VI. “CON CÓ MẾN THẦY KHÔNG?”
Yêu mến Đức Giêsu
Thánh Tôma phân biệt hai loại lớn về tình yêu: tình yêu nhục dục và tình yêu bạn hữu; phần nào tương ứng với một sự phân biệt khác, phổ biến hơn, giữa eros và agape, giữa tình yêu ước muốn và tình yêu ban tặng. Theo ngài, tình yêu nhục dục là khi ai đó yêu một thứ gì đó (aliquis amat aliquid), nghĩa là khi một người yêu một đồ vật, “đồ vật” không chỉ được hiểu theo nghĩa là thiện ích vật chất hay tinh thần, nhưng còn theo nghĩa con người, khi con người không được yêu mến với tư cách con người, nhưng bị biến thành dụng cụ và chỉ còn là đồ vật. Tình yêu bạn hữu là khi một người yêu một ai đó (aliquis amat aliquem), tức là khi một người yêu một người khác[108].
Vậy mối liên hệ cơ bản ràng buộc chúng ta với Đức Giêsu, với tư cách một con người, chính là tình yêu. Câu hỏi chúng ta đã đặt ra cho mình về thần tính của Đức Kitô là: “Con có tin không?”; câu hỏi mà chúng ta giờ đây phải đặt ra cho mình về ngôi vị Đức Kitô là: “Con có yêu mến Thầy không?” Có một kỳ sát hạch thần học mà mọi tín hữu – chứ không chỉ các nhà thần học – phải trải qua, và kỳ sát hạch này gồm hai câu hỏi bắt buộc cho mọi người. Ở đây vị giám khảo là Đức Kitô. Kết quả của cuộc sát hạch này không tùy thuộc vào việc gia nhập hay không gia nhập hàng tư tế hay thừa tác vụ, cũng không tùy thuộc vào việc gia nhập hay không gia nhập một cấp thần học, nhưng là gia nhập hay không gia nhập đời sống vĩnh cửu. Và hai câu hỏi này chính xác là: “Con có tin không?” và “Con có yêu mến Thầy không?” Nghĩa là bạn có tin vào thần tính của Đức Kitô không? Bạn có yêu mến ngôi vị Đức Kitô không?
Thánh Phaolô đã thốt ra lời khủng khiếp này: “Nếu ai không yêu mến Chúa, thì đó là đồ khốn kiếp” (1Cr 16,22), và Chúa mà Phaolô nói đến chính là Chúa Giêsu Kitô. Về Đức Kitô, có biết bao đồ khốn kiếp đã được nêu ra qua nhiều thế kỷ: những kẻ phủ nhận nhân tính của Ngài, những kẻ phủ nhận thần tính của Ngài, những kẻ phân chia hai bản tính của Ngài, những kẻ nhầm lẫn chúng… Nhưng có lẽ người ta không để ý đủ đến đồ khốn kiếp đầu tiên của Kitô học, do đích thân một Tông Đồ tuyên bố, chống lại những người không yêu mến Đức Giêsu Kitô.
Trong giai đoạn thứ sáu của việc tiếp cận Đức Kitô qua con đường tín lý của Giáo Hội, được Chúa Thánh Thần trợ giúp, chúng ta sắp đối diện với một số câu hỏi liên quan đến tình yêu dành cho Đức Kitô: Tại sao yêu mến Đức Giêsu Kitô? Yêu mến Đức Giêsu Kitô nghĩa là gì? Có thể yêu mến Đức Giêsu Kitô không? Chúng ta có yêu mến Đức Giêsu Kitô không?
1. Tại sao yêu mến Đức Giêsu Kitô?
Động lực đầu tiên để yêu mến Đức Giêsu Kitô và đơn giản nhất, chính là vì Ngài đòi hỏi chúng ta. Trong lần hiện ra sau cùng của Đấng Phục Sinh, được Phúc Âm Gioan thuật lại, có một lúc Đức Giêsu quay sang Simon Phêrô và hỏi ông ba lần liên tiếp: “Này anh Simon, con ông Gioan, anh có mến Thầy không?” (Ga 21,15). Trong câu của Đức Giêsu, động từ agapaô xuất hiện hai lần, thường bao hàm hình thức cao nhất của tình yêu, là agape hoặc bác ái, và một lần là động từ phileo, bao hàm tình yêu bạn hữu, sự yêu thương hoặc cảm tình với ai đó. Như có người nói, “cuối cùng chính về tình yêu mà bạn sẽ bị xét xử”[109], và như chúng ta thấy, đó là điều đã xảy ra: vào cuối cuộc đời của họ với Đức Giêsu, vào cuối Phúc Âm, họ đã được tra vấn về tình yêu, chứ không về điều gì khác.
Cũng như tất cả những lời quan trọng của Đức Kitô trong Phúc Âm, câu “Anh có mến Thầy không?” không chỉ dành cho người nghe nó lần đầu tiên, trong trường hợp này là Phêrô, mà còn dành cho tất cả những người đọc Phúc Âm. Nếu không, Phúc Âm sẽ không phải là cuốn sách vốn chứa đựng những lời “không qua đi” (Mt 24,35). Ngoài ra, làm sao một người biết Đức Giêsu là ai, có thể nghe lời này thốt ra từ môi miệng Ngài mà không cảm thấy bị tra vấn cá nhân, không nhận ra rằng chữ “anh” trong câu “anh có mến Thầy không?” là nói cho mình?
Câu hỏi này đột nhiên đặt chúng ta vào một vị trí độc nhất, tách chúng ta ra khỏi mọi người, chỉ còn một mình, làm cho chúng ta thành một cá nhân, một người. Trước câu hỏi “anh có mến Thầy không?” người ta không thể trả lời qua bất cứ ai hoặc những tổ chức nào làm trung gian. Là thành phần của một thân thể là Giáo Hội, yêu mến Đức Giêsu, điều đó chưa đủ. Chúng ta hãy lưu ý điều đó trong câu chuyện Phúc Âm này, nhưng không vì thế mà muốn làm sai lệch bản văn. Cho đến lúc này, sự việc đang xẩy ra và có nhiều nhân vật: bên cạnh Simon Phêrô, còn có Tôma, Nathanaen, hai người con ông Dêbêđê và hai môn đệ khác. Họ đã cùng nhau đánh cá, cùng ăn, cùng nhận ra Chúa. Nhưng giờ đây, trước câu hỏi này của Đức Giêsu, mọi sự và mọi người đột nhiên biến đâu mất tăm, như chìm vào hư vô. Một không gian thân mật được tạo ra trong đó chỉ còn Đức Giêsu và Phêrô, diện đối diện. Vị Tông Đồ chỉ còn một mình và bị tách ra khỏi những người khác do câu Chúa hỏi bất ngờ: “Anh có mến Thầy không?” Một câu hỏi mà không ai khác có thể trả lời thay Phêrô, Phêrô phải tự mình trả lời, chứ không phải – như rất nhiều lần Phêrô đã làm – nhân danh mọi người khác. Và trên thực tế, chúng ta thấy rằng dưới tác động của ba câu hỏi liên tiếp nhau, Phêrô buộc phải trở lại với chính mình và sau hai câu trả lời đầu tiên, tự phát nhưng hời hợt, đến câu trả lời cuối cùng, nhờ câu này mà chúng ta thấy lộ ra nơi Phêrô tất cả ý thức về quá khứ của mình, và cũng là một sự khiêm tốn lớn lao: “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự. Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21,17).
Vậy chúng ta phải yêu mến Đức Giêsu, vì chính Ngài đòi chúng ta như vậy. Nhưng cũng vì một động lực khác nữa: vì Ngài yêu chúng ta trước. Hơn bất cứ điều gì khác, điều này đã làm Tông Đồ Phaolô phấn khởi. Ngài viết: “Ngài đã yêu mến tôi, và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20). Phaolô còn nói: “Tình yêu Đức Kitô thôi thúc tôi, vì chúng tôi nghĩ rằng một người đã chết thay cho mọi người” (2Cr 5,14). Việc Đức Giêsu yêu chúng ta trước, đến độ hiến mạng sống vì chúng ta, đã “thôi thúc chúng ta”, hoặc – còn có thể dịch là – “thôi thúc chúng ta từ mọi phía”, “thôi thúc chúng ta từ bên trong”. Đây là luật rất quen thuộc theo đó tình yêu “không cho phép người được yêu mà không yêu lại”[110]. Một bài thánh thi của Giáo Hội đã ca lên: “Ai mà không yêu lại Đấng đã yêu chúng ta như thế?”[111] Tình yêu chỉ có thể được đáp lại bằng tình yêu. Không có cách nào khác tương xứng.
Sau đó, chúng ta phải yêu mến Đức Giêsu, đặc biệt là vì Ngài xứng đáng với tình yêu và bản thân Ngài đáng yêu. Ngài quy tụ nơi mình mọi vẻ đẹp, mọi sự hoàn hảo và mọi sự thánh thiện. Trái tim của chúng ta cần “một cái gì đó uy nghi” để yêu; chính vì vậy, ngoài Ngài ra, không gì có thể làm nó thỏa mãn hoàn toàn. Nếu Cha trên trời, như đã chép, “hài lòng về Ngài”, nếu người Con là con yêu dấu của Người (x. Mt 3,17; 17,5), thì làm sao Ngài lại không phải là Đấng yêu dấu của chúng ta? Nếu Ngài hoàn toàn làm thỏa mãn khả năng yêu thương vô tận của Thiên Chúa Cha, thì Ngài lại không đáp ứng khả năng yêu thương của chúng ta hay sao?
Ngoài ra, người ta phải yêu mến Đức Giêsu, vì ai yêu mến Ngài thì được Chúa Cha yêu mến. Ngài nói: “Ai yêu mến Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến” và: “Chính Chúa Cha yêu mến anh em, vì anh em đã yêu mến Thầy” (x. Ga 14,21.23; 16,27).
Chúng ta phải yêu mến Đức Giêsu, vì chỉ ai yêu mến Ngài mới biết Ngài. Ngài nói: “Ai yêu mến Thầy, Thầy sẽ tỏ mình cho người ấy” (x. Ga 14,21). Nếu câu ngạn ngữ “người ta chỉ yêu (muốn) những gì người ta biết” (nihil volitum quin praecognitum) là đúng, thì điều ngược lại cũng đúng, đặc biệt khi nói đến những sự việc thần linh, đó là: người ta chỉ biết những gì người ta yêu. Thánh Augustinô diễn tả điều này bằng câu nói: “Người ta chỉ đi vào chân lý nhờ đức ái”[112]. Trực giác này cũng đã được lấy lại và làm nổi bật trong một số trào lưu tư tưởng hiện đại, chẳng hạn như hiện tượng luận và chủ nghĩa hiện sinh[113]. Nhưng khi nói đến Đức Kitô và Thiên Chúa, thì trên hết chính kinh nghiệm thường xuyên của các thánh và của tất cả các tín hữu làm nổi bật điều đó. Nếu không có tình yêu đích thực, được Chúa Thánh Thần linh hứng, thì Đức Giêsu mà người ta biết, qua những phân tích Kitô học tinh tế và xuất sắc nhất, không phải là Đức Giêsu thật, mà là một cái gì khác. Đức Giêsu đích thực, thì không phải “xác thịt cũng không phải máu huyết” – nghĩa là trí thông minh và sự tìm tòi của con người – mạc khải Ngài, nhưng là “Chúa Cha, Đấng ngự trên trời” (x. Mt 16,17), và Chúa Cha thì không mạc khải điều đó cho những kẻ tò mò, nhưng cho những ai yêu mến; Người không mạc khải cho những người có học, cũng không cho những bậc khôn ngoan thông thái, nhưng cho những kẻ bé mọn (x. Mt 11,25).
Cuối cùng, chúng ta phải yêu mến Đức Giêsu vì chỉ khi yêu mến Ngài, chúng ta mới có thể tuân giữ lời Ngài và thực hành các điều răn của ngài. Chính Ngài đã nói: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14,15-24). Điều đó có nghĩa là không thể trở thành một Kitô hữu cách nghiêm túc, nghĩa là tuân giữ cách cụ thể các lệnh truyền và những đòi hỏi triệt để của Phúc Âm, nếu không có một tình yêu đích thực dành cho Đức Giêsu Kitô. Và giả sử có người đã làm được điều đó, thì cách nào cũng sẽ vô ích; không có tình yêu, điều đó không giúp ích gì cho người đó. Cho dù ai đó không có lòng bác ái mà phó thân xác mình cho lửa đỏ, thì cũng chẳng ích gì cho người đó (x. 1Cr 13,3). Không có tình yêu, chúng ta thiếu sức mạnh để hành động và vâng lời. Ngược lại, người có tình yêu thì có đôi cánh, không gì là không thể, cũng không gì quá khó khăn đối với người đó.
2. Yêu mến Đức Giêsu Kitô có nghĩa gì?
Câu hỏi “Yêu mến Đức Giêsu Kitô có nghĩa gì?” có thể có một ý nghĩa rất thực tế: biết những gì hàm chứa trong việc yêu mến Đức Giêsu, tình yêu dành cho Ngài hệ tại ở những gì. Trong trường hợp này, câu trả lời rất đơn giản và chính Đức Giêsu đã đưa ra cho chúng ta trong Phúc Âm. Yêu không phải là nói “Lạy Chúa, lạy Chúa!” nhưng là làm theo ý Chúa Cha và giữ lời Người (x. Mt 7,21). Đối với các thụ tạo – vợ chồng, con cái, cha mẹ, bạn bè – “yêu” có nghĩa là tìm kiếm điều tốt cho người mình yêu, mong muốn điều tốt cho người đó và tìm kiếm điều tốt cho người đó… Nhưng chúng ta có thể mong muốn “điều tốt” nào cho Đức Giêsu phục sinh, mà Ngài đã có? Đối với Đức Kitô, tìm kiếm điều tốt của Ngài có nghĩa hoàn toàn khác. “Điều tốt” của Ngài – hay đúng hơn, “lương thực” của Ngài – là ý muốn của Cha Ngài. Chính vì thế yêu mến Đức Giêsu, hoặc tìm kiếm điều tốt của Ngài, chủ yếu có nghĩa là cùng Ngài thi hành ý muốn của Cha Ngài. Làm điều đó luôn đầy đủ hơn, luôn vui vẻ hơn. Đức Giêsu nói: “Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là mẹ tôi” (Mc 3,35). Theo Ngài, những phẩm chất đẹp đẽ nhất của tình yêu được tóm tắt trong việc làm tròn thánh ý Chúa Cha.
Chúng ta dám nói rằng tình yêu dành cho Đức Giêsu không hệ tại ở lời nói hay tình cảm tốt đẹp, nhưng ở hành động; làm như Ngài đã làm, là Đấng yêu thương chúng ta không chỉ bằng lời nói, nhưng bằng việc làm. Và những việc làm vĩ đại làm sao! Ngài “đã hủy mình ra không” vì chúng ta; vốn giàu có nhưng đã trở nên nghèo khó. Chân phước Angêla Folignô một hôm nghe Đức Kitô nói với mình: “Ta yêu ngươi, không phải chuyện đùa!”, những lời này gần như làm cho bà đau đớn chết đi được, khi nhận ra rằng so với tình yêu của Ngài, tình yêu của bà dành cho Ngài cho đến lúc đó chính xác chỉ là một chuyện đùa[114].
Nhưng tôi muốn xem xét câu hỏi: “Yêu mến Đức Giêsu Kitô có nghĩa gì?” từ một góc độ ít dự đoán hơn và ít thông thường hơn. Có hai điều răn liên quan đến tình yêu. Thứ nhất: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi”, và thứ hai “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mt 22,37-39). Tình yêu mà chúng ta đang nói đối với con người Đức Kitô, đứng ở chỗ nào? Ngài đề cập điều răn nào trong hai điều răn đó? Và còn nữa: Đức Kitô có phải là đối tượng tối thượng và cuối cùng của tình yêu của con người, hay chỉ là đối tượng áp chót? Phải chăng Ngài chỉ là con đường dẫn đến tình yêu Thiên Chúa, nơi mà Ngài là kết quả của tình yêu ấy?
Những vấn đề này cực kỳ quan trọng đối với đức tin Kitô giáo và đời sống cầu nguyện của các linh hồn, và phải công nhận rằng có sự không chắc chắn và mơ hồ đáng kể về chúng, ít nhất trong thực tế. Có những khảo luận về yêu mến Thiên Chúa (De diligendo Deo), trong đó người ta nói bằng mọi cách về eros theos, tuy nhiên không chỉ rõ tình yêu dành cho Chúa Kitô được xen vào đó theo cách nào: đó là cùng một chuyện, hoặc ngược lại, đó là tình yêu dành cho Thiên Chúa, không có sự bổ sung nào khác, tạo nên một cấp cao hơn, một đối tượng yêu cao hơn. Đương nhiên, mọi người đều tin chắc rằng sau Đức Kitô, vấn đề tình yêu của con người đối với Thiên Chúa không được đặt ra cùng một cách như đã được đặt ra trước Ngài, hoặc như được đặt ra bên ngoài Kitô giáo. Việc nhập thể của Ngôi Lời không chỉ mang lại trên thế giới một động lực bổ sung để yêu mến Thiên Chúa, hoặc một gương mẫu bổ sung – gương mẫu cao cả nhất – của tình yêu này. Việc nhập thể đã mang đến một điều mới lạ hơn nhiều: đã mạc khải một khuôn mặt mới của Thiên Chúa và do đó, một cách mới để yêu mến Người, một “hình thức” mới của tình yêu Thiên Chúa. Nhưng người ta không phải lúc nào cũng rút ra được những hậu quả từ điều đó; hoặc những hậu quả này không phải lúc nào cũng được giải thích đủ rõ.
Chắc chắn, cho đến thời có Quy luật thánh Biển Đức, người ta lặp đi lặp lại câu châm ngôn: “Không gì được đi trước tình yêu Đức Kitô”[115]. Sách Gương Chúa Giêsu Kitô có một chương đáng chú ý với tựa đề: “Yêu mến Đức Giêsu Kitô trên hết mọi sự”[116] và thánh Anphong Maria de Liguori đã viết một cuốn sách nhỏ rất phổ biến, có tựa đề: Thực hành lòng yêu mến Đức Giêsu Kitô. Nhưng trong tất cả những trường hợp này, người ta thực hiện sự so sánh, từ Đức Kitô trở xuống, có thể nói như vậy, cụ thể là giữa Ngài với tất cả các tạo vật khác. Điều này có nghĩa là không nên ngẫu nhiên coi trọng một điều gì đó thuộc lãnh vực con người hơn yêu mến Đức Kitô, kể cả chính chúng ta. Ngược lại, vẫn còn đó câu hỏi liệu một điều gì đó thuộc lãnh vực thần linh có nên ngẫu nhiên được coi trọng hơn yêu mến Đức Kitô hay không.
Điều đó đặt ra một vấn đề thực sự, nếu chúng ta tham khảo một số tiền lệ lịch sử. Thật vậy, Origen, chịu ảnh hưởng của quan niệm Platon về thế giới – hoàn toàn thấm nhuần khuynh hướng vượt lên trên tất cả những gì liên quan đến thế giới hữu hình này – đã xác định một nguyên tắc, vốn đã ảnh hưởng mạnh trên sự phát triển của linh đạo Kitô giáo. Nó cho thoáng thấy một mục tiêu bên ngoài mục tiêu yêu mến Đức Kitô, với tư cách Ngôi Lời nhập thể; nó loan báo một giai đoạn hoàn hảo hơn của tình yêu đối với Đức Kitô: giai đoạn chiêm ngưỡng và yêu mến Ngôi Lời, hoàn toàn trong hình dạng thần linh của Ngài, như Ngài đã như thế trước khi nhập thể, do đó không kể gì đến hình dạng nhân loại của Ngài. Nói cách khác, người ta yêu mến Ngôi Lời Thiên Chúa, chứ không phải Đức Giêsu Kitô. Theo Origen, sự nhập thể là cần thiết để thu hút các linh hồn, giống như nước hoa phải tỏa ra bên ngoài, bên ngoài chiếc bình nguyên thủy của nó, để người ta có thể ngửi thấy nó. Nhưng một khi bị hương thơm thần linh thu hút, các linh hồn đạt tới, không phải là hương thơm đơn thuần, nhưng là yếu tính của nó[117].
Ý tưởng về một điều gì đó ở trên tình yêu dành cho Đức Kitô đã thỉnh thoảng xuất hiện trở lại trong nhiều thế kỷ dưới hình thức một “thuyết thần bí về yếu tính thần linh”. Người ta định nghĩa nó như cấu thành đỉnh cao tuyệt đối của tình yêu thần linh, sự chiêm ngưỡng và kết hợp với chính yếu tính của Thiên Chúa, ở dạng tinh tuyền nhất, không hình dạng và không danh xưng, như được thực hiện trong chỗ sâu thẳm của linh hồn, hoàn toàn không có bất cứ hình ảnh rõ rệt nào, dù đó là hình ảnh của Đức Kitô và cuộc khổ nạn của Ngài. Nói về việc linh hồn chìm “trong vực thẳm khôn dò của thần tính”, Maitre Eckhart cho người ta cảm tưởng được thấy “đáy của linh hồn”, hơn là con người Đức Kitô, như địa sở và phương tiện gặp gỡ Thiên Chúa mà không có trung gian. Ông viết: “Sức mạnh của linh hồn đạt tới Thiên Chúa trong hữu thể chủ yếu của Người, được tước bỏ hết mọi sự”[118].
Thánh Têrêsa Avila cảm thấy cần phải chống lại xu hướng này, là khuynh hướng cũng tồn tại vào thời của bà trong một số môi trường tu đức. Bà làm như vậy, trong một trang nổi tiếng, nơi bà khẳng định rất mạnh mẽ rằng không có một giai đoạn nào của đời sống thiêng liêng, thậm chí cao nhất, mà người ta có thể – hoặc tệ hơn, phải – bỏ qua nhân tính của Đức Kitô, để chỉ trú ngụ trong yếu tính thần linh[119]. Thánh nữ giải thích làm thế nào mà một chút kiến thức và chiêm niệm đã có lúc khiến bà rời xa nhân tính của Đấng Cứu Thế và ngược lại, sự tiến bộ của bà trong kiến thức và chiêm niệm đã vĩnh viễn đưa nhân tính ấy trở lại.
Một sự kiện rất có ý nghĩa là, trong lịch sử linh đạo Kitô giáo, khuynh hướng bênh vực cho sự kết hợp trực tiếp với yếu tính thần linh đã luôn bị coi là đáng ngờ (như trường hợp liên quan đến chủ thuyết thần bí suy lý vùng sông Rhin thế kỷ 15, và sau này, liên quan đến những người được gọi là “những người được soi sáng” (illuminés), và trên hết là vì khuynh hướng này không sản sinh ra vị thánh nào được Giáo Hội công nhận, ngay cả khi nó để lại những tác phẩm có giá trị tôn giáo và suy lý rất cao.
Vấn đề mà tôi đã đề cập cho đến lúc này lại mang tính thời sự ngày nay, trong một bối cảnh khác, do sự truyền bá, giữa các Kitô hữu, những kỹ thuật cầu nguyện và các hình thức linh đạo có nguồn gốc Đông phương. Theo quan điểm của đức tin Kitô giáo, đây không phải là những thực hành tự nội tại là xấu; một cách nào đó, chúng cũng thuộc về “việc chuẩn bị Phúc Âm” rộng lớn, mà theo một số Giáo Phụ, một số trực giác của người Hy Lạp cũng góp phần vào đó. Thánh Giustinô tử đạo nói rằng tất cả những gì được bất cứ ai nói hoặc phát minh là tốt, đều thuộc về các Kitô hữu, khi họ tôn thờ Ngôi Lời toàn thể, mà tất cả những “hạt giống chân lý” này chỉ là những biểu hiện một phần và tạm thời[120]. Trên thực tế, Giáo Hội sơ khai đã tuân theo nguyên tắc này, chẳng hạn như trong thái độ đối với các tôn giáo và giáo phái bí ẩn vào thời đó, nói chung cũng có nguồn gốc từ châu Á. Trên thực tế, tuy bác bỏ tất cả nội dung thần thoại và thần tượng trong các giáo phái như thế, nhưng Giáo Hội đã không ngần ngại sử dụng ngôn ngữ cũng như một số nghi thức và biểu tượng của những giáo phái này khi trình bày các mầu nhiệm Kitô giáo. Cho dù không được phóng đại ảnh hưởng của các giáo phái bí ẩn đối với phụng vụ Kitô giáo, nhưng không vì vậy mà phải phủ nhận nó hoàn toàn.
Chính vì điều đó mà một văn kiện gần đây của huấn quyền, dành cho vấn đề của những hình thức linh đạo Đông phương này, quả quyết rằng “người ta không nên đánh giá thấp, theo một cách đầy thành kiến, những chỉ dẫn này, như là những cách không phải Kitô giáo”[121]. Tuy nhiên, cũng văn kiện ấy của huấn quyền có lý để cảnh báo các tín hữu về nguy cơ đưa vào, đồng thời với các kỹ thuật cầu nguyện và suy niệm, những nội dung xa lạ với đức tin Kitô giáo. Điểm tế nhị nhất chính là điều liên quan đến chỗ đứng của Đức Giêsu Kitô, con người–Thiên Chúa. Theo lôgíc nội tại của Ấn giáo và Phật giáo – mà những kỹ thuật suy niệm này nói chung lấy hứng từ đó – cần phải vượt ra ngoài tất cả những gì riêng biệt, nhạy cảm và lịch sử, để đắm mình trong Đại Ngã, hoặc Hư Vô, thần linh. Do đó, những kỹ thuật này có thể dẫn đến việc âm thầm gạt sang một bên việc suy niệm về Đức Giêsu, trong khi đối với Kitô hữu chúng ta, Đức Giêsu là khả năng duy nhất được ban cho loài người để đạt tới vĩnh cửu và Đấng Tuyệt Đối. Vậy, không những không được bỏ qua Đức Kitô để đến với Thiên Chúa, mà chúng ta chỉ đến với Thiên Chúa “nhờ Ngài” (x. Ga 14,6). Ngài là “Con Đường và Sự Thật”, nghĩa là, không chỉ là phương tiện để đến, mà còn là điểm đến.
Vậy, những hình thức linh đạo này là tích cực, trên con đường dẫn đến Đức Giêsu, nhưng chúng hoàn toàn thay đổi ý nghĩa và trở nên tiêu cực, kể từ lúc, thay vì được đặt “trước” Đức Kitô, chúng được coi là giai đoạn cao hơn dẫn đến “bên ngoài” Đức Kitô. Trong trường hợp này, chúng rơi vào loại cố gắng “vượt quá” đức tin, điều mà Gioan đã trách những người theo thuyết Ngộ đạo ngày xưa (x. 2Ga 9). Đó là từ bỏ đức tin để tin tưởng vào việc làm. Đó là lại hài lòng với “các yếu tố của thế gian” và không biết rằng “sự viên mãn của thần tính” cư ngụ nơi Đức Kitô. Đó là lặp lại sai lầm mà thánh Tông Đồ sẽ khiển trách người Côlôssê (x. Cl 2,8-9).
Tuy nhiên, trong toàn bộ vấn đề mà các Kitô hữu viện dẫn các hình thức linh đạo Đông phương, có lẽ phê bình thôi chưa đủ, nhưng phải công nhận rằng tự phê bình cũng cần thiết. Nói cách khác, chúng ta phải tự hỏi tại sao một hiện tượng như vậy lại xảy ra, tại sao rất nhiều người, những người đang tìm kiếm một kinh nghiệm cá nhân và sống động về Thiên Chúa, lại tìm kiếm nó bên ngoài các cơ cấu và cộng đồng của chúng ta. Nếu người ta tìm kiếm Thần Khí mà không có Đức Kitô, có lẽ cũng vì người ta giới thiệu cho chúng ta một Đức Kitô và một Kitô giáo không có Thần Khí.
Nhưng chúng ta hãy xem làm thế nào mà tín điều về sự độc nhất của ngôi vị Đức Kitô lại có thể cung cấp một câu trả lời tương xứng cho tất cả các vấn đề do thuyết thần bí về yếu tính thần linh đặt ra trong quá khứ, và, ngày nay là do sự phổ biến của các hình thức linh đạo Đông phương. Nói cách khác, chúng ta hãy xem làm thế nào người ta có thể đưa ra một sự biện minh thần học cho lời khẳng định, theo đó tuyệt đối không được đặt bất cứ điều gì lên trên tình yêu đối với Đức Kitô, cả trong lãnh vực của con người, lẫn trong lãnh vực của Thiên Chúa. Ai là giới hạn cuối cùng của tình yêu? Ai là đối tượng của tình yêu? Ở trên, chúng ta đã thấy rằng tình yêu nhục dục, hay eros, cũng có thể dẫn đến mọi sự, trong khi tình yêu bạn hữu, hay agapè, đang được đề cập trong trường hợp của chúng ta, chỉ có thể dẫn đến ngôi vị với tư cách ngôi vị. Nhưng ngôi vị của Đức Kitô là ai? Chắc chắn, trong những Kitô học nói về Đức Kitô như một “ngôi vị nhân loại” (personne humaine), mọi sự đều khác. Chúng không chỉ có thể, mà còn có nhiệm vụ cuối cùng phải siêu vượt chính Đức Kitô, nếu chúng không muốn ở lại trong lãnh địa của thụ tạo. Tuy nhiên, nếu với đức tin của Giáo Hội, chúng ta cho rằng Đức Kitô là một “ngôi vị thần linh” (personne divine), ngôi vị của Con Thiên Chúa, thì tình yêu Đức Kitô cũng chính là tình yêu Thiên Chúa. Không có sự khác biệt về phẩm chất. Đúng hơn, đó là hình thức mà tình yêu Thiên Chúa đã đảm nhận, cho con người, như là hệ quả của việc nhập thể. Đấng đã nói: “Ai ghét Thầy thì cũng ghét Cha Thầy” (Ga 15,23), thì cũng có thể nói như thế này: “Ai yêu mến Thầy, thì cũng yêu mến Cha Thầy”. Trong Đức Kitô, chúng ta trực tiếp đến với Thiên Chúa, không qua trung gian. Ở trên tôi đã nói rằng yêu mến Đức Giêsu, muốn điều tốt cho Ngài, về cơ bản có nghĩa là làm theo ý muốn của Chúa Cha; nên chúng ta thấy Đức Giêsu, thay vì tạo ra sự khác biệt và thấp kém trong tương quan với Chúa Cha, lại tạo ra sự bình đẳng. Chúa Con ngang bằng với Chúa Cha, chính vì lệ thuộc tuyệt đối vào Chúa Cha.
Nếu ý nghĩa vĩnh cửu của định tín Nicêa là, trong mọi thời đại và mọi văn hóa, Đức Kitô phải được tuyên bố là “Thiên Chúa” – không phải theo nghĩa phái sinh, hoặc thứ cấp, nhưng theo nghĩa mạnh nhất của từ “Thiên Chúa” trong văn hóa này – khi đó, cũng đúng là Đức Kitô không phải được yêu bằng một tình yêu thứ cấp hoặc phái sinh, nhưng phải được yêu như là Thiên Chúa. Nói cách khác, trong bất cứ văn hóa nào người ta không thể quan niệm một lý tưởng cao hơn lý tưởng yêu mến Đức Giêsu Kitô.
Tuy nhiên, đúng là Đức Giêsu cũng là “con người” và, với tư cách là con người, đối với chúng ta Ngài là một người “thân cận”, một người “anh em”, như chính Ngài đã nói (x. Mt 28,10), và, hơn nữa, là “trưởng tử giữa đàn em” (Rm 8,29). Chính vì thế Ngài cũng phải được yêu, bằng tình yêu khác. Ngài là tột đỉnh, không những của điều răn thứ nhất, mà còn của điều răn thứ hai. Ngài là tổng hợp của hai điều răn lớn nhất, nơi Ngài hai điều răn, theo một nghĩa nào đó, trở thành một điều răn độc nhất. Như thánh Lêô Cả đã nói, Ngài “hoàn toàn đứng về phía Thiên Chúa và hoàn toàn đứng về phía chúng ta”. Vả lại chính Ngài đã đồng hóa mình với người thân cận, khi quả quyết rằng những gì người ta làm cho người anh em nhỏ bé nhất của Ngài, là làm cho chính Ngài (x. Mt 25,35-40).
Có một số nhà tư tưởng và thần học gia lớn, tuy không đặt vấn đề trong cùng hạn từ như chúng ta, nhưng đã nhận thức và diễn đạt cách hoàn hảo đòi hỏi trọng tâm này của đức tin Kitô giáo. Thánh Bonaventura là một trong số đó. Không có sự khác biệt giữa Đức Kitô và Thiên Chúa đối với điều răn lớn về tình yêu. Đôi khi đối tượng của ngài là Thiên Chúa, đôi khi đó là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Bình luận về điều răn này, ngài viết: “Người ta phải yêu mến Đức Giêsu Kitô hết lòng và hết linh hồn mình”[122]. Đối với ngài, tình yêu của Đức Kitô là hình thức dứt khoát và thích hợp của tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta. Ngài cho Ngôi Lời Thiên Chúa lên tiếng: “Đây là lý do tại sao Ta đã được tạo dựng thành con người hữu hình, để khi được ngươi nhìn thấy, Ta có thể được ngươi yêu mến, trong khi trước đây, Ta không được ngươi yêu mến, vì Ta vô hình và không thể thấy được trong thần tính của Ta. Do đó, hãy đền bù cho sự nhập thể và cuộc khổ nạn của ta, vì ngươi mà Ta đã nhập thể và chịu khổ nạn. Ta đã hiến thân cho ngươi, thì ngươi hãy hiến thân cho Ta”[123].
Quan điểm của Cabasilas, người đại diện cho một trào lưu tư tưởng Đông phương phong phú, còn rõ ràng và can đảm hơn. Nếu tôi trích dẫn tương đối thường xuyên tác giả khá ít được biết đến của thời Trung cổ byzantin này, đó là vì tôi cho rằng tác phẩm Đời sống trong Đức Kitô của ông là một trong những kiệt tác của văn học thần học–tu đức của Kitô giáo. Nó hoàn toàn dựa vào trực giác cơ bản sau đây, vừa đơn giản lại vừa vĩ đại: con người, được tạo dựng trong Đức Kitô và cho Đức Kitô, chỉ tìm thấy sự hoàn thành và yên nghỉ của mình trong tình yêu dành cho Đức Kitô. Ông viết: “Mắt được tạo ra cho ánh sáng, thính giác cho âm thanh, và mỗi vật cho những gì nó hướng tới. Nhưng khao khát của linh hồn chỉ hướng tới Đức Kitô mà thôi. Đó là nơi yên nghỉ của nó, vì chỉ mình Ngài là Sự Thiện, Sự Thật và tất cả những gì gợi hứng cho tình yêu. Con người hướng về Đức Kitô, theo bản tính, theo ý muốn, theo tư tưởng của mình, không chỉ vì thần tính của Đức Kitô, là mục tiêu tối cao của mọi sự, mà còn vì nhân tính của Ngài; trong Đức Kitô, tình yêu của con người tìm thấy sự yên nghỉ, Đức Kitô tạo nên niềm vui trong những tư tưởng của nó”[124]. Khẳng định nổi tiếng, do Augustinô đưa ra, khi nói với Thiên Chúa: “Chúa đã tạo dựng chúng con cho Chúa và tâm hồn chúng con không được yên nghỉ cho đến khi được yên nghỉ trong Chúa”[125], rõ ràng – và có lẽ tự ý – được Cabasilas áp dụng cho Đức Kitô. Chính Ngài là “nơi yên nghỉ của chúng ta”, nơi mà những khát vọng sâu xa nhất của tâm hồn con người hướng tới; không như một đối tượng khác, liên quan tới đối tượng mà hạn từ “Thiên Chúa” bao hàm, nhưng như cùng một đối tượng, trong hình thức mà Ngài muốn mặc lấy vì chúng ta, và Ngài đã tiên liệu từ trước muôn đời.
Vì thế, hoàn toàn không có vấn đề bỏ qua hoặc san bằng vô số cách thức mà các linh hồn tiếp cận với Chúa, và những cách thức này tùy thuộc vào sự đa dạng của các ân huệ được ban cho mỗi người, hoặc tùy thuộc vào tâm lý và cấu trúc trí tuệ của con người. Tình yêu và lời cầu nguyện của một số người hướng về Chúa Cha nhiều hơn, của một số người khác hướng về Đức Giêsu Kitô, của những người khác nữa về Chúa Thánh Thần, hoặc về Thiên Chúa Ba Ngôi, trong toàn thể, để họ yêu mến, cầu nguyện và ca ngợi “Chúa Cha, qua trung gian Chúa Con, trong Chúa Thánh Thần”. Cuối cùng, có những linh hồn chỉ hướng lời cầu nguyện của họ về “Thiên Chúa”, hiểu là Thiên Chúa Ba Ngôi trong Kinh Thánh, như Angela Foligno, người đã kêu lên: “Con muốn Thiên Chúa”. Đó là tất cả những cách tốt, được các thánh cảm nghiệm rộng rãi, và thường thay thế nhau, trong cuộc sống của cùng một người. Vì các ngôi Thiên Chúa thâm nhập lẫn nhau, yêu một ngôi là yêu cả ba ngôi, vì mỗi ngôi ở trong cả ba, và ba ngôi ở trong mỗi ngôi, nhờ quyền năng của sự đơn nhất về bản tính và ý muốn của các Ngài. Điều tôi muốn nói chỉ là bất cứ ai yêu mến Đức Giêsu Kitô thì không vì thế mà ở mức độ kém hơn, ở giai đoạn không hoàn hảo, nhưng ở cùng một mức độ như người yêu mến Chúa Cha.
3. Vun trồng lòng yêu mến Đức Giêsu như thế nào?
Vậy đây là cách mà tôi đã cố gắng trả lời câu hỏi: “Yêu mến Đức Giêsu Kitô có nghĩa gì?” nhưng tôi biết rõ rằng những gì tôi đã nói chẳng là gì so với những gì có thể nói và những gì các thánh có thể diễn tả. Một bài thánh thi phụng vụ, thường được đọc trong các ngày lễ về Đức Giêsu, có những lời lẽ như sau[126]:
Không lưỡi nào có thể nói
không chữ nào có thể diễn tả nó
người có kinh nghiệm có thể tin
yêu mến Đức Giêsu là gì.
Sự đóng góp của chúng ta chỉ có thể hệ tại ở chỗ lượm những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống (x. Mt 15,27), nghĩa là góp phần tạo nên kho tàng kinh nghiệm của những người yêu mến Đức Giêsu. Chính những người đã có kinh nghiệm mà chúng ta phải chạy đến, để học hỏi nghệ thuật yêu mến Đức Giêsu Kitô. Chẳng hạn, đến với thánh Phaolô, người muốn được giải thoát khỏi thân xác của mình, để được “ở với Đức Kitô” (x. Pl 1,23), hay với thánh Ignatiô Antiôkia, người sắp chịu tử đạo, đã viết: “Thật là tốt khi được rời bỏ thế gian vì Chúa và sống lại với Người. Tôi chỉ muốn thấy Đức Giêsu Kitô… Tôi tìm Đấng đã chết vì tôi, tôi muốn Đấng đã sống lại vì tôi!”[127]
Nhưng liệu chúng ta có thể yêu mến Đức Giêsu không, khi mà Ngôi Lời sự sống không còn được thấy, được sờ, cũng không được chiêm ngưỡng bằng con mắt xác thịt của chúng ta? Chính thánh Lêô Cả đã nói: “Mọi sự hữu hình nơi Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, kể từ khi Ngài thăng thiên, đều được chuyển qua các bí tích của Giáo Hội”[128]. Vì vậy, chính nhờ các bí tích, và đặc biệt hơn là Thánh Thể, tình yêu của Đức Kitô được nuôi dưỡng, vì trong các bí tích đó, sự kết hợp khôn tả với Ngài được thực hiện. Sự kết hợp mạnh mẽ hơn sự kết hợp của các cành và cây nho, hơn sự kết hợp của vợ chồng và bất cứ hình thức kết hợp nào khác. Có thể “yêu Đức Giêsu Kitô, vì lý do mà chúng ta đã làm sáng tỏ trong chương trước: bởi vì Ngài là một ngôi vị sống và “hiện hữu”. Do đó, Ngài không chỉ là một nhân vật thuộc về lịch sử, hay đối tượng của một phạm trù triết học, nhưng là một “người bạn”, mà vì thế chúng ta có thể yêu bằng tình yêu và tình bạn.
Có vô số cách để vun trồng tình bạn này với Đức Giêsu và trong vấn đề này, mỗi người đều có những ưu đãi, ân huệ và cách thức riêng của mình. Đó có thể là lời của Ngài, trong đó chúng ta cảm thấy Ngài sống động và đang đối thoại với chúng ta; đó có thể là lời cầu nguyện. Nhưng dù thế nào đi nữa, cũng cần phải có sự xức dầu của Thần Khí, vì chỉ có Chúa Thánh Thần mới biết Đức Giêsu là ai và mới biết khơi dậy lòng yêu mến Đức Giêsu.
Tôi muốn nhấn mạnh một phương tiện luôn được truyền thống yêu thích, đặc biệt của Giáo Hội Chính thống: nhớ đến Đức Giêsu. Chính Ngài đã làm cho các môn đệ phải nhớ đến Ngài khi Ngài nói: “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19). Ký ức là cửa của tâm hồn. Cabasilas còn thêm: “Bởi vì nỗi buồn tràn đầy ân sủng phát sinh từ tình yêu dành cho Đức Kitô, và tình yêu phát xuất từ những suy nghĩ lấy Đức Kitô và tình yêu của Ngài dành cho con người làm đối tượng, nên thật tuyệt vời khi lưu giữ những suy nghĩ như vậy trong ký ức, trở lại trong tâm trí và không bao giờ ngừng quan tâm đến chúng… Nghĩ đến Đức Kitô là mối bận tâm đặc biệt của các linh hồn đã được rửa tội”[129]. Thánh Phaolô đã thiết lập mối liên hệ giữa Đức Kitô và ký ức của Ngài. Ngài nói: “Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi vì chúng tôi nghĩ (krinantas) rằng một người đã chết cho mọi người” (2Cr 5,14). Khi chúng ta suy nghĩ và cân nhắc trong tâm trí (chính là ý nghĩa của krinantas), sự kiện này, tức là Đức Kitô đã chết cho chúng ta, cho mọi người, chúng ta như thể bị thôi thúc lại yêu mến Đức Giêsu. Ý nghĩ – hay ký ức – về Ngài đã “hâm nóng” tình yêu dành cho Ngài.
Theo nghĩa này, chúng ta có thể nói, để yêu mến Đức Giêsu Kitô, cần phải khám phá lại và vun trồng một sở thích nào đó về nội tâm và chiêm niệm. Thánh Tông Đồ chỉ cho chúng ta con đường: trong mức độ “con người bên trong được củng cố” nơi chúng ta, Đức Kitô ngự trong lòng chúng ta bằng đức tin; khi đó, được bén rễ và đặt nền tảng trong đức ái, chúng ta mới hiểu được chiều rộng, chiều dài, chiều cao, chiều sâu và mới biết được “tình yêu của Đức Kitô vượt quá mọi hiểu biết” (x. Ep 3,14-19). Do đó, cần phải bắt đầu bằng cách củng cố con người bên trong, mà đối với một tín hữu, điều này có nghĩa là yêu nhiều hơn, tin nhiều hơn, hy vọng nhiều hơn, để bản thân mình được Thần Khí hướng dẫn nhiều hơn. “Chính Đức Kitô ở trong chúng ta, Đấng ban cho chúng ta niềm hy vọng đạt tới vinh quang” (x. Cl 1,27): đây chính là định nghĩa về nội tâm Kitô giáo.
Cơ hội hay ân sủng lớn nhất mà một người trẻ có thể có – đặc biệt nếu anh được kêu gọi làm linh mục, hoặc loan báo Đức Kitô cho anh em mình – là biến Đức Kitô thành lý tưởng của đời mình, thành “anh hùng” mà người ta say mê và muốn làm cho mọi người biết đến. Say mê Đức Kitô, để rồi làm cho Ngài được người khác say mê ở giữa dân Chúa, quả không có ơn gọi nào cao đẹp hơn. Đặt Đức Giêsu như một chiếc ấn vào trong lòng ta. Trong sách Diễm ca, chính nàng, tức linh hồn – theo cách giải thích truyền thống –, nói với chàng: “Hãy đặt em như chiếc ấn trên trái tim anh, như chiếc ấn trên cánh tay anh.” (Dc 8,6). Về phần mình, chàng, tức Đức Kitô, đã nhận lời nàng xin; Ngài đã thực sự đặt chúng ta như một chiếc ấn trên trái tim và trên cánh tay Ngài. Một dấu ấn bằng máu, không phai mờ! Nhưng lời mời gọi này đòi phải có đi có lại, nàng cũng phải đóng Đức Kitô như một con dấu vào trái tim mình, vì thế mà giờ đây chính Đức Giêsu nói với Giáo Hội và linh hồn: “Hãy đặt Ta như dấu ấn vào trái tim ngươi!” Ấn có đó không phải để ngăn cản chúng ta yêu người khác hoặc những vật khác – vợ chồng, con cái, bạn bè, linh hồn và tất cả những vật đẹp đẽ của chúng ta – nhưng để ngăn cản chúng ta yêu những người hay vật đó mà không có Ngài, ở ngoài Ngài, hoặc thay vì Ngài.
Nếu trong thực tại thâm sâu nhất của mình, Giáo Hội là hiền thê của Đức Kitô (x. Ep 5,25 tt; Kh 19,7, v.v.) thì người ta mong điều gì trước hết nơi hiền thê, nếu không phải là yêu phu quân mình? Có điều gì quan trọng hơn thế đối với nàng không? Có gì đáng bận tâm chăng, nếu không có tình yêu này? Tình yêu đối với Đức Kitô thực sự là “hoạt động cụ thể của các linh hồn đã được rửa tội”, là ơn gọi riêng của Giáo Hội.
Nếu một bạn trẻ cảm thấy được mời gọi đi theo Đức Kitô một cách triệt để xin tôi cho lời khuyên, như: “Con phải làm gì để kiên trì trong ơn gọi của con và ngày nào đó trở thành một người loan báo Đức Kitô cách nhiệt thành và có giá trị?” thì tôi chắc sẽ trả lời mà không do dự. “Hãy cố gắng say mê Đức Kitô, tìm cách liên hệ mật thiết với Ngài bằng một tình bạn khiêm nhường; rồi thanh thản hướng tới tương lai của con. Thế gian sẽ tìm mọi cách dụ dỗ con, nhưng nó không thành công đâu, vì “Đấng ở trong con thì mạnh hơn kẻ ở trong thế gian” (x. 1Ga 4,4).
Sau khi Phêrô đáp: “Lạy Thầy, Thầy biết rõ con yêu mến Thầy”, Đức Giêsu nói: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy”. Và thực sự, chúng ta không thể chăn chiên của Đức Kitô, không thể loan báo Đức Giêsu Kitô, nếu chúng ta không yêu mến Đức Giêsu Kitô. Tôi đã nhắc lại điều đó ngay từ đầu: theo một cách nào đó, bạn phải trở thành một thi sĩ, để ca ngợi “Vị Anh Hùng”, và chỉ có tình yêu mới thực sự khiến chúng ta trở thành như vậy. Chớ gì cuối cuộc đời của chúng ta, sau khi đã “khiêm tốn phục vụ trong nhà “Vị Anh Hùng”, chúng ta cũng có thể lặp lại, như một chúc thư, lời của thi sĩ:
Cây sáo bằng sậy nhỏ bé này,
bạn đã mang nó qua những đồi cao và thung lũng,
bạn thổi qua nó
những giai điệu mới vĩnh cửu“[130].
Giai điệu mới vĩnh cửu mà chúng ta phải mang qua những đồi cao và thung lũng, đến tận cùng trái đất, đối với chúng ta, là danh xưng rất êm dịu của Đức Giêsu.
