BỘ RAO GIẢNG TIN MỪNG
CHO CÁC DÂN TỘC
CHỈ NAM LINH MỤC
HƯỚNG DẪN ĐỜI SỐNG MỤC VỤ
CHO CÁC LINH MỤC GIÁO PHẬN
TRONG CÁC GIÁO HỘI
THUỘC BỘ RAO GIẢNG TIN MỪNG
CHO CÁC DÂN TỘC
1989
Nhập đề
1a. Ý thức tầm quan trọng cơ bản của chức linh mục thừa tác trong việc sinh trưởng của cộng đồng Kitô giáo, Bộ Rao Giảng Tin Mừng cho các dân tộc hằng quan tâm đặc biệt đến các linh mục giáo phận trong Giáo Hội mới được thành lập.
1b. Với tinh thần đó, Bộ đã góp phần cụ thể vào việc đào tạo các thừa tác viên thánh: trong Hội nghị từ ngày 14 đến 17 tháng 10 năm 1986, đã hình thành “Một số chỉ dẫn liên quan đến việc huấn luyện trong các Đại Chủng Viện”; những chỉ dẫn này được Đức Hồng Y Bộ Trưởng chuyển đạt tới các giám mục liên hệ trong thư đề ngày 25 tháng 4 năm 1987.
1c. Để tiếp tục góp phần quan trọng có lợi cho các chủng sinh và để chứng tỏ mối quan tâm ân cần đối với các linh mục, trong Hội nghị từ ngày 11 đến 14 tháng 4 năm 1989, sau khi tham khảo rộng rãi và nghiêm cứu những tư liệu dồi dào từ các Giáo Hội địa phương gửi tới, đã soạn ra một bản CHỈ NAM LINH MỤC, nhằm hướng dẫn đời sống mục vụ cho các linh mục giáo phận trong các Giáo Hội thuộc Bộ rao giảng Tin Mừng cho các dân tộc.
1d. Chỉ nam này tuần tự trình bày những chủ đề chính yếu liên quan đến căn tính của linh mục, đến đời sống tâm linh cũng như đời sống và hoạt động mục vụ của linh mục, ăn khớp với giáo thuyết và những nguyên tắc tổng quát của Giáo Hội. Tuy nhiên, theo phương hướng đã được Công Đồng vạch rõ, bản Chỉ nam này muốn làm nổi bật những đặc điểm phù hợp riêng với tình hình của các Giáo Hội trẻ đang trên đà phát triển. Những đặc điểm đó là:
- Đức hạnh và lối sống của linh mục mang lại cho cuộc đời linh mục một giá trị làm nhân chứng Tin Mừng cho những người ngoài Kitô giáo;
- Linh mục được mời gọi sống hiệp thông đặc biệt với Giám mục, với linh mục đoàn và với cộng đồng Kitô hữu;
- Linh mục hoàn toàn sẵn sàng và tích cực dấn thân vào việc khởi giảng Phúc Âm cho những người ngoài Kitô giáo;
- Linh mục biết huấn luyện giáo dân để họ tích cực tham gia vào đời sống của Giáo Hội, vào việc xây dựng Giáo Hội và dấn thân cho công cuộc Phúc âm hoá;
- Linh mục quan tâm cách riêng đến giới trẻ;
- Linh mục đặc biệt yêu thương những người nghèo khổ;
- Linh mục tham gia phục vụ công cuộc thăng tiến con người và bênh vực công lý;
- Linh mục quan tâm đến việc hội nhập văn hoá và phát huy khả năng cổ võ công việc hội nhập đó;
- Linh mục phải theo đuổi công cuộc đối thoại đại kết và đối thoại với các tôn giáo bạn.
1e. Trên đây là những điểm lớn, cộng thêm một vài điểm nữa, làm nền cho toàn bộ việc triển khai bản Chỉ nam. Như thế, bản Chỉ nam nhằm đáp ứng tối đa những điều cần thiết cho linh mục ở các xứ truyền giáo. Do đó cần nắm vững những trọng điểm trên như chìa khoá để mở đọc toàn bộ bản Chỉ nam này.
1f. Bản Chỉ nam này chủ yếu gửi tới các linh mục giáo phận – linh mục triều – trong các Giáo Hội địa phương thuộc Bộ Rao Giảng Tin Mừng; số linh mục càng ngày càng đông và càng ngày càng gánh vác những trọng trách lớn; vả lại các vị này nói chung thuộc thế hệ thứ nhất hoặc thứ hai của linh mục bản xứ, đối với họ, mô hình truyền thống của linh mục là mô hình linh mục dòng thừa sai chứ không phải mô hình linh mục triều thuộc Giáo Hội địa phương; cuối cùng các linh mục ở những xứ truyền giáo lại có những vấn đề đặc thù, những vấn đề này trong những dữ kiện cụ thể gắn liền với những hoàn cảnh Giáo Hội và văn hoá xã hội của địa phương, thành thử cần phải có những hướng dẫn và những cách giải quyết phù hợp với địa phương đó.
1g. Đối với các linh mục triều, bản Chỉ nam này sẽ là một điểm quy chiếu, một nhân tố thống nhất quan điểm và đẩy mạnh cuộc sống. Còn đối với các linh mục dòng và các thừa sai đang làm việc trong các xứ truyền giáo, bản Chỉ nam này soi sáng cách sống cho các vị đó.
1h. Bộ Rao Giảng Tin Mừng cho các dân tộc tin tưởng gửi đến các Hội Đồng Giám Mục và từng vị giám mục bản Chỉ nam này nhằm hướng dẫn đời sống mục vụ các linh mục trong giáo phận, đồng thời cũng nhằm làm tài liệu căn bản và mô hình tham khảo để soạn thảo hoặc đề ra những chỉ dẫn của địa phương; được như thế thì toàn thể đại gia đình linh mục trong Giáo Hội truyền giáo sẽ sống nhiệt tâm, sẽ làm việc trong sự thống nhất tinh thần và ý hướng, ngõ hầu đáp lại niềm trông đợi của Giáo Hội đang tiến đến một “mùa vọng” mới về truyền giáo, trong niềm hiệp thông với Đức Trinh Nữ Maria.
I. NGUỒN GỐC CHỨC LINH MỤC THỪA TÁC
2. Nền tảng Thiên Chúa Ba Ngôi của chức Linh mục
2a. Đức Kitô Giêsu, nơi Người, tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể (Cl 2,9), đã được Chúa Cha sai đến để thực hiện kế hoạch cứu độ toàn thể vũ trụ (x. Ga 3,17; 5,30; 8,16; Gl 4,4, v.v…), đã được Chúa Cha ban mọi quyền năng để hoàn thành sứ mạng(Ga 5,20-21; Mt 28,18); Người đã được xức dầu thánh hiến bằng quyền năng của Thánh Thần (x. Lc 4,18 tt; Cv 10,38); sau khi đã làm trọn ý muốn của Chúa Cha – muốn hết mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý (x. 1 Tm 2,4), làm trọn đến mức hiến mạng sống làm giá chuộc thay cho nhiều người (x. Mc 10,45), Người đã sống lại để tiêu diệt sự chết và trở về với Cha trên trời, đời đời hiển trị và bầu cử cho các anh em của Người (x. Ga 16,27-28; 3,1-3; Dt 4,14-16). Linh mục là người được ủy thác tiếp nối sứ mạng của Đức Kitô, cho nên sứ mạng linh mục trước tiên bắt nguồn từ chính tình yêu cứu độ của Chúa Cha (x. Ga 17,6-9.24; 1 Cr 1,1; 2 Cr 1,1) và ơn gọi linh mục trực tiếp bắt nguồn từ chính Đức Kitô là Đấng gọi đích danh các linh mục như đã gọi các Tông Đồ và ban Thánh Thần cho họ (x. Ga 20,21) để họ được về với Chúa Cha cùng với các anh em của mình. Như thế, ơn gọi và sứ mệnh linh mục bắt nguồn và tìm gặp sự minh giải đầy đủ từ chính Thiên Chúa Ba Ngôi, nguồn gốc sứ mệnh của Giáo Hội .
2b. Chính Đức Kitô đã đặt các Tông Đồ làm thừa tác viên để, ở giữa cộng đoàn tín hữu, họ là những người được trao quyền thánh chức. Rồi nhờ các Tông Đồ, Chúa Kitô đã làm cho các Giám mục, những vị kế nghiệp các Tông Đồ, được tham dự vào việc thánh hiến và vào sứ mệnh của Người. Các Giám mục lại trao chức năng thừa tác của mình cho các linh mục ở cấp thừa hành, để các linh mục làm cộng sự viên trung thành trong việc thi hành sứ mạng tông đồ. Sứ mạng này thông dự vào sứ mệnh chung của cả Giáo Hội đối với những người ngoài Kitô giáo, và sứ mạng đó thật sự dẫn các linh mục vào con đường trách vụ.
2c. Các linh mục là những người được Chúa Kitô kêu gọi, qua Đức Giám Mục, bằng một lời gọi đặc biệt (x. Mc 3,13; Lc 6,13); linh mục ở giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian (x. Ga 17,14-15); linh mục được thánh hiến để có đủ tư cách chu toàn chính sứ mệnh của Chúa Kitô là loan báo cho mọi người biết rằng thời buổi đã mãn và Nước Thiên Chúa đang ở giữa loài người (x. Mc 1,15); linh mục cũng được thánh hiến để có đủ tư cách chủ trì, giảng dạy và thánh hoá Dân Chúa.
2d. Nguyên lý cấu tạo chức linh mục thừa tác là chính Đức Kitô là Thượng Tế và Hy Lễ của Giao Ước Mới, giao ước vĩnh cửu (x. Dt 9,11-15). Nguyên lý hiệu lực của chức vụ ấy là sự tuyển chọn và sự trao ban sứ mệnh đặc biệt từ phía Thiên Chúa, làm cho linh mục trở thành công cụ của Đức Kitô (x. Mc 3,10-19; Lc 22,19; Mt 28,18-20). Nguyên lý gương mẫu của chức vụ ấy là việc phục vụ của Đức Kitô; việc phục vụ đa dạng này làm sáng tỏ căn tính của linh mục: – Đức Kitô, Đấng được Chúa Cha sai đến để cứu độ thế gian (x. Ga 3,17), điều này nói lên sứ mệnh phổ quát; – Đức-Kitô-Tôi-tớ, một tước hiệu cho thấy sự từ bỏ của Đức Kitô là Đấng đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến mạng sống (x. Mt 20,28; Pl 2,7-8); – Đức Kitô Mục Tử và Thầy dạy, điều này nói lên tình yêu của Đấng biết những người thuộc về mình, Đấng hướng dẫn đoàn chiên và quy tụ đoàn chiên vào một ràn duy nhất (x. Ga 10,1 tt), và Người là chính Lời hằng sống của Chúa Cha kêu gọi dân chúng tiến vào Nước Trời (x. Ga 12,48-50).
2e. Nhấn mạnh đến chức năng thừa tác của linh mục là muốn nói lên mối tương quan cốt yếu giữa linh mục với bản vị Đức Kitô. Thật vậy, chỉ một mình Đức Kitô là linh mục duy nhất và là trung gian duy nhất trước mặt Chúa Cha, còn các linh mục là dấu chỉ và là công cụ của Đức Kitô, tiếp nối công việc của Đức Kitô ở trần gian này: linh mục thực thi quyền rao giảng Lời Chúa, tái diễn hy tế Thánh Giá trong bí tích Thánh Thể, tha tội và hướng dẫn Dân Chúa. Không thể tách rời cái “là” của linh mục ra khỏi cái “là” của Đức Kitô, cũng không thể tách rời đời sống linh mục ra khỏi đời sống Đức Kitô.
2f. Do đó, hết mọi linh mục phải xác tín rằng: họ chỉ thể hiện được căn tính linh mục của mình khi họ tương hợp hoàn toàn với căn tính của Đức Kitô bằng tinh thần đức tin, bằng cuộc sống gắn bó với Người và bằng nhiệt tâm thi hành chức vụ. Các linh mục cũng phải nhớ rằng: Đức Kitô đã thi hành sứ mạng cứu độ bằng con đường nhập thể, từ bỏ chính mình và nên giống người ta mọi đàng, trừ tội lội (x. Dt 2,17-18; 4,15). Nhập thể phải là mô hình của hoạt động truyền giáo.
2g. Chúa Thánh Thần ban cho Giáo Hội tính duy nhất thiết thân và thừa tác, trang bị cho Giáo Hội bằng muôn ơn theo phẩm chất và đoàn sủng (x. Ep 4,11-13; 1 Cr 12,14) . Như là linh hồn của Giáo Hội, Chúa Thánh Thần làm cho cơ chế của Giáo Hội sống động , tuôn đổ vào lòng các tín hữu cũng một thần khí đã hun đúc chính Chúa Kitô, nhằm giúp họ hoàn thành sứ mệnh của mình .
2h. Các linh mục, “được in dấu đặc biệt khi được Chúa Thánh Thần xức dầu, nên giống Đức Kitô Linh Mục, để có thể hành động nhân danh Đức Kitô là Đầu” . Chính Chúa Thánh Thần, Đấng thánh hoá, luôn là nguồn gốc việc tuyển chọn, hiến thánh và trao ban sứ mệnh (x. Cv 13,3; 19,6). Chính Chúa Thánh Thần ban cho quyền năng thi hành tác vụ hữu hiệu “tại sự”. Chúa Thánh Thần “được sai đến” (x. Ga 14,26; 15,26) và ở với linh mục là người được sai đi để cùng cộng tác vào công trình cứu độ .
2i. Nhờ Chúa Thánh Thần là nguyên lý hiệp thông , các linh mục được đặt làm người chỉ đạo và hun đúc tinh thần cho cộng đoàn, đặc biệt bằng sức mạnh của Lời Chúa. Cũng nhờ Chúa Thánh Thần, các linh mục được trở thành thừa tác viên cử hành các bí tích đem lại sức sống cho hết mọi người, từ bí tích Thánh Tẩy trong Thánh Thần và nước (Ga 3,5; Cv 10,47) tới bí tích Thánh Thể là bí tích mà Chúa Kitô “nhờ tác động của Thánh Thần, không ngừng thi hành chức năng linh mục vì lợi ích của chúng ta…” .
2j. Việc thánh hiến qua bí tích Truyền Chức mở đầu một lễ Hiện Xuống liên tục cho cuộc đời linh mục. Nhờ sức mạnh của ân sủng phi thường này, các linh mục biết nhận ra hoạt động của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội và cộng tác với Người, ý thức rằng mình đã nhận lãnh một sứ mệnh siêu nhiên và phổ quát vì ích lợi cho hết mọi người,
3. Nền tảng Giáo hội và Bí tích của chức Linh mục
3a. Là “bí tích phổ quát ban ơn cứu độ” , Giáo Hội thực hiện công việc cứu chuộc nhờ Lời Chúa và các bí tích, nhất là nhờ hy tế Thánh Thể. Tham dự vào thừa tác vụ của Giáo Hội, các linh mục được cử đi rao giảng Tin Mừng, chủ toạ việc phụng tự và thi hành vai trò hướng đạo giữa lòng Dân Chúa.
3b. Giáo Hội là một cộng đoàn hiệp thông mà các tác vụ trong cộng đồng ăn khớp với nhau theo phẩm trật. Đặc biệt nhờ có ba cấp bậc thánh chức (Giám mục, linh mục, phó tế) mà Giáo Hội được xây dựng như một đền thờ sống động, cùng thông hiệp với nhau trong một đức tin và một tình yêu. Được trao ban do bí tích Truyền Chức, ba tác vụ này được truyền lại do các Tông Đồ và các đấng kế vị, tự bản chất chúng mang tính phẩm trật và chúng tạo thành phẩm trật của Giáo Hội.
3c. Trong cộng đồng Giáo Hội, Đức Giám Mục một khi hiệp thông với Đức Giáo Hoàng là đầu của Giám mục đoàn và hiệp thông với các thành viên của Giám mục đoàn, thì ngài là vị “thượng tế” và là dấu chỉ sống động của Đức Kitô, Vị Mục Tử tối cao. Chức vụ Giám mục thể hiện lại đặc tính trung tâm của việc phục vụ vừa khiêm tốn vừa uy quyền của Đức Kitô-Đầu . Để thi hành chức vụ Giám mục một cách trọn vẹn và hữu hiệu, Đức Giám Mục cần có sự cộng tác của các linh mục và phó tế. Các linh mục là trợ tá, là công cụ của hàng Giám mục và là hiện thân của Đức Giám Mục trong mỗi cộng đoàn; dưới quyền Đức Giám Mục, các linh mục rao giảng Tin Mừng , “thánh hoá và dẫn dắt một phần đoàn chiên Chúa trao phó cho mình” .
3d. Hơn nữa, hiệp thông với Đức Giám Mục, linh mục còn làm cho Đức Kitô hiện diện . Khi mang sứ điệp Tin Mừng, linh mục thi hành chức năng của chính Đức Kitô – Ngôn Sứ trong việc phục vụ Lời Chúa cho cả những người ở xa ; – khi thi hành chức vụ đặc thù tư tế, linh mục thánh hiến nhân danh Đức Kitô – Thượng Tế (“in Persona Christi Pontificis”) ; – là mục tử, linh mục quy tụ và hướng dẫn cộng đoàn nhân danh Đức Kitô – Mục Tử (x. Lc 10,16; 1 Pr 5,2).
3e. Sau cùng, trong Giáo Hội hiệp thông, còn phân biệt chức linh mục thừa tác của những người được tấn phong với chức linh mục cộng đồng của các Kitô hữu, phân biệt nhưng bổ túc cho nhau, cùng cộng tác với nhau để thi hành sứ mệnh mà Chúa Kitô đã ủy thác cho Giáo Hội. Thật vậy, chức linh mục cộng đồng của các tín hữu và chức linh mục thừa tác tuy khác nhau không chỉ về cấp bậc mà về bản chất, nhưng cả hai đều tham dự vào chức linh mục duy nhất của Chúa Kitô theo cách thức riêng của mình . Các linh mục phải ý thức về căn tính linh mục riêng của mình, căn tính đó đặt mình vào một thừa tác vụ chuyên biệt nhằm xây dựng thân thể duy nhất của Đức Kitô, toàn thân thể đó tự bản chất là ngôn sứ, là tư tế và là vương giả. Như thế, tuy khác nhau về chức năng nhưng lại hoàn toàn bình đẳng về phẩm vị căn bản của người Kitô hữu.
3f. Linh mục được gọi riêng là “linh mục giáo phận” bởi vì linh mục đó đã nhập tịch vào một giáo phận , là nơi linh mục đó sống hiệp nhất với Đức Giám Mục theo một danh nghĩa riêng và thuộc về Đức Giám Mục một cách đặc biệt để phục vụ một cộng đoàn Giáo Hội địa phương gọi là giáo phận . Với tư cách là linh mục giáo phận, linh mục đó được mời gọi thúc đẩy tính duy nhất của hiệp thông giữa các phần tử của cộng đồng Giáo Hội địa phương, và mở rộng hiệp thông tới những ai còn ở ngoài cộng đồng Giáo Hội bằng hành động rao giảng Tin Mừng.
3g. Giữa lòng Giáo Hội hiệp thông này, không được quên vai trò của các phó tế vĩnh viễn là những người thi thành tác vụ trong mối liên hệ mật thiết với các linh mục; các phó tế này cần được đào tạo sống theo Tin Mừng để có thể chu toàn những bổn phận riêng của chức vụ. Các phó tế này tiêu biểu cho một dạng tác vụ có ý nghĩa độc đáo trong những Giáo Hội trẻ, những Giáo Hội đang cần phát huy mọi năng lực để phát triển. Cấp Hội Đồng Giám Mục sẽ nghiên cứu và tổ chức hàng phó tế vĩnh viễn này .
3h. Đến đây cần nhấn mạnh tới chiều kích Giáo Hội và bí tích để xác định phẩm tính của linh mục. Mọi linh mục đều là hiện thân của Giáo Hội, và chính ở trong Giáo Hội mà họ thực hiện kế hoạch cứu độ. Điều này giả thiết có một hiểu biết về những gì liên can đến Giáo Hội, một sự gia nhập kế hoạch cụ thể của Giáo Hội về ơn cứu độ, một sự thống nhất tinh thần và hành động với tất cả những ai đang dấn thân trong công tác mục vụ, cách riêng với Đức Giáo Hoàng, với Đức Giám Mục, với các linh mục và phó tế.
3i. Hết mọi linh mục hãy chú ý nhìn kỹ Đức Maria, Mẹ Đức Kitô và Mẹ Giáo Hội: kể từ khi hoàn thành mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa, Mẹ là mô hình mẫu mực cho con người và đời sống linh mục.
II. CĂN TÍNH LINH MỤC LÀ NGƯỜI RAO GIẢNG TIN MỪNG VÀ LÀ MỤC TỬ
4. Ý thức Truyền giáo của Linh mục
4a. Mối hiệp thông giữa các Giáo Hội địa phương với Giáo Hội toàn cầu chỉ đạt tới tuyệt hảo khi các Giáo Hội địa phương tham gia vào nỗ lực truyền giáo cho những người ngoài Kitô giáo nơi đất nước mình cũng như nơi các dân tộc khác nữa .
4b. Trong hoạt động tông đồ là hoạt động thuộc về bản chất truyền giáo của Giáo Hội , các linh mục tất nhiên đóng một vai trò hết sức quan trọng. Điều này đặc biệt hiển nhiên đối với những ai đang làm việc trong các xứ truyền giáo là nơi họ phải thực hiện việc rao giảng Tin Mừng cho những người ngoài Kitô giáo.
4c. Thật vậy, khi chịu chức, các linh mục nhận một ân sủng đặc biệt, “chuẩn bị cho họ không chỉ đảm nhiệm một sứ mệnh giới hạn và thu hẹp, nhưng một sứ mệnh rất rộng lớn và bao quát đến tận cùng trái đất (Cv 1,8)” .
4d. Do đó, mỗi linh mục phải có một ý thức truyền giáo thật rõ ràng để có đủ khả năng và sẵn sàng dấn thân một cách cụ thể và quảng đại, trong việc thông truyền Tin Mừng đến với những ai còn chưa tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô. Linh mục, quả thật là “nhà truyền giáo được sai đến với thế giới” .
4e. Việc truyền bá Phúc Âm cho những người ngoài Kitô giáo đang sống trong lãnh thổ của một giáo phận hoặc một giáo xứ, trước hết được trao phó cho vị mục tử của giáo phận hoặc của giáo xứ đó; các vị này có trách nhiệm hàng đầu; với sự cộng tác của cộng đồng Kitô hữu. Đây là nhiệm vụ tông đồ đòi hỏi Đức Giám Mục trước hết phải là sứ giả của đức tin và đòi hỏi các linh mục phải tận lực lo rao giảng Tin Mừng cho những người còn ở ngoài cộng đồng Giáo Hội, đòi hỏi bản thân các linh mục phải dấn thân, cùng với các tín hữu của mình cộng tác với các vị thừa sai.
4f. Trong việc phân phối công tác mục vụ, không nhất thiết là phải trao cho các linh mục thuộc hàng giáo sĩ địa phương những cộng đoàn đã thành hình và đã tập trung; còn các vị thừa sai thì đảm nhiệm những cộng đoàn đang thành hình hoặc lo rao giảng Tin Mừng cho những khu vực mới. Các linh mục bản xứ có quyền và có bổn phận tự đảm nhiệm việc truyền bá Phúc Âm cho anh em đồng bào mình còn chưa là Kitô hữu: như thế các ngài mới đích thực là những Tông Đồ tiền phong, những người không màng chi đến những chức vị cao, những nhiệm sở tương đối an toàn hơn, trung tâm hơn, nhiều bổng lộc hơn.
4g. Các Giáo Hội trẻ được khuyến khích tham gia thiết thực “vào công cuộc truyền giáo phổ quát của Giáo Hội càng sớm càng tốt bằng cách sai chính những nhà truyền giáo của mình đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi trên thế giới, dù khổ một nỗi mình còn thiếu linh mục” . Như thế, hết mọi Giáo Hội địa phương dù nghèo mà vẫn cứ cho đi . Về điểm này, ngoài những linh mục thuộc về những Hội Thừa Sai, các giáo phận hãy sẵn lòng sai đi trong số các linh mục giáo phận mình, những vị nghe theo tiếng gọi của Đức Kitô; các vị này được sai đi như những nhà thừa sai tình nguyện, dấn thân vào hoạt động truyền giáo đúng nghĩa . Các linh mục này khi đặt mình dưới quyền sử dụng của Đức Giám Mục giáo phận để được sai đi rao giảng Tin Mừng cho các dân tộc khác, các ngài sẽ hân hoan được sống trọn vẹn mối thông hiệp với Đức Kitô do Chúa Cha sai đi (x. Ga 17,18; 20,21) và thông hiệp với Giáo Hội phổ quát. Điều này đòi hỏi các ngài không những phải ý thức về ơn gọi của mình thật chín chắn, mà còn phải có gan rời bỏ quê hương, chủng tộc và gia đình mình, đồng thời cũng phải có năng khiếu đặc biệt để hội nhập vào một nền văn hoá khác, hiểu biết và tôn trọng nền văn hoá đó (x. Kn 12,1-4; Dt 11,8).
4h. Không có một lãnh vực hoạt động tông đồ nào mà các linh mục có thể bày tỏ tình yêu sâu đậm của mình đối với Chúa Kitô, với Giáo Hội và con người cho bằng truyền giáo, đến nỗi có thể quả quyết như thánh Phaolô: Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người (1 Cr 9,22b) .
5. Ý thức mục vụ của Linh mục
5a. Chức năng mục tử đòi hỏi các linh mục phải có một ý thức mục vụ sâu sắc, căn cứ trên chính căn tính “người được thánh hiến để rao giảng Tin Mừng, để làm mục tử chăm sóc các tín hữu và để cử hành việc thờ phượng Thiên Chúa” , như thế là tham dự vào sứ mệnh của Đức Kitô Mục Tử tốt lành, Đấng nhận biết, nuôi dưỡng và hướng dẫn các chiên của mình, lại còn đi tìm những con chiên lạc hoặc những con chiên còn ở ngoài ràn (x. Ga 10,1 tt; Lc 15,3-6).
5b. Nói cho cùng, ý thức mục vụ bao hàm ý thức thuộc về Giáo Hội phổ quát, thông hiệp trong yêu mến và vâng phục với Đức Giáo Hoàng là nguyên lý và là nền tảng vững bền và hữu hình của sự hiệp nhất trong đức tin, sự thông hảo của đức mến (x. Mt 16,19; Ga 21,15-17); ý thức mục vụ còn bao hàm ý thức hiệp thông và chia sẻ giữa các Giáo Hội địa phương mà trong các Giáo Hội đó và từ Giáo Hội đó xây dựng nên Giáo Hội toàn cầu . Một Giáo Hội địa phương sẽ trở nên cằn cỗi nếu không có gì để tặng cho các Giáo Hội anh em. Điều đó tất nhiên đòi hỏi các linh mục phải sẵn sàng lên đường, khi được Đức Giám Mục của mình sai đi, để cộng tác trong đức mến với những Giáo Hội nghèo hơn, cách riêng với những Giáo Hội đang sống trong một bối cảnh chưa được rao giảng Tin Mừng rộng rãi .
5c. Còn nói trước mắt thì ý thức mục vụ bao hàm ý thức thuộc về một Giáo Hội địa phương, linh mục hiệp thông với vị mục tử của mình, với các linh mục khác và các phó tế, với toàn thể cộng đoàn tín hữu.
5d. Việc hiệp thông với Đức Giám Mục phải vừa là hiệp thông tinh thần vừa là hiệp thông theo phẩm trật; sự hiệp thông này bao hàm một thái độ thường xuyên phải có:
- Nhìn nhận nơi Đức Giám Mục quyền bính của Chúa Kitô, Vị Mục Tử tối cao;
- Với lòng quý mến và yêu thương đón nhận vai trò của Đức Giám Mục như một người cha của cộng đồng giáo phận;
- Tích cực cộng tác với Đức Giám Mục bằng tinh thần vâng phục của một Tông Đồ.
5e. Về phần các Đức Giám Mục, các ngài hãy coi các linh mục như “những người anh em, những người bạn”; biết rõ từng linh mục; thường xuyên thăm viếng họ và hết lòng lo cho họ cả về vật chất lẫn tinh thần . Tương quan giữa Giám mục và linh mục dựa trên tinh thần đức tin; cần phát huy và biểu lộ mối tương quan đó trong một bầu khí tín nhiệm nhau, chân thành quý mến nhau và cộng tác với nhau một cách cụ thể mà vẫn tôn trọng vai trò riêng của mỗi người.
5f. Việc hiệp thông giữa các linh mục dựa trên sự kiện này: các linh mục với nhau và quanh Đức Giám Mục họp thành “một linh mục đoàn duy nhất” .
5g. Vả lại, ý thức mình thuộc về linh mục đoàn làm cho mỗi linh mục cảm thấy mình liên kết với các linh mục khác bằng “một sợi dây đặc biệt của tình bác ái tông đồ, của thừa tác vụ và tình huynh đệ” , như thế là thể hiện sự hiệp nhất mà Chúa Kitô muốn nơi các môn đệ Người, ngõ hầu họ “trở nên một” (x. Ga 17,23). Về mặt tổ chức, vai trò của linh mục đoàn được cụ thể hoá trong Hội Đồng Linh Mục, mà theo Giáo Luật thì Hội Đồng này giúp Đức Giám Mục trong việc cai quản giáo phận. Trong những Giáo Hội ở các xứ truyền giáo, thì chính Hội Đồng này thi hành chức năng mục vụ tích cực ở cấp bậc cao nhất; do đó phải thiết lập và nâng cao giá trị của Hội Đồng Linh Mục, hết sức có thể, phù hợp với những quy định của Giáo Luật và tuỳ theo tình hình cụ thể ở địa phương .
5h. Việc hiệp thông với các tín hữu đòi hỏi các linh mục phải coi mình như những người cùng với các tín hữu xây dựng Dân Chúa, những người được thánh hiến tận căn để lo việc phát triển cộng đoàn, những người hoạt động bằng một đức ái mục tử đích thực: được chọn giữa loài người, nên được đặt lo việc Thiên Chúa vì ích lợi của loài người (x. Dt 5,1) . Do đó, các linh mục phải kiên trì cầu nguyện cho các tín hữu của mình, hết lòng khuyên bảo họ yêu mến Thiên Chúa là Cha chung (x. 2 Tx 1,11); phải biết rõ thực trạng của họ như Chúa Kitô Mục Tử biết các chiên của mình (x. Ga 10,14); phải biết sống giữa họ như “những người anh em ở giữa các anh em mình” ; phải đồng tiến với họ trên con đường đức tin, trổi vượt và nêu gương sáng cho họ về đời sống Kitô hữu (x. Ga 13,15); phải lo tránh tất cả những gì có thể gây nên gương xấu (x. 2 Cr 6,3); phải hiệp cùng cộng đoàn làm chứng xác thực về sự trung tín của người Kitô hữu để những người “ở xa” và còn chưa tin Đức Kitô nhận ra được ý nghĩa của sự trung tín đó; phải cảnh giác đừng làm cho mình xa lạ với dân chúng do một lối sống, dù mình không muốn, nhưng lại đặt mình vào một giai cấp xã hội khác.
5i. Thật đáng khen ngợi những linh mục ý thức đón nhận và vui vẻ hoàn thành tất cả những công tác phục vụ mà Đức Giám Mục đã trao phó, những linh mục làm tất cả những gì có thể làm để tiếp cận được với những người ngoài Kitô giáo, những linh mục không để cho mình bị chi phối bởi những hoạt động bên ngoài xa lạ với ý nghĩa tông đồ của ơn gọi linh mục.
6. Tình huynh đệ Linh mục
6a. Hiệp nhất chung quanh Đức Giám Mục của mình, các linh mục phải nỗ lực sống “tình huynh đệ linh mục mang tính bí tích” ; tình huynh đệ đó là nền tảng và là bảo đảm cho một sự tương trợ về mặt tinh thần và cho việc hoàn thành nhiệm vụ với một sự đồng tâm nhất trí cao. Các linh mục nên nhớ rằng thái độ huynh đệ có một giá trị rao giảng Tin Mừng, bởi vì như thế là các linh mục hình thành một thân thể năng động và đáng tin, phù hợp với lời cầu nguyện của Đức Kitô đã xin cùng Chúa Cha trong bữa tiệc sau cùng (x. Ga 17,20-21). Việc rao giảng Tin Mừng không bao giờ là một việc riêng lẻ và cá nhân, nhưng luôn là một hành động hoàn toàn mang tính Giáo Hội, tiến hành trong tinh thần hiệp thông và theo phương pháp phát xuất từ tinh thần đó. Điều đó đặc biệt cần áp dụng ở những miền mà ta còn phải ra sức rao giảng Tin Mừng cho những người ngoài Kitô giáo .
6b. Các linh mục hãy nỗ lực sống tình bạn chân thành với các đồng nghiệp; nhờ thế họ có thể dễ dàng giúp nhau phát triển đời sống tâm linh và tri thức, trợ giúp nhau về những nhu cầu vật chất, sống một cuộc sống kiện toàn và quân bình hơn. Ngoài ra, tình bạn giữa các linh mục còn giúp cho các linh mục kết hiệp với Chúa Kitô, đồng thời là một trợ lực quý báu giúp các linh mục vượt qua gánh nặng và những khó khăn của nỗi cô đơn .
6c. Các linh mục coi sóc linh hồn, nhất là các cha sở, phải đặc biệt quan tâm đến các linh mục trẻ mà Đức Giám Mục gửi đến làm phụ tá cho mình; phải giúp đỡ họ trong tình huynh đệ, để họ không cảm thấy mình bị bỏ rơi, và để họ hội nhập hoàn toàn vào linh mục đoàn.
6d. Trong số những phương thế giúp các linh mục thông hiệp và giúp đỡ nhau, phải kể đến những Hội Linh Mục. Nên quý trọng những Hội nào mà nội quy đã được giới thẩm quyền phê chuẩn, nhằm mục đích phát huy đời sống thiêng liêng, đời sống chung, sinh hoạt bồi dưỡng tri thức và mục vụ, giúp các linh mục hiệp nhất với nhau và với Đức Giám Mục . Cần tránh những Hội tỏ ra có tinh thần khép kín, cục bộ, nhất là những Hội có liên kết với những nhóm gây áp lực hoặc với những phong trào chính trị – kể cả những Hội dù chỉ được các nhóm này ủng hộ – . Dù sao, trong các Giáo Hội trẻ, cần nhấn mạnh đến sự hiệp nhất của linh mục đoàn.
6e. Một điều đặc biệt quan trọng là phải có tình huynh đệ giữa các linh mục triều thuộc giáo phận với các linh mục thừa sai, nhất là những linh mục có công sáng lập Giáo Hội. Dĩ nhiên tình huynh đệ linh mục cũng bao gồm cả những linh mục thuộc các tu hội Tận hiến hoặc các tu hội Tông đồ. Tình huynh đệ linh mục, theo một nghĩa nào đó, còn mở rộng tới những giáo dân theo sát Chúa Kitô hơn trong cuộc sống tận hiến. Các linh mục cũng phải được chuẩn bị và sẵn sàng giúp đỡ về mặt tinh thần cho các giáo dân tu hội đời và cho các nữ tu, phù hợp với những chỉ dẫn của Đức Giám Mục; dù sao đừng bao giờ các linh mục can thiệp vào những vấn đề kỷ luật và những vấn đề tổ chức nội bộ của cộng đoàn tu sĩ.
7. Thừa tác viên Lời Chúa
7a.Với tư cách là nhà giáo dục đức tin cho Dân Chúa, tham dự vào sứ mạng ngôn sứ của Đức Kitô và là cộng tác viên của Giám mục, linh mục có phận sự rao giảng Lời cứu độ, và với sức mạnh siêu nhiên của Lời Chúa, tập họp cộng đoàn các tín hữu (x. Rm 10,17) . Bổn phận của người rao giảng Tin Mừng là truyền thông Lời Chúa một cách trung thực của một tôi tớ khiêm nhượng, chớ không phải thông truyền sự khôn ngoan của loài người (x. 1 Cr 2,1) . Thừa tác vụ Lời Chúa này được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: khởi giảng Tin Mừng cho người ngoài Kitô giáo, giảng dạy cho người giáo dân, dạy giáo lý cho người dự tòng và đã lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy, truyền bá Tin Mừng cho học sinh, sinh viên và giới trí thức, đối thoại với từng cá nhân.
7b. Người rao giảng Tin Mừng không mệt mỏi: Linh mục có nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng ưu tiên cho những người chưa rửa tội trong lãnh thổ được giao cho mình quản nhiệm. Sự khởi giảng này phát xuất từ trách nhiệm căn bản mà Giáo Hội đã lãnh nhận từ Đức Kitô qua các Tông Đồ: Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo (Mc 16,15; x. Mt 28,19)… Hết mọi linh mục với chức năng ngôn sứ do tham dự vào trách nhiệm truyền giáo của Giám mục mình và cộng tác chặt chẽ với ngài, đều có bổn phận rao giảng cho mọi người Thiên Chúa hằng sống, và người Con mà Thiên Chúa đã cho chỗi dậy từ cõi chết, là Đức Giêsu (x. 1 Tx 1,9-10; x. 1 Cr 1,18-21). Đó là một bổn phận không thể bỏ sót được. Chính nhờ đó mà những người ngoài Kitô giáo, do Thánh Thần khai mở tâm hồn (x. Cv 16,14) sẽ tự nguyện trở lại và tin Chúa . Cũng như Phêrô và Gioan, mỗi linh mục đều biểu lộ ý chí là một người truyền đạt không mệt mỏi Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô. Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra (Cv 4,20). Linh mục hiểu là nói với chính mình điều mà Chúa đã nói với thánh Phaolô: Đừng sợ! Cứ nói đi, đừng làm thinh, vì Thầy ở với con (Cv 18,9-10).
7c. Trong việc tổ chức những hoạt động tông đồ của giáo phận hoặc giáo xứ, cần phải dành một chỗ đáng kể cho việc thuần tuý rao giảng Tin Mừng cho những người ngoài Kitô giáo; các linh mục và các thầy phó tế, với sự cộng tác chặt chẽ của các giáo lý viên và tất cả cộng đồng Dân Chúa, phải đứng đầu và trực tiếp dấn thân vào việc rao giảng này.
7d. Về chính việc rao giảng: đó là bổn phận của cha sở, cùng với các cộng sự viên, phải lên chương trình giảng dạy cho mọi tín hữu và cả cho những nhóm người không có điều kiện tham dự thánh lễ mỗi Chúa nhật, để họ có thể đến nghe một cách đều đặn và đông đủ.
7e. Ngoài ý thức cao về trách nhiệm mục vụ, nhiệm vụ rao giảng đòi hỏi các linh mục có những cố gắng cụ thể: bài giảng không được ứng khẩu, nhưng phải soạn thảo kỹ lưỡng bằng suy nghĩ và cầu nguyện, nội dung phải truyền thông được những kho báu vĩnh cửu của Thánh Kinh, Thánh Truyền, Phụng Vụ, của Quyền Giáo Huấn và đời sống Giáo Hội ; cần thiết phải có sự phù hợp giữa lời rao giảng với đức hạnh của một linh mục, để lời nói và chứng ta đi đôi với nhau (x. Mt 5,16), bài giảng phải trình bày những tiêu chuẩn luôn luôn có giá trị cho đời sống Kitô hữu, cá nhân cũng như cộng đoàn .
7f. Trong việc giảng dạy, giảng giải Lời Chúa phải chiếm phần quan trọng; việc này là một phần cấu tạo nên Phụng vụ, và nó phải được dành cho linh mục và phó tế. Việc giảng giải Lời Chúa phải là ưu tiên và phải trình bày những mầu nhiệm đức tin cũng như những quy tắc của đời sống Kitô giáo rút ra từ Sách Thánh và theo tiến trình của Năm Phụng Vụ . Việc giảng giải Lời Chúa phải liên kết với việc dạy giáo lý, nó áp dụng những mầu nhiệm rao giảng vào đời sống cụ thể trong bối cảnh văn hoá hiện tại.
7g. Trong những nơi thiếu giáo sĩ, người ta có thể giao phó việc rao giảng cho những giáo dân theo như Giáo Luật đã quy định . Các linh mục tuyển chọn trong số giáo dân của mình những người có khả năng nhất và chuẩn bị cho họ thi hành tác vụ khó khăn này. Một khi những người này đã chính thức được giám mục công nhận thì các linh mục sẽ sắp đặt họ vào chương trình giảng dạy trong giáo xứ và trợ lực cho họ với tình huynh đệ.
7h. Đảm trách công việc huấn giáo. Huấn giáo được hiểu là việc trình bày có hệ thống giáo lý đức tin và việc khai tâm từng bước vào đời sống Kitô hữu, đó là trách nhiệm quan trọng của cộng đồng Giáo Hội và cách riêng của những người chăn dắt linh hồn . Vì thế, các cha sở có bổn phận nặng nề là phải bảo đảm cho việc dạy giáo lý được thực hiện một cách điều đặn và có hệ thống, cho mọi thứ hạng giáo dân trong mọi lứa tuổi . Trong các nơi truyền giáo, dạy giáo lý là việc cần thiết hàng đầu: nó có mục đích hướng dẫn đời sống Kitô hữu của người giáo dân tiến tới trưởng thành; trong bối cảnh một Giáo Hội còn non trẻ, nó đòi phải có một sự hội nhập văn hoá thích ứng; người ta cũng phải quan tâm đến những trở ngại và những áp lực ngược chiều từ một môi trường chưa được rao giảng Tin Mừng, và đôi khi do ảnh hưởng của chủ nghĩa duy vật hiện đại. Trong lãnh vực này, sự hợp tác của mọi Kitô hữu là cần thiết, đặc biệt là của các giáo dân thuộc nhiều thành phần.
7i. Cha mẹ: Trước mọi người khác, cha mẹ có bổn phận phải giáo dục con cái mình theo tinh thần Kitô giáo bằng lời nói và bằng đời sống gương mẫu . Các linh mục chuẩn bị cho họ hoàn thành sứ mạng này khi họ sắp nhận bí tích Hôn Phối; qua những hướng dẫn thích ứng và một sự nâng đỡ thiết thực, các ngài giúp cho bậc cha mẹ tha thiết với trách nhiệm quan trọng này.
7j. Không ai không biết tầm quan trọng của vai trò các nhà giáo trong nhiệm vụ làm tăng triển đức tin cho các thế hệ trẻ kế tiếp . Việc dạy đạo trong các trường học đối với nhiều người trẻ là sự tiếp xúc đầu tiên với Tin Mừng. Các linh mục phải quan tâm lo việc mục vụ trong các trường Công giáo và trường Nhà nước, vì đó là những môi trường thuận lợi cho việc khởi giảng Tin Mừng và huấn luyện sống đạo cho giới trẻ đã rửa tội; chỉ cần hoà nhập Sứ điệp Tin Mừng vào các giá trị văn hoá mà học đường truyền đạt. Những cách tham gia dạy đạo trong môi trường học đường sẽ thay đổi tùy theo tính chất của tổ chức học đường, tuỳ theo sự đào luyện Kitô giáo của giáo viên và tuỳ theo luật pháp của Nhà nước. Phải xác tín đảm nhận lãnh vực học đường vào trong công việc mục vụ ở cấp giáo phận cũng như ở cấp giáo xứ .
7k. Các giáo lý viên trong các Giáo Hội truyền giáo, có nhiệm vụ dạy giáo lý và cùng với linh mục, tổ chức các sinh hoạt phụng vụ và công việc từ thiện bác ái . Trong một vài trường hợp, người giáo dân được giao phó làm những việc đạo tại một họ nhỏ mà linh mục không thể đến thường xuyên được. Với sự phát triển của Giáo Hội, gương mặt của giáo lý viên đảm trách mọi việc sẽ nhường chỗ cho một chức năng nhất định: họ chỉ phụ trách dạy giáo lý trong khuôn khổ một giáo xứ. Các linh mục cần thống nhất với giáo lý viên trong vấn đề đó, đánh giá đúng mức công việc của họ và tưởng thưởng xứng đáng, quan tâm đào tạo và bồi dưỡng họ về mặt đạo đức và trí thức đúng như quy định của giáo phận .
7l. Giảng dạy và hướng dẫn anh chị em dự tòng là những công việc chính yếu của giáo lý viên. Kinh nghiệm cho biết cần phải nhờ đến lòng quảng đại của giáo lý viên trong việc khởi giảng Tin Mừng, đặc biệt ở những vùng có nhiều người không công giáo. Trong bối cảnh đó, phải làm nổi bật vai trò của giáo lý dự tòng trong các xứ truyền giáo: nhờ sự giảng dạy và hướng dẫn sống đạo, giáo lý viên khai tâm cho các dự tòng vào mầu nhiệm cứu độ và tập cho họ sống đức tin, đức ái, và làm việc tông đồ. Hội Đồng Giám Mục có nhiệm vụ thiết lập quy chế về việc tổ chức giáo lý dự tòng căn cứ vào “Ordo Initiationis Christianae”, nhằm xác định rõ những bổn phận và quyền lợi của người dự tòng và chương trình giáo lý họ phải học . Các linh mục có nhiệm vụ theo dõi sự cố gắng của người dự tòng để đánh giá đúng mức giáo lý dự tòng: nó góp phần đáng kể vào việc lớn mạnh của cộng đồng qua việc cộng đồng tiếp nhận những phần tử mới, nó là phương thế giúp cho cộng đồng tiến đến tầm vóc trưởng thành của Giáo Hội.
7m. Để tạo thuận lợi cho việc dạy giáo lý, và nói chung là việc loan báo Lời Chúa, các linh mục cần phải được huấn luyện để sử dụng các phương tiện truyền thông trong nhóm và truyền thông xã hội. Không phải chỉ là vấn đề cởi mở tinh thần, mà còn là khả năng khơi dậy và tổ chức sự hợp tác của giáo dân, dựa trên những định chế riêng biệt và thích hợp .
7n. Đối thoại giữa cá nhân với cá nhân: Tất cả những hình thức thông truyền đức tin đều dựa trên sự truyền đạt giữa cá nhân với cá nhân. Chính Chúa cũng đã thực hành như vậy khi Người tiếp xúc với ông Nicôđêmô (x. Ga 3,1 tt), với người phụ nữ Samari (x. Ga 4,1 tt), với Simon người Biệt phái (x. Lc 7,1) và với nhiều người khác. Phải khuyến khích sự tiếp xúc cá nhân giữa người thông truyền đức tin với người tiếp nhận. Riêng các linh mục, thì cần đánh giá đúng mức bí tích Hòa Giải và việc linh hướng như những phương tiện để huấn luyện từng cá nhân. Qua những tiếp xúc và trao đổi đầy tình huynh đệ đó, các ngài có thể đưa ra những giải đáp thích hợp nhất cho những vấn đề luôn khác nhau giữa người này với người khác .
8. Chủ sự nghi lễ phụng vụ thừa tác viên Bí tích
8a.Vì tham dự đặc biệt vào chức tư tế của Chúa Kitô và hành động như thừa tác viên của Người dưới quyền Giám mục, các linh mục thi hành chức năng tư tế trước hết trong việc cử hành nghi lễ phụng vụ và các bí tích . Các linh mục hãy cố gắng đạt tới ý nghĩa phụng vụ sâu xa, hãy là người linh hoạt xác tín cho đời sống phụng vụ trong cộng đoàn của các ngài .
8b.Mục vụ bí tích: Như thừa tác viên bí tích, bổn phận trước tiên của các linh mục là cung ứng một sự hiểu biết đức tin về các bí tích, đặc biệt qua việc dạy giáo lý, cho biết các bí tích có một ý nghĩa Giáo Hội và quy hướng về Thánh Thể, cho biết ý nghĩa của điều kiện căn bản cần có ở nơi người tín hữu để lãnh nhận bí tích và để sống ơn riêng của mỗi bí tích nhờ vào chức tư tế chung của mọi tín hữu . Như thế sẽ tránh cho họ ý tưởng sai lầm coi bí tích như một ảo thuật tự nó phát sinh hiệu lực không liên hệ gì đến đời sống Kitô hữu.
8c.Vì khi đã dọn mình cẩn thận, các tín hữu mới có quyền lãnh nhận bí tích , các linh mục phải chăm sóc cho họ được dọn mình xứng đáng . Tưởng nên nói rõ ở đây rằng việc mục vụ bí tích không phải chỉ giới hạn trong thời gian trước khi cử hành bí tích, nhưng còn kéo dài sau đó để giúp những người đã lãnh nhận, nhất là các tân tòng, tiến tới trưởng thành trong đời sống Kitô hữu . Cộng đoàn có bổn phận tạo bầu khí huynh đệ để tiếp nhận những người lãnh nhận bí tích lần đầu.
8d. Muốn làm cho Giáo Hội tăng trưởng, cần phải làm sáng tỏ vai trò trung tâm của bí tích Thánh Thể: chính nhờ tác động của bí tích Thánh Thể và chính chung quanh bí tích này mà cộng đoàn đã hình thành, sống và tăng trưởng. Qua việc dâng lễ hiến tế, qua việc đồng hoá cách đặc thù và cách bí tích với Linh Mục Thượng Phẩm và vĩnh cửu , các linh mục xác lập vị trí mầu nhiệm Thánh Thể ở trung tâm đời sống của mình và của cộng đoàn. Các ngài sẽ không quên rằng chính từ cái nhân sống động ấy là Thánh Thể, các ngài mới có thể rao giảng Lời Chúa có hiệu quả và tập hợp cộng đoàn đã được giao phó cho các ngài. Các ngài cố gắng dẫn đưa các tín hữu đến một sự tham dự thánh lễ cách tích cực bằng việc hiến dâng hy lễ thánh lên Chúa Cha và bằng việc kết hợp chính đời sống của họ với hiến lễ ; linh mục mời gọi họ lãnh nhận thường xuyên Bánh hằng sống, cung kính và tôn thờ Chúa Kitô hiện diện trong Nhà Tạm . Trong trường hợp thiếu linh mục, do đó không có thánh lễ mỗi Chúa nhật trong mọi cộng đoàn, thì các vị mục tử lên một lịch trình ấn định dâng lễ khi thì ở họ này khi thì ở họ khác, để các tín hữu có một bảo đảm tương đối là sẽ được lãnh nhận ơn bí tích vào thời điểm ấn định: vì lẽ đây là một lãnh vực thiết yếu đối với đời sống Kitô hữu.
Trong hoàn cảnh hiện tại, tưởng cũng nên nhắc các linh mục nên cử hành bí tích Hoà Giải cách siêng năng, đều đặn, kiên trì và sốt sắng . Việc mục vụ này đòi hỏi một tấm lòng sẵn sàng cao độ và một tinh thần hy sinh vô bờ, nhưng nó là một biểu hiệu cao nhất lòng nhân từ của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô qua thừa tác vụ của Giáo Hội. Các linh mục cố gắng trình bày bí tích này như một đóng góp vào việc giải quyết những xung đột trong xã hội ngày nay, theo mức độ tội cá nhân ảnh hưởng đến đời sống xã hội, với những hậu quả phương hai đối với phẩm giá toàn vẹn của con người .
8e. Trong các Giáo Hội truyền giáo, nhờ việc huấn giáo trung thành với đức tin và với lòng quảng đại của các mục tử, bí tích Hoà Giải được cử hành và lãnh nhận thường xuyên. Do đó, các ngài phải vượt qua khó khăn trong công tác mục vụ này, đặc biệt là vì con số thừa tác viên thì ít, nhằm duy trì việc thi hành bí tích với nhịp độ gia tăng. Một chương trình rõ rệt có thể kết hợp các lực lượng trợ lực chẳng hạn trong các dịp lễ lớn, các linh mục lân cận có thể giúp đỡ lẫn nhau. Người ta phải nhớ rằng: việc giải tội cá nhân là hình thức thông thường của bí tích để giao hoà những hối nhân ý thức mình mắc tội trọng với Thiên Chúa và Giáo Hội. Còn vấn đề giải tội tập thể cho các hối nhân mà trước đó không xưng tội từng người một, thì chỉ được thực hiện trong trường hợp nguy tử và có sự tối cần thiết; chỉ được phép giải tội tập thể khi có quá nhiều hối nhân mà không đủ cha giải tội cho một thời gian nhất định, nên những hối nhân đó không do lỗi của họ mà phải thiệt thòi trong một thời gian lâu dài không được lãnh nhận ơn bí tích Hoà Giải và không được rước Mình Thánh Chúa. Đức Giám Mục giáo phận có quyền phán quyết những trường hợp cần thiết nào thì đủ lý do theo Giáo Luật quy định; đồng thời cũng phải quan tâm tới những tiêu chuẩn mà các thành viên khác của Hội Đồng Giám Mục đã cùng nhau nhất trí đề ra để xác định trường hợp nào thật sự là cần thiết . Cũng nên tổ chức những nghi thức sám hối cộng đồng, nhất là trong những giai đoạn quan trọng của Năm Phụng Vụ; nhờ thế mà giáo dục cho các tín hữu hiểu biết sâu sắc ý nghĩa Giáo Hội của việc sám hối, cả khi nó không mang hình thức bí tích.
8f. Cách riêng – nhưng không phải tuyệt đối – trong những nơi mới khởi giảng Tin Mừng cho anh chị em ngoài Kitô giáo, thì các linh mục phải quan tâm đặc biệt đến hai bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức.
8g. Về bí tích Thánh Tẩy, cần phải làm nổi bật những hiệu quả sau đây: tha thứ tội lỗi, được làm con Chúa, được nên giống Chúa Kitô và được sáp nhập vào Giáo Hội . Trong giai đoạn chuẩn bị, mục vụ phải nhắm vào cha mẹ và người đỡ đầu nếu là rửa tội cho trẻ em, và phải nhắm vào chính những người lãnh bí tích nếu là rửa tội cho người lớn . Người ta phải đánh giá đúng mức việc gắn liền tự nhiên giữa giáo lý dự tòng với bí tích Thánh Tẩy . Người ta cũng không được bỏ qua việc mục vụ của giai đoạn sau thanh tẩy, bởi vì những người tân tòng cần được giúp đỡ cách riêng để chu toàn những bổn phận của đời sống Kitô hữu và để hoà nhập vào cộng đoàn Giáo Hội đã tiếp nhận họ .
8h. Về bí tích Thêm Sức, thì cũng cần phải nhấn mạnh đến những hiệu quả của nó. Bí tích này làm cho người lãnh nhận được tiến bộ trên con đường khai tâm vào đời sống Kitô hữu, ban cho họ được dồi dào các ơn của Chúa Thánh Thần, tạo cho họ một mối liên hệ mật thiết với Giáo Hội hơn, và đòi họ phải dấn thân nhiều hơn cho việc tông đồ trong và ngoài cộng đồng giáo xứ . Công việc mục vụ cho những người nhận bí tích Thêm Sức phải giúp họ chuẩn bị và sau đó, phải hướng dẫn đi đến sự trưởng thành trong đời sống Kitô hữu và dấn thân làm việc tông đồ ngày càng quảng đại ngay giữa những người ngoài Kitô giáo. Nghi lễ thêm sức là một cơ hội thuận tiện để thiết lập mối dây liên lạc cá nhân cụ thể giữa mỗi người nhận bí tích với Giám mục.
8i.Vài ưu tiên trong mục vụ phụng vụ: Trong các Giáo Hội đang tiến đến trưởng thành thì có một số ưu tiên như sau: trước hết là chiều hướng cộng đồng của việc cửa hành, như là hoạt động của Chúa Kitô và của Giáo Hội trong đó mỗi Kitô hữu tham dự nhiều ít tuỳ theo cấp bậc và chức năng của mình , nói tắt là cần phải có sự tham dự tích cực, và muốn được như vậy cần phải chuẩn bị trước để thấu triệt ý nghĩa và giá trị của nghi thức phụng vụ . Hơn nữa, mục vụ phụng vụ đòi hỏi phải có sự hài hoà giữa nghi lễ phụng vụ và đời sống thường nhật, làm thế nào để các tín hữu có thể diễn đạt được trong các sinh hoạt của họ những kho báu dồi dào mà họ đã tiếp nhận do mầu nhiệm Chúa Kitô mà họ tin theo . Phương thức mục vụ này đòi hỏi một sự cố gắng đáng kể trong việc hội nhập văn hoá, để việc cử hành các nghi thức được dễ hiểu hơn và dễ cảm nhận hơn tuỳ theo trình độ của những người tham dự mà không làm tổn thương đến ý nghĩa tuyệt đối của mầu nhiệm . Những nghiên cứu và sáng kiến trong lãnh vực hội nhập văn hoá phải do cấp Hội Đồng Giám Mục địa phương đảm nhận, sao cho phù hợp và hài hoà với truyền thống và quy luật của Giáo Hội toàn cầu. Còn các linh mục có nhiệm vụ chăm sóc các linh hồn cần phải tích cực nâng đỡ và can đảm thực hiện phương hướng đã được thông qua theo chương trình chung mà giáo phận đã đề ra . Sau hết, các linh mục phải nghiêm túc quan tâm đến việc cử hành nghi thức phụng vụ ngày Chúa nhật trong trường hợp không có linh mục. Ý thức rằng việc cử hành thánh lễ là trung tâm và là đỉnh cao của đời sống Kitô hữu, nên ở những nơi xa xôi không có linh mục dâng thánh lễ, thì các tín hữu cần tụ họp lại để cầu nguyện mỗi ngày Chúa nhật . Hội Đồng Giám Mục và mỗi Giám mục có nhiệm vụ ấn định việc cử hành nghi thức phụng vụ đó theo đúng quy tắc của Giáo Hội , về nội dung, về mối liên hệ với Năm Phụng Vụ, về người chủ sự, về diễn tiến nghi thức, về sự cần thiết phải tránh ngộ nhận đó là cử hành thánh lễ. Phần các linh mục thì phải chuẩn bị cộng đoàn và những linh hoạt viên để việc cử hành đó – bao gồm việc công bố Lời Chúa, và nếu có thể thì cho rước Mình Thánh Chúa – được tiến hành đúng như một nghi thức cầu nguyện của Giáo Hội, để giúp các giáo hữu thánh hoá ngày Chúa nhật và càng mong ước được tham dự thánh lễ thật sự.
8j. Những thái độ của linh mục chủ sự phải phát xuất từ một sự hiểu biết chính xác về phụng vụ , từ một ý thức chân thật về sự trang trọng thích hợp. Sự trang trọng của phụng vụ hoà hợp với tính giản dị và thanh bần của ngôi nhà thờ và của lễ phục, các nghi lễ được cử hành cách sốt sắng cả bề trong lẫn bề ngoài, đồng thời tránh được sự vội vàng và cẩu thả. Bởi thế, người chủ toạ nghi thức phụng vụ phải làm cho việc cử hành sống động bằng cách chính mình khuyến dụ đúng lúc theo như chữ đỏ chỉ dẫn, và bằng cách bảo đảm cho những người khác thi hành phần vụ của mình đúng cách và đúng lúc, như đọc Sách Thánh, ca hát, những cử chỉ, những lúc thinh lặng. Việc chủ toạ nghi lễ phụng vụ và việc làm cho nghi lễ đó sống động đòi hỏi phải có một đời sống nội tâm dồi dào, phải thông hiểu giáo thuyết, phải có khả năng thúc đẩy người khác tham gia việc chung, và phải dọn mình cẩn thận mỗi khi cử hành.
8k. Việc tuân giữ những quy tắc của phụng vụ về cử chỉ, ngôn từ và lễ phục, là cơ hội để linh mục nêu cao ý nghĩa của việc thánh liên hệ đến việc thờ phượng, đồng thời để thể hiện ý nghĩa giáo dục thật sự. Giáo Hội đã quy định một số điểm về vấn đề này và các linh mục cần phải tuân theo . Sự trung thành với các quy tắc của việc cử hành cùng với sự linh động mà vị chủ sự tạo ra, là một tấm gương sáng cho cộng đoàn. Các tín hữu có thể ý thức được sự cao cả của các mầu nhiệm được cử hành khi khám phá ra sự sốt sắng bên trong của các linh mục và khi quan sát thấy tính trang trọng của phong cách các ngài. Các linh mục phải hiểu rằng các ngài sẽ thiếu sót trong việc dẫn dắt Dân Chúa và các ngài có thể làm cho họ lạc hướng khi các ngài nhẹ dạ tự ý thay đổi diễn tiến của việc thánh bằng cách thêm vào hoặc bớt đi không đúng phép, hoặc cử hành mà không mặc lễ phục, không dùng chén thánh hoặc ở ngoài những nơi quy định. Công nhận là có những hoàn cảnh thiếu thốn và những trường hợp miễn trừ chính đáng, nhưng các linh mục vẫn được tha thiết yêu cầu cống hiến cho những cộng đoàn non trẻ xứ truyền giáo các cuộc cử hành phụng vụ hết sức trang trọng và nhịp nhàng. Sau hết các ngài phải nhớ rằng, các nghi lễ được cử hành một cách trang trọng chính là một thông điệp, một lời kêu gọi có ý nghĩa đối với những ai quan tâm đến đức tin Kitô giáo và đang tiến tới đó.
9. Giải phóng và thăng tiến con người, lựa chọn ưu tiên cho người nghèo
9a. Sự thăng tiến con người gắn liền với việc rao giảng Tin Mừng: quả thật đó là sứ mạng độc đáo của Giáo Hội. Giáo Hội cảm thấy mình có trách nhiệm đó theo như ý muốn của Chúa Kitô (Mt 25,41-45; Lc 16,19-31), trách nhiệm phục vụ cho sự phát triển đích thực và toàn vẹn của con người xét về phương diện cá nhân cũng như trong chiều kích xã hội; mặt khác, nếu ở đâu có tai hoạ hoặc bất công xã hội đè nén con người, thì Giáo Hội có trách nhiệm cáo giác . Ngừơi ta cũng nên nhớ rằng sứ mạng chuyên biệt của Giáo Hội “không thuộc bình diện chính trị, kinh tế hoặc xã hội, nhưng thuộc bình diện tôn giáo : vì thế Giáo Hội đóng góp phần đầu tiên của mình để giải quyết những vấn đề cấp bách cho việc phát triển khi Giáo Hội công bố chân lý về Chúa Giêsu, về chính Giáo Hội và về con người” .
9b. Chính trong cùng một chiều hướng đó, người ta có thể đặt vấn đề giải phóng với những mức độ cấp thiết khác nhau, với những hệ luỵ thực hành, trong những lãnh vực khác nhau của Giáo Hội. Trong ý định tình thương vĩnh cửu của Chúa Cha, mọi người đều được mời gọi hiệp thông với Thiên Chúa, với loài người và cả với vũ trụ, vì vũ trụ gắn liền với con người, và nhờ nó mà con người đạt tới cứu cánh của mình. Sự hiệp thông đó bị cắt đứt bởi tội lỗi; nó đã được tái lập do Chúa Kitô theo như lời hứa cứu độ mà Thiên Chúa đã báo trước từ nguyên thuỷ của con người (Kn 3,15; Rm 5,21-22). Nhờ sự chết và sống lại của mình, Chúa Kitô đã giải phóng con người khỏi tội lỗi và những hậu quả của tội như bất công, áp bức, ích kỷ, trên bình diện cá nhân và xã hội; Người đã tái lập sự hiệp thông và đem cho mọi người ơn cứu độ. Theo gương Đức Kitô, Giáo Hội công bố sự giải phóng đó và cố gắng giúp con người đạt được nó trong mọi lãnh vực của đời sống. Trong những xứ truyền giáo, các linh mục cần phải có một quan niệm rõ ràng và chính xác về vấn đề này, và phải hiểu biết cách xác thực những yếu tố thiết yếu của một nền thần học giải phóng phù hợp với lời dạy của Huấn quyền Giáo Hội : như vậy, các ngài mới có thể đưa ra những đóng góp có giá trị về tư tưởng cũng như hành động, mà không rơi vào một ý thức hệ phe phái. Đem những giá trị cuả Tin Mừng và của Nước Trời vào lãnh vực kinh tế, xã hội và chính trị là nhiệm vụ chuyên biệt của các người giáo dân . Bổn phận của các linh mục là chuẩn bị cho họ dấn thân vào nhiệm vụ đó, và trợ lực cho họ hoàn thành, đồng thời khích lệ và động viên họ đảm nhận những trách nhiệm của riêng họ trong lãnh vực thực tại trần thế . Các linh mục phải tỏ ra can đảm và quân bình trong lãnh vực tông đồ này.
9c. Muốn cho việc mục vụ về giải phóng, về thăng tiến con người và về công bằng được hữu hiệu, các linh mục phải cố gắng trang bị cho mình một sự hiểu biết đầy đủ về giáo thuyết xã hội, về những chỉ dẫn và những lựa chọn mục vụ của Giáo Hội. Các ngài hãy biết gần gũi với dân chúng khi họ bị áp bức bởi những người giàu sang và quyền thế; các ngài hãy có thái độ liên đới và đón nhận, tạo điều kiện cho họ ý thức vấn đề, để tình trạng bất công xã hội không bị gánh chịu một cách tiêu cực. Các vị mục tử không thể có thái độ thụ động trước những khó khăn đương nhiên gắn liền với công việc mục vụ này.
9d. Cũng phải quan tâm đến vấn đề trầm trọng của những người di cư vì chiến tranh hoặc vì thiên tai. Những thử thách do sự đày ải, do gia đình bị phân tán, do sự cô lập, cũng như cảnh cùng khổ thường kéo theo sự sụp đổ về tinh thần, mất tin tưởng và đi đến chỗ tuyệt vọng. Đức tin tôn giáo là một trợ lực quý báu để xây dựng lại cuộc đời. Linh mục thường là người đầu tiên phải gánh chịu sự tác động của những hoàn cảnh này với những khó khăn của nó, như sự tập trung dân chúng, sự ô hợp trong các trại tập trung, đang khi giới trẻ thì sống buông thả. Trong những trường hợp này, các linh mục phải biết bén nhạy đặc biệt, do đó các ngài phải được chuẩn bị thích đáng cho việc mục vụ phục vụ trên.
9e. Khi các linh mục phải có những sáng kiến nhằm vào công việc phát triển, đặc biệt khi các ngài phải cáo giác công khai những bất công, thì các ngài phải hành động tập thể chứ không cá nhân riêng lẻ; các ngài phải tuân theo chương trình của giáo phận đã được Đức Giám Mục chấp thuận. Các ngài hãy ý thức rằng những can thiệp thiếu cân xứng và có tính cách cá nhân, nhất là trong phạm vi xã hội chính trị, có nguy cơ đẩy linh mục ra khỏi lãnh vực của riêng mình, là lãnh vực đức ái mục tử, có nguy cơ làm mất tính đáng tin của sứ mạng, làm cho tín hữu bị lạc hướng, và làm tổn hại cho việc tông đồ.
9f. Muốn xin các Giáo Hội khác hoặc các tổ chức nhân đạo các nước giúp đỡ về vật chất, thì luôn luôn phải có sự ưng thuận của Đấng bản quyền và theo kế hoạch của giáo phận để bảo dảm cho một sự phân chia ổn thoả trong các cộng đoàn giáo xứ.
9g. Trong các đòi hỏi của Tin Mừng, thì trước hết là thi hành bác ái với mọi người, đặc biệt ưu tiên cho người nghèo. Giáo Hội xác định lại sự lựa chọn của mình, đồng thời cũng là tình yêu của mình, ưu tiên dành cho người nghèo. Đây không phải là một sự lựa chọn loại trừ, nhưng chỉ là một nét riêng hàng đầu của bác ái. Phải biết rằng hiện nay người nghèo không phải chỉ gồm những người không có gì, nhưng còn gồm nhiều hạng người khác, trên thực tế khá đông, như những người sống ngoài lề xã hội, hoặc những người gặp khó khăn trầm trọng, những người tàn tật, những người thất nghiệp, những người di cư, những người tị nạn, những người nghiện ngập, v.v… . Chớ gì các linh mục hãy gần gũi những người anh em đó, hãy chân thành thông cảm với những khó khăn và thử thách của họ để nhìn thấy trong họ khuôn mặt đau khổ của Chúa Kitô (Mt 25,40).
9h. Khi làm công tác phát triển xã hội, các linh mục hãy xác tín rằng việc rao giảng Tin Mừng được thực hiện nhờ sự chiếu toả những giá trị của Tin Mừng chứ không phải do sức mạnh của các phương tiện kinh tế. Để bảo toàn sứ mạng của Giáo Hội, các ngài phải tránh khơi dậy nơi giáo dân và nơi những người đang hướng về Kitô giáo tính hám lợi quá ư trần tục.
10. Tác nhân của sự hợp tác
10a.Công tác mục vụ là một hoạt động của Giáo Hội có tính cách cộng đồng, được tổ chức có hệ thống ở những cấp bậc có thẩm quyền khác nhau .
10b. Các linh mục có bổn phận chu toàn công tác mục vụ trong tinh thần Giáo Hội, gắn chặt với cộng đoàn, kết hợp với Giám mục và phục tùng ngài, đồng thời cộng tác chặt chẽ với các thành viên khác trong mục vụ; các ngài cần tránh hành động đơn độc và mang tính cá nhân chủ nghĩa; các ngài phải hướng dẫn và đồng hành với cộng đoàn trong việc thực hiện chương trình hoạt động, với tính kiên trì và uyển chuyển.
10c. Các linh mục cũng dấn thân vào kế hoạch chung của giáo phận bằng cách tham gia vào những cơ chế tổ chức, tham gia một cách tích cực nhằm làm cho tất cả gia đình giáo phận được tăng trưởng. Trong khuôn khổ giáo xứ, cha sở có bổn phận tổ chức sự hợp tác của các thành viên mục vụ: linh mục, phó tế, tu sĩ và giáo dân . Phải khuyến khích sự nỗ lực tạo đoàn kết giữa những người dấn thân toàn thời gian, qua những cuộc gạp gỡ thường xuyên và thông tin đều đặn, qua việc cùng nhau phác hoạ chương trình, kiểm điểm và tìm kiếm những phương thức tốt nhất để hoạt động.
10d. Trong bầu khí tin cậy nhau, cũng cần phải phát động trong giáo xứ những bộ phận tham gia mà Giáo Luật đã dự kiến, như ban mục vụ , ban kinh tế , cùng những sáng kiến khác có tính cách cộng đồng như các cộng đoàn nhỏ, các hội đoàn và các phong trào. Người ta thấy trong một số nền văn hoá, nhóm nhỏ là cơ sở của cấu trúc xã hội có thể làm khuôn mẫu lý tưởng cho chính đời sống Kitô giáo. Các cộng đoàn cơ bản đó thực sự mang tính Giáo Hội, nếu nó thực hiện được sự hiệp thông và cộng tác với Giáo Hội và các vị mục tử về mặt giáo thuyết, mặt tổ chức và sáng kiến tông đồ . Sự khôn ngoan của linh mục đưa linh mục đến việc tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác giữa các nhóm khác nhau trong tinh thần hiệp nhất, trong sự tôn trọng đặc tính và sự tự lập chính đáng của mỗi nhóm.
10e. Ở cấp giáo phận cũng như cấp giáo xứ, cần quan tâm đặc biệt đến sự hợp tác giữa hàng giáo sĩ bản xứ với các vị thừa sai từ nhiều nước đến mà đa số là thuộc các dòng. Các vị này làm việc do sự uỷ nhiệm tổng quát của Giáo Hội qua Bề trên cả của dòng và do những quy ước với Bản Quyền địa phương. Sự hiện diện của họ là một hồng ân đặc biệt cho Giáo Hội thừa sai và thực hiện sự trao đổi bác ái giữa các Giáo Hội địa phương. Các vị thừa sai này hãy hoà nhập vào xã hội và Giáo Hội mà họ đến làm việc; họ đương nhiên thuộc về Giáo Hội này và nếu là linh mục thì họ là thành phần của hàng linh mục. Họ hoàn toàn tùy thuộc vào Giám mục Bản Quyền trong những hoạt động mục vụ trong khi vẫn sống và làm việc theo đặc sủng riêng của dòng . Các linh mục thuộc Giáo Hội địa phương vượt qua tinh thần quốc gia giả hiệu để sống hiệp thông với họ và biết đề cao sự hợp tác tông đồ của họ, một sự hợp tác trong một số trường hợp chẳng những là hữu ích và đáp ứng những nhu cầu trước mắt, mà còn là đặc biệt cần thiết. Phần các vị thừa sai thì hãy góp phần vào sự phát triển các nguồn lực tông đồ địa phương. Giữa các Hội Dòng và hàng giáo sĩ địa phương sẽ nảy nở một sự phối hợp nhịp nhàng trong hoạt động mục vụ dưới sự chỉ đạo của Giám mục; cả hai bên hãy bảo toàn sự đoàn kết cần thiết giữa các nhóm khác nhau trong sự tôn trọng những đặc tính cá biệt và những mục đích riêng của mình .
10f. Để cổ võ công việc mục vụ chung là điều quan trọng hàng đầu trong hoạt động truyền giáo, các linh mục phải làm việc trên cơ sở một kế hoạch đúng đắn, ít là ở cấp giáo phận và giáo xứ. Điều này giả thiết phải áp dụng một phương pháp đã được thử nghiệm: biết rõ thực tế mục vụ, xác định các đối tương chung và đặc thù, đặt những tiêu chuẩn đánh giá, một chiến lược và những phương thức hành động. Để tránh cho kế hoạch chỉ là lý thuyết, cần phải xác định rõ mục đích đạt tới, những sáng kiến phải có, những trách nhiệm phải đảm nhận, những phương thế phải sử dụng, những nơi chốn và thời điểm để hoạt động, v.v… Những chương trình đó cần phải được xét duyệt lại thường xuyên.
11. Vị mục tử lo việc Phúc âm hoá văn hoá
11a.Tin Mừng vượt trên tất cả các văn hoá và không đồng hoá với bất cứ nền văn hoá nào (x. Ga 18,36). Tuy nhiên, Nước Trời mà Tin Mừng loan báo được thể hiện nơi những người sống gắn bó với một nền văn hoá và sự thể hiện Nước Trời không thể đạt được nếu bỏ qua những yếu tố văn hoá. Lãnh vực quan trọng này có một ý nghĩa sâu xa trong việc rao giảng Tin Mừng của sứ mạng truyền giáo theo đường hướng Nhập Thể của Ngôi Lời. Giáo Hội chẳng những có nhiệm vụ đem Tin Mừng vào các nền văn hoá, mà còn phải biết bổ trợ và tiếp nhận hết mọi nguồn mạch, mọi sự phong phú nhân bản và tôn giáo, phong tục của các dân tộc trong mức độ những cái đó tốt đẹp; Giáo Hội phải đem Tin Mừng đến tất cả mọi tầng lớp của thực tại con người để biến đổi tất cả từ bên trong, thanh tẩy những yếu tố tiêu cực, cũ và mới, làm thế nào để sứ điệp Tin Mừng có thể được diễn đạt qua những biểu hiệu khả tri và có giá trị.
11b. Việc hội nhập văn hoá, trước tiên là một sự kiện của nhiều Giáo Hội địa phương được hiểu như những cộng đoàn thường ngày sống một kinh nghiệm đức tin và đức mến. Những nhà chuyên môn có thể thúc đẩy và hướng dẫn công việc này, nhưng họ không phải là những tác nhân chính. Hơn nữa, việc hội nhập văn hoá, một cộng đoàn đơn độc không thể thực hiện được, nó chỉ có thể thực hiện bởi toàn thể các Giáo Hội sống trong cùng một khu vực văn hoá nhất định. Sau hết, sự hội nhập văn hoá không phải chỉ hoàn thành một lần là xong: đó là việc hoà nhập thường xuyên kinh nghiệm Kitô giáo vào trong một nền văn hoá vốn không bền vững và cũng không hoàn chỉnh.
11c. Cần phải nhớ rằng Tin Mừng, qua các thế kỷ, đã thấm nhập vào các nền văn hoá khác nhau, đón nhận giá trị của chúng, mà nay đã trở thành những giá trị nhân bản toàn cầu, các yếu tố đó có thể đáp ứng những đòi hỏi của mọi nền văn hoá. Sự thâm tín này thúc đẩy và hướng dẫn việc hội nhập sứ điệp Tin Mừng vào mọi nền văn hoá địa phương. Cần lưu ý đến sự kiện đó trong khi phân định các yếu tố của một nền văn hoá để tránh đi đến chỗ phá hủy và tước đoạt khỏi một nhóm người quyền thừa hưởng một gia tài văn hoá thuộc di sản của cả Giáo Hội.
11d. Các linh mục cần vững tin dấn thân vào lãnh vực này là lãnh vực mà việc tông đồ đòi hỏi gắt gao; các ngài cần học cách nhận định một cách công bình về nền văn hoá của mình, nghĩa là nhận biết đâu là giá trị, đâu là thiếu sót hoặc sai lạc, và phân định đâu là những hậu quả của tội, để từ đó đừng coi bất cứ một hình thái văn hoá nào của mình cũng có giá trị đích thực.
11e. Các ngài phải luôn luôn nhớ rằng việc hội nhập văn hoá không được làm tổn thương đến sự hiệp nhất của Giáo Hội, nhưng việc hội nhập đó lúc nào cũng phải khởi đi từ Kinh Thánh là nền tảng, và phát triển trong sự gắn bó với Thánh Truyền, thống nhất với những hướng dẫn và những chỉ thị của Giáo quyền đương thời . Để cho việc hội nhập văn hoá đạt tới mục đích của nó và các tín hữu khỏi lạc hướng, các linh mục phải hành động cùng với Giám mục và các linh mục khác theo một chương trình chung do cấp Hội Đồng Giám Mục đã hoạch định .
11f. Trong bối cảnh đó, người ta không được quên lòng mộ đạo của giới bình dân công giáo hiện có trong xứ sở. Lòng mộ đạo đó là một tổng hợp gồm những giá trị, những tín điều, những phong cách thuộc đạo Công giáo, đó là một môi trường thuận lợi cho việc đối thoại giữa Tin Mừng và nền văn hoá. Nó diễn tả sự khôn ngoan của một dân tộc. Chính vì thế, muốn đi vào chiều sâu của việc đem Tin Mừng vào một nền văn hoá, cần quan tâm đến tầm quan trọng thật sự của lòng mộ đạo đó. Các linh mục phải chăm lo cẩn thận cho lòng mộ đạo bình dân này được nuôi dưỡng bằng một sự hiểu biết chính xác sứ điệp Kitô giáo và không để nó rơi vào ma thuật, dị đoan, cuồng tín hoặc một hình thức mộ đạo sai lạc .
12. Người bạn và người hướng dẫn của tuổi trẻ
12a.Những người trẻ là một thành phần sinh động và tích cực trong Giáo Hội; họ là tâm điểm của những mối bận tâm và của tình thương của Giáo Hội; họ là niềm hy vọng của Giáo Hội . Thâm tín rằng tuổi thanh xuân chính là một sự phong phú dồi dào và giới trẻ ảnh hưởng cách quyết định đến việc xây dựng xã hội , nên Giáo Hội đặc biệt trao phó họ cho các linh mục quan tâm chăm sóc , để huấn luyện họ thành những người nam và người nữ có một phẩm cách nhân bản và Kitô giáo vững vàng . Trong những cộng đoàn Giáo Hội trẻ trung mà trong đó giới trẻ chiếm phần đa số, thì việc mục vụ trên đây phải đặt vào hàng đầu và với bất cứ giá nào cũng không được coi thường trong hiện tại và trong tương lai của Giáo Hội . Các linh mục chuẩn bị cho giới trẻ góp phần vào việc rao giảng Tin Mừng. Người ta có lý để nói rằng đó là việc tông đồ của hy vọng khi giới trẻ được rao giảng Tin Mừng và chính họ trở thành người tiên phong trong việc rao giảng Tin Mừng những người ngoài Kitô giáo đương thời .
12b. Thái độ của các linh mục đối với giới trẻ phải được thích nghi với đường lối mục vụ này, đó là thái độ đượm một tình thương chân thành và một tâm tình sẵn sàng phục vụ: trước hết, mặc dầu việc này có làm phiền mình, nhưng phải có thiện cảm với những ước vọng của họ và cùng chia sẻ lý tưởng, các quan điểm có giá trị, các vấn đề và hoạt động của họ. Các linh mục cũng phải khích lệ và hướng dẫn giới trẻ để họ có khả năng nhận định có phê phán, nhờ đó họ có thể đương đầu với những tình huống khó xử, chẳng hạn: khi gặp phải một nền văn minh tục hoá và nhiều khi là vô thần có liên quan đến một ý thức hệ tha hoá, – sự căng thẳng do bất công xã hội, – sự lan tràn ma tuý, – sự buông thả tính dục, – tình trạng thất nghiệp và những tình huống tương tự. Mong các linh mục gần gũi giới trẻ để soi sáng và hướng dẫn họ giữa những “cạm bẫy” đó; các ngài hãy giúp họ tự đào luyện trong một bầu khí tin cậy, để họ có thể vượt qua những mâu thuẫn vốn có trong chính họ, để họ tạo được những dự án tích cực cho cuộc sống và dấn thân vào đó một cách gắn bó. Các ngài phải sẵn sàng tự đặt mình trong tầm tay của giới trẻ, cống hiến cho họ nhiều thời giờ, quan tâm nhiều tới họ và quan hệ với họ trong tình bạn. Hãy đề nghị họ nên có cha linh hướng, nhờ đó họ sẽ có được ảnh hưởng sâu đậm trong tuổi thanh xuân. Các linh mục luôn nhớ rằng Giáo Hội có nhiều điều muốn nói với giới trẻ và giới trẻ cũng có nhiều điều cần trình bày với Giáo Hội .
12c. Cần phải tập họp giới trẻ thành từng nhóm nam riêng, nữ riêng hoặc chung cả hai giới theo phương thức tổ chức học đường, những hội đoàn, những phong trào, hoặc gợi cho họ tụ tập nên những nhóm tự phát. Mong các linh mục đừng quên rằng, để cùng nhau tăng triển, giới trẻ thấy có nhu cầu chia sẻ với nhau, nâng đỡ nhau và chung sức với nhau thực hiện một cái gì đó có giá trị. Vì thế các ngài phải biết rành rẽ về năng động tập thể; phải quan tâm đặc biệt đến việc đào luyện các thủ lãnh điều khiển các nhóm trẻ.
12d. Ở cấp địa phận, cần quan tâm thiết lập những bộ phận có khả năng cổ võ mục vụ cho giới trẻ, với những linh mục được chuẩn bị kỹ lưỡng để đảm đương công tác này và sẵn sàng yểm trợ các giáo xứ hoặc các nhóm một cách hữu hiệu.
12e. Các linh mục cần chú ý đến một hiện tượng đặc biệt hiện nay có ảnh hưởng đến việc truyền thông sứ điệp: đó là một số lớn các bạn trẻ, một mặt thì đòi được coi như đã trưởng thành, mặt khác, lại thuộc loại chỉ biết nhận định cuộc đời theo những tiêu chuẩn xa lạ với sự trưởng thành, những tiêu chuẩn mà họ đặt vào hàng đầu như của riêng tuổi trẻ. Do đó, sẽ có vấn đề mất quân bình, và ở đâu xảy ra như vậy thì cần quan tâm để tránh, những hậu quả không tốt và giúp giới trẻ vượt qua.
12f. Việc mục vụ giới trẻ không giới hạn nơi những người trẻ, nhưng liên quan đến toàn cộng đoàn Kitô hữu. Cần phải huấn luyện cộng đoàn Kitô hữu, giúp họ hiểu ra những nguyện vọng của giới trẻ và lưu tâm đến, để chính cộng đoàn trở nên chứng nhân cho giới trẻ về sự lương thiện trong lãnh vực nhân bản, về sự trung thực trong đức tin, nhằm đưa giới trẻ hoà nhập vào đời sống cộng đoàn, tắt một lời, là nhằm cho cộng đoàn Kitô hữu nhận ra rằng chính nhờ sự hiện diện sinh động và sự đóng góp năng động của giới trẻ, mà cộng đoàn trở nên đích thực là một cộng đoàn mang tính người và tính Kitô giáo. Những người trưởng thành và những người trẻ, một khi liên kết chặt chẽ với nhau và có khả năng trao đổi cho nhau những giá trị khác nhau, sẽ làm thành một cộng đoàn Kitô hữu đích thật và trọn vẹn.
13. Cổ võ ơn gọi
13a.Trong chương trình mục vụ ơn gọi, linh mục có một vai trò độc đáo và không thể đùn cho kẻ khác được. Xác tín rằng Chúa Thánh Thần tiếp tục ban phát một cách rộng rãi đặc sủng, các ơn gọi đặc biệt và Đức Kitô tiếp tục kêu gọi những người trẻ vì Người yêu họ (x. Mc 10,2) , các linh mục sẽ tự nguyện hướng dẫn những người trẻ trong thời kỳ tế nhị và quyết định của việc tìm kiếm ơn gọi.
13b. Mục vụ ơn gọi bắt đầu trong cộng đồng Kitô hữu bằng lời mời gọi cầu nguyện và làm chứng tá đời sống Kitô hữu. Với những công tác phục vụ, những phận vụ và những đặc sủng khác nhau trong tinh thần đồng trách nhiệm, cộng đồng giữ một vai trò quan trọng trong việc làm nảy sinh ơn gọi. Các gia đình và học đường cũng tham gia vào mục vụ ơn gọi này, bởi lẽ cha mẹ và thầy cô là những nhà giáo dục lớp trẻ trong việc lựa chọn cuộc sống . Nhưng trong cuộc đối thoại về ơn gọi, nhân vật chính vẫn là thiếu niên và giới trẻ, linh mục phải ngỏ lời mời gọi chúng cách đặc biệt và giúp chúng tìm gặp ánh sáng trong tất cả các loại ơn gọi.
13c. Như thế, khi một người trẻ biểu lộ một sự trưởng thành thật sự trong đời sống Kitô hữu và tỏ ra nhạy cảm về ơn gọi linh mục, về đời sống tận hiến hay dấn thân truyền giáo, thì linh mục phải trao đổi với đương sự một cách tế nhị và quan tâm hướng dẫn họ cách riêng. Theo gương Đức Giêsu, linh mục sẽ không ngần ngại kêu gọi và động viên đương sự quyết tâm lựa chọn một đời sống hoàn toàn hiến dâng cho Thiên Chúa để làm việc tông đồ (x. Mt 4,19-20; 19,21; Ga 1,39.42-43). Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng lời động viên tốt nhất phát xuất từ chính đời sống trung thực và hạnh phúc của linh mục. Hơn nữa, trong những lý do đưa đến ơn gọi, cần phải tránh đặt lên hàng đầu sự giúp đỡ người nghèo, mà quên nhấn mạnh điểm then chốt, có tính cách quyết định cho mọi ơn gọi thánh: đó là chính con người Đức Giêsu mà ta phải yêu mến, bước theo để cộng tác vào việc cứu độ loài người. Linh mục đừng quên rằng ơn gọi tận hiến cuộc đời chỉ nảy sinh và phát triển trong bầu khí sống đạo vững mạnh.
13d. Điểm quan trọng trong mục vụ ơn gọi là giúp người trẻ biết đánh giá những động lực ơn gọi của mình. Phải để ý đến phẩm chất của ứng sinh và tránh cảnh thu cho thật nhiều người vào chủng viện, tu viện, mà ơn gọi của họ chưa được kiểm nghiệm đầy đủ. Mỗi Giám mục có trách nhiệm xác định những tiêu chuẩn để phân định ơn gọi, cần xét đến sự trưởng thành nhân bản và tâm linh, khả năng trí tuệ, tinh thần phục vụ và hội nhập xã hội. Trong những tiêu chuẩn phân định ơn gọi linh mục, cần phải coi như điều cơ bản là ý thức truyền giáo và tư thế sẵn sàng để loan Tin Mừng cho người ngoài Kitô giáo. Đàng khác, nếu có chương trình ơn gọi chung cho cả giáo phận, cả nước, thì nên nhờ đến sự giúp đỡ thích hợp và cùng tham gia vào những sáng kiến chung.
13e. Một trong những công tác mục vụ ơn gọi là sự đón tiếp, nâng đỡ các chủng sinh trong khi nghỉ hè ở gia đình và trong thời gian đi thử. Các linh mục, đặc biệt là các cha sở, cần gần gũi chủng sinh, hướng dẫn họ trong đời sống cầu nguyện, trong kinh nghiệm tông đồ, phù hợp với đường hướng giáo dục của chủng viện. Đối với các phó tế trong năm thực tập mục vụ là năm đào tạo và khai tâm vào tác vụ, các linh mục cần sẵn sàng giúp đỡ họ một cách đặc biệt.
14. Quan tâm đến ơn gọi đặc biệt của giáo dân
14a. Chăm lo cho giáo dân là công tác trung tâm của Giáo Hội. Giáo Hội nhấn mạnh đến ơn gọi nên thánh của giáo dân và ba chức năng ngôn sứ, tư tế, và vương giả của người đã được lãnh bí tích Thanh Tẩy và thêm sức .
14b. Linh mục nên có thái độ cởi mở và quan tâm đối với giáo dân và coi họ là môn đệ Đức Kitô như chính mình. Trong khi thi hành tác vụ của mình, linh mục không nên quên rằng, tuy chức vụ khác nhau, nhưng mình cùng giáo dân đều là chi thể của một thân thể độc nhất của Chúa Kitô, mà nhiệm vụ xây dựng nhiệm thể là trách nhiệm của mọi người (x. Rm 12,4-10) . Mục vụ đối với giáo dân trước tiên phải để ý đến tính chất giữa đời của họ. Do ơn gọi, người giáo dân tìm kiếm Nước Thiên Chúa qua cách gánh vác những việc trần thế, họ sống giữa đời, trong hoàn cảnh thông thường của đời sống gia đình và xã hội, nhưng họ được Thiên Chúa gọi trở thành men trong lòng thế gian, thánh hoá thế gian nhờ được hướng dẫn bởi tinh thần Tin Mừng . Trong những Giáo Hội ở miền ít tín hữu, sự hiện diện của những người đã chịu lãnh bí tích Thanh Tẩy mang một ý nghĩa đặc biệt: họ có thể đem lại một chứng tá dễ nhận ra về sức mạnh và tính hiện thực của sứ điệp Tin Mừng .
14c. Ngày nay, hoạt động của giáo dân thật quý báu và cần thiết để công cuộc truyền giáo của Giáo Hội luôn phát triển rộng hơn, làm cho mọi tín hữu dấn thân và liên kết chặt chẽ với nhau. Trong viễn tượng đó, việc huấn luyện giáo dân trưởng thành và dấn thân tốt là một yếu tố cơ bản, không gì thay thế được cho việc gieo trồng và phát triển Giáo Hội .
14d. Các linh mục hãy cố gắng giúp cho giáo dân gìn giữ sống động trong lòng ý thức trách nhiệm làm sứ giả Tin Mừng, làm người linh hoạt trong lãnh vực trần thế, liên kết với đồng bào trong tinh thần bác ái và với sức mạnh của Tin Mừng .
14e. Trong phạm vi tông đồ giáo dân, các linh mục phải là người xác tín cổ võ giáo dân, huấn luyện giáo dân bằng phương cách thích hợp, động viên họ nhiệt thành dấn thân theo sự thúc đẩy của tinh thần Kitô giáo chân thật . Các linh mục hãy đưa giáo dân vào cơ chế tổ chức và trao cho họ những chức vụ trong cộng đoàn phù hợp với ơn gọi riêng và đặc sủng của họ . Các linh mục không thay thế giáo dân, mà khích lệ họ trong các hoạt động của họ, xác tín rằng sự lớn mạnh của Giáo Hội, đặc biệt ở các xứ truyền giáo, phải xuyên qua sự hiện diện năng động của giáo dân có tinh thần trách nhiệm thật và luôn được chuẩn bị chu đáo hơn.
14f. Sự hiện diện của nữ giới trong công việc mục vụ đáng để ta lưu ý cách đặc biệt. Do những giá trị riêng biệt của nữ giới , người phụ nữ can thiệp một cách chính xác hơn trong một số lãnh vực mà sự hiện diện của họ cần làm nổi bật, như đời sống gia đình, giáo dục giới trẻ, việc bác ái từ thiện, v.v… hay trong những lãnh vực mà người đàn ông, đặc biệt là linh mục, không tiện dây mình vào. Sự hợp tác mục vụ với nữ giới đòi hỏi linh mục trưởng thành nhiều và biết dè dặt. Sự chỉ đạo trực tiếp những hoạt động của quý bà tốt hơn nên trao cho một chị em trong nhóm của họ.
15. Tông đồ gia đình
15a. Gia đình Kitô hữu có may mắn là trở nên hình ảnh của Thiên Chúa Tình Thương. Tình yêu này mở ra con đường giao ước cho con người với cả xác và hồn, kết hợp người nam và người nữ thành lứa đôi, và nhờ vậy trở thành nguyên lý truyền sinh (x. Ep 5,25-32). Gia đình là “tế bào đầu tiên và sống động của xã hội” và “cung thánh tại gia của Giáo Hội” . Gia đình đã được Chúa Giêsu bênh độ cho những giá trị uyên nguyên và bất khả di dịch của nó. Khắp nơi, gia đình đều ở trong một hoàn cảnh phức tạp, vừa có ánh sáng vừa mang bóng tối. Trong các xứ truyền giáo, gia đình phải đối đầu với những vấn đề đặc biệt đặt ra do những điều kiện xã hội, những ảnh hưởng của văn hoá và những xác tín về tôn giáo. Giáo Hội ý thức về những thách đố lớn lao mà gia đình Kitô giáo ngày nay gặp phải . Giáo Hội tái xác nhận sự ưu ái đối với gia đình, trao phó gia đình cho các chủ chăn chăm sóc như một trong những nhiệm vụ hàng đầu .
Sự săn sóc đối với các gia đình là một trong những bổn phận chính yếu của cha sở. Các cha khác, các phó tế, các tu sĩ và những giáo dân có trình độ phải cộng tác với cha sở trong nhiệm vụ này . Nơi ưu tiên để thi hành mục vụ gia đình là cộng đoàn giáo xứ, vì nó có một mãnh lực hiệp thông, và đặc biệt hơn là gia đình Kitô giáo vì họ đã lãnh nhận ơn bí tích Hôn Phối .
15b. Mục vụ gia đình bắt đầu bằng mục vụ cho những người đính hôn, trong giai đoạn xa cũng như gần lễ cưới. Sự chuẩn bị xa bắt đầu khi dạy giáo lý cho giới trẻ. Sự chuẩn bị gần thuộc về các chủ chăn, với sự cộng tác của những người chuyên môn. Mục vụ gần lễ cưới rõ ràng là trách nhiệm của các linh mục, vì liên quan đến bí tích. Các linh mục chuẩn bị lễ cưới cho các đôi đính hôn bằng những cuộc gặp gỡ, trao đổi, nhắn nhủ từng người, từng đôi, từng nhóm . Các ngài đặc biệt lưu ý các người sắp kết bạn về ý nghĩa bí tích, về ơn gọi nên thánh của vợ chồng và về bổn phận của bậc gia đình. Trong một số nền văn hoá cần được bảo vệ, chính gia đình truyền thụ cho giới trẻ những giá trị nhân bản và Kitô giáo của đời sống đôi bạn và gia đình.
15c.Trong (cử hành) nghi lễ Hôn Phối, đôi bạn làm sáng tỏ mầu nhiệm hiệp nhất và yêu thương sinh hoa kết trái giữa Chúa Kitô và Hội Thánh mà đôi bạn được tham dự (Ep 5,32) . Trong phạm vi có thể, nên tổ chức lễ long trọng, tốt hơn là vào một ngày lễ, hay theo lịch giáo phận, trước sự chứng giám và sự tham gia tích cực và có trách nhiệm của cộng đoàn. Tính cách mục vụ còn được thể hiện qua việc làm nổi bật phần phụng vụ Lời Chúa với chủ đích giáo dục đức tin cho những người tham dự .
15d. Mục vụ sau lễ cưới là công cuộc của mọi thành phần trong cộng đoàn: nó giúp đỡ đôi vợ chồng luôn sống tốt hơn ơn gọi và sứ mạng của họ. Các linh mục theo dõi sát những gia đình mới, giúp họ đón nhận với một lương tâm được soi sáng, ơn riêng biệt và luôn hiện thực của bí tích hôn nhân, giúp họ sống theo tinh thần Kitô giáo những lúc an vui và khắc phục những khó khăn không thể tránh được của đời sống, đặc biệt đón nhận con cái qua việc đảm nhận với ý thức trách nhiệm và niềm vui bổn phận phục vụ cho sự tăng trưởng của con cái về mặt nhân bản và mặt Kitô giáo .
15e. Trong khi có những học thuyết trái lời dạy của Giáo Hội về sự truyền sinh được phổ biến khắp nơi và thường được đem cả vào những bộ dân luật, các linh mục có nhiệm vụ khó khăn và đáng biểu dương là giúp giáo dân ý thức về bổn phận làm “những cộng tác viên của tình yêu Thiên Chúa sáng tạo”, và giúp họ chu toàn bổn phận ấy một cách trung thành . Cần phải theo đuổi một cố gắng chung, liên tục, có tổ chức ở cấp giáo phận sao cho trong những cộng đoàn Kitô giáo trẻ phát triển được một nền giáo dục về sự truyền sinh hợp với giáo lý truyền thống và lành mạnh của Giáo Hội. Thường trong những xứ truyền giáo vẫn còn một số giá trị văn hoá thuận lợi cho nhiệm vụ của Giáo Hội trong việc giáo dục hôn nhân.
15f. Về phía các chủ chăn, cần phải đặc biệt quan tâm đến các lãnh vực sau đây:
- Huấn luyện giáo dân, đặc biệt là những người đính hôn và những cặp vợ chồng trẻ, với sự giúp đỡ của những người chuyên môn và đạo đức tốt, qua những lời giảng dạy, những tiếp xúc cá nhân, để giáo dục họ sống trách nhiệm làm cha làm mẹ phù hợp với đức tin Kitô giáo, bằng cách sử dụng một phương pháp tự nhiên ;
- Trình bày một cách chính xác ý nghĩa và giá trị của đức khiết tịnh vợ chồng ;
- Kiên quyết loại trừ nạn phá thai ;
- Cổ võ tính thận trọng cao độ và sự gắn bó kiên vững với lời giáo huấn của Giáo Hội về tất cả những vấn đề thuộc lãnh vực y-sinh (biomédical), như những can thiệp vào sự truyền sinh, hay những vấn đề liên quan đến thụ thai nhân tạo, v.v… .
15g. Các chủ chăn hãy giúp đỡ các gia đình Công giáo sống phù hợp với những lời cam kết Ki-tô giáo, ngay cả trong một bối cảnh thờ ơ hay trái nghịch, sống tương trợ bằng tình yêu thương, trong tinh thần hy sinh và với sự trợ giúp của lời cầu nguyện chung, và giúp họ làm chứng nhân trung thực cho Phúc Âm trong xã hội. Việc thăm viếng gia đình là một phần quan trọng trong công tác mục vụ. Linh mục cần được chuẩn bị kỹ càng cho công tác tông đồ này và các ngài phải đối xử với các gia đình như “người cha, người anh, người mục tử và người thầy” , không có thiên vị gia đình nào, ngoại trừ dành ưu tiên cho những người nghèo nhất và những người sống trong cảnh đặc biệt khó khăn.
15h. Những Giáo Hội trẻ đối đầu với những vấn đề đặc biệt liên hệ tới gia đình và hôn nhân do yếu tố văn hoá hay hoàn cảnh tôn giáo địa phương. Đây muốn nói đến những sự chung sống thực tế, được xã hội chấp nhận, nhưng không được hợp thức hoá trước Giáo hội, hoặc bởi vì người chồng không trả đầy đủ của hồi môn, hoặc vì người ta chờ đợi xem sự kết hợp có đưa đến sinh con không, hoặc vì lý do nào khác có tính chất luật pháp hay phát xuất từ tập tục. Ngoài ra, có nhiều trường hợp khá phổ thông: nam đa thê, hôn phối khác đạo, và ở một số nơi, có nạn ly dị. Thái độ của chủ chăn đối với những loại kết hôn khác nhau ấy thật là tế nhị và khó mà xác định. Các Giám mục, sau khi thỉnh ý các thành phần khác của Hội Đồng Giám Mục, có thể xác định những tiêu chuẩn liên quan đến thái độ mục vụ, khi áp dụng vào những hoàn cảnh đặc biệt những chỉ dẫn tổng quát do vị Giáo chủ Rôma ban hành . Những chỉ dẫn này, ngay cả khi cấm các người kết hôn bất hợp pháp chịu các bí tích, thì cũng biểu lộ và nói lên một tình yêu sâu xa và một sự kính trọng lớn lao đối với mọi người. Đặc biệt là:
- Một sự giáo dục vững chắc cho giới trẻ về sự hoà hợp cuộc sống với những bổn phận hôn nhân Công giáo;
- Một thái độ hiểu biết không khe khắt đối với những người kết hôn ngoài hôn phối đạo do sự yếu đuối hoặc do sự ép uổng từ bên ngoài;
- Sự giúp đỡ dành cho những cặp vợ chồng này để giúp họ đừng mất lòng trông cậy và ít ra sống đời sống Kitô hữu trong khả năng có thể, để giúp họ giáo dục tôn giáo cho con cái, và nếu có thể, thì hợp thức hoá hôn nhân của họ. Hãy trung thành tuân giữ những quy tắc Giáo Luật liên quan đến hôn nhân khác đạo và sự “sửa chữa tại căn” .
16. Gần gũi những kẻ đau yếu và người già
16a. Những bệnh nhân và người già cần đến sự lưu ý đặc biệt của cộng đoàn, đặc biệt là của các chủ chăn (x. Mt 25,36.43; Mc 16,18; Lc 9,11). Cả hai loại người trên đều có kinh nghiệm về đau khổ cả trong chiều kích tinh thần lẫn thể xác.
16b. Các linh mục tiếp xúc với các bệnh nhân bằng cách biểu lộ sự thông cảm huynh đệ; các ngài coi những bệnh nhân như một thành phần đặc biệt quý giá của đoàn chiên được trao phó cho mình; chuyên cần thăm viếng ủi an họ, giúp họ hiểu được tình yêu vô tận của Thánh Tâm Chúa (x. Mt 11,28), sự liên đới Kitô giáo và ý nghĩa mầu nhiệm thập giá được đón nhận trong niềm tin. Linh mục khích lệ họ tìm thấy sức mạnh và niềm hy vọng trong lời cầu nguyện và trong sự hiến dâng đau khổ để cứu chuộc nhân loại, hiệp nhất với cuộc thương khó của Đức Kitô: Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh (Cl 1,24).
16c. Với sự nâng đỡ của đức tin, những bệnh nhân có thể giữ được trong họ niềm vui do Thánh Thần ban khi đón nhận lời Chúa giữa bao nỗi gian truân (1 Tx 1,6) và trở nên chứng nhân đáng tin cậy của niềm hy vọng Kitô giáo giữa những anh em tín hữu và cả những người chưa tin Chúa Kitô. Như thế người ta hiểu được tầm quan trọng lớn lao của mục vụ bệnh nhân và của những ai đang sống trong thử thách, dĩ nhiên với sự tham gia của chính những người ấy .
16d. Việc năng rước Thánh Thể là ơn cao quý nhất và là sự nâng đỡ tuyệt hảo mà linh mục có thể cống hiến cho bệnh nhân và những người già yếu. Với Mình Thánh Chúa, linh mục nhắc nhở cho những người này rằng dưới ánh sáng Phục Sinh của Chúa Kitô, đau khổ và sự chết mang ý nghĩa chiến thắng. Đây là câu trả lời của sự khôn ngoan Kitô giáo cho khát vọng lớn lao muốn chiến thắng đau khổ và sự chết, khát vọng này thường hiện hữu và ngày nay đặc biệt được gợi lên do những tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Cũng thế, những người già yếu cũng cần được giúp đỡ để thắng vượt cảm nghiệm đau khổ vì cảm thấy ngày càng bị giới hạn, và có những trường hợp vì cảm thấy cô đơn và bị bỏ rơi. Các linh mục sẽ chú tâm tới việc giúp những người già yếu để họ biết đem lại giá trị cho giai đoạn này trong cuộc sống, vì lẽ nó mang một sứ mệnh đặc biệt và độc đáo của chính tuổi già. Trong Giáo Hội và trong xã hội, người già cả được coi như “chứng nhân của truyền thống đức tin (x. Tv 44,2; Xh 12,26-27), thầy của cuộc sống (x. Hc 6,34; 6,1-12), người xây dựng bác ái” . Hơn nữa, những người già cả được mời gọi kết thúc cuộc sống một cách tích cực và phong phú. Cần phải cổ võ những nền văn hoá biểu lộ sự trọng kính đặc biệt đối với các vị “kỳ lão” và giữ những người già ở trong gia đình như “những nhân chứng của quá khứ và là người khơi sáng sự khôn ngoan cho giới trẻ hướng về tương lai” .
16e. Việc ban bố bí tích cho bệnh nhân và đưa của ăn đàng tạo nên một nhịp mạnh của mục vụ bệnh nhân và người già. Các linh mục hãy canh chừng thi hành sứ vụ quan trọng này , đừng đợi đến giây phút cuối cùng của họ; tuỳ hoàn cảnh cho phép và phù hợp với các quy định của Giám mục, hãy tự nguyện ban phép xức dầu chung cho nhiều bệnh nhân hay người giá cả, với sự tham dự của nhiều gia đình, và nếu được với sự tham dự của chính cộng đoàn giáo xứ.
16f.Để cổ võ mục vụ bệnh nhân và người già cả, nên đưa vào công tác phục vụ này những người giáo dân được chuẩn bị thích hợp và chính thức được ủy nhiệm làm thừa tác viên ngoại lệ cho rước lễ, hoặc đảm trách những công việc trong chương trình từ thiện . Đồng thời chính linh mục luôn luôn phải tiếp xúc cá nhân mà không ai có thể thay thế.
16g.Trong khuôn khổ đó, thật hữu ích nếu có được một hoạt động mục vụ cho những người qua đời vì nó đòi hỏi một sự quan tâm tế nhị. Trong mọi nơi, nhất là trong những xã hội mà việc ma chay cách riêng đối với tổ tiên được đặt nặng, các vị chủ chăn hãy tiếp xúc, phân ưu với gia đình những người đang đau buồn vì có thân nhân qua đời, và các ngài quan tâm đến lễ nghi an táng, để nếu có thể thì mời cộng đoàn Kitô giáo đến tham dự. Các ngài làm thế nào để ý nghĩa sự tham dự của Giáo Hội vào cảnh huống này và ý nghĩa vượt qua của sự chết theo đức tin Kitô giáo được diễn tả rõ nét (Rm 6,3-9; 1 Cr 15,20-22; 2 Cr 4,14-15; Kh 14,13); các ngài cũng phải quan tâm đến truyền thống văn hoá về những ý nghĩa tượng trưng, như màu sắc, trang trí, các bài hát, nơi chốn và hình thức mồ mả . Đây là một cơ hội thuận tiện để làm cho các tín hữu có kinh nghiệm sâu sắc về các thánh thông công, để giới thiệu cho những người tân tòng về những sự sau hết, và để cầu khẩn cho người đã qua đời. Và đây cũng là cơ hội để chứng tỏ cho những người ngoài Kitô giáo đức tin của những người đã chịu phép Rửa tin vào Chúa Kitô đã toàn thắng sự chết và tin vào sự sống vĩnh cửu.
17. Tác nhân của phong trào đại kết
17a. Sự chia rẽ giữa những người Kitô hữu “chẳng những công khai trái nghịch với ý muốn của Chúa Kitô, mà còn là một gương xấu cho người đời và làm hại cho việc rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật” ; nó làm đình trệ “việc thực hiện tính duy nhất Công giáo” .
Các linh mục là những tác nhân xác tín của phong trào đại kết; các ngài vững tin lời cầu xin. Xin cho chúng nên một của Chúa Giêsu sẽ được chấp nhận (Ga 17,21), các ngài không ngã lòng vì những trở ngại và những sự ngộ nhận còn tồn tại ở một số nơi. Đồng thời, các ngài sẽ trình bày cho giáo dân biết chân lý Công giáo một cách rõ ràng và nguyên tuyền ; các ngài không rơi vào chủ nghĩa tương đối và đề phòng tránh sự hàm hồ trong việc giảng dạy đức tin và việc xử trí dù với thiện ý.
17b. Còn về những sáng kiện của phong trào đại kết, các linh mục sẽ tuân theo những chỉ thị của Giáo Hội, cách riêng của Hội Đồng Giám Mục và của Giám mục Bản quyền .
17c. Trong quan hệ với những người không Công giáo với những vấn đề mục vụ được đặt ra, các ngài cần tránh bài bác hoặc cạnh tranh về tôn giáo; các ngài phải biết duy trì sự thống nhất về giáo lý và sự trong sáng của cái nhìn đức tin trong chính giáo xứ mình. Các ngài làm hết những gì có thể để thiết lập quan hệ hữu nghị với những chức sắc tôn giáo bạn để tránh những hiểu lầm và óc phe pháo làm gương xấu cho những người không Công giáo.
Còn đối với những giáo phái có căn bản bất biến, thường thấy khá nhiều ở các xứ truyền giáo và thường tỏ ra đối chọi với Công giáo, thì linh mục cần phải giáo dục tín hữu những điểm sau đây:
- Các giáo huấn chân thật Giáo Hội dạy mà các giáo phái đó phủ nhận, các nhược điểm và sai lầm chính của họ;
- Không thể tạo một cuộc đối thoại tối thiểu với họ;
- Giáo dân có bổn phận vừa bảo vệ mình vừa Phúc âm hoá những tín đồ của họ là những người không được coi là Kitô hữu.
17d. Với mục đích đó, các linh mục phải tìm hiểu ít nữa là các điểm chính yếu trong giáo thuyết và trong các phương thức thu hút của các giáo phái đó, để có thể giúp đỡ một cách tương ưng chính các giáo dân của mình.
18. Quan tâm đến việc đối thoại với người ngoài Kitô giáo
18a. Đối thoại với các tín đồ của các tôn giáo bạn là một công việc tế nhị và quan yếu trong việc tông đồ hiện nay của Giáo Hội. Đó là một cuộc đối thoại về sự cứu độ luôn luôn phải được thực hiện bởi Chúa Giêsu Kitô, không thể dẫn đến chủ nghĩa tương đối và càng không thể làm xây sát sự nguyên tuyền của đức tin Công giáo. Sự đối thoại như thế là cần thiết để Tin Mừng được hiểu biết đúng mức và sứ điệp của nó được hiểu sâu sát hơn. Các linh mục phải quan tâm và đón nhận thực tại rất nhân loại này và phải tìm hiểu sâu sát các tôn giáo, chẳng những về phương diện lịch sử, tổ chức, giới hạn và sai lầm của nó, mà còn phải nhận thực những giá trị của họ như những “hạt giống của Ngôi Lời”, để có thể dùng làm sự chuẩn bị đón nhận Tin Mừng .
18b. Sống trong một thế giới còn nhiều tôn giáo thì cần phải dấn thân và đeo đuổi sự đối thoại cũng như cộng tác với các tôn giáo để đem lại những lợi ích to lớn cho nhân loại, chẳng hạn như hoà bình, công bằng, nhân quyền… . Trong chiều hướng đó, các linh mục có trách nhiệm mục vụ phải phát huy nơi giáo dân của mình tinh thần đối thoại, khuyến khích họ tương thân tương ái và hợp tác với các tín đồ của các tôn giáo khác.
18c. Đối với những sáng kiến cụ thể cho việc đối thoại giữa các tôn giáo, các linh mục không được hoạt động riêng lẻ, nhưng phải hành động trong kế hoạch của giáo phận, thích ứng với những chỉ dẫn của Giám mục Bản quyền, của Hội Đồng Giám Mục và của Giáo Hội toàn cầu.
18d. Trên hết, các ngài phải thâm tín rằng các tín đồ của những tôn giáo khác có quyền tiếp nhận trọn vẹn chân lý Kitô giáo – là di sản của toàn thể nhân loại – từ những người đã lãnh nhận sứ mạng rao giảng của Giáo Hội Công giáo.
III. LINH ĐẠO LINH MỤC ĐỊA PHẬN
19. Sự cần thiết và bản tính của linh đạo Linh mục
19a. Ơn gọi linh mục xuất phát từ sự gặp gỡ với Đức Kitô, Đấng muốn cho sự mời gọi của Người được kéo dài suốt cuộc đời truyền giáo: “Người gọi đến với Người những kẻ Người muốn… để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng (Mc 3,13-14). Kinh nghiệm cuộc gặp gỡ thân tình với Đức Kitô (x. Ga 1,39-41; 15,9) dẫn đến việc đi theo Người để dấn thân cho Người (x. Mt 4,19 tt; 19,27). Đáp lại lời mời gọi này, linh mục sẽ đạt đến niềm vui phục sinh, vì khi đó, linh mục có thể dâng hiến cho Đức Kitô một “bằng chứng tình yêu cao cả nhất” . Khi cộng tác chặt chẽ với Đức Giám Mục của mình để phục vụ Giáo Hội, linh mục trở nên chứng nhân đáng tin cậy về một Đức Kitô đã chết và đã sống lại, như các Tông Đồ đã làm: tất cả chúng tôi xin làm chứng (Cv 2,32); “Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa (1 Ga 1,3a).
19b. Những thừa tác viên thánh cần có những hiểu biết chính xác về những nét đặc thù tạo nên linh đạo của linh mục giáo phận, để có thể không ngừng đổi mới đời sống tâm linh. Từ linh đạo (spiritualité) nói lên đời sống trong Chúa Thánh Thần, Đấng trong thực tế đã biến linh mục nên dấu chỉ cá biệt và đặc thù của Đức Kitô, để phục vụ cộng đồng Giáo Hội địa phương và Giáo Hội toàn cầu, trong sự liên kết với đặc sủng của Đức Giám Mục.
19c. Linh đạo linh mục vốn bắt rễ trong ân sủng của Chúa Thánh Thần như một sự thông phần vào sự hiến tế (ở bình diện hữu thể) và vào sứ mạng (ở bình diện hoạt động) của Đức Kitô Ngôn Sứ, Tư Tế, Vương Đế. Trong nghi lễ phong chức, linh đạo này được tóm gọn trong lời Đức Giám Mục khuyên nhủ tân chức nhằm vào toàn bộ cuộc sống của tân chức: “Con hãy bắt chước điều con thi hành.” Linh đạo linh mục này không chỉ là một “yêu cầu” mà còn là một “khả năng” thật sự; ân sủng của bí tích Truyền Chức Thánh làm cho đương sự có khả năng hiện thực hoá “một cách thích đáng” đặc tính bí tích, vốn là một “dấu chỉ” thường xuyên của Chúa Thánh Thần; đặc tính này mang lại cho linh mục tư cách hành động nhân danh Đức Kitô, tư cách tiếp nối một cách thích đáng hành vi tư tế của Chúa chúng ta. Linh mục có bổn phận phải luôn ý thức sức năng động nội tâm này và biết đưa nó vào hoạt động tích cực trong cuộc sống mình (x. 1 Tm 14,16; 2 Tm 1,6).
19d. Quả vậy, linh đạo linh mục luôn hàm chứa, dưới một danh nghĩa mới, lời mời gọi nên thánh, như dấu chỉ và công cụ riêng của Đức Kitô. Nếu đối với mọi thành phần Dân Chúa mà còn có một “lời mời gọi phổ quát nên thánh”, nghĩa là mời họ đạt đến trình độ viên mãn của đời sống Kitô giáo , thì đối với các thừa tác viên thánh còn có lời kêu mời đặc biệt đi đến hoàn thiện, sự hoàn thiện này sẽ triển nở nơi các ngài, nếu các ngài thực hiện nhiệm vụ riêng của mình trong Thần Khí của Đức Kitô, và hết mình dấn thân vào đó với một dạ chân thành và miệt mài không quản nhọc nhằn (x. Lv 11,44-46; 19,2; Mt 5,48; 2 Tm 1,9; 1 Pr 2,5).
19e. Linh mục giáo phận sẽ thể hiện linh đạo đặc thù của mình: – khi sống tác vụ tông đồ trong đức ái mục tử và hiệp thông với Đức Giám Mục của mình như đấng kế vị các Tông Đồ; – khi cùng với các linh mục khác tạo nên một “Linh mục đoàn”, là biểu hiệu nói lên mối hiệp nhất gia đình tư tế; – khi cùng nhau phục vụ Giáo Hội địa phương mà mình đã gắn bó khi nhập tịch; – và khi luôn sẵn sàng trước sứ mạng cứu độ phổ quát . Như thế, linh đạo linh mục giáo phận biểu lộ rõ tính chất Giáo Hội và truyền giáo.
19f. Các linh mục cần xác tín rằng nếu không có một đời sống tâm linh vững mạnh và một nếp sống phục vụ tông đồ đầy quảng đại, luôn kết hợp mật thiết với Chúa Kitô Tư Tế và Mục Tử, dám đi đến tột đỉnh của sự thánh thiện trong những đường nét của linh đạo riêng của mình, thì không tài nào các ngài có thể thể hiện được căn tính linh mục và miệt mài cách quảng đại trong tác vụ của mình.
20. Những chiều kích của linh đạo Linh mục
20a. Linh đạo của hàng giáo sĩ giáo phận tự bản chất dựa trên những nền tảng sau đây:
- Gắn bó một cách cá biệt với Đức Kitô, để đi theo và phụng sự Người, Đấng đã được Chúa Cha sai đi, được Chúa Thánh Thần thánh hiến; đồng thời linh mục đón nhận vào đời mình mầu nhiệm trung tâm là bí tích Tạ Ơn, và đón nhận sự hiện diện gương mẫu của Đức Maria;
- Hiệp thông và vâng phục với lòng chân thành quảng đại Đức Giáo Hoàng và Đức Giám Mục giáo phận;
- Tình huynh đệ sâu sắc với các anh em linh mục trong linh mục đoàn địa phương;
- Làm việc tông đồ nơi các tín hữu của Giáo Hội địa phương và sẵn sàng trọn vẹn trợ giúp các Giáo Hội khác khi cần, sẵn sàng Phúc âm hoá mọi người ngoài Kitô giáo.
20b. Như thế, linh đạo linh mục giáo phận sẽ nằm trong viễn tượng về Ba Ngôi, Mẹ Maria, Giáo Hội và truyền giáo. Quả vậy, lời mời gọi, sự thánh hiến và sứ mạng truyền giáo được coi như những tham gia vào mầu nhiệm Chúa Kitô, Đấng được Chúa Thánh Thần thánh hiến và được Chúa Cha sai đi (x. Lc 4,18; Ga 10,36), mầu nhiệm này đang được nối dài nơi Giáo Hội (x. Mt 28,20; Ep 1,23). Mẹ Maria, Đấng liên kết với Đức Kitô Linh Mục và luôn trung tín với tác động của Chúa Thánh Thần, là kiểu mẫu và là Mẹ Giáo Hội, Người luôn gần gũi với cuộc sống và với tác vụ của linh mục: “Công cuộc phục vụ trong đời linh mục của chúng ta nối kết chúng ta với Mẹ; Mẹ là Mẹ Đấng Cứu Thế và là khuôn mẫu của Giáo Hội” .
20c. Nét đặc sắc của linh đạo linh mục là đức ái mục tử, vốn được biểu lộ qua những chiều kích chủ yếu này.
Linh đạo này bắt rễ trong sự thánh hiến: điểm xuất phát của linh đạo linh mục là sự tham dự qua tác vụ vào sự thánh hiến của Đức Kitô Tư Tế, một sự thánh hiến được thực hiện khi Ngôi Lời nhập thể trong lòng Đức Maria, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, và sẽ tỏ hiện trọn vẹn nơi mầu nhiệm Phục Sinh. Đối với linh mục, ơn gọi đến sống với Chúa Kitô (x. Mc 3,14) trở nên sự tham dự vào chức linh mục của Người và đòi buộc linh mục diễn tả chiều kích thánh hiến này trong chính đời mình (x. Ga 17,10) .
20d. Linh đạo linh mục được diễn đạt qua sự hiệp thông trong Giáo Hội: hiệp thông với Đức Giáo Hoàng, với Đức Giám Mục mình, với các linh mục khác, các phó tế, với những ai đã được thánh hiến và với cộng đồng Giáo Hội . Nhờ bí tích Truyền Chức, sự hiệp thông này đã tạo nên giữa các linh mục một tình huynh đệ đích thực mang tính bí tích. Đặc sủng của Đức Giám Mục, kết hợp với sự gần gũi thân tình có tính cách cha con và bạn hữu, không thể thiếu được nếu muốn thực hiện sự hiệp thông mà Chúa mong muốn trong lời nguyện cầu cho các linh mục của Người (x. Ga 17,23). Từ đó xuất phát một yêu cầu sâu xa đối với các linh mục, đó là yêu cầu về tinh thần cộng đoàn và nếp sống cộng đoàn. Linh mục giáo phận sống mối hiệp thông trong sự tuỳ thuộc vào Dức Giám Mục và ở giữa lòng sự thuộc về Giáo Hội địa phương, như một hình thái chủ yếu của đời sống linh mục đoàn.
20e. Linh đạo này dẫn đưa trọn vẹn vào sứ mạng truyền giáo: chính hữu thể linh mục là cội nguồn cho hành vi đặc thù của thừa tác vụ thánh, tác vụ này hành động in persona Christi, như một sự vươn dài của Người để phục vụ cộng đồng địa phương và phổ quát. Thực tại này khiến linh mục, qua thừa tác vụ của mình, phải biểu lộ chính tình yêu cứu độ của Chúa, đúng như một người đại diện xứng đáng của Người (x. Rm 5,15). Các linh mục giáo phận dưới quyền Đức Giám Mục, thánh hoá và quản nhiệm phần đoàn chiên Chúa đã được uỷ thác cho các ngài, chính nơi phần đoàn chiên đó, các ngài làm cho Giáo Hội phổ quát được tỏ hiện, và đồng thời các ngài gắng công xây dựng toàn Nhiệm Thể Chúa Kitô (x. Ep 4,12). Vì luôn nhắm tới những gì đem lại lợi ích cho con cái Chúa, các ngài phải dồn nhiệt tâm để góp phần vào việc mục vụ của toàn giáo phận, và hơn nữa, của toàn Giáo Hội .
20f. Sau hết, linh đạo này đòi buộc các ngài phải bắt chước cuộc sống Phúc Âm của các Tông Đồ , cuộc sống này chủ yếu cốt tại việc theo Đức Kitô, từ bỏ mọi sự vì Người (x. Mt 19,27), với một sự sẵn sàng đầy quảng đại để phục vụ việc tông đồ đến tận cùng trái đất (x. Mc 16,20), với một tinh thần huynh đệ và tương trợ giữa các linh mục như giữa những thành viên của cùng một gia đình linh mục (x. Ga 17,22 tt; Cv 1,13-14). Các linh mục giáo phận sống nếp sống theo chân Đức Kitô dựa theo những đòi hỏi của Phúc Âm, vốn phù hợp với tinh thần của các Tông Đồ, dưới sự dẫn dắt của Đức Giám Mục.
21. Những đường nét Phúc âm của linh đạo Linh mục
21a. Giáo Hội, dựa theo Phúc Âm, vạch ra những đường nét chính xác về đời sống tâm linh làm nền tảng tạo nên dung mạo của một vị linh mục đích thực.
21b. Thân tình với Chúa Kitô : thật ra, linh mục chính là sự vươn dài của Đức Kitô, nên ngài được gọi để sống một tình bạn chí thiết mang tính cách cá biệt với Đức Kitô (x. Ga 15,13-16); tuỳ theo mức độ sống mối thân tình này, mà ngài đạt tới việc hoàn thành ơn gọi riêng của mình.
21c. Phục vụ Giáo Hội : với tư cách là một thừa tác viên của Chúa và của Giáo Hội, linh mục phải được hun đúc bằng một tinh thần phục vụ cao cả (x. Lc 22,26-27; Mc 10,42-45) được biểu lộ qua lòng nhiệt thành tông đồ, qua khả năng chịu đựng nỗi nhọc nhằn của công việc, qua thái độ mau mắn đón nhận mọi gánh nặng mục vụ, dù là những việc khiêm hạ nhất, mà không tìm danh vọng và lợi lộc cá nhân, và qua tư thế sẵn sàng lo cho công việc truyền giáo hướng về những ai còn đứng ngoài đoàn chiên của Đức Kitô.
21d. Sự thánh thiện có được qua thừa tác vụ thường nhật, do thực hiện ba phận vụ của linh mục :
- Với tư cách thừa tác viên Lời Chúa, các linh mục sẽ kết hợp mật thiết hơn với Đức Kitô Thầy Dạy, nhờ việc các ngài loan truyền chân lý cho những ai ở gần cũng như ở xa, và với niềm vui ngày càng sâu đậm hơn, các ngài sẽ khám phá ra sự phong phú khôn lường của Đức Kitô (Ep 3,8);
- Với tư cách thừa tác viên các bí tích, và trên hết, với tư cách chủ tế thánh lễ mà trong đó các ngài chu toàn nhiệm vụ chủ yếu của mình, các ngài nên biết rằng, qua tay mình, công cuộc cứu độ được thực hiện cách liên tục nhằm làm vinh danh Thiên Chúa và thánh hoá con người (x. 1 Cr 11,26);
- Khi dẫn dắt đoàn dân Chúa, các ngài cần được hun đúc bởi tình bác ái yêu thương của vị Mục Tử tốt lành, để dấn thân vào việc quy tụ về một mối đoàn chiên đang tản lạc, dấn thân với một tấm lòng quảng đại luôn tăng mãi đến mức có thể hiến mạng sống cho những ai đã được uỷ thác cho mình (x. Ga 10,15-17).
21e. Đối với các linh mục, con đường gọi là vương đạo (voie royale) dẫn đến sự thánh thiện là ở ngay tại việc thi hành thừa tác vụ. Các hoạt động của thừa tác vụ là những phương thế bình thường để thánh hoá bản thân người mục tử, nhưng với điều kiện là các ngài sống kết hợp mật thiết với Đức Kitô, hành động và xử thế trong đức tin và đức mến, và không xao nhãng những phương thế thông thường mà mọi Kitô hữu đều tôn trọng. Sự thống nhất cuộc sống trong sự kết hợp với Đức Kitô này sẽ bảo đảm cho sự quân bình và hài hoà giữa đời sống nội tâm và đời sống tông đồ.
21f. Những nhân đức đặc hữu của vị mục tử tốt lành là đức ái mục tử hành động và tỏ hiện qua:
- lòng nhiệt thành làm việc tông đồ (x. Rm 12,11; 1 Pr 3,13; 1 Tm 4,14-16);
- một nếp sống vâng phục, khiết tịnh và thanh bần ;
- một thái độ khiêm hạ và trung thành vác thập giá noi gương Đức Kitô (x. Mt 10,38; 16,24; Mc 8,34; Lc 14,27). Mỗi nhân đức trên là một khía cạnh cần thiết của đức ái mục tử, chung quy được gọi là một thái độ Phúc Âm: các linh mục cần cố gắng trung thành sống những nhân đức đó để hiển nhiên trở thành một hình ảnh có sức thuyết phục về một Đức Kitô Mục Tử tốt lành; các ngài phải luôn ở trong tư thế sẵn sàng, với một con tim không chia sẻ, để làm việc mục vụ nơi cánh đồng giáo phận và Giáo Hội toàn cầu.
22. Những phương thế giúp tiến tới trên đường thiêng liêng
22a. Những phương thế giúp tiến tới trên đường thiêng liêng vốn là chung cho mọi Kitô hữu, thì cũng cần thiết cho các linh mục. Ngoài ra còn có những phương thế chuyên biệt dành cho các linh mục; chúng cốt tại những hoạt động gắn liền với thừa tác vụ của các ngài, được dự kiến theo tinh thần và những chỉ thị của Giáo Hội.
22b. Linh đạo linh mục giáo phận và thừa sai không hiện hữu biệt lập, nhưng trong mối hiệp nhất với linh mục đoàn giáo phận của đương sự, trong sự thông hiệp với Đức Giám Mục. Chính sự hiện diện có tính cách trung tâm và đầy sức cổ võ của Đức Giám Mục, cùng với ý thức trách nhiệm đã được mọi linh mục thể hiện qua cuộc sống sẽ dẫn đến chỗ là linh mục đoàn đóng vai trò kích thích lòng nhiệt thành của các thành viên và cống hiến cho họ những phương thế cụ thể để tiến tới trên đường thiêng liêng: như thế quả là một gia đình linh mục đích thực, đóng vai trò bảo vệ và giúp thành viên mình tiến tới. Linh mục đoàn phải đặc biệt khích lệ việc huấn luyện thường xuyên cho các thành viên, nhất là về lãnh vực thiêng liêng, bằng cách xác định cho họ các mục tiêu và cống hiến cho họ những phương tiện thực hiện ở bình diện cá nhân cũng như cộng đoàn.
22c. Bí tích Tạ Ơn là tâm điểm và cội rễ của toàn bộ cuộc sống linh mục, và tinh thần tư tế của linh mục là cố lo sao để nội tâm hoá những gì được thực hiện trên bàn thờ . Linh mục phải có một đời sống Thánh Thể tràn đầy và sốt sắng, để từ đó tìm được đà tiến và sức lực cho đời sống tâm linh của mình. Việc cử hnh thánh lễ mà trước đó có chuẩn bị cần thận, và sau đó có cám ơn, cũng như việc hằng ngày viếng Đức Kitô nơi bí tích Thánh Thể, không chỉ là những bổn phận mục vụ, nhưng đây chính là những thời khắc đầy ý nghĩa và là một trợ lực không gì có thể thay thế được cho đời sống tâm linh.
22d. Truyền thống Giáo Hội và những huấn thị hiện hành của Huấn quyền còn đề cao nhiều phương thế khác thể thiếu đối với đời sống thiêng liêng của linh mục. Mỗi phương thế trên cần được dự kiến trong tương quan với căn tính của linh mục:
- Lời Chúa: được công bố, nguyện cầu, suy niệm;
- Phụng Vụ Giờ Kinh được cử hành nhân danh toàn thể cộng đoàn và hiệp với cộng đoàn;
- Bí tích Hoà Giải thanh luyện và làm mới thần lực;
- Lòng kính mến Đức Maria sẽ giúp ta quảng đại phụng sự Đức Kitô và Giáo Hội;
- Kinh nguyện cá nhân và chiêm niệm, thường xuyên và đều đặn;
- Các cuộc tĩnh tâm và linh thao, xét mình, linh hướng;
- Học hỏi thần học, tích cực tham gia các hội đoàn dành cho linh mục nhằm mục tiêu thiêng liêng và tông đồ.
22e. Cũng cần coi là những phương thế rất hữu ích cho việc phát triển đời sống thiêng liêng: những cuộc gặp gỡ đều đặn giữa linh mục và Đức Giám Mục của mình, là đấng mà ngài tỏ lộ tâm tình như với một người cha và một người bạn về lý tưởng sống của mình, các dự định, các vấn đề và các khó khăn của mình; và cùng nhất trí tìm ra những giải pháp. Cũng kể là quan trọng các cuộc gặp gỡ giữa các linh mục với nhau để trao đổi về đời sống tâm linh và tông đồ: các cuộc tĩnh tâm, cấm phòng, sống chung với nhau, cầu nguyện chung, kiểm điểm cuộc sống, linh hướng… nhờ vậy các linh mục giáo phận sẽ hỗ trợ nhau thực hiện các phương thế khác nhau để phục vụ đời sống tâm linh trên bình diện cá nhân và tập thể.
22f. Hiệp thông với Đức Giám Mục, với các linh mục khác và các phó tế, với cộng đồng Giáo Hội, vừa là phương thế hữu hiệu để thánh hoá và Phúc âm hoá, vừa là dấu chỉ về sự tiến bộ trên đường thiêng liêng và tông đồ. Việc giúp đỡ hỗ tương vừa biểu lộ vừa xây đắp cho “tình huynh đệ mang tính bí tích” . Đặc sủng của Đức Giám Mục, đã từng được thể hiện sâu sắc qua cuộc sống và được nhìn nhận sẽ rất cần thiết để tạo nên sự hiệp thông Chúa muốn như là một sự thông phần vào sứ mạng phổ quát của Người.
22g. Các linh mục cần đào sâu ý nghĩa của các phương thế cổ điển và bất khả thay thế giúp cho sự tiến bộ về đường thiêng liêng này; các ngài cần trung thành áp dụng một cách thường xuyên và bền bỉ, liệu sao để bảo đảm có được một đời sống thiêng liêng và truyền giáo phong phú, phù hợp với mẫu gương do Đức Kitô và các tông đồ để lại và đã được biết bao vị linh mục thánh thiện trong suốt lịch sử Giáo Hội tiếp tục noi theo.
IV. NHỮNG QUY LUẬT CỦA ĐỜI SỐNG LINH MỤC
23. Lời Chúa chất vấn Linh mục
23a. Có một mối liên hệ chặt chẽ giữa Lời Chúa và cuộc sống của linh mục. Quả vậy, chính nhờ Lời Chúa mà căn tính linh mục có được cội nguồn và ý nghĩa; việc loan báo Lời Chúa là một trong những bổn phận nền tảng của linh mục; ngài tìm thấy nơi Lời Chúa sức mạnh của niềm tin và lương thực cho đời sống tâm linh . Vì thế, Giáo Hội ân cần nhắc nhở linh mục một cách đặc biệt hãy thường xuyên tiếp xúc với Kinh Thánh qua việc học hỏi, lắng nghe và nguyện cầu để đào sâu luôn mãi sự hiểu biết về Chúa và ý nghĩa sứ điệp của Người (x. Pl 3,8; Ep 3,19; 4,13).
23b. Để đủ sức đón nhận, nội tâm hoá và loan báo Lời Chúa, các linh mục cần bảo đảm cho mình có được những lúc thinh lặng và trầm tư. Thực tế mục vụ thường choán hết con người linh mục với những việc khẩn trương và những đòi hỏi khác đủ loại. Vì lẽ đó cần biểu dương những linh mục nào biết tự hạn chế số lượng công việc để bảo đảm cho mình có được sự tăng triển trong đời sống thiêng liêng cá nhân. Khi tổ chức sắp xếp đời sống, linh mục cần biết dành ra những khoảng thời gian để suy niệm Kinh Thánh, để đọc các giáo phụ và học hỏi các môn thần học. Chính sự phong phú nội tâm sẽ biến các ngài thành những Tông Đồ đầy sức thuyết phục cả với những ai chưa tin Chúa.
24. Đời sống cầu nguyện
24a. Trong số những phương thế và những hình thức biểu lộ thích đáng của đời sống thiêng liêng của linh mục, phải kể đến việc thực hành cầu nguyện của linh mục, trước hết là chính sự tham dự vào niềm tin và vào sự cầu nguyện của cộng đoàn, và trong các cộng đoàn, sự cầu nguyện phải được dành một chỗ ưu tiên (x. Cv 1,14) . Đó cũng là một gương sáng cho các tín hữu; họ sẽ được khích lệ khi thấy vị chủ chăn của mình sống thông hiệp với Thiên Chúa. Ngoài việc cầu nguyện trong cộng đoàn và cùng với cộng đoàn, linh mục còn phải dưỡng nuôi đời sống thiêng liêng của riêng mình bằng sự cầu nguyện cá nhân phong phú. Ngài phải tự cảm thấy có trách nhiệm trở nên con người cầu nguyện cho mọi người anh em, noi gương Đức Kitô hằng sống để chuyển cầu cho họ (Dt 7,25). Trước khi dùng lời nói và hành động, linh mục nhờ cầu nguyện mà thông ban cho con người sự phú túc của Thiên Chúa và thưa chuyện với Thiên Chúa nhân danh họ. Từ con tim của linh mục phải dâng lên Chúa Cha sự thờ lạy, tán tụng, đội ơn và cầu xin nhân danh các tín hữu và nhân danh cả những người ngoài Kitô giáo nữa. Cũng phải thực tế nhìn nhận rằng với nhịp độ hoạt động mục vụ nơi các Giáo Hội đang đà phát triển hiện nay, quả thật không dễ gì có được sự cầu nguyện đều hoà. Tuy nhiên, với tư cách là một con người của thánh thiêng, linh mục không được chấp nhận một tình trạng mà chỉ vì đa đoan công việc, nên sự cầu nguyện thường xuyên bị lép vế hy sinh. Dĩ nhiên, những bận rộn mục vụ đôi khi có thể làm thay đổi trật tự, giờ giấc và cả cách thức linh mục thực hành các việc đạo đức, nhưng chúng không được gây tổn hại cho việc cầu nguyện. Giáo Hội ân cần đề nghị với các linh mục lý tưởng cao vời nhất của đời cầu nguyện, đó là sự chiêm niệm, Giáo Hội mời gọi các ngài hãy chân thành hướng tới đó, dầu gặp bao hạn chế của bản thân, bao khó khăn bên ngoài cản trở và bao bận rộn lo toan đè nặng (x. Lc 18,1; Ep 6,18; 1 Tx 5,17).
24b. Việc cử hành bí tích Tạ Ơn mà các ngài thực hiện “in persona Christi”, là tột đỉnh của đời sống thiêng liêng các linh mục. Vậy các ngài hãy trung thành cử hành thánh lễ Misa mỗi ngày cùng với sự chuẩn bị xứng hợp và với sự tạ ơn sau đó và cố gắng hết sức có thể để giáo dân cùng tham dự. Rất đáng khuyến khích các linh mục đang chung sống với nhau hãy đồng tế, ít là vào những cơ hội nhiều ý nghĩa, để diễn tả và tăng cường cho sự hiệp nhất huynh đệ.
24c. Bí tích Tạ Ơn cũng mời gọi các linh mục hãy duy trì nơi mình tâm thức về sự hiện diện của Chúa Kitô hằng sống nơi Nhà Tạm, tâm thức này được biểu lộ qua việc viếng Chúa hằng ngày và những buổi chầu Chúa lâu giờ.
24d. Việc cử hành Phụng Vụ Giờ Kinh, là kinh nguyện chính thức của Giáo Hội, được uỷ thác cho lòng đạo đức của các linh mục, cần được thực hiện đừng bỏ mất, và hãy cố hết sức có thể để đọc rải rác suốt ngày nhằm thánh hiến trọn tiến trình thời gian mà làm vinh danh Thiên Chúa trong sự hiệp thông với cộng đoàn đang khẩn cầu. Các ngài đừng dễ dàng bỏ mất một phần nào của Thần Vụ, trừ khi gặp những lý do quan trọng và thích đáng. Nơi nào có nhiều linh mục chung sống, nên cùng nhau đọc chung một phần Thần Vụ. Thật đáng tuyên dương những vị chủ chăn biết đưa cộng đoàn cùng cử hành giờ Kinh Sáng và Kinh Chiều với các ngài .
24e. Tâm nguyện, trong tư thế lắng nghe, nguyện cầu và sẵn sàng, là hình thức cao nhất để đối chiếu đời sống mình với Lời Chúa. Vì thế, các linh mục cần chu toàn thực hành việc nguyện gẫm hằng ngày, ưu tiên là lúc ban sáng . Nhờ đó các ngài sẽ tìm gặp nguồn sáng, trợ lực và phương thuốc cho mọi nhu cầu của cuộc sống và của tác vụ. Như kinh nghiệm của Giáo Hội đã xác nhận, chính việc nguyện gẫm đều đặn đã giúp ổn định trật tư trong cuộc sống, bảo đảm sự tăng trưởng đời sống tâm linh và ngăn ngừa rơi vào sự nguội lạnh.
24f. Lòng tôn kính Đức Maria phải chiếm được một chỗ quan trọng và cần được diễn tả với lòng chân thành hồn nhiên và với tình yêu thương đối với Mẹ Thiên Chúa và Mẹ Giáo Hội. Các linh mục nhìn thấy nơi Đức Maria một khuôn mẫu của đời sống tận hiến, lắng nghe, nguyện cầu và sẵn sàng. Các ngài hãy biểu lộ lòng sùng kính của mình qua việc cử hành các lễ của Người với lòng sốt sắng, qua việc lần chuỗi Môi Khôi mỗi ngày, và cũng qua việc đón nhận những hình thức đạo đức lành mạnh của giáo dân. Các ngài cần nhận ra sự hiện diện của Mẹ trong đời mình và sẵn lòng phó thác cho sự trợ giúp chở che của Mẹ mọi tín hữu và những người chưa nhận biết Chúa Giêsu, để chính họ cũng có thể nghe được tiếng nói từ mẫu của Mẹ: Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo (Ga 2,5).
24g. Là thừa tác viên bí tích Hoà Giải, các linh mục cần chạy đến bí tích sám hối một cách thường xuyên và đều đặn , và nếu có thể, nên xưng tội với một cha giải tội cố hữu, nhờ đó ta có thể được ngài hiểu biết tường tận hơn và giúp ích cho ta hơn. Qua bí tích này, không những các ngài được ơn tha tội, mà còn được thêm sức mạnh để sống thích hợp với sự dấn thân và được tiến tới trong đường thiêng liêng. Cũng trong chiều hướng này, hết sức ân cần nhắn nhủ các linh mục, trong suốt cuộc đời mình, nên cậy dựa vào việc linh hướng; các ngài cần xác tín rằng, còn hơn cả giáo dân, các ngài cần một sự chỉ đạo để soi sáng và khuyên nhủ. Sự linh hướng sẽ giúp các ngài giữ mãi được lòng nhiệt thành trong Chúa Thánh Thần.
24h. Như là thông phần vào lễ vật dâng hiến của Con Chiên Thiên Chúa, các linh mục cần biết đón nhận thánh giá trong đời mình như một chiều kích cần thiết cho căn tính linh mục (x. 2 Cr 4,10; 6,4-5; Ga 6,17). Ngoài các hy sinh vốn gắn liền với các tình huống của cuộc sống và của tác vụ, các linh mục còn cần biết quảng đại bước theo Đức Kitô cùng các đau khổ của Người bằng một sự thống hối chủ tâm được kính dâng lên Chúa với niềm vui hiệp với tinh thần tông đồ của thánh Phaolô: Tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em (Cl 1,24); Tâm hồn tôi chứa chan niềm an ủi và tràn ngập nỗi vui mừng trong mọi cơn gian nan khốn khó (2 Cr 7,4).
2i. Đời sống thiêng liêng tuyệt đối cần được nâng đỡ đặc biệt do những thời gian ngưng nghỉ khá dài, đó là thời gian để tích cực suy tư và cầu nguyện (x. Mc 6,31). Vì vậy các linh mục hãy trung thành thực hiện những cuộc tĩnh tâm hàng tháng và việc linh thao hàng năm . Các ngài hãy ưu tiên dự các kỳ cấm phòng do giáo phận tổ chức dành cho hàng giáo sĩ giáo phận, nhất là lại có sự hiện diện của Đức Giám Mục. Nếu được đều đặn thực hiện và tham gia tích cực, các thực hành trên đây sẽ giúp các ngài kiểm điểm chính xác tình trạng thiêng liêng của mình và duy trì được sự thống nhất giữa đời sống nội tâm và việc tông đồ .
25. Đời sống trí thức
25a. Sự tiến bộ không ngừng của các khoa thần học đang diễn ra trong Giáo Hội dưới tác động do Chúa Thánh Thần soi sáng (Ga 14,26; 16,13), sự cấp bách phải truyền bá sứ điệp Tin Mừng và nhu cầu làm cho Tin Mừng trở nên dễ hiểu cho con người thời nay vốn mang dấu vết về tất cả những gì thuộc về thời đại và nền văn hoá của họ, nhu cầu hiểu thấu theo những tiêu chuẩn của đức tin một xã hội đang luôn thay đổi, tất cả những điều đó đè nặng trên linh mục như một bổn phận không tả xiết, buộc các ngài phải quan tâm tới đời sống trí thức của riêng mình . Thiếu vắng khoa học, linh mục sẽ như ngọn đèn đã tắt (Mt 5,14-16). Vì lẽ đó, Giáo Hội rõ ràng đòi buộc các linh mục phải “theo đuổi học hỏi các khoa học thánh sau khi đã thụ phong linh mục, và phải nắm vững một giáo lý chắc chắn dựa trên nền tảng Kinh Thánh, được các vị tiền bối truyền lại và được minh định trong các tài liệu của Công Đồng và của các Đức Giáo Hoàng” .
25b. Vì vậy, chiếu theo căn tính ngôn sứ và mục tử của mình, các linh mục có được khả năng nội tâm:
- để theo được những phong trào canh tân do Chúa Thần Thần thổi lên trong Giáo Hội;
- để ngày càng hiểu thấu sâu sắc hơn về mầu nhiệm Chúa Kitô;
- nhưng cũng để tránh nhẹ dạ đón nhận những gì mới mẻ và thiếu vững chắc hoặc thuộc khoa học giả hiệu.
Trong lãnh vực học hỏi, các linh mục trước hết phải nhắm đến các khoa học thánh, nhưng cũng nhắm đến các bộ môn khác có liên hệ với khoa thánh và đến những khoa khả dĩ giúp thực hiện tác vụ dễ dàng hơn, hoặc cả tới những khoa mà các ngài đã dấn thân vào một cách chuyên nghiệp. Các linh mục còn phải nhớ làm sao để chuyển đổi sứ điệp Tin Mừng thành một thứ ngôn ngữ huấn giáo thích hợp và các ngài cũng phải biết cởi mở và chăm chú bén nhạy trước các đòi hỏi của việc hội nhập văn hoá, ngay cả trong lãnh vực thần học.
25c. Đời sống trí thức không những giả thiết phải có niềm xác tín và tư thế sẵn sàng, mà cũng cần tới việc sử dụng thường xuyên những phương tiện thích hợp, chẳng hạn như cần có thời gian dành riêng để học tập nghiên cứu, tích cực tham gia vào các sáng kiến thuộc lãnh vực này và vào các cuộc gặp gỡ do giáo phận tổ chức, lựa chọn nên đọc những gì, và nếu có thể được, cũng nên tổ chức một thư viện cá nhân hoặc sử dụng một thư viện của giáo phận mà ai nấy có thể chạy tới nhờ vả dễ dàng. Ngoài ra, mọi linh mục phải sắm những tài liệu mới ra của Đức Giáo Hoàng và của Đức Giám Mục, để có thể đào sâu và dùng đó làm phương tiện huấn luyện tín hữu. Các ngài cũng cần biết tự bảo vệ chống những gì được phổ biến để truyền bá những tư tưởng lầm lạc và nguy hiểm cho đời sống cá nhân và cho hoạt động mục vụ.
25d. Việc chỉ định cho đi học đại học trong hoặc ngoài nước là thuộc trách nhiệm của Đức Giám Mục, dựa trên sự thống nhất cần có trong việc tổ chức hoạt động tông đồ của giáo phận. Mọi linh mục phải ở trong tâm thế sẵn sàng và thích nghi theo chương trình của giáo phận hoặc của Hội Đồng Giám Mục và phải tránh mọi cái nhìn tham vọng. Sau khi hoàn tất chu kỳ học, các ngài phải mau mắn trở về giáo phận và dấn thân trong công việc được trao phó, đem thực hiện những gì đã học được và đừng nại vào trình độ mà đòi những ưu đãi .
26. Đời sống chung
26a. Dựa trên cơ sở hiệp nhất của linh mục đoàn và sự biểu lộ tình huynh đệ linh mục, đời sống chung là đời sống mà Giáo Hội mạnh mẽ cổ võ nơi các linh mục giáo phận . Đời sống đó giúp cho công việc tông đồ được thực hiện trong tinh thần tập thể và nhất là giúp ích cho việc truyền giáo sơ khởi, vì như kinh nghiệm cho thấy, công việc này khó lòng là công việc của một người . Tùy theo khả năng và dựa theo những khuôn mẫu của văn hoá địa phương, các vị Giám mục cố tìm ra những phương thế cụ thể để thực hiện lối sống này, dù phải khắc phục những khó khăn về mặt tổ chức, và có khi cả những phản kháng về mặt tâm lý. Nên nhớ rằng nếp sống chung tự nó không thể có ngay được, mà giả thiết có một tính mẫn cảm và một sự chuẩn bị ngay từ trong chủng viện.
26b. Khi có nhiều linh mục cùng dấn thân phục vụ trong một giáo xứ, hết sức khuyên các ngài nên sống chung một nhà thành một cộng đoàn. Giữa các linh mục phụ trách những cộng đoàn khác nhau nhưng kế cận nhau, cũng nên thiết lập một nếp sống chung. Phải làm hết sức để tránh cho các linh mục, nhất là các linh mục trẻ, khỏi phải ở cô đơn biệt lập trong một thời gian dài. Nếu tại một số vùng, vì lý do mục vụ, nhiều linh mục phải sống đơn độc trong họ đạo mình, thì ít ra Đức Giám Mục phải cố gắng giúp các ngài duy trì và phát triển tinh thần cộng đoàn bằng cách tổ chức những buổi gặp gỡ đều đặn, cùng ăn bữa huynh đệ theo từng nhóm nhỏ hoặc ở cấp giáo phận.
26c. Đời sống chung không chỉ giới hạn vào phạm vi vật chất gặp gỡ ăn uống, mà thiết tưởng còn là việc hiệp thông chia sẻ về tâm linh, mục vụ và nhân bản nữa. Do đó, các linh mục khi sống cộng đoàn cần cầu nguyện chung với nhau, trao đổi những thông tin hữu ích, cùng nhau tổ chức và kiểm điểm về các hoạt động tông đồ. Các ngài giúp nhau trau dồi, đổi mới đời sống trí thức, giúp đỡ nhau về mặt vật chất, và tuỳ theo mức độ có thể, các ngài thực hiện nếp sống cộng đồng tài sản theo như chỉ thị của Đức Giám Mục. Các ngài cùng nhau hưởng những giờ phút giải trí vui chơi; nâng đỡ nhau, khích lệ nhau khi gặp những khó khăn liên quan tới ơn gọi, những lúc mỏi mệt chán nản và những lúc bệnh hoạn; và khi cần, các ngài cũng đừng quên anh em khuyên bảo nhau .
26d. Đời sống chung cũng làm cho dễ hoà hợp giữa các linh mục có nguồn gốc và tuổi tác khác biệt. Các linh mục trẻ sẽ tìm thấy sự nâng đỡ khi bắt tay vào tác vụ mới nhờ những kinh nghiệm của đàn anh; còn các vị đàn anh cũng gặp được sự cộng tác tích cực, sự khích lệ do lòng hứng khởi và sức năng động của đám trẻ .
26e. Để đời sống chung có được những hiệu quả tích cực, ở đâu có cộng đoàn linh mục, thì tối thiểu ở đó phải có những điều kiện hỗ trợ sau đây:
- Một người phụ trách, mà không nhất thiết phải là cha sở;
- Sự phân chia phận vụ rõ ràng;
- Tổ chức tài chính quy cũ rõ ràng;
- Và một chương trình thực tế quy định giờ khắc chung sống trong ngày.
27. Đức vâng lời của Linh mục
27a. Trong những đức tính cần thiết hơn cả cho chức vụ linh mục, phải kể đến tâm trạng này là bao giờ cũng sẵn sàng tìm ý muốn Đấng đã sai mình chứ không phải tìm ý riêng (x. Ga 4,34; 5,30; 6,38) . Lý do sâu xa của sự vâng lời này cốt ở thân phận linh mục như là công cụ cá biệt của Chúa Kitô và do đó phải hoàn toàn hợp nhất với Người. Thật vậy, Chúa Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự (Pl 2,6-8). Nhờ sự vâng phục của Người, Người đã chuộc lại sự bất tuân của Ađam và đem lại ơn cứu độ cho loài người (x. Rm 5,19).
27b. Hơn nữa, việc Phúc âm hoá người ngoài Kitô giáo phải được khởi sự và tiếp diễn bởi những linh mục biết sống tinh thần vâng phục. Chúa Giê-su, Vị Thừa Sai tiên khởi hoàn thành ý muốn cứu độ của Chúa Cha: Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài (Dt 10,7). Cũng vậy, linh mục dấn thân vào việc tông đồ trong sự vâng phục Chúa Kitô và Giáo Hội đã sai mình đi tiếp tục quy tụ các con cái Chúa ở khắp nơi (x. Ga 11,52).
27c. Đức vâng lời của các linh mục mang chiều kích Giáo Hội: đức vâng lời đó gắn liền với chức thánh của các ngài, và việc thi hành chức vụ của các ngài chỉ có thể được thực hiện trong sự hiệp thông với hàng giáo phẩm. Vì vậy, đức ái mục tử thôi thúc các linh mục “biết hy sinh ý riêng mình để phục vụ Chúa và anh em, bằng cách đón nhận và thi hành những điều mà Đức Giáo Hoàng, Đức Giám Mục của mình và các Bề trên khác truyền dạy và khuyên bảo” .
27d. Đối với các linh mục, đức vâng lời tiên vàn là một tâm thế luôn sẵn sàng muốn vâng theo ý Chúa qua trung gian của Giáo quyền. Chính tâm thế sẵn sàng đó giúp các linh mục vượt lên trên quan niệm thường tình về Giáo quyền và quyền tự lập cá nhân. Nhưng tâm thế sẵn sàng đó cũng có nghĩa là trung thành thi hành những quy tắc hành động, phù hợp với tư cách thành viên của linh mục đoàn, với vị trí của mỗi người trong việc phục vụ có tính phẩm trật.
27e. Ngày nay, đức vâng lời của các linh mục phải được biểu lộ rõ nét đặc biệt trong những lãnh vực sau đây:
Trung thành với huấn quyền của Giáo Hội: dựa trên căn tính Kitô hữu và linh mục, lòng trung thành này phải biểu hiện cách cụ thể trong thái độ vâng phục huấn quyền của Đức Giáo Hoàng và Giám mục của mình, chứ không thể tự cách lìa để theo những quan điểm không được nhìn nhận hoặc theo những xác tín riêng. Lòng trung thành như vậy là rất cần để chính các linh mục trở nên những chứng nhân đích thực và giảng dạy những điều phù hợp với chân lý mặc khải: Vị chủ chăn phải dẫn dắt và nuôi dưỡng đoàn chiên bằng một giáo thuyết lành mạnh chứ không gây xáo trộn bằng những ý kiến hàm hồ hoặc sai lạc (x. 2 Tm 2,14; Tt 2,1).
27f. Sẵn lòng nhận những nhiệm vụ được giao: lòng trung thành của các linh mục với nhiệm vụ Phúc âm hoá và mục tử, biểu lộ rõ hơn cả trong tâm thế sẵn sàng lãnh nhận nhiệm vụ do Đức Giám Mục uỷ thác và trong sự trung thành hoàn thành nhiệm vụ. Tinh thần đức tin và ý thức thực tiễn về đức vâng lời làm cho linh mục tránh việc khẩn cầu để được bổ nhiệm vào một chức vụ nào, để được đến một họ đạo nào, hoặc tránh việc từ chối một công việc mục vụ mà Giám mục yêu cầu. Trước việc bổ nhiệm, các linh mục có thể bày tỏ cách cởi mở những ý nghĩ của mình với Giám mục bằng đối thoại chân thành và thẳng thắn. Nhưng một khi đã có quyết định, thì các linh mục chấp nhận vui vẻ, không phản kháng và sẽ cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Nếu có linh mục nhận thấy rằng mình không mấy thích hợp với nhiệm vụ được trao nhân danh đức vâng lời, thì đừng quên rằng một tâm thế tiêu biểu của linh mục triều, như là cộng tác viên của Giám mục, luôn hàm ý cam kết vô điều kiện phục vụ Giáo Hội, do đó họ có thể được bổ nhiệm vào bất cứ nhu cầu nào của giáo phận. Khi mãn thời hạn theo luật định, các linh mục sẽ đệ đơn từ chức lên Giám mục và sẵn sàng rời nhiệm vụ.
27g. Tuân thủ mọi yêu cầu và quy tắc liên quan đến chức vụ linh mục: việc mục vụ trong một cộng đồng Kitô hữu, cách riêng khi hiểu về một họ đạo, đòi hỏi linh mục phải thật trung thành trong việc hoàn thành việc bổn phận và trong cách xử sự. Điều quan trọng hơn cả là về ý lễ: Giáo Hội đã quy định những luật lệ mới trong Tân Giáo Luật . Các linh mục phải tránh đừng để gây cảm tưởng là làm lễ vì lợi ích kinh tế. Các linh mục đừng quên dâng thánh lễ cho những người quá nghèo mà không nhận bổng lễ.
Đàng khác, các linh mục phải tuân thủ những quy tắc chung và riêng của giáo phận về bổng lễ của các lễ “binê” và về lễ “pro populo”. Mỗi linh mục phải ghi sổ lễ: những lễ đã nhận, ngày làm lễ, ý người xin và lễ đã làm, ngay cả khi chuyển ý lễ cho linh mục khác. Trong mỗi họ đạo luôn phải có sổ lễ.
27h. Những sổ sách của họ đạo: đó là sổ Rửa Tội, sổ Thêm Sức, sổ Hôn Phối, sổ Tử và các hồ sơ khác theo quy định của Hội Đồng Giám Mục hay của Giám mục, vì những sổ sách đó cần thiết cho giáo dân trong vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ. Nhiệm vụ của cha sở là lo ghi chép cẩn thận và bảo quản sổ sách kỹ càng. Hơn nữa, trong mỗi họ đạo, phải có tủ lưu trữ: sổ sách, hồ sơ, thư từ của Giám mục và các văn thư quan trọng khác, phải được sắp xếp thứ tự và được cập nhật hoá .
27i. Các linh mục phải mặc y phục giáo sĩ theo quy định của Hội Đồng Giám Mục và xứng hợp với tập tục chính đáng . Các linh mục đừng vì khinh thường mà bỏ qua “dấu bề ngoài” này, vì đó là dấu chỉ về bậc sống mình lựa chọn và có thể giúp mình sống trung thành, đồng thời còn là một chứng tích cho giáo dân.
27j. Đối với các chủ chăn, việc cư trú tại nhiệm sở là một đòi buộc gắn liền với nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, tuỳ theo huấn lệnh của Giám mục, hàng năm các linh mục có quyền và có bổn phận nghỉ ngơi một thời gian vào lúc thuận tiện để bồi bổ sức khoẻ thể xác và tinh thần. Các linh mục cũng phải biết sắp xếp để đảm bảo có một thời gian rãnh rỗi hàng tuần để bồi dưỡng tinh thần bằng sách báo thích hợp. Khi phải rời xa xứ đạo trong một thời gian dài, trong trường hợp khẩn thiết, phải xin phép Giám mục và tìm người thay thế để phục vụ họ đạo .
28. Đức thanh bần và việc sử dụng của cải
28a. Giáo Hội đáp lại lời mời gọi đi theo con đường chính Chúa Giêsu đã đi: “Ngài đã hoàn thành việc cứu chuộc bằng cách trải qua sự thanh bần và bị bách hại” (x. Pl 2,6-7; 2 Cr 8,9) . Sự hoà hợp trung thực trong đời sống giữa thanh bần theo tinh thần Phúc Âm và sự chọn lựa ưu tiên cho người nghèo là điều không thể thiếu để cộng đồng Giáo Hội và các chủ chăn trở nên đáng tin dưới mắt người đời (196).
28b. Nhờ ơn của bí tích Truyền Chức Thánh, “các linh mục được mời gọi tình nguyện sống thanh bần để nên giống Chúa Kitô một cách rõ ràng hơn và để sẵn sàng tận tuỵ hơn với chức vụ thánh” (197).
28c. Đối với các linh mục, đức thanh bần trước hết là sự lựa chọn triệt để nhận Chúa làm “gia nghiệp” mình. Các linh mục sống trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian (x. Ga 17,14-16) và không tận dụng thế gian (x. 1 Cr 7,31). Vì vậy, các linh mục phải biết sống trong mối tương quan đúng đắn với những thực tại trần thế để tỏ rõ tinh thần siêu thoát, sự tự do trong việc sử dụng nó.
28d. Yêu mến đức thanh bần và sống thanh bần thật sự đòi hỏi nơi linh mục một số tư cách nhất định trong vấn đề liên quan đến của cải cá nhân và của cải của Giáo Hội, trong tinh thần tôn trọng đức công bình (198):
28e. Một sự bảo đảm về kinh tế: linh mục cần một sự bảo đảm về mặt kinh tế đời sống như những người phục vụ bàn thờ (x. 1 Cr 9,13) để có thể an tâm lo chu toàn nhiệm vụ mà không phải quá bận tâm về vấn đề sinh sống. Nguyên tắc truyền thống vẫn còn giá trị là họ đạo nơi linh mục phục vụ phải bảo đảm đời sống vật chất cho linh mục. Hội Đồng Giám Mục có thể quy định những cách thức thiết thực về việc cấp dưỡng cho các linh mục bằng quy định khoản nào thuộc về linh mục, khoản nào thuộc về Giáo Hội. Tuy vậy, việc sử dụng của cải cá nhân tự nó phải phát xuất từ ý thức về đức thanh bần, từ lòng yêu chuộng đức bác ái. Như thế cá linh mục thật sự sống “tinh thần của người lữ khách” ở trần gian. Về của cải mà linh mục thu góp được do công việc lao động của mình, ngoài phần cần thiết cho nhu cầu sinh sống và lương bổng tương xứng cho những người giúp việc, linh mục phải sử dụng phần thặng dư vì lợi ích cho họ đạo, cho công việc bác ái từ thiện chứ đừng tích trữ cho riêng mình: Hãy luôn xác tín rằng địa vị giáo sĩ của mình không phải là cơ hội để làm giàu.
28f. Một mẫu sống đơn giản: với lòng tri ân Thiên Chúa quan phòng, các linh mục phải sử dụng đúng đắn những của cải vật chất để sống cách xứng đáng, nhưng phải giản dị, để tỏ lòng không dính bén của cải, linh mục phải tránh dùng những gì làm cho người ta có cảm tưởng là giàu có xa hoa. Nhờ cách sống như vậy, các linh mục có thể giảng dạy cho giáo dân một cách xác tín ý nghĩa Kitô giáo về của cải trần thế và cách sử dụng của cải như chính các linh mục đã nêu gương.
28g. Ở một số nơi, trở thành linh mục thực tế có nghĩa là bước lên một địa vị quan trọng trong xã hội. Tình trạng này thực tế vẫn tồn tại mặc dù ngoài ý muốn, nhưng đừng để tạo nên khoảng cách giữa linh mục và môi trường sống chung quanh. Chính vì thế mà cung cách sống của linh mục phải trở nên chứng tá Tin Mừng cứu độ chứ đừng sống xa cách người nghèo: các linh mục phải sống thật giản dị trong việc sử dụng tiền bạc, cũng đừng coi nhẹ những việc tay chân, chẳng hạn như sửa chữa lặt vặt các dụng cụ trong nhà hay chăm sóc vườn tược, v.v… nhưng đừng để mất nhiều thời giờ làm phương hại đến việc thi hành tác vụ linh mục. Các linh mục phải tự chế trong việc sắm sửa những gì không cần thiết, nhất là cái xem ra dư thừa. Phải luôn duy trì tiêu chuẩn của một đời sống giản dị trong việc sắp xếp nhà cửa, mua sắm tủ giường, quần áo, xe cộ, cả phương tiện “nghe nhìn”. Cũng phải tránh đi nghỉ ở những nơi đặc biệt và tốn kém. Phải biết sử dụng thời giờ và trung thành với công việc. Tất cả những đòi hỏi đó đều do tinh thần thanh bần và để đến với người nghèo mà không gây khó chịu cho họ.
28h. Trách nhiệm quản trị: ý thức rằng tài sản của họ đạo là của Giáo Hội, chứ không phải là của cải riêng, linh mục phải liệu sao để quản trị của cải đó một cách công bằng và hợp lý, luôn phù hợp với mục đích của nó: nghĩa là dùng vào việc tổ chức và cổ võ việc phụng vụ, hoạt động tông đồ, cấp dưỡng cho các chủ chăn và giúp đỡ những người thiếu thốn. Cần phân biệt rõ ràng, theo tiêu chuẩn của địa phận, đâu là của riêng đâu là của Giáo Hội. Phải luôn nhớ rằng những của cải thuộc về Giáo Hội không được dùng để làm lợi cho đệ tam nhân, dù đó là cha mẹ hay bạn hữu. Trong việc quản trị tài sản của họ đạo và các hoạt động mục vụ, các linh mục cần có người thông thạo giúp đỡ, có thể là giáo dân. Nên có hội đồng quản trị tài sản. Hội đồng này sẽ báo cáo thường kỳ về tình hình kinh tế của họ đạo một cách công khai và khôn khéo, và tường trình về việc quản lý một cách thứ tự và chính xác, theo chỉ thị của Giám mục.
28i. Tự túc về kinh tế – xin trợ giúp tài chính: về mặt kinh tế, mục tiêu của một cộng đoàn họ đạo là tiến tới tự túc. Các linh mục phải giáo dục giáo dân về những nhu cầu của Giáo Hội, và về việc biết chia sẻ giúp đỡ những người đang thiếu thốn. Khi cần cũng có thể xin trợ giúp bác ái giữa các cộng đoàn. Tuy nhiên, các linh mục phải tế nhị trong việc xin của dâng cúng và phải dùng của cải đó đúng theo ý người dâng. Khi của dâng cúng không xác định mục tiêu, phải hiểu của cải đó được dâng cúng cho nhu cầu của họ đạo hay cho việc bác ái. Các linh mục phải rất thận trọng khi xin cũng như khi nhận của dâng cúng từ những người giàu có, thế lực để tránh nguy cơ bị lệ thuộc trong việc thi hành chức vụ của mình.
28j. Những bảo đảm khi đau bệnh và tuổi già: các linh mục phải đóng bảo hiểm xã hội theo luật định, cho trường hợp đau bệnh, tai nạn hay hưu dưỡng. Ở những nơi không có các tổ chức này, Giáo Hội địa phương phải có sáng kiến thành lập những tổ chức tương tế cấp giáo phận hay cấp Hội Đồng Giám Mục. Cũng cần lưu ý nên có nhà hưu dưỡng để các linh mục nghỉ hưu an tâm dưỡng già nhờ được phục vụ chu đáo và sống trong bầu khí an lành thấm tình huynh đệ. Trong viễn tượng đó, các linh mục cần quan tâm đến sức khoẻ của mình: biện pháp phòng ngừa là nên khám sức khoẻ định kỳ và phải thận trọng phòng ngừa những chứng bệnh truyền nhiễm, đặc biệt ở những nơi thiếu điều kiện vệ sinh.
28k. Chúc thư: một trong những bổn phận liên quan đến đức công bình và đức thanh bần là linh mục phải làm chúc thư cho biết rõ ý mình và lưu giữ tại Toà Giám Mục. Cần nhắc lại rằng chúc thư chỉ nói về của cải riêng, chứ không được quyền định đoạt về của nhà thờ, của Giáo Hội. Các linh mục nên nghĩ đến lợi ích của Giáo Hội và cho người nghèo sau khi mình qua đời, chứ đừng để của cải mình sang tay kẻ khác và làm giàu cho họ.
29. Đức khiết tịnh vì Nước Trời trong bậc sống độc thân
29a. Sự tiết dục hoàn toàn và vĩnh viễn vì Nước Trời, mà Chúa Giêsu đã khẩn thiết kêu mời (x. Mt 19,22), “Giáo Hội luôn coi đó là điều thật thích đáng cho chức linh mục”. Trong hoàn cảnh xã hội buông thả như hiện nay, các linh mục cần phải kiên định về ơn gọi sống khiết tịnh hoàn toàn trong bậc sống độc thân. Các linh mục được thánh hiến cho Thiên Chúa với một danh hiệu mới mẻ và tuyệt hảo, nhờ đó được kết hợp với Chúa dễ dàng hơn “với một trái tim không chia sẻ” (x. 1 Cr 7,32-34), tận hiến cách tự do hơn để phục vụ anh em cách hữu hiệu hơn và như thế các ngài càng thích đáng lãnh nhận “một cách bao quát hơn chức vụ làm cha trong Chúa Kitô” (199). Điều cần thiết là phải sống đức khiết tịnh một cách tích cực như một ân huệ chứ không chỉ coi như một luật cấm cản.
29b. Đức khiết tịnh hoàn hảo trong bậc sống độc thân trước hết là một ân huệ Chúa Cha ban cho những kẻ cầu xin Người một cách kiên trì, phó thác và khiêm tốn. Một khi xác tín rằng bí tích Truyền Chức không thể che chở an toàn khỏi mọi cám dỗ và thử thách, và xác tín rằng đức khiết tịnh vì Nước Trời không phải là đạt tới cái một là xong, nhưng đòi hỏi sự chiến đấu dằn dai mỗi ngày (200), các linh mục phải biết sử dụng những phương thế để có thể giữ mình. Đừng khinh thường những thực hành truyền thống đã được nhìn nhận là hữu hiệu trong lãnh vực này.
29c. Thành khẩn với Chúa và với chính mình: trước hết, phải có can đảm trở nên trong sáng trước Thiên Chúa và trước lương tâm để nhận chân những xu hướng, đôi khi những khó khăn và sa ngã. Biết mình cách chính xác sẽ giúp phân biệt rõ những ngõ ngách của đời mình để biết đâu là chỗ cần củng cố, đâu là chỗ phải sửa đổi. Lòng thành khẩn với Chúa sẽ mở rộng tâm hồn đón nhận ơn Chúa, thêm vững lòng tin và đầy hoan lạc vì được nên linh mục của Chúa.
29d. Sử dụng những phương thế thích đáng: kinh nghiệm dạy cho biết phải cậy dựa vào những phương thế tự nhiên và siêu nhiên một cách đúng đắn để có thể sống trung thành trong bậc sống độc thân. Vì vậy, các linh mục phải nhắc nhớ mỗi ngày rằng mình thuộc trọn về Chúa Kitô, đồng thời cũng phải luôn cầu xin ơn trung thành và ơn bền vững đến cùng. Các linh mục hãy biết phó thác trái tim mình cho Mẹ Maria, Nữ Vương các kẻ đồng trinh. Thêm nữa, phải sống hãm mình nhờ đó mà biết tự kiềm chế và có thể vượt thắng những khó khăn.
29e. Đối với các linh mục, sự trưởng thành nhân bản là một điều kiện không thể thiếu để có thể sống đời sống khiết tịnh. Vì vậy các linh mục phải luôn cảnh giác về mặt tình cảm của mình. Nếu cần, phải bàn hỏi với ngừơi chuyên môn, tốt hơn là với các linh mục khác. Cần duy trì tình bạn với các anh em linh mục và ham thích sống cộng đoàn cùng các anh em linh mục khác, nên tránh sống biệt lập quá lâu. Đừng bao giờ liều mình trong những dịp nguy hiểm. Phải sống tiết độ trong việc ăn uống, cũng như việc dùng rượu và thuốc lá. Phải thận trọng trong việc đọc sách báo, phim ảnh, các phương tiện nghe nhìn cùng các hình thức giải trí có tính cách nhẹ dạ phóng túng. Cần phải lưu ý về sự tương phản thường có trong một vài trường hợp giữa sống độc thân và cách tổ chức đời sống gia đình, bộ tộc. Linh mục phải trung thành với những cam kết của mình và trong trường hợp như thế thì cần giải thích ý nghĩa đích thật của sự lựa chọn bậc sống.
29f. Giao tiếp với phụ nữ: trong việc giao tiếp với phụ nữ, một thái độ tế nhị là điều cần thiết vì tư cách linh mục đòi hỏi, đồng thời cũng vì tính nhạy cảm nơi những người mình gặp gỡ (201): điều đó cũng đúng trong quan hệ với các nữ tu, là những người gần cận với linh mục lại có nhiều tương đồng về đời tu và lý tưởng tông đồ. Vì bổn phận đòi buộc phải có những quan hệ lành mạnh với mọi phụ nữ, phải gặp gỡ họ trong các công tác tông đồ, các linh mục cần tránh để ý riêng cùng tất cả những gì có thể dẫn đến những tiếp xúc không bình thường và có thể làm giảm tự do thực sự của con tim.
29g. Tùy theo tập tục và văn hoá địa phương, các linh mục cần tránh tất cả những gì có thể gây nghi ngờ, làm xôn xao trong giáo dân và làm giảm uy tín của linh mục, như gặp gỡ riêng tư lâu giờ, cho vào phòng riêng, tặng quà, cùng du hí du ngoạn với nhau, v.v… Về những cách cư xử loại này, không phải chỉ căn cứ vào lương tâm là đủ, mà phải theo quy tắc chung của thánh Phaolô đã đề xướng: Phần chúng tôi, chúng tôi chẳng làm gì gây cớ cho ai vấp phạm, để không người nào có thể đàm tiếu về công việc phục vụ của chúng tôi (2 Cr 6,3; 8,21). Còn đối với các phụ nữ giúp trong nhà xứ, phải theo quy định của Giám mục hay của Hội Đồng Giám Mục.
30. Về những quan hệ với gia đình và cha mẹ
30a. Những quan hệ tình nghĩa với gia đình mang một giá trị rất quan trọng đối với một linh mục: thường đó là một trợ lực tự nhiên cho đời sống linh mục. Nhưng ở mọt số nơi, mối quan hệ giữa linh mục và gia đình trở nên vấn đề gay gắt: nó bao hàm không những phương diện nhân bản và tình cảm, nhưng còn phương diện kinh tế và những đòi hỏi công bằng. Linh mục phải sống tinh thần Phúc Âm trong quan hệ với những người thân và phải giúp đỡ họ, nhưng đừng để mất sự tự do cần thiết cho chức vụ của mình.
30b. Phải giáo dục các gia đình Công giáo biết quý trọng ơn gọi linh mục nơi con cái họ như một ân huệ của Chúa cho cộng đoàn, và biết chia sẻ lý tưởng tông đồ của các ngài nhưng không dây mình vào công việc mục vụ của các ngài. Về phương diện kinh tế, các linh mục với tư cách là con, với lòng hiếu thảo phải giúp đỡ mọi phần tử trong gia đình, đặc biệt là cha mẹ khi lâm cảnh thiếu thốn. Nhưng luôn luôn phải kín đáo và đừng lấy của Giáo Hội về làm giàu cho họ. Cũng đừng sử dụng người thân trong việc quản trị tài sản họ đạo. Phải dành sự tiếp đón ân cần đối với những người thân trong gia đình, nhưng đừng đem họ vào sống chung trong nhà xứ, nhất là khi họ là số đông. Các linh mục cũng cần để ý đừng để những cuộc thăm viếng của họ hàng diễn ra đều đều và ở lại lâu ngày có thể ảnh hưởng đến đời sống và hoạt động tông đồ của mình.
31. Về nghĩa vụ công dân
31a. Là công dân của một nước, các linh mục có nghĩa vụ hiện diện tích cực và năng động, góp phần kiến tạo và xây dựng một cuộc sống tốt đẹp cho quê hương trần thế theo tinh thần Phúc Âm và theo học thuyết xã hội của Giáo Hội.
31b. Với tư cách là chủ chăn, các linh mục phải ý thức nghĩa vụ của mình là làm hết sức có thể để cổ võ việc duy trì một nền hoà bình và hoà hợp giữa mọi người trên nền tảng công bình (202). Các linh mục phải nêu gương cho các tín hữu trong việc giữ gìn trật tự và tuân thủ luật pháp Nhà nước. Nhưng các linh mục luôn phải dành cho mình quyền tự do chính đáng để thực hành chức năng linh mục phù hợp với quyền căn bản và bất khả nhượng của Giáo Hội. Trong việc bảo vệ những quyền chính đáng này cũng như việc khẳng định quyền tự chủ của Giáo Hội, các linh mục phải hành động trong sự thống nhất với Giám mục của mình. Còn việc tham gia tích cực vào đời sống xã hội với tư cách công dân, Giáo Hội đòi hỏi các linh mục phải biết xử sự cho phù hợp với cương vị mình và tránh những hoạt động làm phương hại đến uy tín của chủ chăn.
31c. Đây là những lãnh vực, theo Giáo Luật quy định, cần phải chú ý đặc biệt và được Giáo Luật quy định rõ ràng: cấm các giáo sĩ đảm nhận những chức vụ công quyền có kèm theo việc hành xử quyền bính dân sự. Nếu không được phép của chính Bản quyền, giáo sĩ không được đảm nhận quản lý tài sản thuộc giáo dân, hoặc những chức vụ trần thế kèm theo nghĩa vụ phải kế toán sổ sách. Cũng không được làm bảo chứng, dù là dựa vào tài sản của riêng mình. Cũng phải tránh không nên cam jết những khế ước buôn bán qua đó phải chi tiền mà không định rõ lý do. Cấm các giáo sĩ không được đích thân hoặc nhờ người khác thi hành mậu dịch, doanh thương nhằm kiếm lợi cho chính mình hoặc cho người khác. Các giáo sĩ không được tham gia tích cực vào các đảng phải chính trị hoặc vào các nghiệp đoàn (203).
31d. Khi lợi ích của Giáo Hội hay xã hội đòi hỏi phải có linh mục đảm nhận một trong những hoạt động trên, Giám mục cho phép trong một thời gian hạn định hợp với nguyên tắc của Hội Đồng Giám Mục, sau khi đã tham khảo ý kiến của Hội Đồng Linh Mục.
32. Bồi dưỡng (huấn luyện thường xuyên)
32a. Tâm tính con người biến đổi, đời sống Kitô hữu và linh mục tăng trưởng, khoa học đạo đời ngày một tiến bộ, nhu cầu phải thích ứng để bắt kịp nhịp tiến của xã hội, tất cả những điều đó đòi hỏi các linh mục phải luôn học hỏi thêm. Bổn phận học hỏi này liên quan tới mọi chiều kích của cuộc sống: nhân bản, thiêng liêng, linh mục, giáo thuyết, tông đồ và nghề nghiệp.
32b. Việc bồi dưỡng về mặt nhân bản là điều thiết yếu đối với linh mục để có thể vững vàng khi phải hoà nhập một cách thích đáng vào đời sống xã hội, để biết phân biệt những giá trị và những khuyết điểm, để tạo quan hệ tích cực với người đương thời, để hiểu được đà tiến hoá và để có khả năng nhận định một cách nghiêm túc về các thực tại.
32c. Việc bồi dưỡng phải đặt trọng tâm vào đời sống thiêng liêng, đời sống linh mục và hoạt động tông đồ: như về ơn gọi linh mục, sống với Chúa, bước theo Chúa Kitô, cải hoá tâm hồn, đổi mới phương pháp mục vụ, bao nhiêu khía cạnh của đời sống đòi hỏi linh mục phải quan tâm, phải có sức tăng tiến hoà nhịp với sự canh tân mà Chúa Thánh Thần đang khơi dậy trong Giáo Hội. Các linh mục phải ý thức rằng bổn phận tu luyện trước hết liên quan đến “tính thể linh mục”, nghĩa là chính đời sống thiêng liêng và tông đồ phải tăng triển không ngừng nhắm tới sự thành đạt lý tưởng cao cả là sự trọn lành của đời sống linh mục (204).
32d. Các linh mục phải xác tín về bổn phận phải học hỏi liên tục suốt cuộc đời, như học hỏi để nuôi dưỡng lòng đạo đức, để sống thâm giao với Chúa, để sinh lợi cho công việc tông đồ. Phương cách bồi dưỡng bao hàm việc sử dụng những phương tiện thích đáng như dự lớp, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm… với sự kiên tâm và xác tín rằng, không bao giờ mình hoàn tất việc cập nhật hoá.
32e. Việc bồi dưỡng phải tuỳ theo địa vị và tuổi tác. Trong những năm đầu sau ngày chịu chức, và đặc biệt khi được bổ nhiệm lần đầu hay khi thay đổi nhiệm vụ, các linh mục phải được giúp đỡ và chính các ngài phải tập làm quen với môi trường mới, công việc mới, nhờ một linh mục đã từng trải giúp đỡ. Không bao giờ trao phó một nhiệm vụ mới cho một linh mục chưa được chuẩn bị thích đáng. Các địa phận cần phải có một tổ chức thích hợp nhằm mục đích này, đặc biệt cần cho các linh mục trẻ và trong những năm đầu của đời linh mục.
32f. Ở giai đoạn thuần thục, các linh mục cũng cần có một thời gian dài dành cho việc “tái huấn”, có thể coi đó là “năm ngưng nghỉ” (année sabbatique), đồng thời để kiểm điểm cách nghiêm túc về cuộc sống cá nhân và hoạt động tông đồ của mình. Những giai đoạn khác của cuộc đời cũng đòi hỏi linh mục một cố gắng canh tân và thích nghi: chẳng hạn khi bệnh hoạn, lúc già yếu, khi phải thay đổi nhiệm vụ hay khi phải giới hạn hoạt động. Các linh mục phải được hỗ trợ trong những hoàn cảnh đặc biệt ấy, nhờ Giám mục và các đồng bạn linh mục quan tâm, săn sóc và giúp đỡ vật chất theo sự cần thiết.
32g. Sau hết, linh mục phải luôn sẵn sàng dọn mình chết như chuẩn bị cho cuộc gặp Chúa Kitô vinh hiển mà mình mến yêu trên hết mọi sự và phụng thờ một cách quảng đại và trung thành: Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi… (Mt 25,34).
33. Tính thống nhất, hài hoà và nhiệt thành trong đời sống Linh mục
33a. Những đòi hỏi đối với đời sống linh mục thì phức tạp và bức xúc. Đó là những bổn phận, những đòi buộc, như là việc cầu nguyện, việc tông đồ, việc học hỏi, nghỉ ngơi, giao tiếp với mọi người… Phải khen ngợi các linh mục biết sắp xếp chương trình sống qua những công việc bề bộn hàng ngày và luôn cố gắng trung thành. Một chương trình sống như thế không được làm giảm thiểu tự do và sáng kiến, cũng không được gò bó trong những khuôn khổ cứng ngắc gây trở ngại cho công việc mục vụ. Trái lại nó phải giúp làm việc có phương pháp, tránh được những công việc do ngẫu hứng mà bỏ qua việc bổn phận quan trọng. Với mục đích ấy, chương trình sống này cần nhắm đến cái chính yếu theo thứ tự và có chừng mực sau khi cân nhắc kỹ càng những bổn phận các loại.
33b. Dù sao, để đạt được sự thống nhất và hài hoà trong đời sống linh mục, không phải chỉ có chương trình cụ thể trong hoạt động mục vụ, trong đời sống cầu nguyện hay trong các hoạt động khác đã là đủ. Nhưng cần phải đi vào chiều sâu, tìm tới cốt lõi của căn tính linh mục là chính con người của Chúa Kitô mà linh mục là kẻ thừa hành. Để đạt tới sự thống nhất và hài hoà cho đời sống này, các linh mục phải “kết hợp với Chúa Kitô trong sự nhận biết thánh ý Chúa Cha và trong sự hiến thân cho đoàn chiên đã trao phó cho các ngài” (x. Ga 3,16) (205).
33c. Trước hết, chính bí tích Thánh Thể là nguồn mạch của đức ái mục tử. Vì chỉ có đức ái mục tử mới có khả năng thực hiện sự thống nhất và hài hoà trong đời sống và hoạt động của các linh mục, thôi thúc từ bên trong lòng nhiệt thành tông đồ mà không có gì ngăn cản nổi. Chỉ khi nào linh mục là “con người của thiêng thánh” thì linh mục mới có thể là “người vì mọi người”.
33d. Do đó, lòng nhiệt thành tông đồ là kết quả tất nhiên của tính linh mục cũng như của sự đáp trả cách quảng đại hồng ân đã lãnh nhận. Cũng như thánh Phaolô, mỗi linh mục phải có thể nói: Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi (Gl 2,20), Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người (1 Cr 9,22b), Trong Đức Kitô Giêsu, nhờ Tin Mừng, chính tôi đã sinh ra anh em (1 Cr 4,15), Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng! (1 Cr 9,16). Lòng nhiệt thành tông đồ, một thôi thúc từ bên trong, một xác tín sâu xa, được diễn đạt ra trong việc dấn thân cho công việc truyền giáo, trong hoạt động mục vụ không biết mệt mỏi, trong tâm thế mở rộng và quan tâm đến mọi người, nhất là những người cùng khổ. Lòng nhiệt thành tông đồ đối với linh mục là sự thúc bách nội tại từ chính “tính thể” của con người được hiến thánh. Tất cả mọi linh mục phải đạt tới sự thống nhất và hài hoà tuyệt vời này giữa đời sống hiến thánh và đời sống truyền giáo.
Các linh mục phải chạy đến với Mẹ Maria, một mẫu gương đơn sơ và hấp dẫn: chính Mẹ đã biết hoà hợp và sống trọn vẹn cho sứ mạng của Chúa Giêsu trong tình mẫu tử: “Đời sống của Đức Trinh Nữ là một gương sáng của tình mẫu tử thắm thiết, tình mu tử ấy phải là động lực cho tất cả những ai cộng tác vào sứ mệnh tông đồ của Giáo Hội để tái sinh nhân loại” (206).
Thật vậy, Mẹ Maria, đã đón nhận với đức tin và đức mến (x. Lc 1,38), đã suy niệm trong lòng (x. Lc 2,19.51) và đã ban cho nhân loại chính Con mình là Chúa Giêsu, Mẹ luôn là nguồn linh ứng bất tận và là sự trợ giúp hữu hiệu cho các linh mục, để các ngài thực hiện trong thế gian ước vọng mãnh liệt của Đấng đã mời gọi và đã sai các ngài: Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! (Lc 12,49).
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong cuộc tiếp kiến dành cho Đức Hồng Y Chủ tịch ký tên dưới đây, ngày 1 tháng 9 năm 1989, đã chấp thuận Bản Chỉ Nam Linh Mục hướng dẫn đời sống mục vụ này, và đã quyết định cho ban hành.
Rôma, từ trụ sở Thánh Bộ Truyền Bá Phúc Âm cho các dân tộc, ngày 1 tháng 10 năm 1989, lễ thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, bổn mạng các xứ truyền giáo.
JOSEF CARD. TOMKO
Chủ tịch
JOSÉ SANCHEZ
Tổng Giám Mục danh dự
giáo phận Nueva Segovia
Thư ký
Chữ tắt:
Vat II.: Công Đồng Vaticanô II
AG: Ad Gentes
LG: Lumen Gentium
PO: Presbyterium Ordinis
CD: Christus Dominus
UR: Unitatis Redintegratio
SC: Sacrosanctum Concilium
Pl. VI: Đức Phaolô VI
GP II: Đức Gioan – Phaolô II
AA: Apostolicam Actuositatem
DV: Dei Verbum
CIC: Giáo Luật
GS: Gaudium et Spes
MỤC LỤC
CHỈ NAM LINH MỤC 1989
Nhập đề 381
- Nền tảng Thiên Chúa Ba Ngôi của chức Linh mục 384
- Nền tảng Giáo hội và Bí tích của chức Linh mục 388
- Ý thức Truyền giáo của Linh mục 392
- Ý thức mục vụ của Linh mục 394
- Tình huynh đệ Linh mục 398
- Thừa tác viên Lời Chúa 400
- Chủ sự nghi lễ phụng vụ thừa tác viên Bí tích 406
- Giải phóng và thăng tiến con người, lựa chọn ưu tiên cho người nghèo 413
- Tác nhân của sự hợp tác 417
- Vị mục tử lo việc Phúc âm hoá văn hoá 420
- Người bạn và người hướng dẫn của tuổi trẻ 422
- Cổ võ ơn gọi 425
- Quan tâm đến ơn gọi đặc biệt của giáo dân 428
- Tông đồ gia đình 430
- Gần gũi những kẻ đau yếu và người già 435
- Tác nhân của phong trào đại kết 438
- Quan tâm đến việc đối thoại với người ngoài Kitô giáo 440
- Sự cần thiết và bản tính của linh đạo Linh mục 441
- Những chiều kích của linh đạo Linh mục 444
- Những đường nét Phúc âm của linh đạo Linh mục 447
- Những phương thế giúp tiến tới trên đường thiêng liêng 450
- Lời Chúa chất vấn Linh mục 453
- Đời sống cầu nguyện 453
- Đời sống trí thức 458
- Đời sống chung 460
- Đức vâng lời của Linh mục 462
- Đức thanh bần và việc sử dụng của cải 466
- Đức khiết tịnh vì Nước Trời trong bậc sống độc thân 470
- Về những quan hệ với gia đình và cha mẹ 473
- Về nghĩa vụ công dân 474
- Bồi dưỡng (huấn luyện thường xuyên) 475
- Tính thống nhất, hài hoà và nhiệt thành trong đời sống Linh mục 477



