VII. ANH EM ĐỪNG CÓ THẦN KHÍ NÀO CŨNG TIN

Tin vào thần tính Đức Kitô ngày hôm nay

Trong thư thứ nhất, thánh sử Gioan đã rõ ràng đặt ra vấn đề phân định thần khí và ý kiến ​​liên quan đến Đức Kitô. Ngài viết: “Anh em thân mến, anh em đừng có thần khí nào cũng tin, nhưng hãy cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, vì đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian. Căn cứ vào điều này, anh em hãy nhận ra thần khí của Thiên Chúa thần khí nào tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Đấng đã đến và trở nên người phàm, thì thần khí ấy bởi Thiên Chúa, còn thần khí nào không tuyên xưng Đức Giêsu, thì không bởi Thiên Chúa; đó là thần khí của tên phản Kitô. Anh em đã nghe nói là nó đang tới, và hiện nay nó ở trong thế gian rồi. Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, anh em thuộc về Thiên Chúa, và anh em đã thẳng được các ngôn sứ giả đó, vì Đấng ở trong anh em mạnh hơn kẻ ở trong thế gian. Các ngôn sứ giả đó thuộc về thế gian; vì thế, chúng nói theo thế gian, và thế gian nghe chúng. Còn chúng ta, chúng ta thuộc về Thiên Chúa. Ai biết Thiên Chúa thì nghe chúng ta. Ai không thuộc về Thiên Chúa thì không nghe chúng ta. Chúng ta cứ dựa vào đó mà nhận ra thần khí dẫn đến sự thật và thần khí làm cho sai lầm” (1Ga 4,1-6).

Cũng chính thánh sử Gioan, người đã hướng dẫn chúng ta trên con đường đi đến hành vi tin cá nhân vào Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, cũng giới thiệu cho chúng ta, qua bản văn tôi vừa trích dẫn, khía cạnh khác của đức tin vào Đức Kitô, liên quan đến tính xác thực và chính thống của đức tin này, hay nói cách khác, nội dung của đức tin. Do đó, điều cần thiết là chúng ta sử dụng lời này của Thiên Chúa và, dưới sự bảo vệ của các tiêu chuẩn mà Gioan đã ấn định cho nó, cả chúng ta nữa, cũng thực hiện việc phân định các thần khí, nghĩa là những tin đồn và giáo lý đang lan truyền ngày nay trong Giáo Hội và trên thế giới. Liên quan đến Đức Giêsu Kitô, chúng ta đã có những sáng kiến cho công cuộc Phúc Âm hóa đại kết trên toàn thế giới. Một công cuộc Phúc Âm hóa được các Giáo Hội Kitô khác nhau thực hiện, trong một tinh thần mới: không còn cạnh tranh, nhưng là hợp tác huynh đệ, để loan báo cho thế giới những gì mà họ đã có chung, và rất lớn lao: đức tin vào Đức Giêsu Kitô, là Chúa và Đấng Cứu Độ duy nhất. Nhưng chính vì điều này, phải khẩn cấp tiến hành một cuộc khám phá đức tin. Thánh Phaolô viết: “Thật vậy, giả như kèn chỉ phát ra một tiếng vu vơ, thì ai sẽ chuẩn bị chiến đấu?” (1Cr 14,18). Nếu chính cốt lõi của việc loan báo, liên quan đến Đức Giêsu, thay đổi và vẫn không chắc chắn, thì như thể tiếng kêu của các Kitô hữu – lời khởi giảng – đã thất bại vào lúc đẹp nhất, làm mất đi mọi khả năng xuyên thấu trái tim. Chính biến chuyển theo sự phân định này mà năm hai ngàn sẽ có thể được coi, hoặc như là lễ kỷ niệm một biến cố tuyệt đối và duy nhất trong lịch sử, hoặc chỉ như ký ức về một biến cố trong số những biến cố khác; nó sẽ là ngày kỷ niệm Thiên Chúa đến trần gian, hoặc kỷ niệm sinh nhật của một con người và một tiên tri, cho dù là người vĩ đại nhất so với mọi người.

Gioan bắt đầu từ việc ghi nhận những ý kiến ​​khác nhau về Đức Giêsu. Ngài không tìm cách hòa giải chúng bằng mọi giá, cũng không liệt kê từng ý kiến một, nhằm cố gắng làm nổi bật những mặt tốt và những thiếu sót của chúng, như người ta thường thực hiện ngày nay khi phân tích các Kitô học khác nhau hiện có. Ngược lại, ngài làm như vậy theo một cách về cơ bản là khác. Ngài chủ trương triệt để đến nỗi ngài có thể nói: ý kiến ​​này là của Thiên Chúa, ý kiến ​​kia thì không; ý kiến này thuộc về thế gian, ý kiến kia thì không; ý kiến này là sự thật, ý kiến kia là công việc của các tiên tri giả, thậm chí – như ngài nói – của những phản Kitô.

Tôi muốn theo gương này và áp dụng tiêu chuẩn tương tự bằng cách đánh dấu, trong số các học thuyết hiện hành về Đức Giêsu, những học thuyết mà người ta có thể và phải nói đó không phải của Thiên Chúa, nhưng là của thế gian. Tôi muốn đóng góp một phần nhỏ phân định, dựa trên lịch sử, cho vấn đề đức tin. Trong các chương trước, tôi đã cố gắng chứng minh các tín điều Kitô học của những thế kỷ đầu tiên là “cơ cấu mở”, có thể đón nhận những phát triển mới và đáp ứng những nhu cầu mới ở mức độ nào, giống như thân cây luôn sẵn sàng đâm chồi nẩy lộc mới. Trong chương này, tôi muốn chỉ ra làm thế nào tín điều Kitô học của những thế kỷ đầu tiên dầu sao cũng tạo thành một tiêu chuẩn và một tham số cố định và bất động, dựa vào đó người ta có thể đánh giá bất kỳ đề xuất mới nào, và mọi đề xuất mới phải “được đo lường” dựa vào đó. Tín điều giống như kháng thể trong thân thể Giáo Hội. Khi một thân thể khỏe mạnh mắc phải và chiến thắng một căn bệnh truyền nhiễm, chẳng hạn bệnh dịch hạch, nó sẽ mãi mãi miễn nhiễm với căn bệnh này, vì lúc này nó có trong mình kháng thể hữu hiệu, kháng thể này sẽ hoạt động ngay khi cùng một căn bệnh lại bắt đầu xuất hiện và lan rộng trong nước. Đó là một chức năng tương tự mà định tín tín điều thực hiện trong lãnh vực đức tin. Nó sẽ tự mình lập tức hành động, nếu lạc giáo đã kích động nó lần đầu tiên – chẳng hạn như lạc giáo Ariô – xuất hiện trở lại và lan rộng trong Giáo Hội, ngay cả dưới những khía cạnh khác nhau. Giáo Hội không cần phải đưa ra một lời kết án mới. Chính tín điều xét xử lạc giáo. Các tín điều của Giáo Hội không phải là “giả thuyết”, nhưng là chân thuyết.

1. Một hệ thống đức tin thay thế

Ngay từ bây giờ tôi nói trước kết luận của tôi, để mọi sự rõ ràng hơn. Trong lãnh vực Giáo Hội, đặc biệt lãnh vực của Giáo Hội Công giáo, bên cạnh nhiều khảo luận xuất sắc về Kitô học, vừa hiện đại vừa tôn trọng đức tin truyền thống, ngày nay có một số được gọi là “Kitô học mới”, xa rời, đôi khi thấy rõ, dữ kiện được Công đồng Nicêa và Calcêđonia ấn định. Ý định của chúng là chuyển dịch sang ngôn ngữ hiện đại chân lý mà các Giáo Phụ đã diễn tả trong các phạm trù riêng của văn hóa thời các ngài. Tôi xác tín – tôi sẽ cố gắng chứng minh điều đó trên cơ sở lịch sử – là, nếu người ta tìm thấy ở đó bản dịch, theo các phạm trù hiện đại, của một điều gì đó xa xưa, thì đó không phải là vấn đề về chân lý của Nicêa, nhưng là về sai lầm bị lên án ở Nicêa; không phải là chân lý của Calcêđonia, nhưng là về những sai lầm bị lên án ở Calcêđonia. Nói cách khác, đây chắc chắn là một cập nhật về lạc giáo, chứ không phải sự chính thống.

Điểm thứ hai là: những đề xuất mới này dựa trên tiền giả định rằng một sự thay đổi triệt để đã diễn ra trong thế giới tư tưởng, hoặc trong chân trời văn hóa, liên quan đến cổ đại, đến độ ngày nay không còn có thể loan báo đức tin, trong cùng những hạn từ đó; tựu trung, tính hiện đại đòi phải có giải pháp mới này. Tôi xác tín rằng – và ở đây tôi cũng sẽ cố gắng chứng minh, dựa trên cơ sở lịch sử – tất cả những điều đó là không chính xác. Hệ thống được ủng hộ không mới mẻ gì, nó đã được Giáo Hội của những thế kỷ đầu tiên đề nghị, tranh luận và từ chối; đây là bằng chứng không thể chối cãi cho thấy nó không phải là một sáng tạo độc quyền của thời hiện đại. Sự luân phiên giữa cổ đại và hiện đại, được áp dụng theo cách này, là một sự luân phiên sai lầm. Sự luân phiên thực sự đã tồn tại lúc đó cũng như còn tồn tại hôm nay, trong một số trường hợp, đúng hơn là giữa tin và không tin, và ở những trường hợp khác, giữa chính thống và lạc giáo.

Cốt lõi trọng tâm của mạc khải – điều mà ngày xưa trong sách giáo lý từng được định nghĩa là “hai mầu nhiệm lớn nhất của đức tin chúng ta” – là Thiên Chúa Ba Ngôi và nhập thể. Thiên Chúa là một và ba, và Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa và con người. Trong các hệ thống mới, cốt lõi này chỉ còn như sau: Thiên Chúa là một, và Đức Giêsu Kitô là con người. Do đó, thần tính của Đức Kitô, và cùng với nó là Ba Ngôi, biến mất. Logíc “Công giáo” và-và (và một điều, và một điều khác) được thay thế bằng biện chứng aut-aut (hoặc điều này, hoặc điều khác).

Tôi ghi vắn tắt, và theo cách mà mọi người đều có thể tiếp cận được, lập trường của các tác giả đang được đề cập – đầu tiên là về thần tính của Đức Kitô, sau đó là về Ba Ngôi – bằng cách mời độc giả xem các ghi chú, để có tư liệu chính xác hơn về tư tưởng của các tác giả khác nhau, cũng như về sự khác biệt đáng kể giữa họ. Vả lại, còn hơn các tác giả và các tác phẩm cụ thể, cho phép tôi lưu ý đến một hệ thống nhất định, làm giảm niềm tin, là hệ thống đang từ các tác phẩm thần học đi vào văn hóa chung của mọi người và có nguy cơ trở thành quan điểm hiện hành mà không lường hết hậu quả. Kết quả của tất cả những điều đó là cuối cùng chúng ta chấp nhận ngấm ngầm và đạo đức giả sự tồn tại của hai đức tin và hai Kitô giáo khác nhau, mà chỉ có điểm chung là danh xưng: Kitô giáo của Kinh Tin Kính của Giáo Hội, của những tuyên ngôn đại kết chung, trong đó người ta tiếp tục tuyên xưng đức tin vào Ba Ngôi và vào thần tính đầy đủ của Đức Kitô, và Kitô giáo “thực sự” của các tầng lớp xã hội và văn hóa rộng lớn, nơi mà, theo một số nhà thần học “nổi tiếng”, những chân lý này được giải thích bằng bất cứ cách nào khác.

Phê bình dự phóng căn bản lộ ra từ những “Kitô học mới” này không có nghĩa là bỏ qua những giá trị chúng có thể có, đặc biệt như kích thích trở lại với một thần học cụ thể hơn và gần gũi hơn với dữ kiện Kinh Thánh, và cũng để đổi mới một thứ ngôn ngữ kinh viện xa rời cuộc sống và lời rao giảng của Giáo Hội. Cuối chương này, tôi sẽ cố gắng chỉ ra một số tác nhân tích cực người ta có thể gián tiếp rút ra từ việc đọc những cuốn sách mà chúng ta nói đến.

Có thể một trong những tác giả được khảo sát ở đây, tình cờ đọc được những gì tôi viết và nghĩ rằng đó không phải là ý của ông, rằng tôi đã hiểu sai về ông. Tôi sẽ rất vui về điều đó. Quả thực, tôi lấy lược đồ truyền thống hơn của Giáo Hội làm mẫu, khi bàn về vấn đề phân biệt các học thuyết: “Si quis dixeritanathema sit“: nếu ai đó đã nói như thế, thì người đó đáng bị lên án. Đó không phải là những gì ông nói sao? Càng tốt cho tất cả chúng ta, Giáo Hội bảo vậy. Nhưng khi đó, cho phép tôi bảo vệ người anh em yếu đuối, không được biết những tinh tế thần học, và có thể hiểu chính xác những gì ông không muốn nói, và thấy đó là một dịp gây gương mù cho đức tin của mình. Thánh Phaolô thốt lên: “Có ai yếu đuối mà tôi lại không cảm thấy mình yếu đuối? Có ai vấp ngã mà tôi lại không cảm thấy lòng sôi lên?” (2Cr 11,29).

Ở giai đoạn này, tôi coi như một nhiệm vụ phải tố cáo tuyên bố phi lý của một nhà thần học Công giáo như thế, mà theo tuyên bố đó, việc tiếp cận ngôn ngữ của ông tùy thuộc vào Giáo Hội và dân Thiên Chúa, dù phải khó nhọc để tìm ra chìa khóa cho phép thâm nhập vào hệ thống thông diễn của ông, mới mẻ và cá nhân; hoặc thậm chí biến sự không thể thâm nhập này thành một thủ đoạn và một nơi ẩn náu, để vô hiệu hóa và làm cho bất cứ phê phán nào từ phía Giáo Hội thành bất khả thi, về việc người ta đã chọn một điểm bên ngoài hệ thống, bên ngoài Truyền Thống, và do đó không có gì chung với Giáo Hội. Thật vậy, trong Kitô giáo, chính nhà thần học phải đi theo Truyền Thống, huấn quyền và tập thể các tín hữu, chứ không ngược lại. Một tiểu thuyết gia, một thi sĩ, một kịch tác gia, một nhà xã hội học hay một triết gia, như đã từng xảy ra, có thể tạo ra một ngôn ngữ và một hệ thống biểu tượng cụ thể và rất cá nhân, khiến cho ai muốn tiếp cận thế giới của họ phải tạm thời từ bỏ ngôn ngữ và hệ thống biểu tượng riêng của mình, để đảm nhận ngôn ngữ và hệ thống biểu tượng của họ. Nhưng nhà thần học thì không thể hành động như vậy. Phương pháp mà đối với ông bao gồm việc bác bỏ một cách khinh thường và không chấp nhận ngay từ đầu mọi chỉ trích đối với hệ thống thần học của ông, lấy cớ người ta không hiểu các tiền giả định triết học, chú giải và thông diễn ẩn giấu của nó, phương pháp ấy đã trở thành một thông lệ phổ biến đến nỗi ngày nay người ta chỉ còn coi nó như một lối thoát dễ dãi.

2. “Viên đá bị những người thợ xây loại bỏ”

Sự khẳng định cơ bản của các Kitô học tôi đang đề cập – trước tiên theo cách phủ định, sau đó theo cách khẳng định – là như sau: Đức Giêsu Kitô không phải là Thiên Chúa, nhưng trong Đức Giêsu Kitô có Thiên Chúa (hoặc Thiên Chúa hành động). Công thức bắt nguồn từ Bultmann, người đã viết: “Công thức ‘Đức Kitô là Thiên Chúa’ thì sai, bất kể nghĩa của nó thế nào, khi ‘Thiên Chúa’ được coi như một hữu thể có thể khách thể hóa, cho dù được hiểu theo cách của Ariô hay theo cách của Nicêa, theo một nghĩa chính thống, hoặc tự do. Công thức đó đúng, nếu ‘Thiên Chúa’ được hiểu như biến cố hiện thực hóa thần linh”[131]. Bultmann còn nói Đức Giêsu là “hành vi mang tính quyết định của Thiên Chúa” (hành vi, chứ không phải ngôi vị!).

Dựa vào quan niệm này, các tác giả của các “Kitô học mới” khẳng định rằng Đức Kitô là Thiên Chúa, theo nghĩa là Thiên Chúa hành động nơi Ngài[132]. Ngài không phải là Thiên Chúa thật, nhưng là mạc khải Thiên Chúa thật, một điều khá khác. Đức Giêsu là “vị tiên tri thời cánh chung”, Đấng mà qua đó “sự nghiệp của Thiên Chúa” đã được thể hiện. Như người ta khẳng định, đây là điều chúng ta có thể nói cách bảo đảm hơn, nếu chúng ta gắn bó với những truyền thống cổ xưa nhất của Tân Ước. Nói nhiều hơn và nhấn mạnh thần tính của Đức Kitô – ngoài việc điều đó là vô ích, vào một thời kỳ mà chính chữ “Thiên Chúa” đã trở nên vô nghĩa – có thể che đậy nỗ lực vô hiệu hóa sức mạnh quyết định của vị tiên tri Giêsu Nadarét[133]. Đức Giêsu là “một ngôi vị” chứ không phải hai, và ngôi vị này là ngôi vị “con người”. Không thể nói Ngài cũng là một ngôi vị “Thiên Chúa”, nếu không, sẽ có những khó khăn nghiêm trọng và không thể vượt qua[134]. (Thực ra, không thể vượt qua đối với lý trí, không phải đối với đức tin). Thay cho học thuyết truyền thống – chung cho cả Giáo Hội Tây phương lẫn Đông phương – về sự kết hợp của hai bản tính, nhân loại và thần linh, trong ngôi vị duy nhất của Đức Kitô, ở đây là học thuyết về sự hiện diện của thần tính trong ngôi vị nhân loại của Đức Kitô. Thay cho hữu thể là hiện hữu. Như tôi đã nói ở trên, Đức Kitô không phải là Thiên Chúa, nhưng trong Đức Kitô có Thiên Chúa.

Mọi sự trở nên rõ ràng hơn ngay khi người ta xem xét những gì người ta nghĩ, trong hệ thống mới này, về sự tiền hữu của Đức Kitô. Sự tiền hữu – nghĩa là học thuyết Kitô giáo, theo đó Con Thiên Chúa, trước khi nhập thể trong lòng Đức Maria, đã hiện hữu, với tư cách là một ngôi vị, hoặc thực thể riêng biệt, bên cạnh Chúa Cha – hẳn là một quan niệm thần thoại bắt nguồn từ văn hóa Hy lạp. Điều đó chỉ có nghĩa là “mối liên hệ giữa Thiên Chúa và Đức Giêsu không chỉ phát triển ở giai đoạn hai và tình cờ, nếu có thể nói như vậy, nhưng hiện hữu một cách tiên nghiệm và được đặt nền tảng nơi chính Thiên Chúa[135]. (Cái hiện hữu tiên nghiệm – hãy để ý đến nó – là mối liên quan, chứ không phải Đức Giêsu!). Nói cách khác, Đức Giêsu đã tiền hữu, theo nghĩa có chủ ý chứ không phải theo nghĩa thực; cụ thể là Chúa Cha đã luôn tiên liệu, mong muốn và yêu mến Đức Giêsu, Đấng sẽ được sinh ra một ngày kia từ lòng Đức Maria. Vậy Ngài đã tiền hữu, theo cách giống hệt với mỗi người chúng ta, vì mọi người đều đã được Thiên Chúa “tuyển chọn và tiền định”, làm con của Người, trước khi tạo thành thế giới! (x. Ep 1,4).

Như vậy chân trời Ba Ngôi của đức tin Kitô giáo còn lại gì? Trong một số trường hợp, nó biến mất gần như hoàn toàn, hoặc bị giảm nhẹ một cách nguy hiểm; trong những trường hợp khác, nó chỉ còn là một nỗ lực bảo vệ các công thức của Truyền Thống và các tín biểu, mà thực tế là loại bỏ tất cả thực tại chứa đựng nơi chúng[136]. Thiên Chúa, nơi chính mình, không phải là ba ngôi; cùng lắm là Người trở thành ba ngôi trong lịch sử, sau khi Đức Giêsu Kitô đến thế gian. Luận đề theo Truyền Thống và Kinh Thánh về Con Thiên Chúa trở thành xác phàm được ngầm thay thế bằng luận đề xác thịt trở thành Con Thiên Chúa, theo nghĩa là nơi con người Giêsu Nadaret, có “một trở thành ngôi vị thần linh (un divin devenir personne), về phía Ngôi Lời”[137].

Ở đây xuất hiện mối liên hệ bất khả phân ly giữa hai mầu nhiệm chính của đức tin. Chúng giống như hai cửa cùng mở hoặc cùng đóng. Thần tính của Đức Kitô là đá góc nâng đỡ hai mầu nhiệm Ba Ngôi và nhập thể. Một khi đá góc này bị lấy đi, toàn bộ tòa nhà đức tin Kitô giáo sẽ sụp đổ. Đây là điều mà thánh Athanasiô đã tố cáo rõ ràng khi ngài viết thư chống lại những người theo phái Ariô: “Nếu Ngôi Lời không hiện hữu từ muôn đời, liên kết với Chúa Cha, thì không có Ba Ngôi vĩnh cửu, nhưng đầu tiên có sự duy nhất, sau đó theo dòng thời gian, bắt đầu có Ba Ngôi trong đó như một sự bổ sung… Đã có một thời không có Ba Ngôi, nhưng chỉ có sự duy nhất”[138]. Trong cùng một bối cảnh, Athanasiô đưa ra một nhận xét áp dụng tương tự cho những người ngày nay nói về “sự trở thành thần linh” liên quan đến Thiên Chúa. Ngài hỏi: làm sao biết được liệu sự tăng trưởng và trở thành Thiên Chúa đã kết thúc hay chưa? Nếu đã trở thành, thì sẽ còn trở thành. Hơn nữa, trước Athanasiô rất lâu, thánh Gioan đã thiết lập mối liên hệ giữa hai mầu nhiệm: “Ai chối Chúa Con thì cũng không có Chúa Cha, kẻ tuyên xưng Chúa Con thì cũng có Chúa Cha” (1Ga 2,23). Cả hai cùng nhau đứng vững hoặc sụp đổ.

Trong những điều kiện này, đức tin Kitô giáo bị tầm thường hóa. Ở trên, người ta đã thấy vai trò to lớn mà tín điều Kitô học vẫn còn có thể đảm nhận cho đến ngày nay, ở chỗ nó cho phép đưa ra câu trả lời cho vấn đề liệu có thể thực hiện trong thời gian một hành động cam kết vĩnh cửu hay không. Tuy nhiên, điều này chỉ có thể thực hiện được nếu chúng ta giữ cho tín điều tất cả sức mạnh tương phản của nó, theo định tín của Calcêđônia, nơi người ta nói về Thiên Chúa và con người, vĩnh cửu và thời gian, như hiện diện trong Đức Kitô, một cách khác biệt và không phân chia. Người ta không thể hoàn thành nhiệm vụ này khi – như đã xảy ra trong các hình thức cực đoan của thần học về cái chết của Thiên Chúa – người ta nói về Thiên Chúa đã “chết”, ngưng lại và biến mất, để nhường chỗ cho con người; nơi thời gian hay tính thế tục tiếp nối sự vĩnh cửu, và nơi – bằng cách đảo ngược tiên đề (axiome) cổ điển – người ta nói về Ngôi Lời rằng “khi không còn là cái Ngài đã là, Ngôi Lời trở thành cái Ngài đã không là”. Nhưng tín điều cũng không thể hoàn thành nhiệm vụ này, trong những “thần học mới”, nơi ý tưởng về sự tiền hữu vĩnh cửu của Ngôi Lời phai mờ hoặc biến mất, và nơi mà, thay thế cho bước nhảy vọt vô tận giữa thời gian và vĩnh cửu, là ý tưởng của Hegel về một tiến trình liên tục và về một “sự trở thành thần linh” đối với Con Thiên Chúa.

Do đó, người ta bãi bỏ có hệ thống tính mới mẻ của Kitô giáo. Nó không còn là tôn giáo của nhập thể, với tất cả những gì điều đó có nghĩa, đối với nhãn quan về vũ trụ và con người. Lời khẳng định lớn của thánh Phaolô liên quan đến Đức Giêsu, theo đó mặc dù vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng Ngài không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã mặc lấy thân phận nô lệ (x. Pl 2,6tt), lời khẳng định đó đột nhiên không còn ý nghĩa và bị xếp vào hàng những biểu tượng thần thoại. Hơn nữa, Thiên Chúa không còn là “Cha”, ngoại trừ theo nghĩa ẩn dụ và tiền Kitô giáo, vốn đã gọi Người, ở Hy Lạp, là “Cha của vũ trụ” và, ở Israel, là “Cha của dân tộc mình”. Thiên Chúa cũng không phải là tình yêu, như Gioan nói (1Ga 4,8). Quả thực, Thiên Chúa chỉ là tình yêu nếu Người yêu một người nào đó không giống mình về mọi mặt, vì trong trường hợp sau, đó không phải là tình yêu, nhưng là sự ích kỷ và mê mình quá đáng. Thế thì Thiên Chúa yêu ai, để Người được gọi là tình yêu? Con người Giêsu Nadaret chăng? Nhưng trong trường hợp này, Người chỉ là tình yêu từ hai ngàn năm nay thôi, vậy trước đó, Thiên Chúa là gì nếu không phải là tình yêu? Người yêu nhân loại, vũ trụ chăng? Trong trường hợp này, Người chỉ là tình yêu từ vài triệu hoặc vài tỷ năm thôi. Vậy trước đó, Người đã là gì, nếu Người không phải là tình yêu? Người có thể là tình yêu tình cờ không, chỉ theo nghĩa là, từ muôn thuở, Người đã tiên liệu và tiền định Con của mình là Đức Giêsu, tức là theo nghĩa Người mãi mãi vốn dĩ yêu một người chưa hiện hữu, nhưng người đó là ai? Khi đó Thiên Chúa là hy vọng, không phải là bác ái. Hay Thiên Chúa sẽ yêu, bằng một tình yêu vô hạn, một “thể thức” thuần túy của hữu thể Người, vì Chúa Con được coi như một phương thức, chứ không phải là một thực tại, hay một chủ vị? Trong trường hợp này, không phải là về hy vọng hay bác ái, nhưng là về một điều viển vông.

Phải chăng chúng ta có thể thành thật nói rằng vấn đề còn là cùng một đức tin cơ bản của Kitô giáo? Trong trường hợp này, có lẽ ngoại trừ khía cạnh đạo đức, Kitô giáo khác với Hồi giáo ở chỗ nào? Tổng hợp của Hồi giáo là: “Allah là Thượng Đế duy nhất và Mahomet là nhà tiên tri của Người”. Tổng hợp của Kitô giáo hẳn sẽ là: “Đức Chúa là Thiên Chúa duy nhất và Đức Giêsu Kitô là nhà tiên tri duy nhất của Người”, hoặc – giống như vậy – sự mạc khải cuối cùng của Người. Đúng là người ta thêm vào nhà tiên tri tính từ “thời cánh chung”, tuy nhiên tính từ này không làm thay đổi điều gì, từ đó mà Mahomet cũng được những tín đồ của ông coi là nhà tiên tri cuối cùng và phổ quát.

Trong trường hợp của Hồi giáo, điều đó chỉ phản ánh lịch sử của tôn giáo này và cách giải thích về chính nó; nhưng trong trường hợp của Kitô giáo, đùng một cái người ta biến toàn bộ lịch sử của nó thành việc tôn thờ ngẫu tượng. Thánh Athanasiô còn nói: “Kẻ nào tin rằng Chúa Con là một thực tại được làm ra và được tạo dựng, thì hạ Kitô giáo xuống hàng thờ ngẫu tượng, sùng bái tạo vật, thay vì Đấng Sáng Tạo.” Sau khi đã thắng được sự thờ ngẫu tượng, chính Kitô giáo cũng trở thành thờ ngẫu tượng.”[139] Bởi vì phụng tự và tôn thờ Đức Giêsu Kitô luôn là một dữ kiện thực tế vốn dĩ như vậy trong Giáo Hội.

Theo thư gửi tín hữu Do Thái, sự khác biệt lớn giữa Cựu Ước và Tân Ước nằm ở chỗ, trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã nói “qua trung gian của các tiên tri”, đang khi, trong Tân Ước, Người nói với chúng ta “nơi người Con” (x. Dt 1,1-2). Trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã nói nhờ “những người trung gian”; trong Tân Ước, Người “đích thân” nói. Nhưng sự khác biệt cơ bản này, cú nhảy có phẩm chất này, mà tất cả “vẻ đẹp” của Tân Ước tùy thuộc vào, sẽ bị mất đi, nếu nơi Đức Kitô người ta ưu tiên cho tước hiệu tiên tri hơn là cho tước hiệu “Con”.

Một điều được tất cả các Giáo Phụ tham gia vào cuộc tranh cãi Ariô làm nổi bật, là tính đồng nhất tuyệt đối của Ba Ngôi thánh, không thể bao gồm một yếu tố bất thụ tạo và một yếu tố thụ tạo cùng tồn tại với nhau[140]. Tôi tin rằng, theo một cách khác, người ta lại gặp bất tiện nghiêm trọng trong việc quan niệm Ba Ngôi theo cách lai tạp, khi người ta trình bày – như xảy ra ở một trong hai trường hợp được khảo sát – một  Ba Ngôi được hình thành bởi “Chúa Cha, Đức Giêsu Kitô và Chúa Thánh Thần”[141], nơi Đức Giêsu chỉ rõ một ngôi vị nhân loại và con người lịch sử, cho dù Ngài đã được Chúa Cha tiên liệu và yêu thương, từ muôn đời: Đấng mà người ta gọi là nhà tiên tri thời cánh chung[142].

Tôi nhận ra rằng trong những suy tư này, tôi đã hơn một lần nghĩ đến câu mà thánh Giêrônimô đã dùng để mô tả tình hình của Kitô giới, khi mà, sau thượng hội đồng bán-Ariô ở Rimini, Kitô giới tỉnh dậy sau giấc ngủ sâu của mình: “Cả thế giới rên rỉ và ngạc nhiên khi thấy mình thuộc nhóm Ariô!”[143]

3. Một lối giải thích “hiện đại” về dữ kiện mạc khải?

Nhưng giờ đây chúng ta hãy đến với điều mà tôi muốn đưa ra ánh sáng nhất. Những nỗ lực trình bầy lại cách triệt để dữ kiện liên quan đến Đức Giêsu Kitô dựa trên, ít nhiều rõ ràng, tiền giả định sau đây, vốn bắt nguồn từ Bultmann và được coi là không thể bàn cãi: Cách trình bầy đức tin, trong Tân Ước và trong các Công đồng ở những thế kỷ đầu tiên, được quyết định bởi não trạng thần thoại của thời đại; đó là một con đường bắt buộc, mà đối diện với nó, Giáo Hội không có lựa chọn nào khác. Ngược lại, cách mới trình bày đức tin, như tôi đã mô tả ở trên, sẽ được yêu cầu bởi tư tưởng hiện đại, vốn loại bỏ mọi phạm trù thần thoại. Do đó, cách thứ hai này cũng sẽ là một lựa chọn bắt buộc, mà Giáo Hội không thể tránh né, nếu Giáo Hội muốn làm cho thế giới hôm nay có thể hiểu đức tin của mình. “Những cách trình bầy thần thoại của thời đại, liên quan đến sự hiện hữu trước thời gian và thượng giới của một hữu thể phát xuất từ Thiên Chúa, liên quan đến một “lịch sử thần linh”, nối kết hai (hoặc thậm chí ba) hữu thể thần linh, không còn có thể là của chúng ta nữa[144].

Tôi tin rằng người ta có thể chỉ ra luận đề này, được diễn đạt như vậy, là sai lịch sử như thế nào, về những gì nó khẳng định liên quan cả thời cổ đại lẫn thời hiện đại. Trước hết là một quan sát tổng quát. Phải chăng có thể hình dung chính Giáo Hội đó, như chúng ta đã thấy ở trên, đã hết sức chống lại chủ thuyết Hy lạp và chủ thuyết Platon trong học thuyết của mình liên quan đến nhân tính của Đức Kitô – đến nỗi buộc họ phải chấp nhận ý tưởng về một sự nhập thể thực sự của Thiên Chúa và ý tưởng về một sự cứu độ xác thịt (rất khác với học thuyết cứu độ của họ là thoát khỏi xác thịt) – sau đó được thích nghi, mà không có lời phê bình nào, với chủ thuyết Hy lạp này, trong học thuyết của nó liên quan đến thần tính của Đức Kitô và sự tiền hữu của Ngài? Phải chăng khẳng định rằng, khi đối diện với lập trường của những kẻ lạc giáo – một  bên là những người theo thuyết Ngộ đạo và bên kia là Ariô – có đặc điểm là hạ mình trước chủ thuyết Hy lạp và tinh thần của thời đại, sự chính thống luôn phản ứng, bằng cách làm cho đòi hỏi của dữ kiện mạc khải chiếm ưu thế, lại không phải là điều chính xác hơn sao?

Giờ đây tôi xem xét một vấn đề liên quan trực tiếp hơn đến chủ định của tôi. Song song với việc hình thành tín điều thần học, một hệ thống học thuyết đã được vạch ra từ thời cổ đại, trong đó người ta tìm thấy, thường là trong cùng những thuật ngữ, tất cả các yếu tố và các mệnh đề được đưa ra hôm nay, qua cái gọi là những “Kitô học mới”. Như vậy Giáo Hội đối diện với những khả thể khác nhau. Sự chính thống tuyệt đối không phải là kết quả của sự cần thiết, cũng không phải là kết quả có thể thấy trước của một nền văn hóa nào đó, nhưng là kết quả của một sự phân định không ngừng, có suy nghĩ và đau đớn. Vả lại, đã và vẫn còn có những nhà tư tưởng và thần học gia hiện đại – một ít người trong số họ thậm chí còn được coi là những người khởi xướng tư tưởng hiện sinh hiện thời (như Soren Kierkegaard và Karl Barth) – những người không cho rằng việc tin, một cách đầy đủ và cảm động, vào cả thần tính của Đức Kitô lẫn Ba Ngôi, là không phù hợp với nhãn quan hiện đại của họ về thế giới và phân tích của họ về hiện hữu. Từ sự kiện này, có vẻ như chính tiền giả định làm cơ sở cho một số Kitô học mới này đã thất bại.

Bây giờ tôi sẽ cố gắng chứng minh điều khẳng định đầu tiên trong hai khẳng định của mình, đó là không thể không tin vào thần tính của Đức Kitô, vào thời cổ đại. (Khẳng định thứ hai – cụ thể là ngày nay có thể tin vào thần tính của Đức Kitô – như tôi vừa trình bày, thì rõ ràng và không cần phải chứng minh). Chính vào thời kỳ xuất hiện một lạc giáo có nguồn gốc Hy lạp và Ngộ đạo phủ nhận thực tại nhập thể của Đức Kitô, tức thuyết Ảo thân, thì chúng ta lại gặp một lạc giáo ngược lại, lấy hứng từ Do Thái giáo: thuyết Duy bần (ébionism), coi Đức Giêsu là một “con người thuần túy” và không chấp nhận trong Đức Kitô có “sự kết hợp giữa Thiên Chúa và con người”, đồng thời công nhận Đức Giêsu là Đấng Mêsia được mong đợi và sẽ trở lại thế gian[145]. Đường lối suy nghĩ này tiếp tục trong suốt thế kỷ II và III, đầu tiên là trong lạc giáo Artemon, vốn không công nhận thần tính của Đức Kitô, cũng như trong thuyết Dưỡng tử của Theodote ở Byzance, và sau đó là Paul Samosate, người đầu tiên đã hệ thống hóa chủ thuyết. Theo ông này, Ngôi Lời thần linh không có ngôi vị, nghĩa là được phú cho một chủ vị thần linh, nhưng chỉ là một dunamis, hay khả năng hoạt động của Thiên Chúa. Không phải Ngôi Lời là Con Thiên Chúa, mà chỉ có con người Giêsu, mà Ngôi Lời đến cư ngụ trong đó. Đức Giêsu là “một người giống hệt với chúng ta, mặc dù cao trọng hơn về mọi mặt, do hoạt động của Chúa Thánh Thần”[146]. Ngài là nhà tiên tri vĩ đại nhất, trong khi vẫn là một con người thuần túy trong thể tạng của mình.

Sự kết hợp kinh điển giữa chủ thuyết Hình thái và chủ thuyết Dưỡng tử, trái ngược với xu hướng Hy lạp của những nhà hộ giáo và sau đó là của Ariô, được biểu hiện rõ ràng nhất ở thế kỷ IV, với Marcel d’Ancyre và đệ tử của ông là Photin. Cũng theo hai tác giả này, Ngôi Lời chỉ trở thành Con Thiên Chúa và thực tại tồn hữu với sự hiện hình của con người Giêsu Nadaret. Trước đây, Ngài chỉ là một tiềm tại (une virtualité) trong Thiên Chúa. Người ta đọc thấy trong một khoản của Công đồng năm 345: “Các môn đệ của Marcel và Photin từ chối sự tồn hữu vĩnh cửu của Đức Kitô, thần tính và triều đại vĩnh cửu của Ngài, lấy lý do bảo vệ sự duy nhất của Thiên Chúa, và về điều này thì giống với người Do Thái”[147]. Người ta còn đọc thấy trong các nguồn: “Chúng tôi lên án những người nói rằng Đức Kitô, với tư cách là Con Thiên Chúa, Đấng trung gian và hình ảnh của Thiên Chúa, không hiện hữu ab aeterno (từ muôn đời), nhưng Ngài chỉ trở thành như vậy, tức là Đức Kitô và Con Thiên Chúa, khi Ngài mặc lấy xác thịt trong lòng Đức Trinh Nữ Maria, chưa đầy bốn trăm năm trước”[148]. Chống lại quan niệm về một sự tiền hữu hoàn toàn có chủ ý của Ngôi Lời, các nguồn chính thống viết: “Nếu ai đó nói rằng trước Đức Maria, Chúa Con chỉ hiện hữu ở tình trạng dự kiến, chứ không phải đã được Chúa Cha sinh ra, người đó là đồ chúc dữ[149]. Do đó, Photin đã biết ý tưởng về sự tiền hữu của Đức Giêsu, “dưới hình thức dự kiến” (prévision), hay “dưới hình thức dự tưởng” (anticipation). Sự kết hợp giữa Thiên Chúa và con người, trong Đức Kitô, được quan niệm theo một cách luôn yếu ớt và bề ngoài, như nơi những người theo chủ thuyết Dưỡng tử. Cấu trúc căn bản của Đức Kitô là cấu trúc của một con người, trong đó Ngôi Lời Thiên Chúa cư ngụ theo cách tinh thần tiên tri nơi các nhà tiên tri[150].

Khi nói bằng thuật ngữ hữu thể học, Paul Samosate và Photin bày tỏ sự trổi vượt của Đức Kitô so với các nhà tiên tri khác, coi Đức Kitô là nhà tiên tri tối cao, hoặc nhà tiên tri vĩ đại nhất trong các tiên tri; ngày nay, nói theo thuật ngữ lịch sử, người ta coi Ngài là một nhà tiên tri thời cánh chung, nghĩa là nhà tiên tri cuối cùng. Nhưng có sự khác biệt lớn như vậy giữa cánh chung và tối cao chăng? Đây có lẽ là tất cả sự khác biệt về chân trời tồn tại giữa tư tưởng hữu thể học cổ đại và tư tưởng chức năng hiện đại chăng? Ai có thể là nhà tiên tri tối cao, đỉnh cao của lời tiên tri, mà đồng thời không phải là nhà tiên tri cuối cùng không? Và chẳng lẽ nhà tiên tri cuối cùng cũng không phải là nhà tiên tri tối cao sao?

Các Giáo Phụ đã đúng: những người như Marcel d’Ancyre và Photin đã lập luận theo lược đồ Do thái giáo, vốn cho rằng Đức Kitô sẽ hiện hữu trước tiên như đã được tiền định, trước khi trở nên hiển hiện. (Lược đồ mà người ta tìm thấy tiếng vang – ở trình độ diễn tả, nếu không muốn nói là nội dung – trong 1Pr 1,20). Họ bày tỏ yêu cầu – hay linh hồn – có tính chất Do thái của Kitô giáo, một yêu cầu bị ám ảnh đặc biệt để bảo vệ thuyết độc thần Kinh Thánh.

Một vài phác thảo này đủ để chứng minh rằng, ngay từ đầu, Giáo Hội đã phải đối diện với hai cách giải thích có thể có về điều đã được mạc khải: một cách phù hợp hơn với não trạng Hy lạp, cách còn lại phù hợp hơn với não trạng Do thái, và Giáo Hội đã không chọn cách nào, nhưng đã vạch ra con đường riêng của mình, phê bình cách sâu sắc cả hệ thống Hy lạp của chủ thuyết trung-Platon lẫn hệ thống của Do thái giáo. Nicêa đã buộc lược đồ Hy lạp của cái thực (le réel) phải chịu phê bình, hoặc làm cho nó tiến triển, bằng cách loại bỏ ý tưởng về một hữu thể trung gian giữa Thiên Chúa và thế giới: Logos, hay Con của Thiên Chúa, được quan niệm như một “Thiên Chúa loại hai” (deutero theos). Nicêa đã vạch ra một đường phân định hai khả năng duy nhất của hữu thể: Đấng Tạo Hóa và các thụ tạo, đặt Đức Kitô – với tư cách là một với Ngôi Lời thần linh – bên cạnh Đấng Tạo Hóa. Nhưng Công đồng đã làm tăng giá trị tính chất đổi mới của Tân Ước, cũng như trong những gì liên hệ tới giai đoạn Cựu Ước của mạc khải, đón nhận khái niệm mới về sự duy nhất thần linh, không phải sự duy nhất về con số cũng không phải sự duy nhất tĩnh, nhưng động; một sự duy nhất là tình yêu, và do đó, là sinh sản và hiệp thông. Công đồng ngầm khẳng định rằng, giống như tất cả các khái niệm khác của con người, sự duy nhất cũng được thực hiện một cách khác, đối với những gì là Thiên Chúa, hơn là đối với những gì là các thụ tạo; nghĩa là, Thiên Chúa cũng có thể nằm ngoài khái niệm của chúng ta về sự duy nhất và đa dạng. Các Nghị Phụ Công đồng đã áp dụng một cách mạch lạc tiêu chuẩn của một thần học tương phản và phủ định, đưa đến những hệ quả cực đoan nhất của nó, mà không dừng lại, như đôi khi người ta muốn làm ngày nay, trước chủ thuyết độc thần. Vì sự đánh giá cao của các Nghị Phụ đối với chủ thuyết độc thần Kinh Thánh, một con ngựa chiến thực sự trong cuộc chiến đấu chống lại ngoại giáo và thờ ngẫu tượng, người ta có thể chắc chắn rằng không phải vô cớ mà các ngài không cam chịu cho kẻ thù của mình cơ hội nghi ngờ dù là nhỏ nhất, đã từ bỏ, mà không có lý do, nguyên tắc này trong học thuyết của các ngài về Ba Ngôi, nếu các ngài không bị buộc phải làm như vậy bởi chính sức mạnh của mạc khải và của đức tin.

Do đó, những Kitô học hiện đại, mà tôi đã khảo sát ở trên, không quá nghiêng về phía lược đồ Hy lạp của Ariô – người thừa nhận một hình thức tiền hữu thực sự, cho dù không phải là vĩnh cửu – lẫn đường lối đối kháng của thuyết độc thần và thiên sai Do thái giáo. Chúng diễn tả khuynh hướng trở về với lòng mẹ, mỗi khi gặp khó khăn với môi trường xung quanh. Trong trường hợp hiện tại, lòng mẹ là niềm tin độc thần của Cựu Ước, xưa đã từng cho phép tự tin đối thoại với những tay cự phách của triết học Hy lạp, và ngày nay cho phép đối thoại với Hồi giáo , mà không gặp trở ngại (hoặc chúng ta tin như vậy). Điều lạ là vào thời cổ đại, dòng tư tưởng này bị coi là phản động, vì chống đối những đổi mới của các nhà thần học. Không phải ngẫu nhiên mà những người ủng hộ – Paul Samosate, Marcel d’Ancyre, Photin – đều là các giám mục, trong khi những người bảo vệ khuynh hướng ngược lại – những nhà hộ giáo Hy lạp, Origen, Ariô – đều là linh mục hoặc giáo dân.

Cũng cần nói thêm rằng dòng tư tưởng này, nhạy cảm với tính duy nhất hơn là với tính ba ngôi của Thiên Chúa, cũng là dòng tư tưởng luôn bị thần học Latinh khiển trách. Nhưng khi lời khiển trách này chắc chắn không được biện minh, trong những gì liên quan đến Augustinô, Ambrôsiô và các Giáo Phụ Latinh khác, thì ngày nay, nó lại được biện minh trong những gì liên quan đến các tác giả, những người mà ngay cả khi họ lấy biến cố Đức Giêsu Kitô làm khởi điểm, vẫn lý luận bằng giả định triết học về sự duy nhất của Thiên Chúa, thay vì làm điều đó trên cơ sở mạc khải Kinh Thánh về Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần. Chủ thuyết Hình thái của Sabelliô ở đây không phải là một bóng ma, được người Đông phương khuấy động lên khi đối diện với người Latinh, nhưng là một dữ kiện có thực, lại minh nhiên nữa. Nếu người ta phải ưu đãi một đường hướng như vậy trong thần học Tây phương – điều mà tôi tin là sẽ không xảy ra – thì chắc chắn khoảng cách giữa Giáo Hội Chính thống và Giáo Hội Latinh vẫn sẽ còn xa vời.

Nói cho chính xác, chúng ta đang đối phó không phải với một hình thức của lạc thuyết Ariô, nhưng với một trào lưu đối lập với nó. Tuy nhiên, vào thời kỳ đó, các Giáo Phụ không cho là cần phải đưa ra một định tín mới, các ngài không triệu tập một Công đồng chung mới, nhưng để chống lại Marcel và Photin, các ngài sẽ luôn viện dẫn định tín của Nicêa. Nicêa thực sự lên án không chỉ sai lầm của Ariô, về thần tính của Đức Kitô, mà còn lên án sai lầm của Paul Samosate, Marcel Ancyre và Photin[151].

Khi người ta biết cuộc tranh luận căng thẳng nào và sàng lọc nào đã được đưa ra, trước và sau Công đồng, những câu và thuật ngữ được tín điều xác nhận, người ta không còn ngạc nhiên về độ chính xác, chiều sâu và tầm quan trọng rất lớn của chúng, và người ta không bị cám dỗ gán chúng cho việc chúng ta đọc chúng. Rõ ràng không phải chúng ta cường điệu hóa những kiểu nói như “được sinh ra, mà không phải được tạo thành”. Chỉ cần đọc Athanasiô, Ariô, Basiliô hoặc Eunomiô để nhận ra rằng, đúng hơn, chính chúng ta ngày nay hời hợt và xa rời đến mức nào sự nhạy bén, tính chính xác và khả năng của các ngài đánh giá tầm quan trọng và hậu quả tiếp theo của mỗi lời khẳng định.

Nói chung, người ta ghi nhận một sự nhẹ dạ và chủ nghĩa cơ hội lớn trong việc giải thích định tín của Nicêa, một cách giải thích không dựa trên các bản văn, nhưng dựa trên một cách thông diễn dễ dãi[152]. Nếu ngày nay được phép cố gắng giải thích ý định cơ bản và ý nghĩa của định tín Nicêa, thì đối với thời đại của chúng ta, theo ý kiến ​​​​của tôi, vấn đề là như sau: bằng cách gọi Ngôi Lời đồng bản thể, homoousios, Công đồng muốn nói là, trong mọi văn hóa, Ngôi Lời, và do đó Đức Kitô, phải được coi là “Thiên Chúa”, không phải theo một ý nghĩa nào đó, cũng không phải theo ý nghĩa giảm nhẹ và phái sinh, nhưng theo nghĩa mạnh nhất của từ này, trong văn hóa này. Theo nghĩa này, đồng bản thể, homoousios, là một “cơ cấu mở”, như B. Lonergan đã định nghĩa.

Một bản văn Isaia, mà các tác giả Kitô giáo đã áp dụng từ rất sớm cho Đức Kitô (đã có trong À Diognète), nói rằng: “Không phải một sứ giả, cũng không phải một thiên thần, nhưng chính Người đã cứu họ, vì Người yêu thương họ” (Is 63,9, LXX). Nicêa là sự thừa nhận dứt khoát niềm tin chắc chắn này là, trong Đức Kitô, chúng ta không đến với một trung gian thuần túy, cũng không chỉ là một Đấng mạc khải Thiên Chúa, hay một tiên tri, nhưng là chính Thiên Chúa, và Thiên Chúa đến với chúng ta.

Nicêa là một cái gì đó hoàn toàn khác với sự công nhận một ngôn ngữ thần thoại về Thiên Chúa. Nhiều sự lầm lẫn đã xảy ra do việc sử dụng bừa bãi và thiếu phê bình phạm trù “thần thoại”. Vì sự lầm lẫn này, một phần lớn tư tưởng Kinh Thánh và giáo phụ bị nhuốm màu nghi ngờ và dễ bị thao túng. Tất cả ngôn ngữ tôn giáo, bằng cách này hay cách khác, đều là thần thoại, theo nghĩa nó dựa trên các lược đồ và cách thể hiện thế giới của chúng ta, một thế giới dầu sao cũng khác với thế giới thần linh. Liên quan tới yếu tố chung triệt để này, sự khác nhau giữa cách thể hiện cổ đại và hiện đại về thế giới (nếu lịch sử có thể được phân chia cách quá đơn giản như vậy) là hoàn toàn tương đối và thứ yếu. Những gì còn lại sau khi giải thần thoại hóa (démythologisation), chẳng phải nó cũng là thần thoại sao? Ý nghĩa của câu nói: “Thiên Chúa đã hành động trong Đức Kitô” hay “Đức Kitô là sự mạc khải tối cao của Thiên Chúa” là gì? Trong những câu này cũng vậy, phải chăng người ta không chuyển từ “bộ ghi ngữ nghĩa này sang bộ ghi ngữ nghĩa khác”? Để được mạch lạc, phải kết luận rằng chính đức tin, trong mỗi cách diễn đạt của nó, đều là thần thoại. Và quả thực người ta biết rằng đây là kết luận của một số đệ tử của Bultmann – như H. Braun – người đã đưa lý thuyết của thầy mình đến những hệ quả cực đoan nhất và lôgíc nhất. Đối với họ, Đức Giêsu chỉ là con người và Kitô học chỉ là nhân học. Giải pháp thay thế thực sự triệt để duy nhất đối với ngôn ngữ thần thoại về Thiên Chúa, nếu người ta dầu sao vẫn muốn là một Kitô hữu, là hoàn toàn im lặng về Thiên Chúa. Nhưng sự im lặng về Thiên Chúa hẳn sẽ nguy hiểm hơn là nói về Người một cách không hoàn hảo. Thánh Augustinô viết: “Người ta nói gì khi người ta nói điều gì đó về bạn? Tuy nhiên, khốn thay những ai im lặng về bạn!”[153] Phương thuốc thực sự chống lại nguy cơ hoang đường này là ý thức rằng mọi biểu tượng đều không phù hợp và lặp lại sau mọi khẳng định về Thiên Chúa: “Nhưng Thiên Chúa không phải thế, Thiên Chúa không phải thế”[154].

Do đó ngay từ đầu, đã có ý định “chuyển dịch một cách có hệ thống chân lý của các Công đồng Kitô học cổ đại, khởi đi từ bối cảnh văn hóa xã hội Hy lạp, sang chân trời văn hóa của thời đại chúng ta”[155]. Nhưng kết quả là những gì đã được dịch bằng những thuật ngữ hiện đại, lại không phải là học thuyết của các Công đồng cổ đại, nhưng là học thuyết bị các Công đồng đó lên án.

Có một động lực khác thêm vào động lực để dịch sứ điệp sang các phạm trù hiện đại: đó là đánh giá lại nhân tính của Đức Giêsu và tầm quan trọng của việc thực hành Nước Trời. Người ta xác tín rằng, cho đến lúc đó, Kitô giáo đã rất đơn phương nhấn mạnh thần tính của Đức Giêsu, biến Ngài thành “Linh ảnh vĩ đại”, “Linh ảnh thần linh”, nghĩa là một mầu nhiệm thiên quốc để phụng tự, bỏ qua nhà tiên tri gây phiền phức Giêsu Nadaret[156]. Nhưng phải chăng chúng ta có thể thành thật nói rằng ngày nay và ở Tây phương, ít nhất ở Tây phương, Truyền Thống đã quá đơn phương nhấn mạnh đến thần tính của Đức Kitô? Hay phải chăng rõ ràng là hoàn toàn ngược lại, như tôi đã cố gắng trình bày trong chương nói về niềm tin vào nhân tính của Đức Kitô hôm nay? Chúng ta đang ở trong tình huống mà Pascal đã mô tả tuyệt vời bằng những lời sau đây: “Nguồn gốc của mọi lạc giáo là loại trừ một số những chân lý này; và nguồn gốc của mọi phản đối của những người lạc giáo là không hiểu biết một số những chân lý của chúng ta… ví dụ: Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa và là con người. Nhóm Ariô, vì không thể kết hợp những điều này, mà họ nghĩ là không thể tương thích với nhau, nói rằng Ngài là con người: về điều này họ là người Công giáo. Nhưng họ phủ nhận Ngài là Thiên Chúa: về điều này họ là những kẻ lạc giáo. Họ cho rằng chúng ta phủ nhận nhân tính của Người: về điều này họ là những người dốt nát”[157].

4. “Chúng thuộc về thế gian”

Giờ đây chúng ta hãy tìm cách khám phá xem có thể đến với điều này như thế nào; tại sao nó lại xảy ra với thần học, và đặc biệt với thần học công giáo. Lời giải thích nằm trong câu của thánh Gioan, câu mà từ đó chúng ta đã bắt đầu, và được tóm tắt lại trong phạm trù “thế gian” hay “tính thế tục”, mà ngày nay chúng ta có thể dịch là “thế tục”, hay “chủ nghĩa thế tục”: “Chúng thuộc về thế gian, vì thế chúng nói theo thế gian và thế gian nghe chúng” (1Ga 4,5).

Tôi không thể khẳng định rằng những anh em trong đức tin này hẳn có ý định phục vụ chính nghĩa của thế giới, hơn là của Đức Kitô. Ngược lại! Không ai có quyền nghi ngờ ý định của họ, cũng như sự gắn bó của họ với Giáo Hội. Tuy nhiên, trong nỗ lực của mình, họ đã bị lôi cuốn vào logíc của thế giới, là logíc chỉ công nhận và coi trọng những gì thuộc phạm trù của nó, theo định nghĩa là những phạm trù “thế tục”, tức là nhân bản và lịch sử. Có lẽ lời giải thích chủ nghĩa thế tục nằm ở chỗ không có khả năng kết hợp Thần Khí và lịch sử, và do đó, thời gian và vĩnh cửu. Ý nghĩa lịch sử, chắc chắn là một trong những cuộc chinh phục đáng kể nhất của văn hóa Tây phương hiện đại, đã bị biến thành một sự bần cùng khủng khiếp và một loại nhà tù, kể từ lúc nó cho thấy không thể mở ra cho ý nghĩa thiêng liêng và đón nhận nó. Điều bất lợi của việc thường hy sinh ý nghĩa lịch sử vì lợi ích của ý nghĩa thiêng liêng, khiến tư tưởng giáo phụ bị chỉ trích, ngược lại, được tìm thấy lại trong tư tưởng ngày nay, nhưng theo một cách triệt để hơn nhiều.

Tôi tin rằng chúng ta đang đứng trước giai đoạn không biết thứ mấy của cuộc xung đột giữa kerygmasophia, nghĩa là giữa việc rao giảng Kitô giáo và sự khôn ngoan của con người; và thậm chí, trong một số trường hợp cực đoan, chúng ta có việc cần giải quyết với một sự giản lược thuần túy và đơn giản khởi giảng thành khôn ngoan, có được bằng cách sử dụng thông diễn học mà không phân biệt. Người ta đã nói rằng tội cơ bản của tư tưởng Kitô giáo hiện đại là làm tăng giá trị của Chúa Thánh Thần như một “sự thay thế cho sức mạnh của thuyết phục, cho tính hợp pháp, cho tính có vẻ như thực, cho sự đáng tin bên trong, cho cuộc tranh luận khách quan”[158], trong khi chính điều hoàn toàn ngược lại mới đúng, cụ thể là, đặc biệt trong một loại thần học châu Âu nào đó, người ta đã làm cho sức mạnh của thuyết phục, của khả năng được chấp nhận và của sự đáng tin bên trong – nghĩa là hợp lý – thay thế cho Chúa Thánh Thần, đảo ngược phương pháp của thánh Phaolô, người đã nói: “Tôi nói, tôi giảng (kerygma) mà chẳng có dùng lời lẽ khôn khéo hấp dẫn (sophia), nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của Thần Khí và quyền năng Thiên Chúa. Có vậy đức tin của anh em mới không dựa vào lẽ khôn ngoan người phàm, nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa” (1Cr 2,4-5).

Trong sự giản lược kerygma thành sophia và Thần Khí thành lịch sử, vai trò quyết định thuộc thông diễn học, nghĩa là khoa học hiện đại về việc giải thích các bản văn. Thông diễn học phải là một loại bột giặt, giặt sạch những chất xỉ của con người và không quan trọng bám vào vải đức tin. Nhưng bột giặt này hóa ra lại mạnh mẽ và có tính ăn mòn đến nỗi làm cho vải đức tin rã ra, thay vì trở nên sạch. Đầu tiên gánh chịu hậu quả là chính Kinh Thánh. Linh hứng Kinh Thánh cuối cùng được coi là một “học thuyết của cổ đại hậu thời” chỉ xuất hiện vào cuối quy điển Tân Ước, cũng chính là thời kỳ bị nghi ngờ là chịu ảnh hưởng của Hy lạp, đặc biệt là trong loại bói toán.[159] Thực sự, đối với một số tác giả được khảo sát, nó không còn là một tiêu chuẩn tuyệt đối nữa. Quả thực, khoa thông diễn học cho phép lấy từ Kinh Thánh những gì người ta muốn hoặc những gì hữu ích, và bỏ qua những gì không hữu ích, được coi là “thứ yếu”, “hậu thời” hoặc như một lớp áo thần thoại. Thẩm quyền của Phúc Âm thứ IV hầu như biến mất. Phúc Âm này đại diện cho một giai đoạn Hy lạp hóa dữ dội của Kitô giáo. Sẽ không có giới hạn nào ngăn cách các tác phẩm thuộc quy điển với những tác phẩm khác. Chỗ ngắt, đúng hơn, thuộc lãnh vực lịch sử hoặc ý thức hệ và sẽ được thông qua, như đã xảy ra trong thời của thần học tự do và lịch sử đối chiếu các tôn giáo, chẳng hạn nơi W. Bousset.

Theo tôi, một trong những hiệu quả của việc thay thế thông số (paramètre) phê bình này cho thông số đức tin là ưu tiên dành cho tư cách của nhà tiên tri thời cánh chung, so với những tư cách của Đức Kitô, Ngôi Lời, Con loài người hoặc Con Thiên Chúa. Nó càng có tầm quan trọng vì, liên quan đến nó, người ta có tư liệu cổ xưa, ngược lên tới chính Đức Giêsu. Do đó, không phải là toàn bộ, như nó xuất hiện ở phần cuối của tiến trình lịch sử, điều hẳn là thật, nhưng là một khoảnh khắc của quá trình. Điều thật hẳn là điều cổ xưa! Theo tiêu chuẩn này – tiêu chuẩn biểu lộ những hơi hướng của chủ nghĩa lãng mạn – phải nói rằng hình thức xác thực nhất của thuyết độc thần trong Kinh Thánh không phải là hình thức của một cuộc tiến hóa, nhưng là hình thức bắt nguồn từ những truyền thống đầu tiên của Ngũ Thư; thuyết độc thần đó, ở hình thức triệt để mà nó xuất hiện trong sách Isaia chẳng hạn, là sự thích nghi lịch sử, do những hoàn cảnh bên ngoài, của một đức tin mà, ngay từ đầu, đã không đòi hỏi nhiều và không loại trừ bất cứ hiện hữu nào của các vị thần khác, hơn nữa lại thấp kém.

Sự thông diễn tục hóa này còn biểu lộ rõ ​​ràng hơn, trong cách thức bàn về các Công đồng và trong việc lựa chọn cái phải là nguồn mạch đức tin hay những “nguồn” thần học. Các định tín của Công đồng cũng được coi là những “giả thuyết” chứ không phải là những chân thuyết. Thay cho một sự giải thích vốn để ý đến kinh nghiệm đức tin và vốn sống Kitô giáo, là lời kêu gọi thực hành – mà người ta không bao giờ xác định rõ bản tính của nó – và nhất là viện dẫn hàng loạt triết học dưới mọi hình thức của nó, ngay cả những hình thức xa lạ nhất với nhãn quan đức tin. Việc xem xét cẩn thận các mục lục của các tác giả, được trích dẫn trong các Kitô học này, tự nó giải thích nhiều điều.

Chính như thế mà chúng ta chứng kiến ​​một biến cố không thể tin được: hai mươi thế kỷ kinh nghiệm về thần tính của Đức Kitô và sự tôn thờ Ngài, hai mươi thế kỷ của một công trình vĩ đại về thần học, phụng vụ và thần bí Ba Ngôi, trong đó giáo thuyết về Ba Ngôi đã nuôi dưỡng và lên khuôn cho sự thánh thiện của Giáo Hội, trao cho nó một dấu ấn Ba Ngôi, trong mọi biểu hiện của nó, tất cả những điều này đều bị bỏ qua, hoặc bị xóa nhòa, giống như một miếng bọt biển, nhờ vào mưu mẹo của thông diễn giải thích rằng toàn bộ sự việc đơn giản là do ảnh hưởng của thần học về Ba Ngôi, chứ không phải ảnh hưởng của chính Ba Ngôi, trên đời sống Giáo Hội. Và điều này xẩy ra, khi khẳng định rằng tiêu chuẩn nền tảng để giải thích đức tin phải bắt đầu từ việc thực hành và cảm nghiệm ơn cứu độ nơi Đức Kitô!

Gioan viết cho các Kitô hữu đầu tiên: “Phần anh em, anh em nhận được dầu do tự Đấng Thánh, và tất cả anh em đều được ơn hiểu biết… dầu mà anh em đã lãnh nhận từ Đức Kitô ở lại trong anh em, và anh em chẳng cần ai dạy dỗ nữa” (1Ga 2,20.27). Làm thế nào để hiểu những lời này về vị thầy bên trong? Chúng ta có phải từ điều này mà suy ra rằng từng người Kitô hữu biết mọi sự và không phải học hỏi gì từ người khác không? Dĩ nhiên là không. Một lần nữa, hậu cảnh là cộng đồng Kitô giáo và thế giới. Anh em không cần ai dạy anh em, ngoài việc xức dầu, nghĩa là ngoài lãnh vực mà việc xức dầu hành động, mà thực tế là lãnh vực của Giáo Hội; đặc biệt về đức tin, không có vấn đề học với những người thế gian, là những người không được xức dầu và không tin.

Một khoa thông diễn nào đó ngày nay đã trở thành nơi mà lý trí trả thù đức tin. Để ủng hộ nó, người ta một tay lấy lại điều mà, bằng tay kia, đức tin đã dâng cho Thiên Chúa. Chẳng hạn chỉ cần quả quyết, thậm chí không cần phải chứng minh, rằng “những tuyên bố về tình phụ tử của Thiên Chúa, sự tiền hữu, sự trung gian sáng tạo và sự nhập thể, thường được trình bày dưới những hình thức thần thoại hoặc gần như thần thoại thời đó, mà cuối cùng chỉ hướng tới điều này: thiết lập đặc tính duy nhất, không thể suy diễn và không thể vượt qua của lời mời gọi, sự dâng hiến và đòi hỏi, những điều đã được công bố bởi và nơi Đức Giêsu”[160], để đột nhiên, người ta được miễn cho khỏi phải tin vào sự tiền hữu và sự nhập thể. Bằng một thủ đoạn khéo léo, người ta tránh được sự khó nhọc của nghĩa vụ phải tin, và hành vi tin thực sự bị trì hoãn sine die.

Đây là một trường hợp khác về việc giảm trừ mạnh mẽ đức tin bằng phép thông diễn, hay diễn giải. Người ta nói: “Chúng tôi không thể tùy ý sử dụng Kitô giáo nếu thích”, điều này rất chính đáng. Khi ấy tiêu chuẩn là gì? Đó là chính hành (orthopraxie), nghĩa là “một Kitô giáo đích thực phù hợp với thực hành của cuộc đời và cái chết của Đức Giêsu”. Và làm thế nào để người ta biết đâu là thực hành đúng? “Không thể chính hành ngoài khuôn khổ của một sự giải thích”[161]. Và như thế lời quay trở lại với những người phiên dịch, những người mà lời cuối cùng về vấn đề đức tin thuộc về họ.

Kierkegaard đã minh họa sự lạm dụng thông diễn này, áp dụng cho Kinh Thánh, bằng một ví dụ ngày nay thậm chí còn đúng hơn cả khi ông viết: “Hãy tưởng tượng một đất nước mà mệnh lệnh của nhà vua sẽ được trao cho tất cả các viên chức, cho tất cả thần dân, tóm lại là cho toàn dân. Và chuyện gì xảy ra? Người ta nhận thấy một sự thay đổi kỳ lạ nơi mọi người: mỗi người biến thành thông dịch viên, công chức trở thành văn sĩ, mỗi ngày một bài bình luận mới xuất hiện, luôn uyên bác hơn, tinh tế hơn, tài tình hơn, sâu sắc hơn, đáng kinh ngạc hơn, tao nhã hơn và một sự tao nhã hấp dẫn hơn ở bài này so với bài kia; việc phê bình, vốn có nhiệm vụ cung cấp thông tin, hầu như không thành công trong việc đối phó với khối văn chương khổng lồ này; tệ hơn, bản thân sự phê bình cũng phình to ra không thể đo lường được trong một khối văn chương khổng lồ, mà người ta không còn có thể theo dõi nữa: mọi thứ đều là diễn giải, nhưng không ai đã đọc chiếu chỉ của nhà vua theo cách phù hợp với nó. Và như thể sự lạm phát thông diễn này là không đủ, thì đây tiêu chuẩn về tính nghiêm túc cũng đã thay đổi, chính thông diễn học từ đó trở đi đã trở thành điều nghiêm túc thực sự”[162].

Trong suy nghĩ của nhà triết học này, có một thành tố tiên tri, cũng như theo nghĩa Kinh Thánh của thuật ngữ này, mà chính ông, cho đến cuối đời, đã ý thức được, và không thể hiểu được, nếu không phải nhờ Thần Khí, nghĩa là đi vào viễn tượng của ông. Từ khi trong hệ thống của mình, Hegel đặt triết học trên tôn giáo và đức tin, như biểu hiện tối cao của Tinh Thần, đã có một loạt nỗ lực của lý trí và thần học để vượt “lên trên” đức tin. Kierkegaard còn lưu ý rằng, Abraham không có ý định vượt lên trên đức tin, nhưng hài lòng với việc tin[163]. Đối với ông, sự kiện tin được coi như đủ nghiêm trọng. Ở giai đoạn này, làm sao lại không nhớ đến câu mà trong Thư thứ hai của mình, Gioan đã lấy lại chủ đề rất thân thương về việc phân định các thần: “Vì có nhiều người mê hoặc đã lan tràn khắp, họ là những kẻ không tuyên xưng Đức Giêsu Kitô đã đến và trở nên người phàm… Phàm ai đi quá xa (proagôn), không ở lại trong giáo huấn của Đức Kitô, thì không có Thiên Chúa” (2Ga 7-9). Khi ấy, đã có những người đi “quá xa”.

Nếu nguyên nhân của sự xa lạc những con đường đức tin này, như Gioan đã nói, là “thế gian” – nghĩa là loại bỏ khỏi thế gian những người xét xử đức tin, cũng như những người bị đức tin xét xử – thì con đường để ra khỏi tình trạng này chỉ có thể là một sự hoán cải của thế gian: “Nếu trong anh em có ai tự cho mình là khôn ngoan theo thói đời, thì hãy trở nên như điên rồ, để được khôn ngoan thật. Vì sự khôn ngoan đời này là sự điên rồ trước mặt Thiên Chúa” (1Cr 3,18). Đây là một loại luật; bất cứ điều gì do một ai đó viết trước khi trải qua quá trình hoán cải này, đều đáng ngờ; đó là khôn ngoan của đời này và do đó, là điên rồ trước mặt Thiên Chúa. Ngay cả các Giáo Phụ cũng phải trải qua cuộc hoán cải này. Thánh Augustinô và trước ngài là Victorinô – ngài kể lại cuộc hoán cải của ông này trong Tự thú – đã bị coi là điên rồ, mất mặt trước đồng nghiệp, bị “trục xuất khỏi hội đường”, coi như đồ bỏ, để có thể tiếp cận mầu nhiệm và sự khôn ngoan Kitô giáo. Họ cũng cố gắng chống cự, lưỡng lự, đau khổ, nhưng họ cũng như “người mù từ lúc mới sinh” trong Phúc Âm đã làm, đã nhận ra rằng một khi bị trục xuất khỏi hội đường, thì họ dễ dàng tin hơn nhiều (x. Ga 9,35). Một môi trường hàn lâm nào đó – nơi thần học cùng chung đụng khắng khít với các môn thuần nhân văn khác và phải bảo vệ yêu sách của mình cũng là một khoa học – có thể dễ dàng trở thành “hội đường”, nơi người ta sợ bị loại trừ khỏi đó, nếu người ta tin vào một Thiên Chúa làm người (x. Ga 9,22).

Trong Kinh Thánh, có một cuộc hoán cải cho mọi người và cho mọi hoàn cảnh: cho những người tội lỗi, như cô Maria Magđala và người phụ nữ xứ Samaria, cho những viên chức, như Dakêu, cho những người lãnh đạo Giáo Hội, như Phêrô và các Tông Đồ khác. Trong trường hợp sau, đó là sự hoán cải của ước muốn làm người lớn nhất (x. Mt 18,1tt). Cũng có một sự hoán cải đối với các học giả và nhà thần học, và đó là sự hoán cải từ sự khôn ngoan giả sang sự khôn ngoan thật, từ sự khôn ngoan của thế gian sang sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Cá nhân Phaolô đã trải nghiệm sự hoán cải này và do đó ngài có thể nói về nó cho những người khác. Đức Giêsu nói rằng Chúa Cha đã mạc khải các mầu nhiệm Nước Trời, và trước hết là mầu nhiệm con người của Ngài, cho những kẻ bé mọn. Đức tin đích thực vào thần tính của Đức Kitô chỉ có thể nảy sinh từ một cuộc hoán cải như vậy. Diễn giải dài dòng một câu nói nổi tiếng của Đức Giêsu, chúng ta phải nói: Nếu trí khôn – lý trí con người – rơi xuống đất mà không chết đi, nó vẫn trơ trọi một mình: nó chỉ còn là lý trí con người, tự nhiên. Trái lại, nếu nó chết đi, nó sinh nhiều hoa trái (x. Ga 12,24). Nó đã không mang lại hoa trái nào nơi Phaolô, nơi Augustinô và nơi nhiều người khác đó ư! Chừng nào chưa trải qua kinh nghiệm này, thì không thể thực sự tiếp cận được mầu nhiệm; người ta nói về nó, nhưng không nhận ra rằng mình vẫn ở bên ngoài nó. Người ta đang xử lý vỏ cây, không phải lõi. Chừng nào Đức Giêsu không chuyển từ hàng đối tượng nghiên cứu, mà người ta phân tích, thống trị và bao quanh, trong một khảo luận Kitô học, sang hàng chủ thể thống trị chúng ta, chinh phục chúng ta và người ta từ bỏ mình cho Ngài, thì tất cả những gì người ta viết chỉ là “văn tự” và đôi khi là văn tự “giết chết”. Không ai, ngoại trừ chính đương sự, có thể biết chắc chắn liệu một nhà thần học đã hay không trải qua kinh nghiệm “bị đóng đinh” cho thế gian. Do đó, không ai có quyền phán xét, hoặc quyết định ai là nhà thần học về tinh thần, và ai là nhà thần học về văn tự. Tuy nhiên, đương sự có thể biết điều đó, vì vậy chính anh ta có thể và phải tự phán xét mình.

5. “Đấng ở trong anh em thì mạnh hơn điều ở trong thế gian”

Do đó, liệu sai lầm có ở chỗ áp dụng khoa thông diễn cho đức tin không? Không. Điều này các Giáo Phụ đã làm theo những cách khác nhau. Bản thân tôi đã cố gắng làm như vậy, trong những trang này, nhiều ngần nào có thể. Giải pháp thay thế cho đề xuất này hẳn là phái duy căn Kinh Thánh và một Kitô giáo chỉ lặp đi lặp lại, không có sự sống. Sai lầm ở chỗ, đúng hơn, không biết rằng khoa thông diễn có những giới hạn không thể vượt qua được, trong dữ kiện mạc khải của Kinh Thánh, được các Công đồng làm rõ nhờ tín điều. Hơi giống cách diễn giải âm nhạc của một bản giao hưởng hay oratorio nổi tiếng: cách diễn giải này chắc chắn sẽ khác, tùy thuộc vào sự nhạy cảm của thời điểm và của người chỉ huy, nhưng nó không thể đi xa đến mức thay đổi bản nhạc gốc của tác phẩm, khiến cho tác phẩm trở nên khác.

Chính vì vậy sai lầm là ở chỗ gán cho khoa thông diễn nhiệm vụ liên tục tái tạo, hoàn toàn trong mỗi thời kỳ, niềm tin vào Đức Kitô, bằng cách thiết lập trên tiến trình này – chứ không phải trên một cái gì đó khách quan và tồn tại ngay từ đầu nơi chính Đức Giêsu – tính phổ quát do Kitô giáo đòi hỏi[164]. Một lời giải thích như vậy về tính phổ quát của đức tin có lẽ hiểu được, nếu ơn cứu độ Kitô giáo về cơ bản chỉ là đáp ứng những kỳ vọng của con người. Trong trường hợp này, chỉ cần những kỳ vọng này thay đổi triệt để (nếu có thể) để câu trả lời cũng sẽ thay đổi theo. Nhưng ơn cứu độ Kitô giáo là một điều gì đó hoàn toàn khác với sự đáp ứng những kỳ vọng của con người; nó là thứ “không bao giờ đi vào lòng người”; đó là một quà tặng không thể tưởng tượng được, vượt quá mọi kỳ vọng; đó là một ân sủng. Từ một học thuyết, trong đó ý nghĩa của Đức Kitô được xem xét từ góc độ hành động của Ngài, không lệ thuộc vào con người của Ngài, người ta sẽ chỉ có thể tuyên bố rằng một học thuyết về ân sủng, trong đó “ân sủng của Đức Kitô” sẽ được giản lược thành “gương Đức Kitô”, như trong chủ thuyết của Pêlagiô.

Người ta biết loại dự phóng này đang dẫn đến đâu, bao gồm việc giao cho mỗi thời kỳ nhiệm vụ xác định lại yếu tính của Kitô giáo, mà không cảm thấy bị ràng buộc với bất cứ điều gì được đưa ra dứt khoát. Albert Schweitzer đã chỉ ra điều đó, trong hơn một thế kỷ qua, trong cuốn Lịch sử nghiên cứu về cuộc đời Đức Giêsu của ông. Ngay từ đầu, mỗi thế hệ các nhà thần học đều có ý định giải thoát Đức Kitô khỏi xiềng xích của các tín điều trong Giáo Hội, để đưa Ngài đến gần chúng ta hơn và các vấn đề của chúng ta. Kết quả là mỗi thời kỳ đều phóng chiếu lên Đức Giêsu những tư tưởng và khuynh hướng lần lượt thịnh hành trong xã hội. Nó mặc cho Ngài những bộ quần áo hợp thời trang. Nó đã sử dụng Đức Kitô như một trung tâm để thử nghiệm các lý thuyết riêng của mình. Người ta lấy làm lạ khi nhận thấy rằng không một thần học hiện đại nào lại không khởi đi từ công trình, được minh họa trong cuốn sách này, và không dựa một phần trên kết quả của nó, để biện minh cho việc từ bỏ các khuynh hướng tự do, mà không thấy rằng tiến trình tương tự được lặp lại ngay từ thế kỷ của chúng ta và điều đó, trong một số trường hợp – những trường hợp mà chúng ta đang xem xét ở đây – người ta thậm chí còn đứng trong đó. Chỉ cần vào cuối thế kỷ này, một người nào đó có đủ kiên nhẫn và can đảm như Albert Schweitzer, để thế kỷ tiếp theo nhận thấy mình là nơi lưu giữ di sản, vẫn còn gia tăng, mà chúng ta đã nhận được từ thế kỷ trước. Những gì đã xảy ra trong thần học tự do của thế kỷ trước đã được tái tạo trong thời đại của chúng ta trong thần học khởi giảng: một lịch sử “con lắc”, xét về cốt lõi của niềm tin vào Đức Kitô – bất chấp sự tiến bộ không thể bàn cãi có thể nhận thấy ở một vài điểm cụ thể – cả trên bình diện phương pháp lẫn trên bình diện nội dung. Niềm tin vào Đức Kitô, mà mỗi thời kỳ cấu tạo cho mình, trên cơ sở của phương pháp này, sẽ không bao giờ là điều gì khác ngoài một hình vẽ mà con sóng tạo ra trên bãi biển, và con sóng tiếp theo sẽ xóa đi.

  1. Schweitzer kết thúc câu chuyện của mình bằng một cái nhìn gợi ý. Ông viết: “Một điều kỳ lạ đã xảy ra khi nghiên cứu về Đức Giêsu. Cuộc nghiên cứu bắt đầu để tìm thấy Đức Giêsu lịch sử, với ý nghĩ rằng khi tìm thấy Ngài, hẳn có thể đưa Ngài y nguyên vào trong thời đại chúng ta, với tư cách một bậc thầy và vị cứu tinh. Một khi tháo bỏ những dải băng mà hàng thế kỷ nay đã ràng buộc Ngài vào tảng đá tín điều, người ta vui mừng khi thấy hình ảnh của Ngài sống lại và chuyển động, và chiêm ngưỡng con người Giêsu của lịch sử đang tiến về phía chúng ta. Nhưng Ngài đã không dừng lại: Ngài đã vượt quá thời của chúng ta và… trở về với thời của Ngài. Ngài đã trở lại đó, theo cùng một nhu cầu muốn rằng quả lắc (đồng hồ), khi người ta để nó lắc tự do, sẽ trở lại vị trí nguyên thủy của nó.”[165].

Cũng theo tác giả này, Đức Kitô trở lại mỗi lần trong thời của mình; về phần tôi, tôi sẽ nói rằng Đức Kitô trở lại mỗi lần với nơi của Ngài. Ngài trở về với Giáo Hội, mà mỗi lần người ta cố gắng “tách” Ngài ra khỏi đó, vì Ngài hiện nay cũng như thuở ban đầu: Đức Kitô chỉ có ý nghĩa đối với cộng đồng sống bằng niềm tin vào Ngài và trong đó – và chỉ trong đó – Ngài mới là “Đấng đang sống”, theo nghĩa thực chứ không phải ẩn dụ”.

6. Giải thoát Đức Kitô khỏi những xiềng xích của tín điều Giáo Hội

Nhưng ở đây một diễn từ quan trọng mở ra cho chúng ta. Giáo Hội – một Giáo Hội  bao gồm cả phẩm trật lẫn thần học và mục vụ rao giảng – không thể hành động như thể không có chuyện gì xảy ra, cũng không thể hài lòng khi nói: “Bạn thấy rằng tôi đã đúng!” Nhiệm vụ của Giáo Hội và sự chính thống là cho thấy có thể bảo vệ những yêu cầu mới này do các nhà thần học này đưa ra và trao cho họ quyền được lên tiếng, trong khi vẫn nằm trong giới hạn của đức tin truyền thống ; cho thấy Truyền Thống có khả năng đón nhận sự tiến bộ, ở chính nơi mà sự tiến bộ đã chứng tỏ là không có khả năng đón nhận Truyền Thống. Nói khác đi, các công thức tín điều truyền thống, với bản chất hữu thể học, có thể thích ứng với cách đọc hiện đại, có tính chất chức năng và năng động hơn, trong khi điều ngược lại không phải lúc nào cũng được kiểm chứng. Nói rằng Đức Giêsu Kitô là “Thiên Chúa thật” không loại trừ, nhưng đúng hơn ngụ ý rằng Ngài là “sự tự mạc khải của Thiên Chúa” cách dứt khoát, là việc thông ban chính mình cho con người. Ngược lại, nói rằng Ngài là “sự tự mạc khải của Thiên Chúa” không phải lúc nào cũng ngụ ý hoặc bảo vệ lời quả quyết rằng Ngài là “Thiên Chúa thật”.

Đặc biệt hơn, Giáo Hội, và cụ thể là các mục tử và những người loan báo Phúc Âm, phải chứng minh rằng việc “chiến đấu cho thần tính của Đức Kitô” không có nghĩa là bịt miệng tiếng nói quấy rầy của tiên tri Giêsu Nadaret, khi tiếng nói này thách thức các hình thức tôn giáo xơ cứng, những kiểu đạo đức giả và vụ hình thức, cũng như khuynh hướng quá cũ giới thiệu chúng như được chính Thiên Chúa thiết lập và do đó, như không thể thay đổi những điều mà người ta không muốn thay đổi. Nhiệm vụ của chúng ta là chứng minh rằng việc công bố thần tính của Đức Kitô không làm giảm sức mạnh phê phán của Đức Giêsu, con người và vị tiên tri, mà còn làm gia tăng nó rất nhiều. Có lời chép rằng con người nhìn bề ngoài, nhưng Thiên Chúa dò xét tận đáy lòng (x. 1Sm 16,7; Cn 15,11). Nếu Đức Giêsu chỉ là một con người, thậm chí là một tiên tri thời cánh chung, thì Ngài không thể dò thấu lương tâm của mỗi người, kể cả lương tâm của con người hôm nay, những người đã cách biệt Ngài hai ngàn năm. Ngài chỉ có thể làm điều này nếu Ngài cũng là Thiên Chúa. Vả lại, Ngài làm, vì Ngài cũng là Thiên Chúa.

Chẳng phải chính Giáo Hội thực hiện hoạt động này, mà không ai khác có thể và cũng không thể thực hiện được, đó là “giải phóng”, theo nghĩa xây dựng, Đức Kitô khỏi xiềng xích của tín điều Giáo Hội? Tín điều Kitô học của Nicêa và Calcêđônia được soạn thảo qua một tiến trình chọn lọc và giản lược. Trong số nhiều tên gọi của Đức Giêsu và nhiều cách nói về Ngài, những cách được chọn, theo thời gian, đã chứng tỏ là hiệu quả nhất để đối thoại với nền văn hóa thời bấy giờ và để đối đầu với các lạc giáo. Điều này giải thích sự ưu tiên dành cho tước hiệu Logos, hay Ngôi Lời Thiên Chúa. Trong cuộc tranh luận thần học, dữ kiện Kinh Thánh đưa ra bị thu nhỏ lại, theo kiểu hình nón, cho đến khi đạt tới đỉnh của nó trong định tín của Calcêđônia, nơi Đức Kitô được định tín là Thiên Chúa thật và người thật, nghĩa là “một ngôi vị trong hai bản tính”. Giải thoát Đức Giêsu khỏi sự gò bó của tín điều Giáo Hội chắc chắn không thể bao hàm việc phớt lờ Calcêđônia, hay tệ hơn, rõ ràng chống đối nó; nhưng bù lại, điều đó có thể có nghĩa là người ta bắt đầu lại, trong mỗi thời đại, từ tính tổng thể và tính cụ thể của dữ kiện Kinh Thánh liên quan đến Đức Giêsu, bằng cách đánh giá những cách nói về Ngài, đã bị bỏ quên trong các bối cảnh văn hóa trước đó (trong số đó – tại  sao không? – tên gọi của nhà tiên tri thời cánh chung), trong mức độ chúng trở nên hữu ích và có ý nghĩa hôm nay. Điều này ngụ ý, không xây dựng toàn bộ diễn từ Kitô học – như đã được thực hiện, trong các sách giáo khoa, cách đây không lâu – theo cách một hình nón lớn đảo ngược, nằm hoàn toàn trên hình nón trước đó, nghĩa là, trên công thức “một ngôi vị trong hai bản tính”, nhưng đúng hơn giống như một hình nón, lấy toàn bộ những gì được đưa ra trong Kinh Thánh làm cơ sở và bao gồm trong đó sự tổng hợp của thời đại giáo phụ và suy tư hiện đại, bay lên tới một đỉnh cao mới và một tổng hợp mới. Điều này có thể làm được và một số trong những khảo luận hay nhất hiện nay về Kitô học đang tiếp cận. Có như vậy, người ta mới coi Calcêđônia “không những là cứu cánh mà còn là nguyên lý”[166].

Trong tín điều Giáo Hội – đặc biệt, tôi nhắc lại, tín điều trong các sách giáo khoa – các công thức cũ đôi khi được hiểu theo một ý nghĩa quá cụ thể hoặc logíc, như những công thức hóa học, được coi là diễn tả tất cả những gì phải nói về một vật và chỉ cần thao tác đúng về mặt kỹ thuật. Theo nghĩa tích cực, giải phóng Đức Kitô khỏi xiềng xích của tín điều Giáo Hội có thể có nghĩa là phục hồi giá trị phủ định của các tín điều và sự tự do đối với các công thức, điều mà các Giáo Phụ tài danh nhất đã làm. Thánh Athanasiô có lúc đã tỏ ra sẵn sàng bỏ qua ngay cả thuật ngữ homoousios, miễn là nó an toàn, điều mà người ta đã muốn khẳng định ở Nicêa theo công thức này, và thánh Augustinô đã công khai tuyên bố rằng trong thần học, người ta sử dụng thuật ngữ persona (ngôi vị), vì thiếu một thuật ngữ khá hơn, nhưng nó không tương xứng để diễn tả các thực tại thần linh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần[167].

7. Ai là người đã thắng được thế gian?

Chúng ta phải tạo lại những điều kiện cho một cuộc canh tân niềm tin vào thần tính của Đức Kitô. Hiện đại hóa đà đức tin mà từ đó khai sinh công thức đức tin: “Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời. Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha.” Thân thể Giáo Hội đã có ngày cung cấp một nỗ lực tối thượng, nhờ đó, nó đã vươn lên bằng đức tin trên mọi hệ thống của con người và mọi sự kháng cự của lý trí. Sau đó, còn lại là thành quả của nỗ lực này. Một ngày kia, biển dâng lên tới mức tối đa và dấu vết của nó vẫn còn trên đá. Nhưng dấu vết là không đủ: làn sóng thủy triều lớn này phải được lặp lại. Lặp lại kinh Credo của Nicêa là chưa đủ; cần phải làm mới lại đà đức tin vào thần tính của Đức Kitô vốn đã được sản sinh lúc bấy giờ, và là đức tin chưa từng có tương đương trong nhiều thế kỷ. Chúng ta cần nó một lần nữa. Có một thời trong Giáo Hội, người ta có thể nói rằng đức tin đứng vững trong trái tim của một người là Athanasiô, vậy là đủ để nó sống sót và tiếp tục bước tiến của mình một cách thắng lợi. Điều này cho thấy rằng ngay cả một số người tin, quyết tâm đánh cược cuộc sống của họ vào điểm này, cũng có thể làm được nhiều điều để đảo ngược khuynh hướng hiện nay là lại đưa vào trong thần học chủ đề cơ bản của phái Ariô, theo đó “đã có lúc Chúa Con đã không hiện hữu”.

Những gì chúng ta đã nhấn mạnh có những hệ quả quan trọng đối với phong trào đại kết Kitô giáo. Thực vậy, có hai phong trào đại kết đang hoạt động: một phong trào đại kết của đức tin và một phong trào đại kết của không tin. Một phong trào tập hợp tất cả những ai tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa và Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần. Phong trào kia tập hợp tất cả những người chỉ “diễn giải” sự việc. Một phong trào đại kết trong đó, ở mức giới hạn, mọi người đều tin những điều giống nhau, bởi vì không ai còn tin thật sự vào bất cứ gì, theo nghĩa mạnh của động từ tin. Nhưng có một sự hiệp nhất mới và vô hình đang được thực hiện và đang đến qua các Giáo Hội khác nhau. Từ bản văn của Gioan, được đề cập lúc đầu, người ta thấy rằng sự phân biệt cơ bản các thần khí, trong lãnh vực đức tin, không phải ở chỗ phân biệt giữa người Công giáo, Chính thống giáo và Tin lành, nhưng ở chỗ phân biệt giữa những người tin vào Đức Kitô, Con Thiên Chúa và những người không tin như thế. Đến lượt mình, sự hiệp nhất vô hình này lại cần đến sự phân định thần học và phẩm trật, để không rơi lại vào nguy cơ của chủ thuyết duy căn, cũng như không rơi vào ảo vọng là có khả năng thành lập một Giáo Hội xuyên ngang, bên ngoài các Giáo Hội hiện có và đặc biệt là Giáo Hội Công giáo. Nhưng khi nguy cơ này được phân định ranh giới, thì đây là một thực tế mà người ta không thể bỏ qua được nữa. Cứ ở lại cho có hình thức trong khuôn khổ thể chế của Giáo Hội Công giáo thì ích gì cho tôi, nếu theo giả thuyết, tôi đã mất hết niềm tin vào Đức Kitô của Giáo Hội Công giáo?

Tất cả những gì vừa nói đều quan trọng, và trên hết cũng quan trọng cho công cuộc Phúc Âm hóa mới. Có những công trình xây dựng hoặc cấu trúc bằng kim loại, được thiết kế sao cho nếu người ta đụng phải một điểm rõ ràng, hoặc nếu người ta lấy đi một viên đá nào đó, tất cả sẽ sụp đổ. Tòa nhà đức tin Kitô giáo là như thế, và viên đá góc của nó là thần tính của Đức Kitô. Lấy viên đá này đi, mọi thứ đều sụp đổ và trước tiên – như chúng ta đã thấy – là Ba Ngôi. Thánh Augustinô nói: “Tin Đức Giêsu đã chết không phải là điều quan trọng lắm; người ngoại giáo cũng tin như thế, người Do Thái cũng vậy và cả những người chịu phạt đời đời nữa; nói chung là bất cứ ai tin Ngài. Nhưng tin Ngài đã sống lại thật sự là một điều rất quan trọng. Niềm tin của các Kitô hữu là sự phục sinh của Đức Kitô.”[168] Cũng phải nói như vậy – ngoài cái chết và sự sống lại của Ngài – về nhân tính và thần tính của Đức Kitô, mà cái chết và sự sống lại là những biểu lộ tương ứng. Mọi người đều tin Đức Giêsu là một con người; điều tạo nên sự khác biệt giữa những người tin và những người không tin là tin rằng Ngài là Thiên Chúa. Đức tin của người Kitô hữu là thần tính của Đức Kitô. Chỉ có một điều – Gioan  nhắc nhở chúng ta một lần nữa – mạnh hơn thế gian và có khả năng vượt qua sự kháng cự khủng khiếp của nó chống lại sứ điệp: tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Tin Ngài trước khi công bố hoặc chứng minh Ngài cho người khác. “Ai là kẻ thắng được thế gian nếu không phải là người tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa” (1Ga 5,5).

Ngày nay chúng ta cần tìm mọi sự, ở mọi trình độ. Ngay từ những thế kỷ đầu tiên, các Giáo Hội Công giáo và Chính thống giáo đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của đức tin thụ động (fides quae). Kể từ cuộc tranh luận với nhóm Ariô, tất cả các khảo luận của Giáo Phụ “về đức tin” (de fide) đều có nhiệm vụ độc quyền thiết lập thế nào là đức tin đúng đắn và chính thống. Người ta không thấy có dấu hiệu nào quan tâm đến cấu trúc của hành vi tin, hoặc chiều hướng chủ quan của hành vi tin. Ngược lại, các Giáo Hội Cải cách nhấn mạnh tầm quan trọng của đức tin năng động (fides qua), của hành vi tin cá nhân, bằng cách định nghĩa đức tin là một sự tin tưởng. Hơn nữa, không có đức tin này mà không có đức tin kia. Chỉ đức tin khách quan hay chính thống mà thôi không làm hoán cải, không thu phục được những người rời xa; chỉ đức tin chủ quan hoặc cá nhân mới dẫn đến chủ thuyết chủ quan, đến những chia rẽ liên tục của nó và, trong những trường hợp cực đoan, dẫn đến việc có một đức tin và một sự tin tưởng không thể lay chuyển, nhưng vào bản thân, vào những ý tưởng riêng của mình, hoặc vào nhóm cá nhân nhỏ bé của mình, hơn là vào Thiên Chúa.

Thời Trung cổ, trước những phân biệt kinh viện vô tận về Thiên Chúa, người ta thấy một người nào đó, khi bàn về việc chiêm niệm, đã kêu lên: “Tôi cần toàn bộ”[169]. Một tiếng kêu tương tự phải vang lên ngày nay trong các Giáo Hội, liên quan đến việc rao giảng Phúc Âm: “Chúng ta cần toàn bộ”. Chúng ta cần toàn bộ nội dung đức tin: Thiên Chúa là một và ba, Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa và con người, và chúng ta cần tất cả khả năng tin của Giáo Hội. Chúng ta cần tất cả các sức mạnh – Công giáo, Chính thống giáo, Tin lành – nếu chúng ta thực sự muốn ghi dấu đà mới cho việc rao giảng Phúc Âm. Không một Giáo Hội Kitô giáo nào có thể hy vọng một mình hoàn thành nhiệm vụ to lớn này.

Phần còn lại nằm trong tay Thiên Chúa. Chúng ta thực sự không được rơi vào cám dỗ của chủ thuyết  thiên niên kỷ, hay chủ thuyết hai thiên niên kỷ. Chúng ta không được lặp lại sai lầm của các môn đệ đầu tiên, khi họ hỏi Chúa: “Có phải bây giờ là lúc chưa?” (x. Cv 1,6). Có phải thiên niên kỷ thứ ba là lúc mà cuối cùng nước Thiên Chúa sẽ đến trên khắp trái đất chăng? Cũng hôm nay Đức Kitô trả lời: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền xếp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần, khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy” (Cv 1,7-8). Quả thực, chính như thế mà Nước Thiên Chúa đến: bằng cách lãnh nhận sức mạnh của Chúa Thánh Thần, để làm chứng cho Đức Giêsu.

Phần trước Phần tiếp