao? Một lúc, có lẽ ngắn ngủi, khi mầu nhiệm Đức Giêsu và nhiệm thể của Ngài mê hoặc chúng ta đến nỗi chúng ta thậm chí muốn “tách mình ra để ở với Đức Kitô” và thực sự nhận ra con người thật của Ngài sao? Một lúc – có lẽ trong những năm tháng tuổi trẻ của chúng ta – khi mà, trong một khoảnh khắc, chân lý của Đức Kitô rõ ràng đã được bày tỏ cho chúng ta, đến nỗi chúng ta có thể chống lại cả thế giới vì điều đó sao? Chân lý của những lời tiên tri, chân lý của Phúc Âm, chân lý của tất cả những gì liên quan đến Đức Kitô sao? Phải, đó thực sự là sự hiểu biết tuyệt vời về Đức Kitô, được Chúa Thánh Thần thực hiện trong chúng ta.
Như vậy, đức tin mới thực sự đạt tới “sự vật”. Đông phương và Tây phương đồng ý với nhau trong sự chứng thực của họ về loại kiến thức đạt được thực tại tối hậu. Cabasilas nói: “Sự hiểu biết của chúng ta về mọi sự gồm hai: có thứ hiểu biết có thể thủ đắc bằng cách lắng nghe và có thứ học được bằng kinh nghiệm trực tiếp. Trong loại thứ nhất, chúng ta không chạm vào sự vật, nhưng nhìn thấy nó, trong lời nói cũng như trong một hình ảnh, và thậm chí không phải trong một hình ảnh chính xác về hình thể của nó. Quả thực, trong số những sự vật hiện hữu, không thể tìm thấy một cái hoàn toàn giống với một cái khác và, khi được dùng làm hình mẫu, nó đủ để biết cái đầu tiên. Trái lại, biết bằng kinh nghiệm có nghĩa là đạt tới chính sự vật: do đó, ở đây, hình thể được ghi dấu trong tâm hồn và khơi dậy lòng ham muốn, giống như một dấu vết, tương xứng với vẻ đẹp của nó. Nhưng khi chúng ta bị tước mất chính ý tưởng về vật và nhận được một hình ảnh yếu ớt và mơ hồ về nó, được rút ra từ mối quan hệ của nó với các vật khác, thì mong muốn của chúng ta được điều chỉnh theo hình ảnh này, và rồi chúng ta không yêu vật này như nó đáng được và không cảm nhận được những tình cảm mà nó có thể khơi dậy, bởi vì chúng ta đã không cảm nếm hình thể của nó. Vì các hình thể khác nhau của các yếu tính khác nhau, khi in sâu vào tâm hồn, đồng hình với tâm hồn theo cách khác nhau, thì tình yêu cũng vậy. Khi tình yêu của Đấng Cứu Độ trong chúng ta không tiết lộ bất cứ điều gì phi thường, hoặc vượt trên quá trình tự nhiên của sự vật, thì đó là một dấu hiệu tỏ tường cho thấy chúng ta chỉ gặp những tiếng nói nói về Ngài. Nhưng theo cách này, làm sao có thể biết rõ ai là người không có gì giống họ, ai là người không có gì chung với người khác, không gì có thể so sánh được với họ và họ không thể so sánh được với điều gì? Làm sao để học được vẻ đẹp của chàng và yêu chàng một cách xứng đáng với vẻ đẹp của chàng? Những người được ban một sự nhiệt tình đến độ được nuôi dưỡng ngoài bản tính của mình và được đi đến chỗ khao khát và có thể làm những công việc vĩ đại hơn những gì con người có thể tưởng tượng, những người này đã bị Phu Quân trực tiếp làm tổn thương; chính chàng đã truyền vào mắt họ một tia vẻ đẹp của chàng; kích thước của vết thương cho thấy mũi tên, sự nhiệt tình tiết lộ kẻ gây thương tích”[105].
Vì vậy, khi tình yêu của Đấng Cứu Độ trong chúng ta cho thấy không có điều gì phi thường, hoặc vượt trên diễn biến tự nhiên của sự vật, thì đó là dấu hiệu cho thấy chúng ta mới chỉ gặp những tiếng nói về Ngài, nhưng không phải Ngài. Nếu lời loan báo của chúng ta về Đức Kitô không gây ấn tượng với bất cứ ai, nếu đó chỉ là một bài phát biểu không có uy lực và thuần túy là tiếng nói lải nhải, thì đó là dấu hiệu cho thấy cho đến nay chúng ta chỉ biết có những tiếng nói về Ngài, nhưng không phải Ngài.
Nhưng làm thế nào để khôi phục lại cho đức tin của chúng ta, vốn đã bị các công thức, chủ nghĩa hiện thực vốn là nguồn sức mạnh của nó nơi các Giáo Phụ và các thánh, làm cho khô cằn? Các công thức, khái niệm, lời nói có tầm quan trọng đến độ chúng thường là “chất cách điện”, che giấu thực tại của chúng và ngăn chúng lay động chúng ta. Cũng như trong Thánh Thể, các dấu chỉ hữu hình – bánh và rượu – mất hết bản chất của chúng, lu mờ đi, một cách nào đó chỉ còn là các dấu chỉ thuần túy, để nhường chỗ cho thực tại Mình và Máu Đức Kitô mà chúng có trách nhiệm truyền đạt, cũng vậy, khi nói về Thiên Chúa, những từ phải là những dấu chỉ khiêm tốn, lo chuyển tải những thực tại và chân lý sống động mà chúng chứa đựng, để rồi lu mờ đi. Chỉ có như vậy, những lời của Đức Kitô mới có thể tỏ lộ bản chất của chúng, nghĩa là “Thần Khí và Sự Sống” (x. Ga 6,63).
Tôi đã nói chúng ta phải đi từ sự chú ý đến yếu tính của con người sang sự chú ý đến sự hiện hữu của con người Đức Kitô. Đây là cách một triết gia đương đại mô tả điều xảy ra với việc đột nhiên khám phá ra hiện hữu của sự vật. Sartre viết: “Vừa rồi tôi ngồi trong công viên. Rễ cây dẻ lún sâu xuống đất, ngay dưới chiếc ghế dài tôi ngồi. Tôi không còn nhớ đó là một rễ cây nữa. Những từ đã biến mất và cùng với những từ này là ý nghĩa của sự vật, cách dùng, những điểm mốc mờ nhạt mà người ta đã vạch ra trên bề mặt của chúng. Tôi đang ngồi, hơi cong người, đầu cúi xuống, một mình trước khối mầu đen và có nhiều mấu này, hoàn toàn thô và khiến tôi sợ. Và rồi tôi được soi sáng. Điều đó khiến tôi rất đỗi ngạc nhiên. Chưa bao giờ trước những ngày cuối cùng này, tôi cảm nhận được ý nghĩa của “hiện hữu”. Tôi giống như những người khác, như những người đi dạo trên bờ biển trong bộ đồ mùa xuân. Giống như họ, tôi đã nói “biển thì xanh; chấm trắng đó, ở trên kia, là một con mòng biển”, nhưng tôi không cảm thấy rằng nó hiện hữu, rằng con mòng biển là một “con mòng biển hiện hữu”; thông thường, sự hiện hữu thì ẩn giấu. Nó ở đó, xung quanh chúng ta, nơi chúng ta, nó là chúng ta, người ta không thể nói lên hai từ mà không nói về nó và, cuối cùng, không chạm vào nó. Khi tôi tưởng mình đang nghĩ về điều đó, thì phải tin rằng tôi không nghĩ gì cả, đầu óc tôi trống rỗng, hoặc chỉ có một từ trong đầu, từ “hiện hữu”… Và rồi đột nhiên, rõ như ban ngày: hiện hữu bỗng được khám phá ra[106].”
Để biết bản thân Đức Kitô, “bằng xương bằng thịt”, phải trải qua một kinh nghiệm giống như thế. Phải thấy Ngài hiện hữu. Điều này không chỉ có thể có được với rễ cây dẻ, nghĩa là điều gì đó có thể nhìn thấy và chạm vào, nhưng còn có thể có được nhờ đức tin, với những điều không thể nhìn thấy và với chính Thiên Chúa. Chính vì vậy mà vào một đêm kia, người tín hữu Blaise Pascal đã khám phá ra Thiên Chúa hằng sống của Abraham và ghi lại ký ức về nó, trong một vài lời tung hô ngắn gọn và nóng bỏng: “Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacop, không phải của các triết gia và học giả. Người chỉ được tìm thấy theo những cách được dạy trong Phúc Âm. Chắc chắn. Chắc chắn. Tình cảm. Niềm vui. Bình an. Quên thế giới và mọi sự trừ Thiên Chúa”[107]. Đối với ông, đêm đó Thiên Chúa đã trở thành “thực tại sống động”. Một Đấng “đang thở”, theo cách gọi của Claudel.
4. Danh xưng và trái tim Đức Giêsu
Làm thế nào có thể có một kinh nghiệm loại ấy? Sau một thời gian dài tìm kiếm và sử dụng mọi phương pháp, để đạt tới yếu tính của sự vật và moi ra bí ẩn của chúng, cả một trào lưu triết học hiện sinh đã phải đầu hàng và thừa nhận (như thế tiếp cận quan niệm Kitô giáo về ân sủng mà không hề hay biết) rằng cách duy nhất để đạt được kết quả này chính là hữu thể đã tự mạc khải và đến gặp gỡ con người bằng sáng kiến riêng của mình. Thế mà, nơi mà điều đó có thể xảy ra là ngôn ngữ, một loại “nơi ở của hữu thể”. Nhưng điều đó còn đúng hơn nếu “hữu thể” được hiểu theo nghĩa Hữu Thể (Thiên Chúa, hoặc Đức Kitô phục sinh), và nếu “ngôn ngữ” được hiểu theo nghĩa của Lời, hay của khởi giảng. Đức Kitô phục sinh đích thân tỏ mình ra cho chúng ta và chúng ta có thể gặp Ngài một cách cá nhân qua lời của Ngài. Lời ấy thực sự là “nơi ở” của Ngài, mà Chúa Thánh Thần mở cửa cho bất cứ ai đến gõ.
Trong sách Khải huyền, Ngài đi gặp Giáo Hội và nói: “Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống. Ta đã chết và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời” (Kh 1,18). Vả lại giờ đây, sau khi Ngài đã chết và sống lại, chữ “Tôi Hằng Hữu” của Đức Kitô vẫn còn vang vọng. Khi Thiên Chúa tự giới thiệu mình với Môsê bằng những hạn từ này, có vẻ như – theo nhận thức cụ thể và lịch sử hơn so với tiếng Do thái về hữu thể, như là “ở đó” và “đang hoạt động” – ý nghĩa của chúng là: “Ta ở đó”, tức là Ta hiện hữu vì các ngươi, Ta không phải là một trong số rất nhiều thần tượng của các dân tộc có miệng mà không nói, có mắt mà không nhìn, Ta thực sự hiện hữu! Ta không phải là một Thiên Chúa, kết quả của lý trí, một Thiên Chúa mà người ta chỉ có thể quan niệm. Đó chính xác là những gì Đức Giêsu đang nói bây giờ.
Ước gì một ngày nào đó chúng ta có thể nhận ra điều này, cảm nghiệm được như thánh Phaolô: “Lạy Chúa, Chúa là ai? – Ta là Giêsu”. Khi đó, đức tin của chúng ta sẽ biến đổi, sẽ trở nên dễ lây lan. Chúng ta sẽ cởi dép ra như Môsê đã làm, và sẽ nói như Gióp: “Trước kia con chỉ biết Ngài nhờ người ta nói lại, nhưng giờ đây chính mắt con chứng kiến” (G 42,5). Đến lượt chúng ta, chúng ta sẽ chết ngay khi thấy Ngài.
Tất cả điều đó là có thể. Đó không phải là sự tôn vinh thần bí: nó dựa trên dữ kiện khách quan là lời hứa của Đức Kitô. Ngài nói với các môn đệ trong bữa ăn cuối cùng: “Chẳng bao lâu nữa thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống” (Ga 14,19). Sau khi Ngài sống lại và lên trời – bởi vì Đức Giêsu ám chỉ lúc đó – các môn đệ sẽ nhìn thấy Ngài một cách mới mẻ, thiêng liêng và nội tâm, nhờ đức tin, nhưng thật sự đến độ Ngài có thể nói cách đơn giản: “Anh em sẽ được thấy Thầy.” Và lời làm rõ tất cả những điều ấy, chính là Ngài “đang sống”.
Có một cách rất đơn giản có thể giúp chúng ta, trong nỗ lực tiếp xúc với Đức Giêsu, đó là kêu cầu danh Ngài: “Lạy Chúa Giêsu”. Chúng ta biết rằng theo Kinh Thánh, danh xưng là sự thay thế trực tiếp nhất cho con người và, theo một cách nào đó, chính con người. Đó là một loại cửa cho phép thâm nhập vào mầu nhiệm của con người. Nó không thuộc phạm trù của những tên gọi, khái niệm và cách phát biểu khác, nhưng là một cái gì đó nhiều hơn và khác biệt hơn. Các khái niệm và các phát biểu là chung cho nhiều người, trong khi danh xưng là duy nhất. Tin vào danh Đức Giêsu, cầu nguyện và chịu đau khổ vì danh Ngài, trong Tân Ước có nghĩa là tin vào con người Đức Giêsu, cầu nguyện và chịu đau khổ, kết hiệp với Ngài; được rửa tội trong Ngài, được tháp nhập vào Ngài.
Từ sau khi Đức Giêsu lên trời, không còn di tích hay hài cốt nào của Ngài được để lại trên trái đất cho chúng ta; chỉ còn lại tên của Ngài, và vô số linh hồn, trong nhiều thế kỷ, bên Đông cũng như bên Tây, đã biết được qua kinh nghiệm sức mạnh ẩn giấu trong danh xưng này. Israel cũng không biết đến những hình ảnh và những mô phỏng về Thiên Chúa, nhưng ở địa vị của họ, Israel biết danh xưng, như một trung gian thánh để liên lạc với Người. Họ đã biết “uy danh Đức Chúa, Thiên Chúa của họ” (Mc 5,3). Giờ đây uy danh này cũng được chia sẻ bởi người Con được vinh hiển.
Theo gương thánh Bênađô, Giáo Hội ca ngợi sự ngọt ngào, êm dịu và sức mạnh của danh Đức Giêsu (“Iesu dulcis memoria…”). Thánh Bernađinô Sienna đã canh tân việc sùng kính danh Đức Giêsu và cổ võ lễ hội, dùng danh xưng này đánh thức lại niềm tin đang bị ngủ quên tại các thành phố và toàn thể dân chúng. Linh đạo Chính thống giáo đã biến danh Đức Giêsu thành phương tiện ưu tiên để mang Thiên Chúa vào trong trái tim và để đạt được tâm hồn trong sạch. Tất cả những ai học cách nói lên danh Đức Giêsu một cách đơn sơ, sớm muộn gì cũng cảm nghiệm được một điều gì đó vượt quá mọi lời giải thích, rồi họ bắt đầu coi trọng danh xưng này như một kho báu, thích danh xưng này hơn bất cứ danh xưng nào khác của Đức Kitô chỉ định bản tính hoặc chức năng của Ngài. Họ thậm chí không cần phải nói “Đức Giêsu Nadaret” như các sử gia và học giả thường gọi, bởi vì họ chỉ cần nói tên “Giêsu!” Nói tên “Giêsu có nghĩa là gọi tên Ngài, tiếp xúc với Ngài, giống như điều xẩy ra khi mà, giữa đám đông, người ta gọi tên một ai đó, và người này quay lại, tìm kiếm chung quanh xem ai đã gọi mình.
Người ta có biết bao nhiêu dịp để gọi tên Đức Giêsu. Tùy theo nhu cầu, hoặc ân sủng đặc biệt của lúc đó, và giọng điệu người đó nói ra hoặc tuyên bố Đức Giêsu là Chúa, nghĩa là người ta đưa Ngài ra để “chống lại” mọi quyền lực của sự dữ và mọi đau khổ: qua Ngài, người ta hân hoan, cầu xin, van nài, gõ cửa, tạ ơn Chúa Cha, tôn thờ, chuyển cầu…
Một phương tiện khác để trau dồi sự hiểu biết “cá nhân” này về Đức Giêsu, bên cạnh việc sùng kính danh ngài, là việc sùng kính trái tim ngài. Trong Cựu Ước, và nhất là trong các Thánh vịnh, khi linh hứng trở nên mạnh mẽ hơn, và người cầu nguyện khao khát thấm thía hơn được kết hiệp với Thiên Chúa, bao giờ người ta cũng luôn nại đến một biểu tượng: khuôn mặt. “Hãy tìm kiếm thánh nhan. Lậy Chúa, con tìm thánh nhan Ngài, xin Ngài đừng ẩn mặt (Tv 27,8-9); “Linh hồn con khao khát Chúa Trời, là Chúa Trời hằng sống. Bao giờ con được đến vào bệ kiến tôn nhan?” (Tv 42,3). Ở đây, “khuôn mặt” chỉ sự hiện diện sống động của Đức Chúa; không chỉ “dáng vẻ” của Người, mà, theo nghĩa tích cực, còn là “cái nhìn” của Người, gặp cái nhìn của thụ tạo và trấn an thụ tạo, soi sáng, nâng đỡ nó. Nó chỉ ra chính ngôi vị của Thiên Chúa, vì đúng là thuật ngữ “ngôi vị” xuất phát chính xác từ nghĩa Kinh Thánh của khuôn mặt, bộ mặt (prosopon).
Đối diện với Đức Giêsu Kitô, chúng ta có một điều gì đó thực tế hơn nhiều để “gắn bó”, để tiếp xúc với con người sống của Ngài: chúng ta có trái tim của Ngài! Khuôn mặt chỉ là một biểu tượng ẩn dụ, bởi vì ai nấy đều biết Thiên Chúa không có khuôn mặt con người; nhưng giờ đây, đối với chúng ta, trái tim sau khi nhập thể là một biểu tượng thực sự – nghĩa là nó vừa là biểu tượng vừa là thực tại –vì chúng ta biết rằng Đức Kitô có một trái tim con người; một trái tim con người đang đập trong Ba Ngôi. Quả thực, nếu Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, thì trái tim của Ngài cũng đã sống lại từ cõi chết; nó sống như tất cả phần còn lại của thân thể Ngài. ở một chiều kích không gian khác với chiều kích thứ nhất – thiêng liêng, không phải xác thịt – nhưng nó sống. Nếu Chiên Con trên trời ”bị giết, nhưng vẫn đứng” (x. Kh 5,6), thì trái tim Ngài cũng chia sẻ cùng một tình trạng; đó là một trái tim bị đâm thâu, nhưng vẫn sống; vĩnh viễn bị đâm thâu, vì vĩnh viễn sống.
Có lẽ đó là sự chắc chắn còn thiếu (hoặc được diễn tả không đầy đủ) trong việc thờ phượng Thánh Tâm theo truyền thống, và có thể góp phần làm mới và làm sống lại một việc thờ phượng như thế. Thánh Tâm không chỉ là trái tim đập trong lồng ngực của Đức Kitô khi Ngài còn ở thế gian, và bị đâm thâu trên thập giá, và chỉ có đức tin và lòng sùng kính, hoặc bất quá thì Thánh Thể có thể duy trì mãi sự hiện diện giữa chúng ta. Thánh Tâm sống không chỉ trong sự sùng kính, mà còn trong thực tế; không chỉ hiện diện trong quá khứ, mà còn trong hiện tại. Lòng sùng kính Thánh Tâm không chỉ hoàn toàn liên kết với một linh đạo tôn vinh Đức Giêsu trần thế và Đấng Bị Đóng Đinh, như trong nhiều thế kỷ của Giáo Hội Latinh, nhưng nó cũng mở ra cho mầu nhiệm phục sinh và vương quyền của Đức Kitô. Mỗi lần chúng ta nghĩ đến trái tim này, chúng ta cảm thấy nó, có thể nói, đang đập ở trên chúng ta, giữa lòng nhiệm thể, chúng ta tiếp xúc với con người hằng sống của Đức Giêsu.
Do đó, lòng sùng kính Thánh Tâm đã không chấm dứt nhiệm vụ của nó khi chủ thuyết Giansêniô (jansénisme) biến mất, nhưng hiện tại vẫn là liều thuốc giải độc tốt nhất chống lại sự trừu tượng, chủ thuyết trí thức và vụ hình thức vốn làm cằn cỗi cả thần học lẫn đức tin. Một trái tim đang đập là thứ phân biệt rõ ràng nhất một thực tại sống động với khái niệm về nó; vì khái niệm có thể chứa đựng mọi thứ cấu thành nên một con người, ngoại trừ trái tim đang đập của anh ta.
