VII. ĐẤNG TRUNG GIAN GIỮA THIÊN CHÚA VÀ CON NGƯỜI

Một hình ảnh của Đức Kitô cho con người năm hai ngàn

1. Hai con đường gặp nhau ở Calcêđônia

Chúng ta đang lên núi Tabor lần cuối cùng. Việc so sánh Phaolô và Gioan đã cho phép chúng ta nhìn thấy trước mắt hai con đường tiếp cận với mầu nhiệm Đức Kitô: một con đường bắt đầu từ Đức Kitô của Lịch sử, hay “theo xác thịt” và dẫn đến Đức Kitô được thừa nhận là Con Thiên Chúa “theo Thần Khí”; con đường kia khởi đi từ Logos vĩnh cửu và xuống tới Đức Giêsu của Lịch sử. Hai con đường này được xác định sau đó, nhờ hai trường phái Kitô học chính thời Thượng cổ, trường phái Alexanđria và trường phái Antiôkia. Trường phái thứ nhất nhấn mạnh thần tính của Đức Kitô và sự duy nhất khởi thủy của Ngài, trường phái thứ hai nhấn mạnh nhân tính hoàn hảo và về sự phân biệt giữa các bản tính.

Tôi nhắc lại: tổng hợp hai con đường này đã diễn ra trong Công đồng chung Calcêđônia năm 451, nhờ sự đóng góp mang tính quyết định của Tây phương, đại diện là thánh Lêô Cả. Chân lý nền tảng, được Alexanđria đưa ra và được công nhận tại Công đồng Ephêsô (năm 431), liên quan đến sự duy nhất ngôi vị của Đức Kitô, gắn liền với đòi hỏi thiết yếu của những người phái Antiôkia, liên quan đến nhân tính hoàn hảo của Đức Kitô. Như vậy hai con đường truyền thống được coi là có thể chấp nhận được, miễn là chúng cởi mở với nhau và tiếp tục đối thoại.

Ở Calcêđônia, người ta tiến hành chính xác theo cách thức như sau để thiết lập công thức định tín. Quả thực, mầu nhiệm Đức Kitô đã được hạn chế phạm vi hai lần và theo hai cách khác nhau trong định tín: lần đầu, người ta khởi đi từ quả quyết sự duy nhất, để sau đó công nhận sự phân biệt (“chỉ có một và cùng một Đức Kitô, Con, Chúa, Con Một, Đấng chúng ta nhận ra có hai bản tính”), lần thứ hai, khởi đi từ việc phân biệt các bản tính, để tìm lại sự quả quyết về sự duy nhất (“sự khác biệt về bản tính không hề bị sự kết hợp nào triệt tiêu, trái lại, các thuộc tính của mỗi bản tính vẫn được bảo toàn và gặp nhau trong một ngôi vị duy nhất (en une personne ou hypostase”).

Hai thế kỷ sẽ là cần thiết để mọi sự đi vào đúng vị trí, để tình hình được ổn định và để kết quả này được thu nhận một cách hòa bình trong Giáo Hội. Định tín đã gây ra sự phân ly của hai lạc giáo. Giáo Hội Nestoriô và Giáo Hội Nhất tính (monophysite) ra đời. Những người theo Nestoriô tách ra vì họ không bao giờ chấp nhận việc kết án Nestoriô – họ cho việc kết án ấy không hợp lý – và việc ông không được phục hồi chức năng; những người theo thuyết nhất tính, vì họ không thể cam chịu từ bỏ công thức cứng nhắc “bản tính duy nhất”, theo Cyrillô. Trong cả hai trường hợp, ý kiến ​​chung cho rằng cái được gọi là “lạc giáo, Nestoriô hoặc Nhất tính, là một vấn đề về từ vựng hơn là về học thuyết.”

Trong lòng của Giáo Hội lớn, cũng có hai thời điểm khủng hoảng trước khi dứt khoát chấp nhận tín điều Kitô học. Trong Công đồng Constantinôpôli lần thứ hai năm 553, người ta đã cố thay đổi sự cân bằng của định tín Calcêđônia theo quan điểm của Alexanđria và Cyrillô về sự duy nhất, tái thừa nhận là hợp pháp công thức về “bản tính duy nhất của Ngôi Lời nhập thể”. Điều này đã làm phát sinh ra cái được gọi là thuyết tân-Calcêđônia. Nhưng rồi sự cân bằng đã được tái lập tại Công đồng Constantinôpôli lần thứ ba năm 680, là Công đồng đã lên án dứt khoát lạc giáo Nhất ý (thừa nhận nơi Đức Kitô chỉ có một ý muốn, tức ý muốn của Thiên Chúa).

Khi tham gia tích cực vào những cuộc tranh chấp liên tiếp này, Tây phương đã không gặp phải cơn sốt này, bằng cách nhanh chóng chấp nhận định tín của Calcêđônia và duy trì nó một cách ôn hòa.

2. Khuôn mặt của Đức Kitô nơi Đông phương và Tây phương

Chúng ta hãy đặt ra cho mình câu hỏi: sau Calcêđônia, điều gì đã xảy ra với hai con đường này, với hai mô hình Kitô học nền tảng này, do Truyền Thống khai triển? Có phải định tín tín điều đã san bằng chúng, khiến chúng biến mất?

Từ lúc này, trên bình diện thần học, chắc chắn có sự hiệp nhất đức tin vào Đức Kitô, dù ở Tây phương hay Đông phương. Thánh Gioan Đamas ở Đông phương, thánh Tôma Aquinô ở Tây phương, cả hai xác lập tổng hợp Kitô học của các ngài về Calcêđônia. Ở một số khía cạnh, trực giác của Cyrillô về sự duy nhất của Đức Kitô, cùng với Tôma, đã hồi sinh mạnh mẽ.

Tuy nhiên, nếu đi từ thần học và tín điều sang các khía cạnh khác của đời sống Giáo Hội, chúng ta nhận thấy một điều: hai mô hình hay nguyên mẫu Kitô học này không hoàn toàn biến mất. Chúng đã được bảo tồn và để lại dấu ấn: mô hình thứ nhất trong linh đạo Chính thống giáo, và mô hình thứ hai trong linh đạo Latinh. Nói cách khác, Giáo Hội Đông phương đã ưu đãi Đức Kitô theo Gioan và trường phái Alexanđria, thần tính của Ngài và ý tưởng về thần hóa, trong khi Giáo Hội Tây phương ưu đãi Đức Kitô theo Phaolô và trường phái Antiôkia, nhân tính của Đức Kitô và mầu nhiệm vượt qua của Ngài.

Hiển nhiên đây không phải là một sự phân phối cứng nhắc. Các ảnh hưởng đan xen lẫn nhau và thay đổi từ tác giả này sang tác giả khác, từ thời kỳ này sang thời kỳ khác, từ môi trường này sang môi trường khác. Hai Giáo Hội đã tin tưởng, và một cách chính đáng, cùng nhau làm nổi bật cả Gioan lẫn Phaolô; tuy nhiên, tất cả đều đồng ý thừa nhận rằng Đức Kitô của truyền thống byzantin thể hiện những nét khác với Đức Kitô của truyền thống Latinh.

Đây là một số dữ kiện cụ thể để làm nổi bật sự đa dạng này. Chúng ta hãy bắt đầu với Đức Kitô bên Đông phương. Khoa linh ảnh đặc trưng của Đức Kitô Chính thống giáo trình bầy Ngài là Pantocrator, Đức Kitô vinh quang. Chính Ngài mà cộng đoàn chiêm ngắm, khi họ nhìn về phía hậu cung nhà thờ. Tất nhiên, nghệ thuật byzantin cũng biết đến Đấng bị đóng đinh thập giá, nhưng đó cũng là Đấng có những đặc điểm vinh quang, vương giả, nơi sự hiện thực của cuộc Khổ nạn đã được biến đổi bởi ánh sáng Phục sinh. Tóm lại, ở đây, chúng ta có Đấng bị đóng đinh thập giá của Gioan, Đức Kitô “vinh quang” trên thập giá.

Thời điểm nhập thể tiếp tục được đặt ở phía trước trong mầu nhiệm Đức Kitô. Nói cho mạch lạc, sự cứu độ được quan niệm như một sự thần hóa con người, nhờ tiếp xúc với xác thịt ban sự sống của Ngôi Lời. Thánh Symêon, Nhà Thần học Mới, đã nói, chẳng hạn, nơi một trong những lời cầu nguyện của mình với Đức Kitô:

“Khi xuống thế từ cung thánh rất cao sang, không rời khỏi cung lòng của Chúa Cha, nhập thể và sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria, Chúa đã tái tạo và làm cho con sống, Chúa đã giải thoát con khỏi tội của cha mẹ đầu tiên của con, Chúa đã mở ra cho con đường lên trời.”[114]

Điều cốt yếu đã được thực hiện lúc nhập thể. Ý tưởng về thần hóa trở lại hàng đầu dưới sự thúc đẩy của Grêgôriô Palamas và nó sẽ làm rõ nét “Kitô học của Byzantiô cuối cùng.”[115]

Có lẽ mầu nhiệm vượt qua không được biết đến chăng? Ngược lại, mọi người đều biết sự long trọng đặc biệt của cử hành Phục sinh nơi các người Chính thống giáo. Nhưng đây còn là dấu hiệu cho thấy một điều: về mầu nhiệm vượt qua, điều được làm nổi bật nhất không phải là sự hạ mình cho bằng vinh quang và sự phục sinh. Người ta chú ý hơn đến Đức Kitô–Thiên Chúa.

Những đặc điểm này được thấy lại trong lý tưởng  thánh thiện, vốn chiếm ưu thế trong linh đạo này. Người ta thấy đỉnh cao của sự thánh thiện trong sự biến đổi của vị thánh thành hình ảnh của Đức Kitô vinh quang. Trong cuộc đời của hai hoặc ba vị thánh tiêu biểu nhất của Chính thống giáo, thánh Symêon Nhà Thần Học Mới, thánh Sêraphim Sarov, chúng ta thấy hiện tượng thần bí về sự đồng hình với Đức Kitô sáng láng của Tabor và của sự sống lại. Vị thánh dường như đã trở thành ánh sáng.

Giờ đây chúng ta hãy xem xét một vài khía cạnh của linh đạo Tây phương. Thánh Augustinô viết rằng, trong ba ngày làm nên Tam nhật Vượt qua, “ngày đầu tiên được biểu thị bằng thập giá. Đó là thời gian của cuộc sống hiện tại; chỉ có đức tin và đức cậy mới khiến chúng ta sống những gì mà hai ngày còn lại biểu thị, đó là táng xác và sống lại”.[116] Như thể ngài nói: trong khi chúng ta còn đang sống ở trần gian, Đức Kitô bị đóng đinh ở gần và hiện diện ngay bên chúng ta hơn là Đức Kitô sống lại.

Quả thực, trong nghệ thuật, hình ảnh đặc trưng của Đức Kitô ở Tây phương là thánh giá. Chính hình ảnh thể hiện Đấng bị đóng đinh, một lúc nào đó, tách khỏi hình mẫu vinh quang và vương giả, để mang những nét thực tiễn của một nỗi đau thực sự, đôi khi quá mức. Đó là Đấng bị đóng đinh theo Phaolô, đã trở thành “tội lỗi” trên thập giá, và là “lời nguyền rủa” cho chúng ta.

Khởi đầu từ thánh Bênađô và sau đó từ trường phái Phanxicô, lòng sùng kính và sự chú ý dành cho nhân tính của Đức Kitô cũng như những mầu nhiệm khác nhau trong cuộc đời của Ngài có tầm quan trọng đặc biệt. Kenosis, sự tự hủy của Đức Kitô, chiếm một chỗ nổi bật với mầu nhiệm vượt qua. Trong bối cảnh này, nguyên tắc “bắt chước Đức Kitô” do trường phái Antiôkia lập ra, được áp dụng thực hành. Không phải là không có lý do khi cuốn sách tu đức nổi tiếng nhất, cuốn “Gương Chúa Giêsu Kitô”, được viết vào thời Trung cổ latinh. Chống lại mọi toan tính bỏ qua một bên nhân tính Đức Kitô, với ý định thông hiệp trực tiếp với Thiên Chúa, thánh Têrêxa Avila sẽ quả quyết rằng ở bất kỳ giai đoạn nào của đời sống thiêng liêng, người ta không thể không cần nhân tính Đức Kitô.

Ở đây, một lần nữa, các thánh lại mang đến cho chúng ta một loại xác nhận thực tế. Tột đỉnh của sự thánh thiện ở đây là gì? Không phải là đồng hình đồng dạng với Đức Kitô vinh quang của cuộc Biến Hình, nhưng là với Đấng bị đóng đinh! Trong Chính thống giáo không vị thánh nào được in dấu thánh, trong khi, như chúng ta đã thấy, có những trường hợp các vị thánh được biến hình.

Trên một số phương diện, cuộc Cải cách Tin lành đã đưa đến cực điểm một số khía cạnh của Đức Kitô Tây phương, chịu ảnh hưởng Phaolô, và của mầu nhiệm vượt qua. Nó đã ca ngợi “thần học về thập giá” như một tiêu chuẩn của tất cả thần học, theo một cách đôi khi mang tính luận chiến, chống lại “thần học về vinh quang”. Kierkegaard sẽ đến để quả quyết rằng ở trần gian này, chúng ta chỉ có thể biết Đức Kitô trong sự hạ mình của Ngài.[117]

Đúng là Luther và những người theo đạo Tin lành, chống lại việc bắt chước Đức Kitô thái quá thời Trung cổ, quả quyết rằng Đức Kitô trước hết là một quà tặng để đón nhận bằng đức tin, hơn là một hình mẫu để theo bằng bắt chước. Nhưng một lần nữa, Đức Kitô này được quan niệm như một món quà để đón nhận bằng đức tin là gì? Không phải là Logos xuống thế và trở thành người phàm, nhưng là Đức Kitô vượt qua của Phaolô, Đức Kitô trên thập giá. Tôi đã có dịp nói là những lời chỉ trích thâm độc nhất (tuy nhiên cần được sửa chữa) đối với ý niệm Hy lạp về sự cứu rỗi bằng thần hóa, đến từ đạo Tin lành như thế nào.

Tôi nhắc lại: thật bất hạnh, nếu chúng ta làm cho những phân biệt này cứng rắn hơn, chúng sẽ trở nên sai lệch và trái với sự thật Lịch sử. Ví dụ, linh đạo byzantin biết tất cả trào lưu thánh thiện, trào lưu “những người điên của Thiên Chúa” (fous de Dieu), mà theo họ, đồng hóa với Đức Kitô trong sự hạ mình của Ngài là trọng tâm mọi sự. Dù đã dè dặt như vậy, nhưng vẫn còn một sự khác biệt không thể phủ nhận trong điểm nhấn, mà người ta đã nhận thức được trong cách giải thích mầu nhiệm Biến Hình. Ở Tây phương, mầu nhiệm này được đọc để phục vụ cuộc Khổ nạn; ở Đông phương là để phục vụ cho thần tính và vinh quang. Đông phương ưu tiên đi theo con đường do Gioan khởi xướng; Tây phương là con đường của Phaolô. Nhưng cả hai, trung thành với Calcêđônia, muốn có cùng một cái nhìn cực còn lại của mầu nhiệm, duy trì liên lạc giữa hai con đường.

Ân sủng của thời đại chúng ta, ở đây cũng như trong các lĩnh vực khác của đời sống Giáo Hội, là sự đa dạng bắt đầu được coi như một tài sản và không còn là một mối đe dọa nữa. Chúng ta biết Đức Gioan-Phaolô II nhấn mạnh ý nghĩa này đến mức nào. Những gì ngài viết trong Tertio millennio adveniens (Ngàn năm thứ ba đang đến) áp dụng một cách rất đặc biệt cho Giáo Hội Chính thống: “Tôi ước nguyện rằng Năm Thánh sẽ là một dịp tốt để cộng tác cách hiệu quả trong việc để làm của chung tất cả những gì liên kết chúng ta và những gì chắc chắn quan trọng hơn những gì chia rẽ chúng ta.”[118] Ở Đông phương người ta cũng bắt đầu nghe thấy những tiếng nói theo cùng một chiều hướng. Một nhà thần học Chính thống giáo, P.B. Vasiliadis, đã đưa ra nhận định như sau: về Đức Kitô bên Latinh, được tách riêng ra, có thể phát sinh một quan niệm quá lịch sử, trần thế và nhân bản của Giáo Hội; về Đức Kitô của Chính thống giáo, có thể phát sinh một quan niệm quá cánh chung, coi thường thân xác và không chú ý hết đến sứ mệnh lịch sử của Ngài. Và ông kết luận: “Tính công giáo đích thực của Giáo Hội chỉ có thể bao gồm cả Đông phương và Tây phương”.[119]

Vì nhắm tới thiên niên kỷ mới đang bắt đầu, cần phải trình bày cho thế giới một Đức Kitô “toàn bộ”, đầy đủ, chứ không phải một Đức Kitô bị chia nhỏ thành các truyền thống khác nhau. Để làm điều đó, không cần phải loại bỏ hoặc san bằng những khác biệt mà chúng ta đã nêu ra. Một khi tính hợp pháp và đặc điểm Kinh Thánh của hai cách tiếp cận khác nhau được công nhận, điều quan trọng, đúng hơn, là trao đổi quà tặng, tôn trọng và quý mến truyền thống của bên kia. Ở đây, một lần nữa, phải áp dụng học thuyết về các đặc sủng: không nhất thiết mỗi Giáo Hội phải có cùng một đặc sủng, nhưng đặc sủng của mỗi Giáo Hội phải vì lợi ích của tất cả mọi người. Gần giống như Thiên Chúa đã làm ra hai chiếc chìa khóa để mở rộng mầu nhiệm Kitô giáo, và như thể Ngài đã giao một chiếc cho Kitô giới Đông phương, chiếc kia cho Kitô giới Tây phương, để không một chiếc chìa khóa nào trong hai có thể mở và cho phép hiểu biết đầy đủ nếu không có chiếc kia.

Tại thành phố Colmar, ở Alsace, người ta có thể nhìn thấy bức tranh hai tấm nổi tiếng của Matthias Grunewald. Khi hai tấm được khép lại, người ta trông thấy cảnh đóng đinh; khi chúng mở ra, người ta thấy cảnh sống lại. Cảnh đóng đinh rất ấn tượng: Đức Kitô nhăn nhó, tay chân co quắp và dúm lại như những cành cây khô; thân thể như bị cày xới, chi chít vết thương. Đó là một trong những bức tranh vẽ Đức Kitô, mà Dostoievski nói rằng sau khi quan sát lâu, người ta có thể mất đức tin.[120] Thế nhưng, Đức Kitô phục sinh tựa như chìm đắm trong ánh sáng chói lọi khiến cho khó có thể nhìn thấy các đặc điểm của khuôn mặt con người. Nếu có ai dừng lại phía trước, người đó có nguy cơ, nếu không “mất đức tin”, thì ít nhất là mất tin tưởng. Bởi vì Đức Kitô này xem ra, đối với anh ta, khác xa với kinh nghiệm riêng của anh về sự đau đớn.

Vậy thật bất hạnh nếu chia đôi bức tranh hai tấm này, hoặc nếu chỉ quan sát nó từ một phía. Bức tranh này là một biểu tượng hữu hiệu của những gì hẳn sẽ xảy ra, trên quy mô lớn hơn, của Đức Kitô Chính thống giáo và Đức Kitô Tây phương. Phải giữ chúng lại với nhau. Không được để xẩy ra cho chúng những gì đã xảy ra với một số ảnh nhiều mảnh qua các thế kỷ: chúng bị tháo rời ra và cuối cùng bị giữ một phần trong viện bảo tàng này, một phần trong viện bảo tàng khác, gây thiệt hại nghiêm trọng cho chính sự hiểu biết tác phẩm và những ý định của nghệ nhân.

3. Phát xuất lại từ Kinh Thánh

Cho đến đây tôi đã trình bày những con đường được thực hành trong Lịch sử để tiếp cận mầu nhiệm Đức Kitô. Nhưng chúng ta không thể bằng lòng với việc khơi gợi cũng như chuyển đạt thuần túy và đơn giản những hình ảnh Đức Kitô mà quá khứ đã ban cho chúng ta, cho dù chúng rất phong phú và sâu sắc.

Chúng ta ngưỡng mộ các tác phẩm của Giotto và Raphael, nhưng nếu ai đó ngày hôm nay vẽ Đức Kitô theo cách tương tự, thì các hình vẽ của họ sẽ chỉ còn là những bản sao mờ nhạt, không hơn. Giống như khuôn mặt của Đức Kitô được đổi mới trong nghệ thuật, nó cũng phải được đổi mới như thế, và càng phải được đổi mới hơn, trong đức tin và trong việc công bố.

Vấn đề không phải là đề ra một con đường thứ ba (chắc hẳn là không có) nhưng, nếu có thể, làm một  tổng hợp mới hai con đường truyền thống; tốt hơn hết, hãy tạo cho chúng một nước men mới, đề xuất một cách mới trình bày Đức Giêsu–con người và Đức  Giêsu–Thiên Chúa. Và điều đó, trong Kitô giáo, chỉ có thể thực hiện bằng cách khởi đầu lại từ Kinh Thánh.

Áp lực do các lạc giáo gây ra, sự đối đầu của các trường phái khác nhau đã làm cho suy tư về Đức Kitô luôn tập trung nhiều hơn vào một vài bản văn chính: những bản văn về Ngôi Lời mặc lấy xác phàm, về Đức Kitô hình ảnh của Thiên Chúa, v.v. Chính như thế mà người ta đi đến chỗ tạo ra một loại hình nón, từ đáy lên tới đỉnh, dần dần trở nên mảnh hơn. Đỉnh sẽ được trình bầy bằng công thức của Calcêđônia “Hai bản tính, một ngôi vị”.

Hai khả năng khi đó mở ra: khai triển một suy tư mới về Đức Kitô, theo cách của một hình nón đảo ngược, đỉnh của nó nằm trên đỉnh của hình nón trước, nghĩa là theo công thức “hai bản tính, một ngôi vị” (đây là cách làm của những khảo luận truyền thống về Kitô học cho đến Công đồng Vatican II); hoặc, tái khởi đầu từ nền tảng và tạo ra một hình nón mới, không phải bên cạnh hình nón trước, nhưng là sát nhập nó. Nói khác đi, chúng ta nắm chắc các kết quả tín điều có được và bắt đầu lại từ tất cả sự phong phú của các dữ kiện Phúc Âm liên quan đến Đức Kitô, để xác định một hình ảnh mới, sống động và có thể đáp ứng những nhu cầu thiêng liêng mới của Giáo Hội.

4. Một Đức Kitô cho thời đại truyền thông

Một cách cụ thể, tôi muốn cố gắng đưa ra tất cả những gì điều đó có thể có ý nghĩa, khi chúng ta áp dụng vào tình hình hiện tại của chúng ta. Trong Thư thứ nhất gửi cho Timôtê, sau khi khuyên các Kitô hữu cầu nguyện cho mọi hạng người, Phaolô nói thêm:

“Đó là điều tốt và đẹp lòng Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. Thật vậy chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Kitô Giêsu, Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người” (1Tm  2,3-6).

Chúng ta gặp thấy trong bản văn này tước hiệu gợi ý Đấng trung gian. Đây là lần duy nhất chúng ta minh nhiên thấy nó; mặc dù, được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau, ý tưởng về sự trung gian là trung tâm trong cả Kinh Thánh và đặc biệt là trong Tân Ước. Từ quan điểm chú giải, hai điều cần được nhấn mạnh ở đây. Trước hết là tính phổ quát của sự trung gian của Đức Kitô. Cựu Ước đã biết đến Môsê, vị trung gian giữa Thiên Chúa và dân Israel, nhưng đó là một sự trung gian theo nghĩa rộng. Môsê thực hiện một số chức năng đại diện cho Thiên Chúa bên cạnh dân, và cho dân bên cạnh Thiên Chúa; nhưng với tư cách là một con người, ông hoàn toàn đứng về phía con người; ông không có gì đưa ông đến gần Thiên Chúa hoặc sánh ông bằng Thiên Chúa. Ngoài ra, sự trung gian của ông là đặc thù, chỉ giới hạn ở Israel.

Với Đức Giêsu thì không như vậy. Sự trung gian của Ngài là phổ quát, có hai cực là Thiên Chúa và “loài người”, nghĩa là toàn thể nhân loại. Hơn nữa, đó là một sự trung gian thực sự và cá nhân, theo nghĩa nó kết hợp hai bên nơi con người của Ngài, là Thiên Chúa và con người. Nếu chúng ta nhấn mạnh vào tư cách “con người” (con người Kitô Giêsu), thì chính là để “đặt Con Thiên Chúa vào hàng ngũ chúng ta, để làm cho chúng ta thành thân thuộc với Ngài (…) Để nói với chúng ta rằng Ngài gần gũi chúng ta, thậm chí chạm vào chúng ta đến nỗi không gì gần hơn nữa, vì là xác thịt của chúng ta”.[121]

Những hình ảnh của Đức Kitô được chiêm ngắm trong các chương trước đã chịu ảnh hưởng của một nhu cầu đặc biệt được cứu rỗi, một nhu cầu được hiểu trong một môi trường nào đó, với một quan niệm nào đó về con người. Ngày nay chung quanh chúng ta, những yêu cầu cứu rỗi mà chúng ta nhận thấy là gì? Nhiều lắm và chắc chắn không thể chứa đựng trong một từ. Nhưng tôi muốn làm sáng tỏ một tình huống chắc chắn là đặc trưng của con người vào cuối thiên niên kỷ này.

Chúng ta đang sống trong thời đại của các phương tiện truyền thông. Các “phương tiện truyền thông” là những diễn viên chính lúc này. Trong một xã hội như của chúng ta, bất cứ ai, vào bất kỳ giờ nào trong ngày hay đêm, đều có thể được thông báo về những gì đang xẩy ra trên thế giới, và tiếp xúc trực tiếp với một người khác dù họ ở đâu trên hành tinh.

Tất cả những điều đó đều đánh dấu một sự tiến bộ lớn lao mà chúng ta phải tạ ơn Thiên Chúa và kỹ thuật đã biến chúng thành hiện thực. Nếu các Giáo Phụ đã thành công trong việc tạ ơn Thiên Chúa Quan Phòng về sự giúp đỡ do các con đường của Rôma mang lại, trong việc truyền bá Phúc Âm, khi nói rằng “chúng ta có thể hành trình mà không sợ hãi, bằng đường bộ và đường biển, bất cứ nơi nào chúng ta muốn”,[122] thì chúng ta cũng phải làm như vậy đối với những con đường mới của tin học. Biết vậy rồi, tôi muốn người ta chú ý đến sự nguy hiểm của những truyền thông tràn ngập này, nếu bản thân nó trở thành một mục đích tự thân, đóng cửa trước mọi truyền thông thuộc bản chất khác.

Thực sự là về vấn đề gì? Về một truyền thông mà tôi gọi là suy mòn, theo nghĩa nó có xu hướng bị suy yếu đi, chính nó tự khô cạn đi. Một sự truyền thông hoàn toàn theo chiều ngang. Tựu trung, ngược lại với một thông tin sáng tạo, hấp dẫn, cung cấp nội dung mới về phẩm chất, “tin mừng”. Con người trao đổi tin tức, và cũng như họ là phù du, thoáng qua, thì tin tức cũng vậy. Tin này xóa bỏ tin kia, giống như trên bãi biển một đợt sóng làm biến mất hình vẽ do đợt sóng trước để lại. Chắc chắn có chuyện trao đổi thông tin, kinh nghiệm, chinh phục; nhưng rất thường xuyên hơn vẫn là sự trao đổi những nghèo đói, lo lắng, bất an, những lời kêu cứu không được lắng nghe (khi không phải là chuyện đồi bại, như đã xảy ra với chuyện ấu dâm, trên internet).

Người ta có kinh nghiệm như thế về một sự đóng kín, một loại ngạt thở. Con người ra khỏi trái đất, giơ mặt ra trong không gian, nhưng điều đó không mảy may thay đổi sự hiện hữu của mình; chỉ có bức tường chu vi bao quanh nhốt mình đã di chuyển vài phân. “Truyền thông càng phát triển, người ta càng có kinh nghiệm về sự không thể liên lạc được với nhau. Về cảm giác trống rỗng này, người ta có những bằng chứng văn học hùng hồn, chẳng hạn nhà hát được gọi là “nhà hát của sự phi lý”, nơi người biểu diễn nói đó, nhưng thực sự không nói gì. Truyền thông không còn là gì ngoài âm thanh, tiếng ồn. Tiếng ồn trấn an chúng ta: chúng ta không đơn độc. Điều còn thiếu, đó là truyền thông theo chiều dọc, sáng tạo, thực sự mang lại điều gì đó mới mẻ, đáng để truyền đạt. Điều còn thiếu là điều “hoàn toàn khác”.

5. Căn phòng đóng kín

Cách diễn đạt tốt nhất về tình trạng sự việc này, với tôi, dường như là thảm kịch Huis clos của Sartre. Không thể tạo ra một biểu tượng gây ấn tượng hơn. Ba nhân vật – một người đàn ông và hai phụ nữ – lần lượt được đưa vào một căn phòng. Không có cửa sổ, có ánh sáng mãnh liệt không thể dập tắt, nóng đến ngột ngạt; không có gì ngoài một chiếc tràng kỷ cho mỗi người. Tất nhiên, cánh cửa đã đóng lại; thực sự có một cái chuông nhỏ, nhưng nó không kêu. Họ là ai? Là ba người chết, và họ thấy mình trong hỏa ngục. Người đàn ông là một kẻ đào ngũ, suốt đời đã hành hạ vợ mình, hai phụ nữ thì một người giết con mới sinh, một người là đồng tính nữ.

Vì không có một cái gương nào, mỗi nhân vật chỉ có thể nhìn thấy mình trong đôi mắt và linh hồn của người khác, mà người này chỉ cho người đó thấy hình ảnh xấu xí của anh ta mà không chút xót thương; thậm chí còn thích thú làm gia tăng sự kinh hoàng của anh ta bằng những lời mỉa mai cay độc. Sau một thời gian, linh hồn của họ sẽ trần trụi trước mắt mỗi người, từng lỗi mà họ cảm thấy xấu hổ nhất lần lượt được phơi bầy ra và bị khai thác không chút xót thương; khi đó một trong các nhân vật nói với những nhân vật khác: “Các bạn nhớ nhé: lưu huỳnh, giàn hỏa, vỉ nướng…  chỉ là trò đùa. Không cần vỉ nướng: địa ngục, chính là tha nhân.”[123]

Điều bi thảm nhất xảy ra khi mà, sau nhiều lần bị đánh, bị nện cách vô ích, cánh cửa đột ngột mở ra bất ngờ, không ai biết lý do, nhưng không ai trong ba người muốn ra ngoài.

Căn phòng này có thể tượng trưng cho cái mà người ta gọi là “ngôi làng toàn cầu”, có nghĩa là thế giới của chúng ta trở thành rất nhỏ và được truyền thông hiệp nhất lại. Nếu cuối cùng con người thực sự chỉ giao tiếp với nhau, và ở những cấp độ hời hợt nhất, sự giao tiếp này sẽ là địa ngục, bởi vì mỗi người sẽ trở thành tấm gương phản chiếu cho người khác, mang lại cho anh ta hình ảnh đau khổ của chính anh ta và dư âm của sự trống rỗng bên trong anh ta.

Trong bối cảnh như vậy, việc tái khám phá Đức Giêsu với tư cách là Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người có ý nghĩa gì đối với một tín hữu? Thật ra, điều đó có nghĩa là: phá bỏ “căn phòng đóng kín”, mở rộng một chân trời mới cho sự giao tiếp, chân trời vô biên của Thiên Chúa và của lòng thương xót. Đức Giêsu hiến mình cho chúng ta làm nơi giao tiếp giữa Thiên Chúa và loài người. Giao tiếp cá nhân, về sự thật, về ý kiến, về niềm vui, về sự tha thứ. Tính cách đặc biệt của nó chính là sự tha thứ. Thiên Chúa biết lòng chúng ta và nỗi thống khổ của chúng ta, nhưng Người không ném nó vào mặt chúng ta, Người không trả lại cho chúng ta hình ảnh mà chúng ta có về chính chúng ta và điều thường làm chúng ta kinh hoàng. Người trả lại cho chúng ta hình ảnh mà chính Người đã từng là của chúng ta: Người coi chúng ta như con cái Người trong chính Con của Người.

Cách giải thích tước hiệu Đấng trung gian này tuyệt đối không làm mất gì cho chiều kích hữu thể của Ngài, trái lại, nó dựa vào chiều kích ấy mà không nhốt mình vào đó. Đức Giêsu là Đấng mà con người có thể đối thoại với Thiên Chúa: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1,1-2). Ngài đã nói với chúng ta, không phải nhờ con người làm trung gian, nhưng là đích thân, bởi vì nói rõ ra,  người Con “phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa”.

Ngài là cửa để chúng ta có thể “ra vào” (x. Ga 10,9) và tự do giao tiếp. Một cánh cửa rộng mở cho Thiên Chúa! “Nhờ Người, cả đôi bên, chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha” (Ep 2,18). Lối vào, cửa, con đường: những từ phổ biến của thế giới hiện đại trong ngôn ngữ của máy tính, nhưng ở đây chúng ta có quyền truy cập vào những “dữ liệu” hoàn toàn khác, vào những câu trả lời hoàn toàn khác.

Đức Giêsu, con người và Thiên Chúa: người ta hẳn có thể so sánh Ngài với một số ngôi nhà có lối vào mở ra một đại lộ trong thành phố, với một cửa tương tự như những ngôi nhà khác; nhưng khi bước vào nhà, đi đến ban công phía bên kia, chúng ta thấy trước mắt một rặng núi bao la, hoặc biển cả, hoặc một công viên rộng lớn đầy cây xanh và tĩnh lặng. Đức Giêsu–con người, chính là ban công mở ra đến vô tận.

Thánh Catarina đã cực kỳ gần gũi với ý nghĩa cụ thể và hiện sinh này của tước hiệu Đấng trung gian, với chủ đề mà thánh nữ ấp ủ: Đức Kitô “cầu nối” giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và con người: “Nhưng Ta muốn – Thiên Chúa nói với thánh nữ – con trước hết hãy nhìn vào cây cầu này là Con Một của Ta. Hãy xem sự vĩ đại của nó: nó chạm vào bầu trời ở một bên và trái đất ở bên kia (…) Điều này là cần thiết vì Ta muốn nối lại con đường mà con đã chia cắt”.[124]

6. Thinh lặng và cầu nguyện

Làm sao có kinh nghiệm về Đức Giêsu Đấng trung gian này, để hiệp thông với nguồn mạch của hữu thể chúng ta, nơi ý nghĩa sự hiện hữu của chúng ta nằm ở đó? Một cách thức ưu đãi là thinh lặng. Tạo cho mình những khoảng lặng. Hậu quả của truyền thông thái quá trên mặt đất và giữa con người là tạo ra sự lệ thuộc: người ta không thể không cần nó được nữa. Và như trong thảm kịch của Sartre mà tôi ám chỉ: khi cửa mở ra, người ta không có khả năng tận dụng để đi ra ngoài nữa. Khi chúng ta có thể cầu nguyện, chúng ta không sẵn sàng nắm bắt cơ hội, vì đã trở nên trơ ỳ với việc đối thoại sâu sắc với Thiên Chúa. Chính sự thinh lặng làm chúng ta sợ hãi.

Đôi khi phải cắt đứt liên lạc bên ngoài để kích hoạt liên lạc bên trong, lặp lại cho chúng ta lời của tác giả Thánh vịnh: “Tôi đang nghe: Chúa là Thiên Chúa sẽ phán bảo gì đây?” Những lời thánh Anselmô cứ lặp đi lặp lại cho chính mình đã trở nên nổi tiếng:

“Nào! Hỡi con người khốn khổ, hãy chạy trốn công việc của bạn trong chốc lát, bỏ qua một chút xáo trộn trong suy nghĩ của bạn. Giờ đây hãy tránh xa những lo lắng nghiêm trọng của bạn, tạm gác những hoạt động mệt mỏi sang một bên. Hãy hướng về Chúa một chút, và nghỉ ngơi trong Ngài. Hãy đi vào bên trong tâm hồn bạn, từ chối tất cả những gì làm trung gian giữa Thiên Chúa và những gì giúp bạn tìm kiếm Ngài; rồi đóng cửa lại, và đi tìm Ngài”.[125]

Chúng ta có thể dễ dàng điều chỉnh lời khuyên này cho phù hợp với hoàn cảnh hiện tại của chúng ta: “Hãy tránh xa một chút những tin tức thế giới vô ích, tắt đài, để tivi sang một bên, tháo điện thoại ra, như cách bạn vẫn làm khi sắp đón một chuyến thăm quan trọng và bạn không muốn bị quấy rầy. Bạn không cần phải đi xa để tìm Đấng trung gian dẫn bạn đến với Thiên Chúa. Cánh cửa luôn sẵn sàng mở ra trước mặt bạn, khi bạn thoạt gõ.”

Tất nhiên, cầu nguyện vẫn là con đường ưu đãi. Chính việc cầu nguyện mà thinh lặng phải phục vụ. Phụng vụ mời gọi chúng ta làm nổi bật sự trung gian của Đức Giêsu, khi dạy chúng ta cầu nguyện “nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài”. Nhờ cầu nguyện mà chúng ta có thể đi qua cửa là Đức Giêsu và giao tiếp với Thiên Chúa. Đức Giêsu không chỉ cho phép chúng ta đối thoại với Thiên Chúa: chính Ngài sự đối thoại của chúng ta với Thiên Chúa. Thánh Augustinô nói:

“Đức Kitô cầu nguyện cho chúng ta; Ngài cầu nguyện trong chúng ta và được chúng ta cầu nguyện. Ngài cầu nguyện cho chúng ta với tư cách là Thượng Tế tối cao của chúng ta; Ngài cầu nguyện trong chúng ta với tư cách là đầu của chúng ta; Ngài được chúng ta cầu nguyện với tư cách là Thiên Chúa chúng ta”[126]

Cầu nguyện là “nói với Đức Giêsu về mọi sự liên quan đến chúng ta, từ sáng đến tối”. Đó là hợp nhất trái tim chúng ta và, trong Đức Kitô, để nó đắm chìm trong Thiên Chúa, vực thẳm vô tận.

Nhưng ở đây không nhất thiết phải nhấn mạnh vào chính việc cầu nguyện. Chỉ cần nhắc đến nó là đủ trong bối cảnh này. Ngày nay, người ta nói rất nhiều về sự cấp bách phải phát minh ra một ngôn ngữ mới, thích ứng với thế giới chúng ta, để chuyển đạt niềm tin cho nó. Dưới mắt một số người, đây thậm chí còn là vấn đề số một của việc Phúc Âm hóa. Càng suy nghĩ về quả quyết này, tôi càng hoang mang. Ngôn ngữ có thực sự là vấn đề số một của chúng ta chăng? Có một câu châm ngôn vàng liên quan đến nghệ thuật hùng biện, có từ thời Cato: Rem tene, verba sequentur, hãy lo cho có một ý tưởng rõ ràng về điều bạn muốn nói, rồi chữ nghĩa sẽ đến sau. Rất thường xuyên tôi đã có kinh nghiệm câu châm ngôn này là đúng. Khi loan báo Phúc Âm, điều cần có không chỉ là một luận chứng, một ý tưởng, điều cần có là con người sống động của Đức Kitô.

Do đó, vấn đề số một của việc loan báo là như sau: để có Đức Giêsu Kitô nơi mình, có kinh nghiệm thực tế về Ngài, có thể cùng với Phaolô mà nói: “Đức Kitô sống trong tôi.” Việc loan báo sẽ sống động, nếu Đức Kitô sống trong người loan báo. Nói khác đi, không phải ngôn ngữ sẽ giải quyết vấn đề. Việc rao giảng của Kitô giáo, như người ta đã nói đúng, không là sự truyền đạt ý tưởng đơn thuần nữa, nó còn là và trên hết là một sự chia sẻ cuộc sống.

Do đó việc chiêm ngắm Đức Kitô ở trung tâm mầu nhiệm Biến Hình, mà chúng ta tiếp cận, thật quan trọng. Ngày nay, nhiều người ở các nước giàu có làm chủ hai nơi ở: một ở thành phố, một ở miền núi. Ngôi nhà miền núi là nơi cư trú cuối tuần, trong kỳ nghỉ hè và bất cứ khi nào người ta có thể thoát khỏi cuộc sống hối hả nhộn nhịp, để được một chút tĩnh lặng cho bản thân. Cả chúng ta nữa, hãy xây cho mình một nhà ở miền núi, trên núi Tabor! Và ở đó chúng ta hãy biết ẩn trú, bằng tinh thần, mỗi khi công việc cho phép, rồi hãy chiêm ngắm gương mặt rạng ngời của Đức Kitô, để nó in sâu nơi ta. Khi đó, lúc chúng ta phải nói về Ngài, điều đó sẽ được thực hiện như hiến pháp cũ của dòng Capucin của tôi đã nói là “nhờ tràn ngập tình yêu”.

Từ Tabor đi xuống, chúng ta sẽ có thể nói những gì thánh Phêrô viết trong thư thứ hai của ngài, gợi lên sự Biến Hình:

“Thật vậy, khi chúng tôi nói cho anh em biết quyền năng và cuộc quang lâm của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, thì không phải chúng tôi dựa theo những chuyện hoang đường thêu dệt khéo léo, nhưng là vì chúng tôi đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Người” (2Pr 1,16-18).

Phần trước Phần tiếp