“Hãy cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt.”
(Mt 13,30)

BÀI ĐỌC I: Kn 12, 13. 16-19
“Người ban cho kẻ tội lỗi ơn ăn năn trở lại”.

Trích sách Khôn Ngoan.

Ngoài Chúa, không có chúa nào khác chăm sóc mọi sự, ngõ hầu minh chứng rằng Chúa không đoán xét bất công. Vì chưng, sức mạnh của Chúa là nguồn gốc sự công minh, và vì Người là Chúa mọi sự, nên tỏ ra khoan dung với mọi người. Chúa chỉ tỏ sức mạnh Chúa ra khi có kẻ không tin vào uy quyền của Chúa, và triệt hạ kẻ kiêu căng không nhìn biết Người.

Vì là chủ sức mạnh, nên Chúa xét xử hiền lành, Chúa thống trị chúng ta với đầy lòng khoan dung: vì khi Chúa muốn, mọi quyền hành tuân lệnh Người. Khi hành động như thế, Người dạy dỗ dân Người rằng: Người công chính phải ăn ở nhân đạo, và Người làm cho con cái Người đầy hy vọng rằng: Người ban cho kẻ tội lỗi ơn ăn năn sám hối.

ĐÁP CA: Tv 85, 5-6. 9-10. 15-16a
Đáp: Lạy Chúa, Chúa nhân hậu và khoan dung (c. 5a).

1) Lạy Chúa, vì Chúa nhân hậu và khoan dung, giàu lượng từ bi với những ai kêu cầu Chúa. Lạy Chúa, xin nghe lời con khẩn nguyện, và quan tâm đến tiếng con van nài. – Đáp.

2) Các dân tộc mà Chúa tạo thành, họ sẽ tới, lạy Chúa, họ sẽ thờ lạy Ngài, và họ sẽ ca tụng danh Ngài. Vì Ngài cao cả và làm những điều kỳ diệu; duy một mình Ngài là Thiên Chúa. – Đáp.

3) Nhưng lạy Chúa, Ngài là Thiên Chúa từ bi, nhân hậu, chậm bất bình, rất mực khoan dung và thủ tín. Xin đoái nhìn đến con và xót thương con.

BÀI ĐỌC II: Rm 8, 26-27
“Thánh Thần cầu xin cho chúng ta bằng những tiếng than khôn tả”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, có Thánh Thần nâng đỡ sự yếu hèn của chúng ta. Vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho xứng hợp, nhưng chính Thánh Thần cầu xin cho chúng ta bằng những tiếng than khôn tả. Mà Đấng thấu suốt tâm hồn, thì biết điều Thánh Thần ước muốn. Bởi vì Thánh Thần cầu xin cho các thánh theo ý Thiên Chúa.

TIN MỪNG: Mt 13, 24-43
Khi ấy, Chúa Giêsu phán một dụ ngôn khác cùng dân chúng rằng: “Nước trời giống như người kia gieo giống tốt trong ruộng mình. Trong lúc mọi người ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo cỏ lùng vào ngay giữa lúa, rồi đi mất. Khi lúa lớn lên và trổ bông thì cỏ lùng cũng lộ ra. Đầy tớ chủ nhà đến nói với ông rằng: “Thưa ông, thế ông đã không gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Vậy cỏ lùng từ đâu mà có?” Ông đáp: “Người thù của ta đã làm như thế”. Đầy tớ nói với chủ: “Nếu ông bằng lòng, chúng tôi xin đi nhổ cỏ”. Chủ nhà đáp: “Không được, kẻo khi nhổ cỏ lùng, các anh lại nhổ luôn cả lúa chăng. Hãy cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt. Và đến mùa, ta sẽ dặn thợ gặt: “Các anh hãy nhổ cỏ lùng trước, rồi bó lại từng bó mà đốt đi, sau mới thu lúa lại chất vào lẫm cho ta”.
Người lại nói với họ dụ ngôn khác mà rằng: “Nước trời giống như hạt cải người kia gieo trong ruộng mình. Hạt đó bé nhỏ hơn mọi thứ hạt giống, nhưng khi mọc lên, thì lớn hơn mọi thứ rau cỏ, rồi thành cây, đến nỗi chim trời đến nương náu nơi ngành nó”. Người lại nói với họ một dụ ngôn khác nữa mà rằng: “Nước trời giống như men người đàn bà kia lấy đem trộn vào ba đấu bột, cho đến khi bột dậy men”. Chúa Giêsu dùng dụ ngôn mà phán những điều ấy với dân chúng. Người không phán điều gì với họ mà không dùng dụ ngôn, để ứng nghiệm lời tiên tri đã chép rằng: “Ta sẽ mở miệng nói lời dụ ngôn, Ta sẽ tỏ ra những điều bí nhiệm từ lúc dựng nên thế gian”.
Sau khi giải tán dân chúng, Người trở về nhà. Các môn đệ đến gặp Người và thưa rằng: “Xin Thầy giải thích dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe”. Người đáp rằng: “Kẻ gieo giống tốt là Con Người. Ruộng là thế gian. Còn hạt giống tốt là con cái Nước trời. Cỏ lùng là con cái gian ác. Kẻ thù gieo cỏ lùng là ma quỷ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên thần. Cũng như người ta thu lấy cỏ lùng, rồi thiêu đốt trong lửa thế nào, thì ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy: Con Người sẽ sai các thiên thần đi thu tất cả gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác khỏi nước Chúa, rồi ném tất cả chúng vào lửa: ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Bấy giờ kẻ lành sẽ sáng chói như mặt trời trong Nước của Cha mình. Ai có tai để nghe thì hãy nghe”.

SUY NIỆM
A/ 5 phút với Lời Chúa

KIÊN NHẪN-HY VỌNG-THƯƠNG XÓT

“Đừng, sợ rằng khi nhặt cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt.” (Mt 13,29)

Suy niệm: Đức Giê-su dùng phương pháp tương phản để cho thấy hai đường lối khác biệt. Ông chủ: gieo giống tốt, ban ngày, công khai, quan tâm chăm sóc; kẻ thù (Satan): gieo cỏ lùng, ban đêm, lén lút, bỏ mặc. Cỏ lùng khi lớn lên giống như lúa, nếu nhổ đi sẽ ảnh hưởng tới cây lúa, cũng như có thể nhổ nhầm cây lúa. Ruộng là thế gian, trong “ruộng thế gian” này, người Ki-tô hữu là giống tốt được gieo vào, được mong mỏi đơm bông kết hạt; thế nhưng, họ vẫn có “nguy cơ” trở thành “cỏ lùng” khi để tâm hồn nên xấu xa tội lỗi. Chiến thắng cuối cùng vẫn thuộc về Thiên Chúa, Đấng đã gieo giống tốt vào ruộng thế gian, thậm chí “gieo” cả Con Một mình, là hạt lúa mì chịu mục nát, chết đi, sống lại, để sản sinh bao hạt lúa khác.

Mời bạn: Ta thường loại bỏ những người bất đồng quan điểm, không tương hợp với mình; hoặc do cho rằng họ “tội lỗi” hơn ta, nơi họ không có gì đáng tôn trọng. Bạn hãy ngắm nhìn Người gieo giống: kiên nhẫn, khoan dung, thương xót, chờ đợi, luôn hy vọng “cỏ lùng” sẽ có ngày hoán cải, trở thành lúa tốt. Không phải chờ đợi một hai năm, nhưng đến mùa gặt, ngày cuối đời. Bạn hãy suy ngắm, thực hành mẫu gương Người gieo giống ấy. Bạn biết không, ngày cánh chung Thiên Chúa sẽ xét xử bạn dựa trên việc bạn đã sống lòng thương xót với anh chị em mình chưa?

Sống Lời Chúa: Cầu nguyện cho một người đang sống xa lìa Chúa.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, cảm tạ Chúa luôn kiên nhẫn chờ đợi con hoán cải. Xin cho con kiên nhẫn, hy vọng, thương xót với anh chị em và với chính mình.

B/ Lm. Jos. Phạm Duy Thạch, SVD

I. Bối cảnh

Mt 13,24-43 là ba trong loạt bảy dụ ngôn được trình bày trong chương 13 của Tin Mừng Mátthêu. Khái niệm “Nước Trời” được Đức Giêsu giới thiệu ngay từ thông điệp Tin Mừng đầu tiên của Người. Trong những dụ ngôn này, Đức Giêsu diễn giải về ý nghĩa của Nước Trời. Khái niệm người gieo giống tiếp tục được nhắc đến với hai dụ ngôn. “Ném vào lò lửa” đi kèm với “khóc lóc và nghiến răng” là những hình phạt cánh chung được dùng hai lần trong chương mười ba (13,42.50). Lời cổ vũ: “Ai có tai hãy để người ấy lắng nghe” (13,42) cũng là lời quan trọng được lặp lại nhiều lần trong Tin Mừng Mátthêu (11,15; 13,9.43). “Những người công chính” là những nhân vật tiêu biểu trong giáo huấn của Đức Giêsu trong Tin Mừng Mátthêu (13,17.43; 23,28; 25,37.46). Một ý tưởng có tính liên kết khác là: “Lời ngôn sứ được hoàn tất” (Mt 1,22; 2,5.15.17; 3,3; 4,14; 8,17; 12,17; 13,35; 21,4.15; 27,9).

 2. Cấu trúc

 Đoạn văn dài này khởi đầu bằng dụ ngôn lúa và cỏ dại (Mt 13,24-30) và kết thúc bằng phần giải thích dụ ngôn này (Mt 13,36-43). Ở giữa là hai dụ ngôn ngắn: “Dụ ngôn hạt cải” (Mt 1331-32) và “dụ ngôn men trong bột” (13,33), cùng với phần giải thích lý do Đức Giêsu giảng bằng dụ ngôn (Mt 13,34-35).

 3. Dụ ngôn lúa và cỏ dại (Mt 13,24-30)

 –        “Nước Trời giống như…

–        Một người đàn ông gieo hạt giống tốt

–        Kẻ thù đến và gieo cỏ dại vào giữa lúa

–        Khi cây lúa mọc lên và sinh hạt, những cây cỏ dại cũng xuất hiện

–        Những người đầy tớ: Cỏ dại từ đâu mà có vậy?

–        Chủ nhà: “Kẻ thù đã làm điều đó.

–        Những người đầy tớ: Ông có muốn chúng tôi đi ra nhổ chúng không?

–        Chủ nhà: “Không! Nếu không, khi nhổ cỏ dại, cùng lúc các ngươi làm bật rễ lúa.

–        Hãy để cả hai cùng lớn lên cho đến mùa gặt.

–        Vào lúc thu hoạch: Nhặt những cỏ dại và đốt chúng đi,… thu gom lúa vào kho

 4. Dụ ngôn hạt cải (cc. 31-32)

 –        “Nước Trời giống như…

–        Hạt nhỏ nhất trong số những hạt gieo …

–        Lớn lên nó trở nên lớn hơn các cây rau khác, trở thành cây, chim trời có thể cư ngụ trên nhánh của nó.

5. Dụ ngôn men trộn vào bột (c.33)

–        “Nước Trời giống như … men,

–        Người phụ nữ trộn vào 3 saton cho đến khi bột dậy men

 6. Lý do Đức Giêsu nói bằng dụ ngôn (cc.34-35)

 –        Không nói điều gì cho họ mà không bằng dụ ngôn

–        Để lời của ngôn sứ được hoàn tất

7. Giải nghĩa dụ ngôn lúa và cỏ dại (cc.36-43)

–        “Người gieo hạt giống tốt là Con Người

–        Ruộng là thế gian,

–        Hạt giống tốt là các con cái của Vương Quốc, cỏ dại là những con cái của kẻ xấu

–        Kẻ thù gieo chúng là quỷ, mùa gặt là thời hoàn tất, thợ gặt là các thiên sứ

–        Cỏ dại bị gom và đốt đi trong lửa: Thiên sứ nhổ ra khỏi Vương Quốc tất cả những kẻ gây vấp ngã và những kẻ xấu xa. Ném chúng vào trong lò lửa…

–        Họ sẽ là kẻ khóc lóc và kẻ nghiến răng… những người công chính sẽ chiếu sáng như mặt trời trong Vương Quốc của cha họ,

 8. Lời cổ vũ: Ai có tai thì hãy để họ nghe

 II. Một số điểm chú giải

1. “Nước trời giống như…”: Đây là câu dẫn nhập chung cho cả ba dụ ngôn mô tả về Nước Trời trong đoạn văn này (13,24.31.33). Nước Trời là chủ đề chính yếu trong giáo huấn của Đức Giêsu. Đức Giêsu đã khai mạc sứ vụ rao giảng tại Galilê bằng lời mời gọi: “Hãy hoán cải vì Nước Trời đã đến gần”. Sau đó, Người công bố Hiến Chương Nước Trời, thường được gọi là “bài giảng trên núi”, mô tả căn tính của công dân Nước Trời và cách thức để đi vào Nước Trời (Mt 5 – 7). Trong loạt bài giảng dài này, những người theo Đức Giêsu được cho biết họ là ai và phải làm gì để được vào Nước Trời. Trong loạt bài giảng ở chương 13, còn gọi là “bài giảng bằng dụ ngôn”, Đức Giêsu lần lượt mô tả những đặc tính của Nước Trời: Nước Trời như “một người gieo hạt giống tốt trong ruộng mình” ; “Như hạt cải một người lấy gieo trong ruộng mình”; “Như men một người phụ nữ lấy trộn vào ba đấu bột”. Đọc những dụ ngôn này, người ta hiểu được phần nào hình ảnh Nước Trời mà Đức Giêsu đã giới thiệu và mời gọi mọi người phải làm mọi sự để đi vào Nước ấy.

2. Một người … gieo hạt giống tốt … con cái Vương Quốc … những người công chính: Khởi đầu bài giảng bằng dụ ngôn Đức Giêsu đã được mô tả đi ra khỏi nhà, ngồi trên bờ biển, rồi ngồi trên thuyền để giảng dạy cho dân chúng đang đứng trên bờ biển. Đó là hình ảnh tương tự như “người gieo giống đi ra gieo giống” trong dụ ngôn “người gieo giống” mà Đức Giêsu kể nhằm mô tả cách thức, và thái độ đón nhận lời giảng của Người. Dụ ngôn này cũng đề cập đến một người gieo giống, nhưng nhấn mạnh đến hạt giống tốt bên cạnh những hạt cỏ dại. Nơi gieo được xác định rõ ràng là “trong ruộng của mình” (ἐν τῷ ἀγρῷ αὐτοῦ) và hạt giống được thẩm định chất lượng là “tốt” (καλὸν σπέρμα). Người gieo giống trong dụ ngôn này được Đức Giêsu cho biết là “Con Người” (ὁ υἱὸς τοῦ ἀνθρώπου). Đây là danh xưng mang tính Kitô học mà Đức Giêsu dùng để mô tả chính mình, xuất hiện bảy mươi lần trong Tin Mừng. Dịch theo nghĩa đen danh xưng này có nghĩa là “con trai của loài người”. Từ ngữ này vốn được dùng để diễn tả sự mong manh (Is 51,12; G 25,6) nhỏ bé của con người trước Thiên Chúa (Tv 11,4). Đôi khi còn được dùng để chỉ thân phận con người tội lỗi (Tv 14,2; 31,20), sẽ phải chết (Tv 89,48; 90,3) Danh xưng này được dùng trong nhiều bối cảnh, ám chỉ đến nhiều khía cạnh khác nhau. Có khi nó ám chỉ đến thân phận người của Đức Giêsu (Mt 8,20; 11,19; 20,28), nhất là trong cuộc thương khó (17,22); Có khi ám chỉ đến cuộc toàn thắng chung cuộc trong biến cố Phục Sinh (17,9), cuộc quang lâm vinh hiển (24,30) và cuộc phán xét cuối cùng (25,31). Ngôn sứ Daniel, trong thị kiến của mình, nói đến hình ảnh “đấng giống như con người đến với mây trời” (7,13). Từ ý tưởng này, hình ảnh “Con Người” trong Tân Ước được áp dụng cho Đấng Mêsia. Lời Đức Giêsu tuyên bố trước Hội Đồng Do Thái (Mt 26,64) đã bộc lộ điều đó.[2] Trong bối cảnh đoạn văn này, Con Người được gắn với chức năng gieo giống tốt. Tuy nhiên, hạt giống tốt ở đây không phải là “lời”, giống như trong dụ ngôn người gieo giống. “Hạt giống tốt” là “những con cái của vương quốc”. Có lẽ, con cái vương quốc không chỉ là những những hạt giống tốt mà là tổng thể những cây lúa phát triển từ những hạt giống tốt và sinh bông hạt. “Con cái của vương quốc” có thể hiểu là những người thuộc về vương quốc, hay được thừa kế vương quốc, hay được đi vào vương quốc. Trong Tám Mối Phúc, Đức Giêsu hai lần đề cập đến những người được sở hữu Nước Trời. Đó là những người nghèo trong tinh thần (Mt 5,3) và những người chịu bách vì sự công chính (Mt 5,10). Muốn đi vào Nước Trời thì phải có sự công chính vượt trội hơn sự công chính của các kinh sư và những người Pharisêu (Mt 5,20); Phải thi hành ý muốn của Cha Đức Giêsu, Đấng ngự trên trời (Mt 7,21); Phải mạnh sức mới đạt được (Mt 11,12); Phải trở lại và nên như những đứa trẻ (Mt 18,3; Cf. 19,14). Trong dụ ngôn “ngọc quý và kho tàng”, tiếp theo sau những dụ ngôn trong đoạn văn này, Đức Giêsu cũng cho biết sự cần thiết phải bán hết tất cả để mua Nước Trời, ví như người thương gia bán hết tất cả đề mua viên ngọc đẹp (13,45-46) và người tìm thấy kho tàng trong ruộng bán hết tất cả để mua thửa ruộng ấy (13,44). Con cái Nước Trời dĩ nhiên phải đón nhận Tin Mừng Nước Trời và sống Tin Mừng Nước Trời (Mt 4,23; 9,35; Cf. Lc 4,43; 8,1; 16,16). Trong phần giải thích dụ ngôn, “con cái Nước Trời” đồng nghĩa với “những người công chính” và “Nước Trời” được gọi là “Nước của Cha họ”: “Những người công chính sẽ chiếu sáng như mặt trời trong vương quốc của Cha họ” (Mt 13,43). Sự nối kết giữa hai ý tưởng “người công chính” và “trong vương quốc” rất phù hợp với điều kiện phải “có sự công chính vượt trội hơn sự công chính của các kinh sư và những người Pharisêu thì mới được đi vào Nước Trời” đã được nhắc đến trước đó. Trong dụ ngôn “chiếc lưới” sau đó (Mt 13,47-50), “người xấu bị tách biệt ra khỏi người công chính”. Trong trình thuật về cuộc phán xét “người công chính” được mô tả là những người đã làm cho Đức Giêsu nơi những điều tốt lành: Ta đói các người đã cho ăn; Khát, đã cho uống; Là khách lạ, đã tiếp đón; trần truồng, đã cho mặc; Đau yếu, đã thăm nom; Ở tù, đã đến cùng Ta (Mt 25,34-40).

3. Kẻ thù … gieo cỏ dại … con cái của quỷ (οἱ υἱοὶ τοῦ πονηροῦ): Đối lại với người gieo giống tốt là kẻ gieo cỏ dại. Kẻ gieo cỏ dại được chủ nhà gọi là “kẻ thù”/ “kẻ xấu”. Trong phần giải nghĩa, Đức Giêsu cho biết kẻ thù ấy chính là “quỷ” đối lại với Con Người. Quỷ (ὁ διάβολος) xuất hiện trong Mt 4,1-11 (Cf. Mc 1,12-13; Lc 4,1-13) như là kẻ cám dỗ Đức Giêsu, trong đó, có cơn cám dỗ về tham vọng sở hữu các vương quốc thế gian và vinh quang của nó (Mt 13,8-9), nhưng nó hoàn toàn thất bại. Trong “dụ ngôn người gieo giống”, quỷ (ὁ πονηρὸς, nghĩa đen là kẻ xấu) đã lấy lời đã gieo trong lòng của “kẻ nghe lời về Vương Quốc mà không hiểu” (Mt 13,19), cũng là trường hợp hạt giống được gieo dọc đường. Những điều thêm thắt, không đúng sự thật, đều đến từ “quỷ” (Mt 5,37). Trong sứ vụ rao giảng của mình trên vùng đất Galilê và các vùng lân cận, Đức Giêsu đã gặp nhiều người bị quỷ ám (bị quỷ khống chế). Quỷ làm cho người ta mất khả năng nghe, khả năng nói (Mt 9,32-34), mất khả năng nhìn (Mt 12,22), gây đau khổ (Mt 15,21-28) hoặc trở nên điên dại, dữ tợn gây kinh hoàng cho người khác (Mt 8,28-34). “Con cái của quỷ” được đồng hóa với “những người gây vấp ngã” và “những kẻ phá luật” (làm điều xấu xa). Số phận cuối cùng của cỏ dại là bị nhặt ra, bó thành bó, và đốt đi, tương ứng với số phận của “con cái của quỷ” là không những bị nhổ ra khỏi Vương Quốc mà còn bị quăng vào trong lò lửa. Hình phạt được nhấn mạnh hơn nữa, khi họ trở thành “kẻ khóc lóc” và “kẻ nghiến răng” (ὁ κλαυθμὸς καὶ ὁ βρυγμὸς τῶν ὀδόντων). Đây là lối nói đặc trưng của tác giả Mátthêu khi mô tả về sự khắc nghiệt của hình phạt cánh chung. Tác giả Mátthêu sử dụng đến sáu lần (Mt 8,12; 13,42.50; 22,13; 24,51; 25,30), trong khi Luca sử dụng duy nhất một lần (Lc 13,28), còn các tác giả khác thì không. Nên nhớ rằng, tác giả Mátthêu không nói là “phải khóc lóc và nghiến răng” (CGKPV; NTT), nhưng là “sẽ là kẻ khóc lóc và kẻ nghiến răng” (ἔσται ὁ κλαυθμὸς καὶ ὁ βρυγμὸς τῶν ὀδόντων). Động từ “eimi”, cùng với hai danh từ được xác định bằng mạo từ, diễn tả căn tính của hai loại người mà “con cái của quỷ” sẽ trở thành. Họ sẽ là “kẻ khóc lóc” và “kẻ nghiến răng”, nghĩa là, họ phải khóc lóc và nghiến răng luôn luôn, và mãi mãi, chứ không phải chỉ khóc lóc và nghiến răng trong chốc lát, hoặc một vài giờ, vài ngày, vài năm. Đó là tình trạng đau khổ liên tục và vĩnh viễn.

4. Cả hai cùng lớn lên với nhau … cho đến lúc thu hoạch: Một cách tự nhiên, cỏ dại trong ruộng lúa phải được nhổ sạch, không những một lần mà nhiều lần, để chúng không gây hại cho cây lúa và không giành phân với những cây lúa. Đề xuất của những người đầy tớ là rất hợp lý. Cỏ dại do kẻ thù gieo nên được nhổ bỏ. Tuy nhiên, vì đây là dụ ngôn về Nước Trời nên giải pháp của chủ nhà rất khác thường. Tương tự, những nơi chốn mà người gieo giống trong dụ ngôn “người gieo giống” đã vãi hạt giống cũng rất khác thường (dọc đường, trên đá, trên bụi gai, và trên đất tốt). Ba nơi đầu tiên rõ ràng không phải là nơi thuận lợi để vãi những hạt giống. Giải pháp của ông chủ nhà là: “Hãy để cả hai cùng lớn lên với nhau”, nghĩa là, lúa và cỏ dại cùng lớn lên với nhau, “con cái Vương Quốc” và “con cái của quỷ”, “những người công chính” và “những kẻ gây vấp ngã và những kẻ làm điều xấu. Cặp nhân vật đối nghịch này có thể là những đặc tính tốt và xấu bên trong một cá nhân; hoặc là những người xấu và người tốt trong một gia đình, một cộng đoàn, hay trong nhân loại nói chung. Hạn định là “cho đến lúc thu hoạch” (ἕως τοῦ θερισμοῦ), hiểu là thu hoạch lúa, chứ không phải cỏ dại. Cỏ dại sẽ được nhổ đi, nhưng không phải bây giờ. Khoảng thời gian “cho đến khi” (ἕως) này có thể là khoảng thời gian chờ đợi của chủ nhà và là cơ hội cho rễ cây lúa được đảm bảo an toàn phát triển.[3] “Mùa gặt”, trong Cựu Ước, là một hình ảnh ẩn dụ của cuộc phán xét cuối cùng (Ge 3,13; Os 6,11; Gr 51,53). Trong phần giải nghĩa, “mùa gặt” là sự hoàn tất về thời gian (Mt 13,40).[4]

5. Làm bật rễ lúa: Lý do mà chủ nhà không cho nhổ cỏ dại đi là vì sợ rễ lúa còn non yếu bị bật lên. Điều này giả định là có một số cỏ dại quá mạnh đến nỗi rễ của chúng cuốn lấy rễ của lúa, khiến không thể nhổ cỏ đi mà không làm bật rễ của lúa.[5] Trong “bài giảng về sứ vụ”, Đức Giêsu tự ví mình như là chủ nhà: “Chủ nhà mà người ta còn gọi là Bêeldêbul huống chi là người nhà” (Mt 10,25; Cf. Mc 13,35; Lc 13,25). Trong dụ ngôn này chủ nhà, có thể đồng nghĩa với Con Người, người gieo hạt giống tốt. Trong phần giải nghĩa dụ ngôn Đức Giêsu không đề cập đến ý nghĩa của việc làm bật rễ lúa. Liệu loại bỏ “con cái của quỷ” hay “những kẻ gây vấp ngã và những kẻ làm điều xấu xa” trước thời hạn có ảnh hưởng gì đến “con cái Vương Quốc” hay “những người công chính” ? Vì Đức Giêsu không giải thích nên không thể đi theo hướng này. Có lẽ, dụ ngôn chỉ muốn nhấn mạnh đến “sự kiên nhẫn chờ đợi cho đến ngày phán xét”. Trong thư gửi các tín hữu Côrintô, ông Phaolô khuyên rằng: “Xin anh em đừng vội xét xử điều gì trước kỳ hạn, trước ngày Chúa đến. Chính Người sẽ đưa ra ánh sáng những gì ẩn khuất trong bóng tối, phơi bày những ý định trong thâm tâm con người. Bấy giờ, mỗi người sẽ được Thiên Chúa khen thưởng đích đáng” (1 Cr 4,5). Tác giả D. Harrington nghĩ khi những người Do Thái và các Kitô hữu cố gắng hướng tới tương quan tích cực hơn và tin tưởng hơn, thì thông điệp của tác giả Mátthêu là bước tối thiểu trên con đường hồi phục lại cách tiếp cận đầy đủ và thực hơn ông Phaolô đã đề cập trong thư Rôma chương 11, liên quan đến ơn cứu độ dành cho những người Israel.[6] Đó có thể là một điểm đáng chú ý, nhưng dụ ngôn này có thể cũng ám chỉ đến sự hiện diện của những người xấu và tốt lẫn lộn trong gia đình, trong cộng đoàn và trong thế gian nói chung. Thánh Isidore nghĩ rằng sở dĩ Thiên Chúa không cho các thiên thần thu gom những người làm điều xấu vì nơi tâm trí của Người vẫn còn một khả năng hoán cải cho những người này. Ngài đưa ra dẫn chứng cuộc hoán cải của ông Mátthêu và của ông Phêrô, cũng như của ông Phaolô.[7]

6. Nhặt cỏ dại và đốt đi … thu gom lúa mang vào kho … nhặt những kẻ gây cớ vấp ngã và những kẻ làm điều xấu xa ra khỏi Vương Quốc …quăng vào lò lửa: Những hoạt động trong mùa gặt tương ứng với những hoạt động trong sự hoàn tất của thời gian. Cỏ được nhặt ra, bó lại, và đốt đi trước khi mang lúa vào kho. Những người con cái của quỷ, những người làm điều xấu, gây sa ngã phải bị quăng vào lửa và trở thành kẻ khóc lóc và kẻ nghiến răng. Trong khi dụ ngôn này nhấn mạnh đến sự kiên trì vì sự hiện diện của người xấu trong thế giới, nó cũng cung cấp một sự bảo đảm rằng những người con của Vương Quốc sẽ được vinh thắng và những người xấu xa sẽ đối diện với cuộc phán xét nghiêm túc và lãnh bản án đau khổ vĩnh viễn.[8]

7. Hạt nhỏ nhất trong số những hạt gieo: Tác giả D. Harrington xem việc gọi hạt cải như là hạt nhỏ nhất trong các hạt là một sự “cường điệu hóa”. Ông cho rằng điểm chính yếu của dụ ngôn là kích cỡ nhỏ bé của hạt cải so với cây trưởng thành. Trong Mt 17,20 Đức Giêsu cũng sử dụng hình ảnh hạt cải nhỏ bé để mô tả sức mạnh của đức tin: Đức tin nhỏ bé bằng hạt cải cũng đủ để chuyển núi dời non.[9] Tác giả W. Davies – D. Allison đưa ra hai giả thuyết về hạt cải: Có thể là hạt của cây cải đen (Sinapis hoặc Brassica nigra) hoặc cũng có thể là hạt cây cải trắng (Sinapis alba). Tác giả cũng thừa nhận có những loại hạt khác nhỏ hơn hạt cải và nhận xét rằng khó có thể nói đến một sự chính xác hoàn toàn trong văn chương phổ biến.[10] T. France dẫn lại quan điểm của một vài chuyên gia, những người cho rằng cây cải đen được trồng ở vùng Palestine để lấy dầu hay làm gia vị, thường không cao hơn hai mét, nhưng đôi lúc có thể cao đến năm mét, nghĩa là cao hơn mọi loại rau củ. Tuy nhiên, tác giả giữ quan điểm rằng quan điểm của dụ ngôn không phụ thuộc vào sự chính xác về mặt thực vật học; dụ ngôn thường phóng đại vì mục đích.[11]

8. Chim trời có thể cư ngụ trên nhánh của nó: Tác giả D. Harrington cho rằng một cây cải thường cao đến tám đến mười hai feet (2,4 m – 3,6 m).[12] Tác giả W. Davies – D. Allison, nói rằng trong khi những cây cải ở Palestine lớn đến mười feet, và trong khi những con chim ăn hạt và thỉnh thoảng dùng lá của chúng để làm tổ, những cây ấy không cung cấp những nơi làm tổ cho chim. Vì thế, đó là bản “chất phi thực tế của dụ ngôn”.[13] Hình ảnh chim trời cư ngụ trên những nhánh cây gợi nhớ thị kiến của vua Nabucôđônôxo trong Đn 4,12.21, mô tả đế quốc của vua này trải dài đến tận cùng trái đất; Những con chim không được nhận dạng cách trực tiếp trong Đn 4, nhưng dường như chúng có lẽ đã được hiểu như các nước chư hầu đã tìm nơi nương náu trong đế quốc Babylon rộng lớn.[14] Ngôn sứ Edêkiel nói trước rằng Israel có thể quy tụ các quốc gia như một cây tuyết tùng, nơi làm tổ của những con chim trời (Ed 17,22-24). Đức Giêsu dùng dụ ngôn này để cho thấy cách thức, tầm mức Vương Quốc phát triển, mặc dù khởi đầu nhỏ bé, sẽ trở nên cây lớn quy tụ chim trời, hoàn tất sứ vụ của Israel cho các nước như Êdêkiel đã nói.[15] “Chim trời” thường được ví như hình ảnh của nhiều dân trên thế giới gia nhập Nước Trời. Trên thực tế, từ con số Nhóm Mười Hai, (có thể là Nhóm Bảy Mươi Hai theo Luca), rồi nhóm một trăm hai mươi người theo sách Công Vụ (Cv 1,15). Giáo Hội được mở rộng thêm ba ngàn người (Cv 2,41), rồi thêm năm ngàn người (Cv 4,4).

9. Men người phụ nữ trộn vào ba saton bột cho đến khi bột dậy men: Dụ ngôn men trộn vào trong ba saton bột đi cặp với dụ ngôn hạt cải. Cả hai dụ ngôn có cùng một mô thức: “Bắt đầu không ấn tượng tạo nên một phát triển vĩ đại. Chút men có thể làm cho ba saton bột dậy lên. Ba saton bột tương đương với bốn mươi lăm lít (1 saton = 13,5 lít). Bánh nướng được làm từ số bột này, theo tác giả Jeremias, có thể cung cấp bữa ăn cho hơn một trăm người. Cũng giống như dụ ngôn hạt cải, có sự đối nghịch giữa chút men với kết qua to lớn.[16] Men tượng trưng cho năng lực biến đổi.[17] “Men Pharisêu và Sađốc” là giáo thuyết của hai nhóm người này. Nó có khả năng gây hại cho các môn đệ. Vì thế, Đức Giêsu dặn họ phải coi chừng (Mt 16,11-12). Dụ ngôn này, theo cách hiểu của hầu hết các giáo phụ, nói về tầm ảnh hưởng và biến đổi của Tin Mừng Đức Giêsu hay các sứ giả Tin Mừng.[18]

10. Lời của ngôn sứ được hoàn tất: Trong bài giảng bằng dụ ngôn, có đến hai lần Đức Giêsu giải thích lý do dùng dụ ngôn. Trong cả hai lần, Người đều nhấn mạnh đến sự hoàn tất của lời ngôn sứ. Lần đầu tiên, Đức Giêsu dùng dụ ngôn mà nói vì “họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe, không hiểu”, thế là lời ngôn sứ Isaia được hoàn trọn: “Các ngươi thực sự nghe nhưng không bao giờ hiểu, và thực sự thấy nhưng không nhận thức được, vì lòng dân này đã ra đần độn, và tai của họ nghe cách khó khăn, mắt họ nhắm lại” (Mt 13,14-15). Lần này, lời ngôn sứ, thực ra được trích ra từ Thánh Vịnh: “Tôi sẽ mở miệng tôi bằng dụ ngôn, sẽ công bố những điều được ẩn giấu từ lúc tạo thành thế giới” (Mt 13,35; Cf. Tv 78,2). Cách nói “lời ngôn sứ được hoàn trọn” là cách nói đặc trưng của tác giả Mátthêu. Đối với Mátthêu, những gì Đức Giêsu làm đều là nhằm hoàn trọn lời ngôn sứ trong Cựu Ước.

 III. Bình luận tổng quát

 Bài giảng bằng dụ ngôn (Mt 13,1-52) bắt đầu bằng dụ ngôn tổng quát, nói về việc Đức Giêsu gieo lời về Vương Quốc và các loại đất tâm hồn phản ứng với thông điệp mà Người cố gắng truyền tải. Tiếp theo là các dụ ngôn – lời về Vương Quốc – được bắt đầu cùng một mô thức: “Nước Trời giống như …”, mô tả về Nước Trời. Dụ ngôn, được gọi là “lúa và cỏ dại” dường như mô tả hai mặt thực tế của Vương Quốc: (1) Trong vương quốc có những nhóm người đã theo Đức Giêsu và trở thành những Kitô hữu và nhóm còn lại đa phần là người Do Thái; (2) Trong cộng đoàn những người theo Đức Giêsu có những người tốt và người chưa tốt, được định danh là “con cái Vương Quốc” và “con cái của quỷ”. “Chủ nhà”, tức là Đức Giêsu, luôn kiên nhẫn chờ đợi cho đến “thời điểm hoàn tất”. Việc loại trừ “cỏ dại” và “đốt đi” chỉ thật sự xảy ra vào mùa gặt tượng trưng cho cuộc phán xét người lành và kẻ dữ chỉ thực sự xảy ra trong ngày sau hết. Trong ngày đó, những người công chính sẽ chiếu sáng như mặt trời trong Vương Quốc và những người gây cớ vấp phạm và những kẻ làm điều xấu phải lãnh án phạt nặng nề: Bị quăng vào lò lửa, trở thành kẻ khóc lóc và kẻ nghiến răng vĩnh cửu. Khoảng thời gian “cho đến khi” là khoảng thời gian quý báu để những con cái Vương Quốc chứng tỏ căn tính của mình, và có nhiều người hơn nữa trở thành “những người công chính”. Về thực vật học, cây lúa không thể biến thành cỏ dại, cũng như cỏ dại không thể biến thành cây lúa. Tuy nhiên, về mặt nhân học, người xấu có thể trở thành người tốt và ngược lại. Câu nói “không có thánh nhân nào, không có quá khứ và không có tội nhân nào không có tương lai” có thể là một minh họa sống động cho sự thay đổi tích cực của con người. Trong dụ ngôn này, yếu tố thời gian, tượng trưng cho sự kiên nhẫn chờ đợi và hy vọng của chủ nhà cũng như những con cái của Vương Quốc được nhấn mạnh. Ẩn bên trong lòng kiên nhẫn của chủ nhà là lời mời gọi, lắng nghe và hiểu lời Vương Quốc dành cho các thính giả của Đức Giêsu. Dụ ngôn, được gọi là “dụ ngôn hạt cải”, diễn tả thực tế về sự lớn mạnh của hạt giống lời. Sự trái ngược giữa nhỏ nhất và lớn thành cây lớn nhất, làm chỗ nương náu cho chim trời, tượng trưng cho sự lớn mạnh của Giáo Hội thời sơ khai, hạt giống Tin Mừng đã phát triển từ nhóm nhỏ Mười Hai, Bảy Mươi Hai, một trăm hai mươi, ba ngàn, rồi năm ngàn và tiếp tục nhân lên mãi. Tương tự, dụ ngôn, được gọi là “men trong bột”, diễn tả sức mạnh làm biến đổi của “men lời”. Ngược lại với men “Pharisêu và Xađốc”, men lời làm nên những biến đổi tích cực nơi những người nghe, và không ngừng làm cho xã hội được thay đổi tốt hơn. Lối sống của cộng đoàn Kitô hữu sơ khai như là minh chứng sống động cho sự biến đổi của “men Tin Mừng”: “Các tín hữu trung thành với lời dạy của các Tông Đồ, luôn luôn gắn bó với tình hiệp thông, tận tâm với việc bẻ bánh và kiên trì cầu nguyện. Mọi người đều kinh sợ, vì các Tông Đồ làm nhiều điều kỳ diệu và dấu lạ. Tất cả các tín hữu hướng về nhau và sở hữu chung tất cả. Họ không ngừng bán của cải và tài sản, rồi phân chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu. hằng ngày, họ gắn bó với nhau trong đền thờ, bẻ bánh tại tư gia, họ luôn chung bữa ăn với lòng vui tươi và chân thành. Họ ca tụng Thiên Chúa và có được sự thu hút về phía toàn thể dân chúng. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ (Cv 2,42-47; Cf. Cv 4,32-37). Men Tin Mừng đã biến đổi lòng các tín hữu và chất men làm thay đổi lối sống của cộng đoàn khiến cho nhiều người bị thu hút và muốn gia nhập cộng đoàn hơn nữa. Điều quan trọng không thể thiếu trong loạt ba dụ ngôn này là tính ngôn sứ: Tất cả những dụ ngôn Đức Giêsu nói không nhằm ngoài mục đích làm cho những lời ngôn sứ được hoàn trọn. Điều này rất quan trọng đối với những người Do Thái, những người vốn coi trọng Thánh Kinh Cựu Ước, trong đó có các lời ngôn sứ. Đức Giêsu không phải là kẻ ngoại lai Người vẫn giảng những điều liên hệ chặt chẽ với Thánh Kinh, linh hồn của cộng đoàn dân Israel qua các thế hệ. Một điều không thể thiếu nữa là lời cổ vũ: “Ai có tai, hãy để người ấy nghe”. Người gieo, chủ nhà vẫn gieo những hạt giống tốt, có khả năng phát triển mạnh và sinh bông hạt nhiều, nhưng người nghe vẫn có đầy đủ quyền tự quyết. Họ có quyền chọn lựa nghe hoặc không nghe, đón nhận hay không đón nhận “lời về Vương Quốc”. Đức Giêsu chỉ biết làm tốt nhất có thể và luôn mời gọi tất cả mọi người đón nhận những lời ấy, để tất cả có thể trở thành “con cái của Vương Quốc”, và sẽ chiếu sáng như mặt trời trong Nước Trời.

C/ Lm. Inhaxiô Hồ Thông

CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XVI Thường Niên năm A mời gọi chúng ta gẫm suy về lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa.
Kn 12: 13, 16-19
Tác giả sách Khôn Ngoan ca ngợi lòng nhân ái của Thiên Chúa: với lòng nhân ái, Ngài điều hành muôn loài muôn vật. Khi Thiên Chúa trì hoãn sự trừng phạt của Ngài, Ngài muốn cho người tội lỗi một kỳ hạn để mà ăn năn sám hối.
Rm 8: 26-27
Trong đoạn trích thư gởi hữu Rô-ma, thánh Phao-lô cho biết Thiên Chúa thấy tận thâm tâm con người, đồng thời Thánh Thần tác động và can thiệp để giúp đỡ người tín hữu ngỏ hầu Thiên Ý được thực hiện.
Mt 13: 24-43
Trong diễn từ về dụ ngôn theo Tin Mừng Mát-thêu, ông chủ ruộng yêu cầu để cả hai, hạt giống và cỏ lùng, mọc lên cho đến mùa thu hoạch.
BÀI ĐỌC I (Kn 12: 13, 16-19)
Sách Khôn Ngoan là sách muộn thời nhất của bộ Cựu Ước; nó được soạn thảo tại thành phố A-lê xan-ri-a thuộc Ai-cập, vào giữa thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên.
Vào lúc đó, thành phố A-lê-xan-ri-a là cái nôi rực rỡ nhất của nền văn hóa Hy-lạp và cũng là thành phố quan trọng bậc nhất của Kiều bào Do thái vì đa số dân Do-thái định cư ở đây. Tác giả sách Khôn Ngoan, vô danh, viết bằng Hy ngữ, gởi cho đồng đạo của mình, những người này không còn biết tiếng Hy-bá. Tác giả lo lắng khi thấy sức quyến rũ của nền văn hóa Hy-lạp tác động trên những đồng đạo của mình, vì thế ông muốn chứng minh cho họ thấy rằng sự Khôn Ngoan xuất phát từ Thiên Chúa vượt qua tất cả mọi khôn ngoan phàm nhân.
Đoạn trích này là một lời nguyện ngợi khen được ngỏ với Thiên Chúa, Đấng đã điều hành vũ trụ bằng sự công minh chính trực.
1.Thiên Chúa kiên nhẫn khi trừng phạt ác nhân:
Hiền nhân này khẳng định sự công minh chính trực này xuất phát từ sự toàn năng của Ngài, vì không sức mạnh ngoại tại nào khiến Thiên Chúa phải chậm trể vì Ngài làm chủ thời gian. Trước đó, tác giả gợi lên lòng từ ái tột cùng của Thiên Chúa đối với dân Ca-na-an. Tuy là những kẻ thù của dân Ngài, Ngài đã nương tay trừng phạt để chúng có cơ hội hối cải.
2.Con người yếu đuối thường sử dụng bạo lực:
Con người không cư xử như thế. Vì yếu đuối, con người củng cố quyền hành của mình bằng bạo lực. Nó ra tay tiêu diệt những ai chống đối mình. Phải chăng tác giả nghĩ đến một bạo chúa nào đó hay nói một cách chung chung? Một trong phương thức mà ông đắc ý là sự tương phản: tác giả muốn nêu bật sự khác biệt giữa Thiên Chúa và con người.
3.Đức điều độ của Thiên Chúa:
Dù đoạn văn này được gợi hứng từ Kinh Thánh, người ta có thể tự hỏi phải chăng tư tưởng của tác giả bị ảnh hưởng bởi quan niệm thần linh của Hy-lạp. “Đức điều độ là ưu phẩm của các thần linh và giới hạn duy nhất mà họ tự ý đòi buộc cho quyền năng của họ” (Eschyle, Les Eumnides, v. 529-530).
“Và vì Chúa làm bá chủ vạn vật,
nên Chúa nương tay với muôn loài…
Chúa xét xử khoan hồng vì Ngài làm chủ được sức mạnh,
Ngài lấy lượng từ bi cao cả mà cai quản chúng con” (Kn 12: 17-18).
Chúng ta cũng ghi nhận chiều kích hoàn vũ của những diễn ngữ: Thiên Chúa làm bá chủ vạn vật (lập lại đến ba lần); Chúa cai quản “chúng con”, nghĩa là không chỉ dân Do thái, nhưng mọi dân nước. Thiên Chúa Ít-ra-en cũng là Thiên Chúa của mọi dân nước, Lịch Sử Cứu Độ làm chứng điều đó (tác giả dựa rất nhiều trên những chứng từ của Lịch Sử Cứu Độ). Đó là một quan niệm thần học cốt yếu, vả lại nó hòa hợp rất đáng chú ý với những trào lưu tư tưởng của thời đại: vì thế chiều kích hoàn vũ là nốt nhạc chủ đạo của các hệ thống triết học.
4.Lòng nhân ái:
Lời cầu nguyện tiếp tục với lời ngợi khen lòng nhân ái của Đức Chúa:
“Làm như thế Chúa đã dạy dân rằng:
người công chính phải có lòng nhân ái” (12: 19)
Diễn ngữ “lòng nhân ái” rất thịnh hành. Từ này phát xuất từ Hy-ngữ cổ điển, vào thế kỷ thứ năm trước Công Nguyên; vào thời kỳ Hy-lạp hóa, nó đã có một ảnh hưởng lớn lao. Tác giả sách Khôn Ngoan áp dụng cho Thiên Chúa (rất nhiều lần) và làm cho nó một mẫu gương có tầm mức quan trọng: ai muốn là người công chính phải có lòng nhân ái, không chỉ đối với đồng bào mình, như Luật đã truyền, nhưng đối với mọi người. Lòng nhân ái đối với mọi người này chuẩn bị Tin Mừng.
Ước muốn của Ngài là được thấy tội nhân hoán cải, đây cũng là nét đặc trưng của Thiên Chúa Kinh Thánh. Đó là lý do cốt yếu tại sao Thiên Chúa nhẫn nại với tội nhân. Nếu Thiên Chúa trì hoãn trừng phạt, chính vì Ngài cho kẻ tội lỗi một kỳ hạn để mà ăn năn sám hối, đó là lòng nhân ái của Ngài. Chúng ta gần với dụ ngôn cỏ lùng, đừng nhổ ngay, nhưng để nó cứ mọc lên cùng với hạt giống tốt.
BÀI ĐỌC II (Rm 8: 26-27)
Chúng ta tiếp tục đọc thư của thánh Phao-lô gởi tín hữu Rô-ma. Chương 8 này vạch ra những hàng lớn cuộc sống của người Ki-tô hữu theo Thần Khí. Đoạn trích này có liên hệ với lời cầu nguyện. Thánh Phao-lô đã là một nhà cầu nguyện vĩ đại; thánh nhân cầu nguyện luôn, trong mọi lúc, như ngài căn dặn nhiều lần.
Theo Cựu Ước, Thần Khí không là một ngôi vị, nhưng một năng lực thần linh. Theo Tân Ước, Thần Khí vẫn còn là một năng lực thần linh, nhưng đã được xác định: Thần Khí là một trong Ba Ngôi Thiên Chúa; chiều kích năng động của Ngài hoàn toàn nội tại trong chúng ta.
Vốn ưa thích những phản đề theo cách sê-mít, thánh Phao-lô nhấn mạnh sự yếu hèn của chúng ta khi đối diện với năng lực thần linh này. Nhưng ở đây không còn là sự yếu hèn của chúng ta đối diện với thế gian tội lỗi như trong những chương trước, mà cốt là sự yếu hèn của chúng ta đối diện với thế giới thần linh mà chúng ta không biết cầu nguyện như thế nào cho phải.
Thế mà Thánh Thần ở trong chúng ta giúp đỡ chúng ta: như Ngài giúp đỡ chúng ta trong hành động, Ngài giúp đỡ chúng ta trong chiêm niệm khi “cầu thay nguyện giúp cho chúng ta bằng những tiếng rên siết khôn tả”, nghĩa là bằng những ngôn từ mà ngôn ngữ phàm nhân không thể nào diễn tả được. Thánh Phao-lô không nhắm đến ơn nói tiếng lạ hay tiếng thì thầm đặc sủng nào đó: thánh nhân nhắc cho chúng ta nhớ rằng lối vào Thiên Chúa là một mầu nhiệm; chỉ có Thần Khí mới có thể mở lối cho chúng ta vào trong những nhãn giới của Thiên Chúa.
TIN MỪNG (Mt 13: 24-43)
Chúng ta tiếp tục đọc chương 13 của Tin Mừng Mát-thêu: ba dụ ngôn về cỏ lùng, hạt giống và men trong bột gợi lên sự phát triển của Nước Trời.
1.Dụ ngôn cỏ lùng:
Dụ ngôn cỏ lùng là dụ ngôn làm các môn đệ rối trí nhất; đây là dụ ngôn duy nhất mà họ hỏi Đức Giê-su. Quả thật, dụ ngôn này đặt ra một vấn đề nghiêm trọng: cuộc sống chung giữa Cái Thiện và Cái Ác ở giữa lòng công trình tốt đẹp của Thiên Chúa.
Các ngôn sứ đã định vị trong cùng một viễn cảnh kỷ nguyên Mê-si-a và kỷ nguyên Cánh Chung, cả hai được trộn lẫn dưới những từ ngữ “Ngày của Chúa” hay “Ngày Chung Thẩm”. Thánh Gioan Tẩy Giả được nuôi dưỡng bởi niềm hy vọng này: Đấng Mê-si-a sẽ là vị Thẩm Phán, Ngài thực hiện một sự tuyển chọn: “Tay cầm cái nia, Người sẽ rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi” (Mt 3: 12; Lc 9: 52-55). Thế mà Đức Giê-su đã không đến để thu hoạch, nhưng để gieo giống. Chính bằng từ ngữ hạt giống mà Ngài diễn tả sứ mạng của mình.
Dụ ngôn cỏ lùng cho hiểu rằng ông chủ ruộng có một kẻ thù bí nhiệm, hắn hành động lén lút ban đêm như một người có quyền năng giới hạn. Ông chủ không hề xao động; ông bình thản chờ đợi thời vụ; ông biết rằng ông sẽ có lời phán quyết sau cùng. Cỏ lùng sẽ không ngăn được mùa bội thu: công trình của Thiên Chúa sẽ không bao giờ thất bại cả.
Nếu hạt giống và cỏ lùng trộn lẫn với nhau bất khả phân biệt, đó phải là dấu chỉ cho thấy rằng cỏ lùng không chỉ ở trong lòng người vô đạo. Sự biệt phân không hề đơn giản giữa “người tốt” và “kẻ xấu”. Không ai hoàn toàn xấu, cũng như không ai hoàn toàn tốt về mọi mặt cả: xin đừng ai tin rằng cỏ lùng chỉ mọc ở trong cánh đồng của người lân cận!
Thiên Chúa chờ đợi; Ngài chờ đợi mỗi người, tùy theo mức độ của mình, có thể sẽ là những người thợ của giờ sau cùng…Thời gian của Thiên Chúa chưa chấm dứt và những kỳ hạn của Ngài là những kỳ hạn của lòng Chúa xót thương.
2.Dụ ngôn hạt cải:
“Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình”. Hạt cải là một hạt giống nhỏ bé nhất trong các loại giống: từ hạt giống nhỏ bé ấy sinh ra một cây nhỏ với một vóc dáng nào đó. Ấy vậy, Chúa Giê-su miêu tả sự phát triển kỳ diệu: cây nhỏ trở thành một cây lớn đến nỗi chim trời đến làm tổ trên cành được. Sự tăng trưởng Nước Trời rồi cũng sẽ là như vậy đó.
Phóng dụ của Đức Giê-su rõ ràng chứa đựng một ám chỉ Kinh Thánh. Các ngôn sứ đã biểu tượng quyền năng của các đế quốc ngoại giáo (Ai-cập, Át-sua, Ba-by-lon…), bởi hình ảnh của một cây hương bá, thân cao lớn hơn mọi loại cây trong cánh đồng, đâm chồi nẩy lộc ra xum xê, cành lá vươn rộng. Trên cành vững chắc của nó, mọi giống chim trời đến làm tổ, trong vòm lá xum xê của nó, mọi dã thú nầy nở sinh sôi, và dưới bóng mát của nó, vô số dân tộc đến cư ngụ (Ed 31: 1-13).
Ê-dê-ki-en gợi ra tương lai của Giê-ru-sa-lem cũng như vậy. Đức Chúa ngắt búp ngọn cây hương bá đem về trồng trên núi Ít-ra-en; búp này trở thành một cây hương bá tuyệt diệu, nơi ẩn náu của đủ loài chim muôn (Ed 17). Bản văn Ê-dê-ki-en này là một trong những bản văn thiết lập niềm hy vọng về sự thống trị của dân Chúa chọn.
Đức Giê-su cũng rất tinh tế khi lấy lại những hình ảnh tự hào tự phụ này. Một cây cải không thể đánh thức trong tâm trí thính giả của Ngài bất kỳ hậu ý nào về quyền lực trần thế. Một lần nữa, Đức Giê-su bày tỏ chủ nghĩa phi chính trị của sứ điệp Ngài. Vóc dáng biểu tượng của cây cải là một sự so sánh thuộc trật tự tinh thần: vóc dáng này nhấn mạnh sự tương phản giữa khởi đầu bé nhỏ của Nước Trời và sự phát triển rực rỡ của nó.

D/ Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

SỰ KIÊN NHẪN CỦA THIÊN CHÚA

A.DẪN NHẬP

  Tuần vừa qua, chúng ta đã suy niệm về dụ ngôn Lời Chúa, hạt giống Lời Chúa phải được sinh hoa kết quả trong lòng chúng ta. Hôm nay, chúng ta suy niệm về dụ ngôn hạt giống và cỏ lùng. Trong đồng lúa tốt lại có xen cỏ lùng do hạt giống xấu sinh ra, cỏ dại này cùng mọc bên cạnh lúa tốt, cả hai cùng mọc lên xanh tốt.

  Cũng thế, trong trần gian cũng như trong Giáo hội luôn có những người xấu sống bên cạnh những người tốt, cái thiện và cái ác lẫn lộn, và trớ trêu thay, có khi người xấu lại được gặp may mắn hơn cả người tốt. Chúng ta phải có thái độ nào đối với những người xấu? Phải tiêu diệt người xấu đi chăng để chỉ còn lại người tốt?

  Câu trả lời sẽ là: theo gương Chúa, chúng ta phải có thái độ như trong bài Tin mừng hôm nay: hãy bắt chước lòng kiên nhẫn của Chúa. Thiên Chúa cho kẻ lành người dữ sống chung với nhau, cũng như cho cỏ lùng và lúa cùng mọc lên, đến ngày tận thế Thiên Chúa mới phân xử, mới tách biệt chiên ra khỏi dê, người lành khỏi kẻ dữ. Trong khi chờ đợi ngày phân xử, chúng ta hãy yêu thương mọi người, nhất là tạo điều kiện cho những kẻ tội lỗi biết sám hối trở về đường lành, còn việc xét xử thì dành cho Thiên Chúa.

B.TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+Bài đọc 1: Kn 12,13,16-19

  Các chương 10-19 của sách Khôn ngoan chứa đựng những suy tư về cách hành xử của Thiên Chúa qua những biến cố lịch sử. Dân Do thái bị kẻ thù hãm hại đủ điều, họ tưởng rằng Thiên Chúa sẽ dùng sức mạnh, dùng bạo lực để tiêu diệt quân thù của họ, nhưng ngược lại, Ngài hành xử với chúng bằng sự kiên nhẫn và nhân hậu.

  Sự kiện này làm cho dân Do thái hiểu lầm rằng Thiên Chúa quá yếu ớt không thể can thiệp giúp họ. Nhưng câu trả lời cho họ là những kẻ thù ấy cũng là thụ tạo của Chúa, nên cũng được Ngài yêu thương. Ngài có đủ uy quyền phá tan kẻ dữ, nhưng Ngài chỉ dùng sức mạnh ấy đối với những kẻ ngoan cố. Còn đối với những người mà Ngài còn hy vọng họ hoán cải thì Ngài luôn kiên nhẫn chờ đợi cho họ sám hối để được tha thứ.

+Bài đọc 2: Rm 8,26-27

  Thánh Phaolô đề cao vai trò Chúa Thánh Thần trong đời sống Kitô hữu, nhất là trong việc cầu nguyện. Vì chúng ta yếu đuối, không biết cầu nguyện thế nào cho xứng hợp với ý Chúa, nên Chúa Thánh Thần sẽ ở trong chúng ta, Ngài giúp chúng ta cầu nguyện thế nào cho xứng hợp. Ngài sẽ dạy chúng ta cầu nguyện thế nào cho có hiệu quả bằng những “tiếng than khôn tả” như lời thánh Phaolô đã nói.

+Bài Tin mừng: Mt 13,24-43

  Chúa Giêsu hay dùng dụ ngôn để nói đến từng khía cạnh của Nước trời. Trong bài Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu đưa ra ba dụ ngôn để ta suy gẫm, đó là dụ ngôn hạt giống và cỏ lùng, dụ ngôn hạt cải và dụ ngôn men bánh.

  Dụ ngôn cỏ lùng giải thích cho chúng ta lý do tại sao lại có sự thiện và sự ác trên trần gian, tại sao trong Hội thánh lại có người lành kẻ dữ? Và tại sao Thiên Chúa lại để cho người dữ sống chung với người lành mà không tiêu diệt nó đi.

  Hai dụ ngôn hạt cải và men bánh nói lên sự tăng triển của Nước trời. Nước trời hay Hội thánh chỉ là cộng đoàn nhỏ, nhưng sẽ phát triển mạnh trong âm thầm và trong những hoàn cảnh khó khăn, như những cuộc cấm cách, bách hại đạo.

  Qua những dụ ngôn này, chúng ta có thể rút ra được một kết luận để cảnh giác chúng ta: đừng có ảo tưởng là có thể có một Hội thánh hoàn hảo ở trên trần gian này, trong đó chỉ còn có toàn những người thánh thiện. Trái lại, kẻ lành người dữ sống chung với nhau. Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi cho kẻ dữ biết ăn năn sám hối để được tha thứ.

C.THỰC HÀNH LỜI CHÚA: 

CHÚA KIÊN NHẪN CHỜ ĐỢI

I.DỤ NGÔN CỎ LÙNG

1.Ý nghĩa dụ ngôn

  Dụ ngôn này cho biết trong các công việc của Nước Thiên Chúa, vẫn có xen lẫn những công việc của ma quỉ, mà trong giai đoạn sống ở trần gian, người ta không thể nào triệt bỏ hết được, chỉ đến ngày tận thế sự phân định mới rõ ràng. Vì thế, dụ ngôn cỏ lùng có mục đích diễn tả lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa, Ngài chấp nhận tốt xấu pha trộn, đợi đến ngày cuối cùng Chúa mới lấy quyền phân xử.

2.Lúa và cỏ lùng

  Những hình ảnh trong dụ ngôn này rất rõ ràng và quen thuộc với người Palestine. Cỏ lùng là một thứ cỏ dại mà nhà nông phải diệt trừ. Lúc còn nhỏ, cây cỏ lùng giống như cây lúa mì nên khó phân biệt hai thứ, cho đến khi cả hai đâm bông thì có thể nhận ra cách dễ dàng, nhưng lúc đó rễ cỏ lùng và rễ lúa đã mọc quyện vào nhau, đến nỗi hễ nhổ cỏ lùng thì lúa cũng dễ dàng bị trốc theo.

  Lúa và cỏ lùng không thể tách riêng ra một cách an toàn khi cả hai đang phát triển, nhưng cuối cùng chúng phải được tách riêng ra. Cần phải tách riêng chúng ra bởi vì (khác với cỏ lồng vực bên chúng ta) hạt cỏ lùng rất độc, nó gây chóng mặt, đau ốm và hôn mê. Một số lượng nhỏ của nó cũng có thể gây vị đắng khó chịu. Rốt cuộc người ta thường tách riêng nó ra bằng tay.

  Ông Levison mô tả diễn tiến như sau: người ta thuê đàn bà lượm hạt cỏ lùng trong lúa trước khi đem đi xay. Theo nguyên tắc thì người ta tách cỏ lùng với lúa mì sau khi đập xong. Người ta bầy hạt lên trên một cái nia to và các bà có thể lựa ra những hạt cỏ lùng có kích thước và hình dáng y như hạt lúa mì nhưng có màu xám nhạt.

3.Người tốt và người xấu

  Ánh sáng và bóng tối trong thế giới ta đang sống, thiện và ác trong lòng mọi người, đó là cánh đồng lúa mì mà trong đó cỏ lùng mọc lẫn lộn bên cạnh cây lúa tốt. Còn đối với con người, xấu tốt ở xen lẫn với nhau, vàng thau lẫn lộn, không phân biệt được tốt xấu, hoặc đôi khi đánh giá lầm mà coi người tốt ra người xấu, hoặc người xấu ra người tốt.

  Trong Hội thánh và nơi mỗi người có một sự pha trộn thánh thiện và tội lỗi, thiện và ác đó là điều không tránh được. Hội thánh là thánh thiện tự bản chất, nhưng Hội thánh cũng có những con người yếu đuối và tội lỗi, và chúng ta, mặc dầu đã nhận nhiều ân sủng qua phép Rửa tội cũng có khuynh hướng phạm tội. Thánh Phaolô đã nói: “Tôi không làm được điều thiện mà tôi muốn, mà điều ác tôi không muốn, tôi lại làm” (Rm 7,19).

II.THIÊN CHÚA KIÊN NHẪN CHỜ ĐỢI

1.Cách hành xử của con người

  Chúng ta là những con người bất toàn nhưng lại muốn tiêu diệt những kẻ bất toàn, vì chúng ta mang một thái độ bất bao dung. Chúng ta cảm thấy khó chịu tại sao trong Hội thánh lại có những kẻ xấu, những kẻ bách hại Hội thánh, gây đau khổ cho nhiều người mà họ cứ sống nhởn nhơ con cá vàng, đôi lúc lại còn may mắn hơn người chịu đau khổ? Chúng ta thường có thái độ như những đầy tớ của ông chủ trong

Tin mừng: “Vậy ông có muốn chúng tôi nhổ cỏ đi không?”

  Đây là thái độ chung của mọi tín hữu chúng ta. Đó cũng là phản ứng của thánh Gioan Tẩy giả, người đã vẽ nên bức tranh gây ấn tượng về việc Đấng Messia sắp đến: “Tay Người cầm nia. Người rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi” (Mt 3,12). Hụt hẫng vì không thấy cách xét xử của Chúa diễn ra y như mình đã loan báo, nên từ trong ngục tù, Ngài sai hai môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu rằng: “Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?”

  Đó là phản ứng ngỡ ngàng của tất cả những ai đã nghe lời Đức Giêsu loan báo: “Nước trời đã đến gần”, thế mà họ lại chẳng thấy có gì được phác hoạ giống như sự xét xử vẫn trông đợi khi Nước này tới (Fiches dominicales, năm A, tr 230).

2.Cách hành xử của Thiên Chúa

  Phản ứng tự nhiên của con người là muốn tiêu diệt ngay cái xấu, diệt cả con người xấu. Nhưng Thiên Chúa lại có một lối hành xử khác với con người. Theo Tin mừng, đáp lại lời hỏi của đầy tớ, ông chủ nói: “Đừng, cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt… sợ rằng khi nhổ cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa”.

  Từ mùa gieo – hình ảnh Nước Thiên Chúa đến – đến mùa gặt kèm theo việc đập lúa – hình ảnh việc xét xử – có một khoảng thời gian: Lúc này đang là thời kỳ lúa lớn lên là thời gian nhẫn nại của Thiên Chúa: nếu Thiên Chúa gớm ghét sự ác, thì Người vẫn cứ phải yêu thương con người – kẻ tội lỗi cũng như người công chính – và Người biết rõ tiềm năng lạ lùng của Lời trong lòng họ. Ngày thu hoạch mùa và lựa lọc sẽ đến vào giờ của Người; ngày đó không thể dự đoán trước. Ông chủ nói với các đầy tớ ông rằng: “Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy nhặt cỏ lùng trước đã, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi” (Fiches dominicales, năm A, tr 231).

  Trong Thánh vịnh chúng ta thấy có câu: “Chúa chậm bất bình và giàu lòng khoan dung”. Chúa kiên nhẫn đợi chờ con người sám hối. Cỏ lùng thì không có cách nào thay đổi được chỉ chờ đến ngày là thu hoạch cho vào lửa; còn con người thì khác, con người có thể cải tà qui chính, có thể từ một thằng quỉ biến thành một vị thánh. Trong lịch sử Giáo hội, có biết bao “cỏ lùng”, nhờ ơn Chúa, đã trở nên hạt lúa tốt: những Augustinô, những Charles de Foucauld, những Ève Lavallière là những chứng tích sáng chói.

Truyện: Cải tà qui chính

  Piri Thomas có viết một tác phẩm nhan đề: Hãy xuống những con đường tồi tàn này”. Tác phẩm thuật lại việc ông cải tà qui chính từ một người bị kết án tù vì nghiện ma tuý và cố tình giết người, cuối cùng đã sám hối để trở thành một tín hữu Kitô gương mẫu.

  Một đêm kia, Piri đang nằm trong phòng giam chuẩn bị ngủ. Đột nhiên, anh nghĩ tới tình trạng tệ hại xấu xa mà anh đã gây ra trong đời mình. Anh cảm thấy có một ước muốn mãnh liệt cần phải cầu nguyện. Nhưng anh đang nằm chung với một tù nhân khác tên là Chicô. Nên anh phải đợi cho Chicô ngủ đã, anh mới quì gối trên sàn nhà và cầu nguyện. Anh kể lại rằng: “Tôi bày tỏ với Chúa những gì có trong trái tim tôi… Tôi nói với Ngài những điều tôi muốn, những thiếu thốn của tôi, những hy vọng và thất vọng… Tôi cảm thấy dường như có thể khóc được… đó là một điều mà bao nhiêu năm nay tôi không thể làm được”.

  Sau khi Piri vừa cầu nguyện xong, một tiếng nói đáp lại: “Amen”. Đó là tiếng của Chicô. Rồi Chicô nói nhỏ với Piri: “Tôi cũng tin Chúa”. Thế là hai người bạn tù dốc cạn quá khứ tội lỗi xấu xa và cùng chia sẻ quyết tâm sám hối trở về. Không biết họ đã tâm sự với nhau bao lâu, nhưng trước khi đi ngủ lại, Piri đã nói: “Chúc Chicô ngủ ngon nhé! Tôi nghĩ rằng Thiên Chúa luôn luôn ở với chúng ta, chỉ có chúng ta là không ở với Ngài thôi”.

III.THÁI ĐỘ CỦA CHÚNG TA

1.Tích cực hay tiêu cực

  Đứng trước tình trạng như thế trong trần gian và trong Giáo hội, chúng ta phải có thái độ nào? Chỉ có hai thái độ: hoặc là tiêu cực, hoặc là tích cực. Nếu có thái độ tiêu cực thì cho thế gian này là đồ bỏ đi, một thế giới hư hỏng đầy tội lỗi, cứ để cho nó qua đi. Thái độ tiêu cực này làm cho chúng ta tuyệt vọng, không còn tin vào cái gì nữa, chỉ còn biết ngồi mà rủa bóng tối. Chắc chắn Chúa không cho chúng ta có thái độ tiêu cực này.

  Chúng ta phải có thái độ tích cực. Thái độ này giúp chúng ta hãy hướng lòng lên, không ngồi đấy mà nguyền rủa bóng tối, mà chấp nhận nó, đồng thời cố gắng đốt lên một ngọn nến. Trong bài giảng trên núi, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Các con là ánh sáng cho thế gian, không ai đốt đèn rồi đặt dưới đáy thùng, ngược lại người ấy sẽ đặt trên giá đèn để soi sáng cho mọi người trong nhà. Ánh sáng các con cũng phải tỏa sáng trước thiên hạ như thế” (Mt 5,14-16).

  Nhưng một cách thực tế, làm sao chúng ta có thể thắp lên một ngọn nến giữa đêm đen tối tăm của thế giới hôm nay? Trước hết, chúng ta có thể cầu nguyện. Một thi sĩ đã nói: “Lời cầu nguyện mang lại nhiều điều hơn những điều thế giới dám mơ ước”. Thứ đến và tích cực hơn, chúng ta có thể xắn tay áo lên làm một điều gì đó chống lại sự ác trong thế giới chúng ta.

2.Tấm lòng khoan dung

  Chúa để người lành kẻ dữ sống chung với nhau là để gây ích lợi cho nhau như lời thánh Augustinô đã nói: “Kẻ dữ người lành đều là con cái Chúa, được Chúa thương yêu tất cả, chúng ta cũng phải thương yêu nhau và phải có thái độ khoan dung”.

  Có lần Liên Hợp Quốc đã chọn nguyên một năm làm “Năm quốc tế về lòng khoan dung”, để giảm thiểu khuynh hướng bất bao dung ngày càng gia tăng trong nhân loại. Bao dung là nhân từ, kiên nhẫn chịu đựng những điều xấu của người khác để dần dần tìm cách hoán cải họ.

3.Kiên nhẫn chịu đựng

  Sự kiên nhẫn mà Chúa khuyên chúng ta phải có là phản ảnh sự kiên nhẫn của Thiên Chúa. Đây không phải là sự cam chịu vô ích là đè nén cơn giận và cay cú thất vọng. Sự kiên nhẫn phải có là sự bình thản đợi chờ để kẻ tội lỗi có cơ may quay trở lại.

  Chúa ghét tội nhưng lại yêu tội nhân, vì họ còn có thể thống hối để được tha thứ (Rm 2,4). Nếu Chúa không kiên nhẫn với ta, ta sẽ thế nào? Ta có cần kiên nhẫn với người gây phiền hà cho ta không? Nhưng nên nhớ rằng Chúa kiên nhẫn chịu đựng là để giải thoát chứ không phải để dung túng.

Truyện: Giai thoại về thánh Antôn

  Một hôm thánh nhân nghe tin một người thợ giày tiến bộ hơn Ngài về đường nhân đức. Lòng hăm hở tiến đức đã thúc đẩy Ngài quyết chí đi tìm người thợ giầy kia để học hỏi cách tu đức của người ấy.

  Sau những ngày cố công tìm tòi, Ngài đã gặp được người thợ giày kia. Thoạt thấy công việc của người thợ giày, thánh nhân hơi nản lòng, vì thấy sinh hoạt duy nhất của người này là đóng giày. Nhưng để cho bõ công đi tìm kiếm, thánh nhân đã trao đổi với người thợ giầy kia về lối sống tu đức.

  Thánh nhân hỏi người thợ giày về chương trình sống hằng ngày của người thợ ấy. Người này cho biết một ngày của ông được chia ra làm ba phần như sau:

          – 8 giờ cho công việc của người thợ giày.

          – 8 giờ cho việc cầu nguyện.

          – 8 giờ cho việc ăn uống nghỉ ngơi.

  Sau khi nghe người thợ giày nói, thánh nhân nản lòng, vì chính Ngài đã dành cho hết cả ngày để cầu nguyện chứ không phải chỉ tám tiếng.

  Thánh nhân hỏi cách sử dụng tiền của ông ta. Người này cho biết 1/3 dành cho ông, 1/3 dành cho Giáo hội, 1/3 dành cho người nghèo.

  Nghe vậy thánh nhân cho rằng người thợ giày này không thể nhân đức hơn Ngài được, vì Ngài đã dành tất cả của cải của Ngài cho người nghèo chứ không phải chỉ 1/3.

  Cuối cùng thánh nhân khám phá ra người thợ giày phải sống giữa một thành phố sa đoạ, chung quanh đầy những người tội lỗi và gương xấu, và ông thợ giày đau khổ về chuyện đó, ông không ngớt kêu cầu cùng Chúa cho họ, và ông hằng cầu nguyện cho kẻ có tội chung quanh ông. Và thánh nhân chợt nhận ra rằng đó là điều mà Ngài thua kém người thợ giày. Ngài thấy rằng Ngài chưa có được sự thao thức về những nỗi khổ đau của những người chung quanh, trái lại, Ngài lại đi tìm cho một mình một cuộc sống an phận với nếp sống ẩn tu (Cử hành phụng vụ Chúa nhật, năm A, tr 67-68).

  Các bài đọc hôm nay dạy chúng ta rằng: luôn luôn có một thế lực thù địch ở trong thế gian, tìm kiếm và chờ đợi để phá huỷ hạt giống tốt. Kinh nghiệm đời sống chúng ta có hai loại ảnh hưởng và cùng tác động trên đời sống chúng ta: ảnh hưởng giúp cho hạt giống Lời Chúa được nảy nở tăng trưởng và ảnh hưởng tìm huỷ hoại hạt giống tốt, trước khi nó có thể đâm bông kết trái. Đó là bài học nhắc nhở chúng ta phải luôn đề cao cảnh giác.

  Không có vinh quang nào mà không phải trải qua đau thương, không có vinh dự nào mà không đòi hỏi phải chiến đấu. Bởi đó, khi sống trong trần gian đối diện với cái ác, chúng ta không run sợ đầu hàng, hoặc thất vọng nản chí, nhưng hãy kiên tâm chiến đấu để luôn đứng vững trong hàng ngũ con cái Chúa, rồi chắc chắn Chúa sẽ đội mũ triều thiên cho ta. Trong khi chiến đấu với cái ác, chúng ta cũng phải luôn có cái nhìn bao dung với những người tội lỗi, phải có lòng quảng đại, biết cảm thông, và luôn giúp họ tìm dịp trở về. Có như thế chúng ta mới thực sự là những Kitô hữu hoàn thiện như người thợ đóng giày trong câu chuyện trên.