Dân Chúa từ ngàn xưa luôn đau đáu ngóng trông và chờ đợi điều mà Tiên tri I-sai-a cùng các ngôn sứ đã sấm truyền loan báo: Sẽ có một Đấng Cứu Độ đầy quyền năng được Thiên Chúa sai đến trần gian… Cho đến một ngày định mệnh, nơi hội đường Na-za-rét nhỏ bé, có một người sau khi đứng lên công bố đoạn sách của Tiên tri I-sai-a: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, Ngài xức dầu cho tôi và sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó…” đã dõng dạc tuyên bố trước mọi ánh mắt kinh ngạc: “Điều mà tai anh em vừa nghe thì giờ đây đã được ứng nghiệm”.
Người đó chính là Đức Giêsu Kitô – Đấng tràn đầy Chúa Thánh Thần. Ngài được Chúa Cha sai đến trần gian để hiện thực hóa sứ mạng loan báo Tin Mừng cứu độ, để những ai tin vào Ngài thì không phải hư mất nhưng được hưởng sự sống đời đời. Để tiếp nối và mở rộng công trình ấy theo dòng lịch sử, Ngài đã tuyển chọn các tông đồ, thiết lập nên Hội Thánh trần gian. Tin Mừng của Đức Kitô bắt buộc phải được loan báo đến tận cùng trái đất; và loan báo không phải chỉ để nghe cho vui tai, mà là để con người được biến đổi, được hoán cải nội tâm và thực sự trở nên người môn đệ đích thực của Đức Kitô.
1. Vinh dự, trách nhiệm và mối liên đới của người môn đệ
Được tuyển chọn làm môn đệ của Chúa là một đặc ân, một vinh dự vô cùng lớn lao, nhưng đồng thời cũng kèm theo một trách nhiệm hết sức nặng nề. Mọi Kitô hữu, những người đã được xức dầu Thánh Thần thông qua Bí tích Rửa Tội, đều được dự phần và sẻ chia vào sứ mạng ngôn sứ của Đức Kitô. Không một người Kitô hữu nào được phép sống ích kỷ cho riêng mình (mà thực tế, dù có muốn sống cho riêng mình cũng không thể được, vì tự bản chất, căn tính của người Kitô hữu là phải loan báo Tin Mừng).
Thánh Phao-lô tông đồ đã từng thốt lên những lời rất rõ ràng, mạnh mẽ và đầy thúc bách: “Khốn cho tôi nếu tôi không loan báo Tin Mừng”. Chúng ta được lãnh nhận dầu Thánh Thần không phải chỉ để đóng kín cửa tự thánh hóa bản thân, mà là để được sai đi vào đời. Không một ai có thể tự mình bước vào Nước Trời nếu biết mình sống dửng dưng, không liên đới với phần rỗi của người anh em bên cạnh.
Nếu một người chọn khép mình vào sau 4 bức tường của dòng kín mà tâm trí không hề nghĩ đến phần rỗi của tha nhân, không tha thiết cầu nguyện, không hy sinh, không hãm mình cầu cho người tội lỗi được ơn hoán cải, thì dẫu có tu hành bao nhiêu đời trong nhà kín đi chăng nữa, họ cũng không thể tìm thấy ơn cứu độ cho chính linh hồn mình. Thiên Chúa đã ban cho chúng ta một mối liên đới nhiệm thể vô cùng quý báu. Để nhờ đó, dẫu là một bệnh nhân đang liệt giường trong bệnh viện, hay dẫu là một người bệnh phong đang quằn quại trong trại cùi, họ vẫn ý thức sâu sắc rằng mình đang được sai đi vì phần rỗi của anh em thông qua đời sống cầu nguyện, chấp nhận chịu đựng những hy sinh và hãm mình hằng ngày. Loan báo Tin Mừng là một nghĩa vụ cao cả, một đặc ân đáng cho chúng ta khát khao, đến mức độ Thánh Phao-lô phải thốt lên lời ca tụng: “Đẹp thay những gót chân ứng trực đi rao giảng Tin Mừng”.
2. Dòng chảy truyền giáo và bốn dấu ấn mục tử của Giáo phận Đà Lạt
Trải qua suốt hành trình 2.000 năm lịch sử, chưa bao giờ Hội Thánh khước từ sứ mạng loan báo Tin Mừng hay chùn bước trước sứ vụ làm chứng cho Chúa.
Đối với Giáo phận Đà Lạt chúng ta (vùng đất mà chúng ta vừa long trọng kỷ niệm 110 năm hình thành và phát triển thành phố Đà Lạt), ngay từ những giây phút đầu tiên khi bác sĩ Alexandre Yersin khám phá ra cao nguyên Lâm Viên, trong phái đoàn ngày ấy đã có sự hiện diện của Cha Robert – một Linh mục thừa sai thuộc Hội Thừa sai Hải ngoại Pa-ri (MEP). Mà đã là một vị Linh mục thừa sai thì cuộc đời ngài không có mục đích nào khác ngoài sứ mạng gieo vãi hạt giống Tin Mừng. Loan báo Tin Mừng – theo nghĩa chặt chẽ và cốt lõi nhất – là phải đi đến với muôn dân, đến với những người chưa biết Chúa (lương dân), chứ không phải chỉ quẩn quanh với những người đã được nhận Bí tích Rửa Tội. Chúng ta đều biết, vào thời kỳ sơ khởi ấy, lương dân sinh sống trên vùng đất cao nguyên này phần lớn là anh chị em đồng bào sắc tộc thiểu số.
Ngay từ thuở ban đầu, các vị thừa sai tiền nhân đã đặc biệt quan tâm tới công cuộc truyền giáo cho đồng bào sắc tộc. Dù vì nhiều lý do khách quan, những nỗ lực đầu tiên của Cha Céleste Nicolas chưa gặt hái được kết quả như ước muốn; thế nhưng đến năm 1927, khi Cha Gioan Cassaigne (Sanh) được bề trên sai lên vùng đất Di Linh để dấn thân truyền giáo cho người dân tộc thiểu số và chăm sóc bệnh nhân phong, thì hạt giống Tin Mừng mới chính thức bén rễ sâu và lan rộng mạnh mẽ khắp núi rừng.
Định hướng truyền giáo chiến lược này đã được chứng minh một cách sinh động qua khẩu hiệu và cuộc đời hoạt động của bốn vị Giám mục chủ chăn đã và đang dẫn dắt phần đất này:
Đức cha Jean Cassaigne (Sanh): Ngài chọn châm ngôn “Amo Caritas” (Tôi yêu mến đức bác ái) và đã trung thành tuyệt đối với lý tưởng ấy suốt cả cuộc đời. Luôn yêu thương bằng một tình yêu phổ quát, ngài thực sự là một vị mục tử của người nghèo, chấp nhận sống nghèo, chia sẻ trọn vẹn số phận với người nghèo và cuối cùng là chết nghèo ngay tại trại phong. Đến nay, ngài về với Chúa vừa tròn 30 năm.
Đức cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền: Vị Giám mục tiên khởi của Giáo phận Đà Lạt đã chọn cho mình hướng đi: “Chúng tôi rao giảng một Đức Kitô chịu đóng đinh”. Ngài ý thức rằng việc rao giảng Tin Mừng không phải là tìm kiếm vinh hoa, mà là đi vào con đường thực hiện ơn cứu độ thông qua mầu nhiệm tự hủy của thập giá thiêng liêng.
Đức cha Batôlômêô Nguyễn Sơn Lâm: Ngài chọn châm ngôn “Chân lý trong bác ái”. Ngài xác tín chỉ có một chân lý duy nhất là chính Đức Giêsu Kitô – Đấng tuyên bố “Ta là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” – và ngài đã dành trọn cuộc đời phục vụ để loan báo sự thật toàn vẹn đó trong tình bác ái mục tử.
Và cá nhân tôi: Tuy bản thân còn nhiều điều bất xứng nhưng cũng được Chúa lôi cuốn để tiếp nối sứ vụ thi hành thánh ý trên phần đất thân yêu này. Tôi luôn hướng tâm hồn về lời của Thánh Gioan Tẩy Giả khi ngài làm chứng về Đức Kitô: “Ngài phải lớn lên”, và lẽ dĩ nhiên, vế còn lại phải hiểu ngầm là “còn tôi phải nhỏ lại”. Sứ mạng làm cho Đức Kitô được lớn lên trong tâm hồn tha nhân chính là cốt lõi của việc loan báo về Ngài và về Tin Mừng cứu độ của Ngài.
3. Phương thế hành động trong Năm Loan báo Tin Mừng
Trong nghi thức sai đi được cử hành long trọng hôm nay, có 12 vị đại diện tiêu biểu cho toàn thể cộng đoàn dân Chúa đứng lên nhận sứ mạng: Có Linh mục triều và Linh mục dòng; có Tu sĩ thuộc các hội dòng quốc tế và Tu sĩ dòng thuộc địa phận; có các cung bậc đại diện giới gia trưởng, hiền mẫu, giới trẻ, ca viên ca đoàn, các Giáo lý viên, người Kinh, một em thiếu nhi đại diện cho đồng bào sắc tộc và ngay cả các em thiếu nhi Thánh Thể cũng được chọn lựa, cũng được sai đi. Không một người nào trong chúng ta đang hiện diện nơi đây lại không nhận ra hình bóng và vị trí của mình thông qua những vị đại diện ấy. Anh chị em hãy trở về giáo xứ, hãy nói lại với mọi Kitô hữu rằng: Không một ai có thể xứng đáng vào Nước Trời nếu cuộc sống của họ hoàn toàn dửng dưng, không quan tâm tới ơn cứu độ của người anh em mình.
Chúng ta sẽ thực thi sứ mạng đại phúc này bằng những phương thế cụ thể sau đây:
Quan tâm bằng đời sống cầu nguyện liên lỉ: Chúa Giêsu đã dạy: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít, vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”. Chúng ta cần khắc cốt ghi xương rằng: Không một ai trong chúng ta có thể tự sức mình hoán cải được tâm hồn của người khác, hay có thể làm cho người khác tin kính Chúa. Đó hoàn toàn là công trình thiêng liêng của Chúa Thánh Thần. Ngay chính Chúa Giêsu khi còn ở trần gian, Ngài cũng không phán điều gì hay làm phép lạ nào nếu không phải bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần.
Vì vậy, bổn phận của chúng ta là phải cầu nguyện, cầu nguyện và không ngừng cầu nguyện. Chúng ta hãy học theo gương mẫu của Mẹ Thánh Têrêsa Calcutta: Luôn bắt đầu và kết thúc mọi sự bằng việc cầu nguyện. Hằng năm, Giáo phận chúng ta vẫn tổ chức ngày Khánh nhật Truyền giáo, có ngày Chúa nhật đầu tháng hướng về công cuộc truyền giáo; thế nhưng bấy nhiêu chưa đủ, trong suốt cả Năm Loan báo Tin Mừng này, chúng ta sẽ dành một sự ưu tiên đặc biệt cho lời kinh truyền giáo. Hằng ngày, trong mọi giờ kinh gia đình hay kinh cộng đoàn, cách này hay cách khác, hãy thiết tha xin Chúa sai đến cho Giáo hội nhiều thợ gặt – những thợ gặt lành nghề và đạo đức, những vị mục tử nhân hiền và có lòng khiêm nhường như lòng Chúa Giêsu.
Can đảm sống chứng tá và nói về Chúa: Chúng ta còn phải biết dùng môi miệng để ca tụng và nói về Chúa, làm chứng về những kỳ công, sự khôn ngoan sâu thẳm và Lời hằng sống của Ngài cho những người xung quanh. Đừng xấu hổ che đậy danh tính Công giáo của mình, hãy hãnh diện sống chứng tá Kitô hữu giữa lòng đời; bởi không có niềm hạnh phúc nào lớn lao hơn việc được trở thành cánh tay nối dài làm chứng cho tình yêu và ơn cứu độ của Thiên Chúa.
Mặc lấy thái độ sống theo Tin Mừng: Hãy luôn thủ đắc cho mình một thái độ sống hiền hòa, khiêm nhượng, cởi mở, giàu lòng bác ái, quảng đại, sẵn sàng tha thứ và dấn thân phục vụ tha nhân… Hãy hành động một cách thiết thực, hãy chứng minh qua những công việc thường nhật rằng: Chính vì tình yêu Tin Mừng thúc bách mà chúng ta sẵn sàng chấp nhận chịu thiệt thòi, sẵn sàng nhân nhượng để đem lại bình an cho người khác. Đó chính là phong cách sống Tin Mừng đích thực.
Tiếp tục thánh hóa và xây dựng gia đình truyền giáo: Cho đến thời điểm này, Giáo phận Đà Lạt chúng ta sẽ không tổ chức lễ bế mạc Năm Thánh hóa Gia đình. Bởi vì danh từ “bế mạc” rất dễ làm cho người ta có tâm lý sai lầm rằng bổn phận ấy thế là đã kết thúc, đã làm xong. Không, cha mong muốn mỗi mái ấm của anh chị em phải tiếp tục thăng tiến để trở thành một “Gia đình truyền giáo”. Đó chính là niềm hy vọng lớn lao của Hội Thánh. Gia đình được Thiên Chúa thiết lập, phối kết đôi bạn và ban ơn sinh hoa kết quả con cái cũng chính là để nối dài sứ mạng loan báo Tin Mừng. Gia đình vừa là môi trường thuận lợi để đón nhận Tin Mừng, nhưng đồng thời cũng phải là tác nhân chủ động để đem Tin Mừng ấy giới thiệu cho các gia đình xung quanh.
Để kết lời, cha xin từng người trong anh chị em hãy tự lòng hiệp thông, đồng hóa bản thân mình vào trong nghi thức sai đi chiều nay, tuyệt đối không một ai bị đứng ngoài lề hay bị loại trừ. Chúng ta hãy đặt trọn niềm tin tưởng, chăm chỉ cầu nguyện và nỗ lực hành động. Kể từ giờ phút linh thánh này, toàn thể Giáo phận Đà Lạt chúng ta hãy đồng tâm nhất trí, một lòng một ý để vượt qua tất cả những khó khăn, thách đố phía trước. Chắc chắn, chúng ta phải sẵn sàng chấp nhận những hy sinh, chấp nhận vác thập giá mình hằng ngày; bởi vì một cuộc đời dấn thân loan báo và làm chứng nhân cho Tin Mừng mà lại từ chối hy sinh, né tránh thập giá thì quả là điều vô lý.
Đức Kitô Phục Sinh Đấng sai chúng ta đi hôm nay chính là một Đức Kitô đã từng trải qua muôn vàn thử thách, cay đắng của kiếp tro bụi trần thế này, và Ngài đã chiến thắng tất cả, chiến thắng cả sự chết. Kể từ giây phút Ngài tin tưởng trao phó cho Giáo hội tiếp nối sứ mạng loan báo Tin Mừng, Ngài đã long trọng hứa sẽ luôn ở cùng Giáo hội, ở cùng từng người một trong chúng ta. Vì thế, người môn đệ truyền giáo không còn điều gì phải sợ hãi hay chùn bước, bởi có Ngài hằng ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế.









