
“Đây là Con Ta yêu dấu”.
Bài Đọc I: Đn 7, 9-10. 13-14
“Áo Người trắng như tuyết”.
Trích sách Tiên tri Đaniel.
Tôi ngắm nhìn cho đến khi đặt ngai toà xong, và một vị Bô Lão ngự trên ngai: áo Người trắng như tuyết, tóc trên đầu Người như những ngọn lửa, các bánh xe như lửa cháy. Một con sông lửa chảy lan tràn trước mặt Người. Hằng ngàn kẻ phụng sự Người, và muôn vàn kẻ chầu chực Người. Người ngự toà xét xử, và các quyển sách đều mở ra.
Trong một thị kiến ban đêm, tôi đã ngắm nhìn, và đây tôi thấy như Con Người đến trong đám mây trên trời. Ngài tiến đến vị Bô Lão, và người ta dẫn Ngài đến trước mặt vị Bô Lão. Vị này ban cho Ngài quyền năng, vinh dự và vương quốc: Tất cả các dân tộc, chi họ, và tiếng nói đều phụng sự Ngài: quyền năng của Ngài là quyền năng vĩnh cửu, không khi nào bị cất mất: vương quốc của Ngài không khi nào bị phá huỷ.
Đáp Ca: Tv 96, 1-2. 5-6. 9
Đáp: Chúa hiển trị, Chúa là Đấng tối cao trên toàn cõi đất (c. 1a và 9a).
Xướng: Chúa hiển trị, địa cầu hãy hân hoan; hải đảo muôn ngàn, hãy mừng vui. Mây khói và sương mù bao toả chung quanh; công minh chính trực là nền kê ngai báu.
Xướng: Núi non vỡ lở như mẩu sáp ong trước thiên nhan, trước thiên nhan Chúa tể toàn cõi trái đất. Trời xanh loan truyền sự công minh Chúa, và chư dân được thấy vinh hiển của Người.
Xướng: Lạy Chúa, vì Ngài là Đấng tối cao trên toàn cõi đất, Ngài rất đỗi siêu phàm giữa muôn chúa tể.
Bài Đọc II: 2 Pr 1, 16-19
“Chúng tôi đã nghe tiếng ấy từ trời phán xuống”.
Trích thư thứ hai của Thánh Phêrô Tông đồ.
Anh em thân mến, chúng tôi không theo những truyện bày đặt khôn khéo, để tỏ ra cho anh em biết quyền năng và sự hiện diện của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta; nhưng chúng tôi đã được chứng kiến nhãn tiền sự uy nghi của Người. Người đã được Chúa Cha ban cho vinh dự và vinh quang, khi có lời từ sự vinh quang cao cả xuống phán về Người rằng: “Này là Con Ta yêu dấu, Người đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người”. Chúng tôi đã nghe tiếng ấy từ trời phán xuống, lúc chúng tôi ở với Người trên núi thánh. Và chúng tôi có lời nói chắc chắn hơn nữa là lời nói tiên tri: anh em nên nghe theo lời đó, nó như ngọn đèn sáng soi trong nơi u tối, cho đến khi rạng đông và sao mai mọc lên trong lòng anh em.
Tin Mừng: Mt 17, 1-9
“Mặt Người chiếu sáng như mặt trời”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu đã gọi Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông này, và Người đưa các ông tới chỗ riêng biệt trên núi cao. Người biến hình trước mặt các ông: mặt Người chiếu sáng như mặt trời, áo Người trở nên trắng như tuyết. Và đây Môsê và Êlia hiện ra, và đàm đạo với Người. Bấy giờ ông Phêrô lên tiếng, thưa Chúa Giêsu rằng: “Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm. Nếu Thầy ưng, chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia”. Lúc ông còn đang nói, thì có một đám mây sáng bao phủ các Ngài, và có tiếng từ trong đám mây phán rằng: “Ðây là Con Ta yêu dấu rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người”. Nghe thấy vậy, các môn đệ ngã sấp xuống, và hết sức sợ hãi. Bấy giờ Chúa Giêsu đến gần, động đến các ông và bảo: “Các con hãy đứng dậy, đừng sợ”. Ngước mắt lên, các ông thấy chẳng còn ai, trừ ra một mình Chúa Giêsu. Và trong lúc từ trên núi đi xuống, Chúa Giêsu đã ra lệnh cho các ông rằng: “Các con không được nói với ai về việc đã thấy, cho tới khi Con Người từ cõi chết sống lại”.
SUY NIỆM
A/ 5 Phút Lời Chúa
BIẾN ĐỔI ĐỜI CON, CHÚA ƠI!
Rồi người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. (Mt 17,2)
Suy niệm: Đức Giêsu hiển dung “biến đổi hình dạng” trước mặt ba môn đệ thân tín không phải để ‘khoe’ vinh quang của Ngài mà để tỏ cho họ biết Ngài thật là Con Thiên Chúa như lời Chúa Cha xác nhận: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người”. Nhờ biết căn tính thần linh của Ngài, các môn đệ được củng cố niềm tin để cùng Ngài bước vào cuộc thương khó khốc liệt, khi Ngài sẽ phải chịu đau khổ chịu chết trước khi phục sinh vinh hiển.
Thật diễm phúc khi được thấy Chúa Giêsu tỏ mình ra như thế. Gioan, một trong ba vị tông đồ chứng kiến cuộc hiển dung, đã bày tỏ trong thư của ngài rằng: Đức Kitô thế nào thì Ngài sẽ tỏ cho ta thấy như thế, và chúng ta được thấy Ngài thế nào, thì cũng được biến đổi giống Ngài như vậy (x. 1Ga 3,2).
Mời Bạn: Mỗi khi suy niệm Lời Chúa, bạn được soi sáng để ‘thấy’ Chúa nhiều hơn và được thanh luyện để trở nên giống Ngài hơn. Và nếu bạn lại được diễm phúc rước Thánh Thể vào lòng, bạn càng có cơ hội ‘biết’ Ngài nhiều hơn nữa và càng được biến đổi nên “đồng hình đồng dạng” được “nên một với Ngài” (x. Pl 3,10; Ga 17,11tt). Mời bạn nỗ lực cộng tác với ơn Chúa để thanh luyện mình để ngày càng trở nên “hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (x. Mt 5,48)
Sống Lời Chúa: Thường xuyên suy niệm nhìn ngắm Chúa Kitô chịu đóng đinh và xin ơn bắt chước Chúa.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin biến đổi đời con Chúa ơi, để con ngày càng trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa. Xin dạy con nhớ rằng phải cùng vác thập giá mình đi theo Chúa mới được cùng Chúa phục sinh vinh quang. Amen.
B/ Lm. Phaolô Phạm Công Phương
Trong các câu chuyện cổ tích, người ta vẫn hay tạo ra những nhân vật có phép thần thông biến hóa, như Tôn Ngộ Không chẳng hạn. Song, cuộc biến hình của Đức Giêsu không phải là ảo thuật hay chuyện hoang đường. Đức Giêsu là một ‘Thiên Chúa làm Người’, một Thiên Chúa đầy quyền năng nhưng lại ẩn dấu thiên tính cao sang trong dáng dấp của một người phàm thấp kém. Sự biến hình tỏ lộ thiên tính của Đức Giêsu chỉ như một tiếp sức cho các môn đệ trên đường theo Chúa đến cùng.
Trước hết, biến hình là quy luật của thời gian.
Theo thời gian, hầu như mọi thứ đều biến đổi. Người trẻ hóa già, người đẹp hóa xấu, hoa tươi hóa héo, lá xanh hóa vàng… Đá tưởng chừng vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, nhưng không thể, vì đá cũng bị xói mòn và theo thời gian có đá già đá non. Ngay cả tình cảm của con người cũng có thể bị biến đổi vì xa mặt cách lòng, vì tình đời thay trắng đổi đen.
Cuộc sống của con người và vũ trụ vạn vật là một sự biến đổi liên lỉ. Có những biến đổi tích cực nhưng cũng có những biến đổi tiêu cực. Những biến đổi tích cực là khi con người hay sự vật chuyển từ một tình trạng xấu sang một tình trạng tốt hơn do nỗ lực của chính bản thân con người hay do trợ lực từ bên ngoài. Cuộc biến đổi tích cực nào cũng đòi buộc con người phải hy sinh, phải cộng tác vào phần của mình một cách chủ động vào trong đó.
Thứ đến, biến hình như một dấu hiệu củng cố đức tin.
Các môn đệ đang trong tâm trạng hoang mang về những lời đồn đãi không hay về số mệnh của Thầy mình. Nào là Ngài phải lên Giêrusalem nộp mình, rồi bị giết. Thật là kinh khủng đối với các môn đệ vì nó làm tiêu tan hết mọi mộng ước về một Đấng cứu thế mà bấy lâu các ông đang theo phò. Phêrô đã phải lên tiếng cản ngăn nhưng đã bị quở trách thẳng thừng. Trong bối cảnh hoang mang, tiến thoái lưỡng nan của các môn đệ, việc Chúa biến hình như một dấu hiệu củng cố đức tin của các môn đệ trên con đường thập giá đến phục sinh.
Tuy nhiên, các tông đồ khi chứng kiến cuộc biến hình của Chúa Giêsu đã không hiểu được điều đó. Các ông chỉ muốn chọn dựng lều trên núi sáng láng là nơi ở của các thần linh, nơi chỉ có vinh quang chói lọi không nhuốm khổ đau. Trốn khổ tìm sướng vẫn là cái thường tình của con người. Song Đức Giêsu lại muốn các ông xuống núi, nơi ở của con người, nơi lẫn lộn khổ đau, tội lỗi, chết chóc và cả ma quỷ nữa. Các ông đâu hiểu rằng theo Chúa Giêsu không phải là lên cao hưởng thụ, nhưng là xuống núi vác thập giá mình lên đồi Canvê. Như vậy, biến hình chỉ là một thoáng thiên đàng trước phục sinh để khích lệ tất cả những ai đang phải vác thập giá mình theo Chúa.
Cuối cùng, con đường biến hình mỗi ngày của chúng ta.
Khuynh hướng tự nhiên của con người là ưa thích và ưa tìm sự dễ dãi vì nó dễ dàng và dễ chịu. Phêrô trong bài Tin Mừng hôm nay đã bộc lộ khuynh hướng ấy khi ông thỉnh cầu: Nếu Thầy muốn, con xin dựng 3 lều. Cũng may là ông đã nói phòng hờ: “Nếu Thầy muốn”, và cũng rất may, Chúa Giêsu chẳng muốn chiều theo sự dễ dãi ấy trên con đường cứu độ. Không phải sự dễ dãi là một điều xấu, song nó có một nguy cơ giằng dai làm suy thoái và tê liệt tinh thần phấn đấu của chúng ta. Không thể chấp nhận một đường lối cứu thế “quá dễ và quá đã” theo kiểu quảng cáo.
Chúng ta vừa phải mang vác thập giá mình, vừa phải bước đi, và không bước được thì cũng mà cố lết đi. Đúng là con đường một chiều đầy nghiệt ngã cho những ai muốn đạt đến nguồn phục sinh vinh hiển. Nhưng là người, ai cũng ham sướng sợ khổ, tham sinh úy tử, thấy gian nan thì chuồn, thấy vất vả thì tháo lui, nhưng thử hỏi: .Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ về phần ai ! Mỗi người phải sống hết mình, sống vì mọi người, như một đời người một rừng cây. Đã là rừng cây thì phải sống nương tựa nhau, phải biết dâng hiến cho nhau. Dù ai nói ngả nói nghiêng thì chân lý vẫn thuộc về những ai sống có ích cho đời.
Đường thập giá là đường thương khó và là đường khó thương nhất. Bởi niềm tin vào Chúa Kitô phục sinh và sự sống đời sau không miễn giảm cho người tín hữu khỏi nỗi xao xuyến lo âu. Đức tin ấy chẳng phải là thuốc an thần hay thuốc giảm đau, song nó cứ làm cho con người khựng lại trước niềm đau cái chết của mình hay của người thân.
Hai đỉnh núi Tabor – nơi Chúa biến hình – và Canvê -nơi Chúa chịu chết – cách nhau không xa về địa lý, nhưng lại là đường dài vạn dặm khổ đau. Chỉ có tình yêu mới có thể rút ngắn con đường từ thập giá đến vinh quang này. Xin cho chúng ta luôn biết cùng vác thập giá với Chúa Kitô để cùng sống lại với Người trong vinh quang.
C/ Lm. Phaolô Vũ Đức Vượng
Hôm ấy Đức Giêsu đem các môn đệ Phêrô, Giacôbê, Gioan theo mình lên một ngọn núi cao. Núi cao thường được coi là nơi gặp gỡ giữa đất với trời. Đức Giêsu dường như mê những ngọn núi cao, vì đó là nơi Ngài gặp gỡ với Cha Ngài. Có nhiều ngọn núi cao trong cuộc đời của Chúa Giêsu: Núi Bát phúc, nơi Chúa Giêsu giảng về Tám mối phúc thật. Núi Tabor, nơi Chúa biến hình. Núi Cây dầu nơi Chúa hấp hối. Núi Sọ nơi Chúa tử nạn. Những ngọn núi đã trở thành những cột mốc đánh dấu những giai đoạn quan trọng trong cuộc đời Chúa Giêsu.
Hôm nay trên một ngọn núi cao, với sự kết hiệp mật thiết với Chúa Cha, chìm đắm trong cầu nguyện thì Ngài được Chúa Cha biến hình. Chính việc tiếp xúc với Thiên Chúa thì được vinh quang của Thiên Chúa lan tỏa sang khiến Chúa Giêsu được biến hình nên sáng láng. Chẳng ai gặp Thiên Chúa, kết hiệp mật thiết với Chúa mà lại không được biến hình. Đời sống kết hiệp mật thiết với Chúa sẽ làm cho đời sống người Kitô hữu tỏa sáng, toả sáng không phải để làm người ta chói mắt, nhưng để những người khác cũng thấy được sự tốt lành toả ra trong cách sống của mình.
Trong cuộc sống người tín hữu, lên núi chính là những giây phút dành cho việc cầu nguyện, tiếp xúc thân mật với Chúa. Cần phải dành những giây phút lên núi với Chúa: Núi của Thánh Lễ, núi của cầu nguyện, núi của sám hối, núi của những dịp tĩnh tâm. Đó là những giây phút lên núi để gặp gỡ Chúa, để lắng nghe, để chiêm niệm, để biến đổi bản thân mình.
Kỷ niệm ngọt ngào trong những giờ sống hạnh phúc bên Chúa sẽ là sức mạnh nâng đỡ chúng ta trong những thách đố của đời sống. Núi Thánh sẽ trở thành quê hương yêu dấu để tâm hồn ta luôn hướng về, dù còn phải vượt qua rất nhiều trở ngại cách ngăn. Nhà thờ này chính là ngọn núi cao, chúng ta đến đây để được tiếp xúc với Chúa để rồi khi ra về, cuộc sống chúng ta cũng phải được biến hình, biến hình mỗi ngày một ít để rồi đến một ngày kia chúng ta cũng phải được biến hình nên sáng láng hoàn toàn như Đức Kitô hôm nay.
B/ Lm. Inhaxio Hồ Thông
Vào Chúa Nhật hôm nay, toàn thể Giáo Hội tưởng niệm cách đặc biệt biến cố Biến Hình của Đức Giê-su. Trong công trình cứu độ loài người, ba biến cố: Biến Hình, Tử Nạn và Phục Sinh tạo thành một bức tranh bộ ba không thể tách rời nhau. Đấng đã cho các môn đệ chiêm ngưỡng vinh quang thần linh của Ngài trong biến cố Biến Hình, cũng là Đấng cho các môn đệ hiểu thấu nỗi xao xuyến tận mức của một phàm nhân trước viễn cảnh khổ nạn của Ngài trong vườn Ô-liu, đó cũng là Đấng đã chết như một phàm nhân và sống lại như một Thiên Chúa trong biến cố Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài. Vì thế, Đức Giê-su, thật sự là một con người và thật sự là một Thiên Chúa mới là Đấng Cứu Độ duy nhất của chúng ta.
Đn 7: 9-10, 13-14
Bài Đọc I, trích từ sách Đa-ni-en, nhắc nhớ một thị kiến trong đó ngôn sứ Đa-ni-en mô tả một nhân vật thuộc thiên giới với tước hiệu “Con Người” đến trên mây trời để đón nhận vương quyền.
2Pr 1: 16-19
Bài Đọc II, trích từ thư thứ hai của thánh Phê-rô, trong đó thánh Tông Đồ Phê-rô nhắc lại rằng chính thánh nhân được tham dự vào biến cố Biến Hình và được chiêm ngưỡng vinh quang chói ngời của Đức Giê-su.
Mt 17: 1-9
Tin Mừng hôm nay tường thuật biến cố Biến Hình của Đức Giê-su theo Tin Mừng thánh Mát-thêu.
BÀI ĐỌC I (Đn 7: 9-10, 13-14)
Bản văn Đa-ni-en này chiếm lấy một vị thế rất quan trọng trong Tân Ước. Đức Giê-su nhiều lần quy chiếu đến và Ngài đã mượn ở nơi bản văn này tước hiệu “Con Người” để ẩn dấu mầu nhiệm con người của Ngài.
Sách Đa-ni-en được soạn thảo vào thế kỷ II tCn bởi một tác giả vô danh, ông tự xóa mình trước nhân vật chính của tác phẩm, tức là ngôn sứ Đa-ni-en, vị ngôn sứ sống vào thời lưu đày. Tác phẩm khai mạc văn thể khải huyền, nghĩa là “vén mở” những bí nhiệm ẩn kín. Vài bản văn của Ê-dê-ki-en, Giô-en và Da-ca-ri-a đã chuẩn bị cho văn thể này. Nguồn linh hứng của vị ngôn sứ được diễn tả qua những thị kiến, những giấc mơ, những ẩn dụ, những hình ảnh thần thoại mặc lấy những ý nghĩa mới.
Sứ điệp chan chứa niềm hy vọng:
Sứ điệp mà tác giả muốn chuyển giao là sứ điệp chan chứa niềm hy vọng. Đây là giờ phút nghiêm trọng, thời gian bách hại do vua Xy-ri là An-ti-ô-khô IV Ê-pi-phan-ni (175-164 tCn) phát động, ông muốn áp đặt trên dân Do thái những cúng tế ngoại giáo và dâng hiến Đền Thờ Giê-ru-sa-lem cho thần Zớt. Nhà Ma-ca-bê đã tổ chức cuộc phản kháng. Máu đã đổ; kỷ nguyên của những người tử vì đạo khởi sự.
Tuy nhiên, truyền thống gìn giữ kỷ niệm về một nhân vật tên là Đa-ni-en, mà trong suốt thời lưu đày tại Ba-by-lon ông đã đối đầu với kẻ áp bức (trong trường hợp này là vua Na-bu-cô-đô-no-so) và một mực trung thành với Đức Chúa. Như vậy, ông đưa ra một khuôn mẫu lý tưởng cho những ai can trường chịu đựng cơn bách hại của vua An-ti-ô-khô.
Tác giả còn khai triển xa hơn nữa; ông đọc thấy trong một mộng báo những dấu chỉ về cuộc sụp đổ của những đế quốc ngoại giáo và loan báo cuộc đăng quang “vương quốc của chư thánh Đấng Tối Cao”, được cai trị bởi một nhân vật huyền nhiệm dưới tước hiệu “Con Người”. Chính Thiên Chúa trao ban mọi quyền hành cho nhân vật huyền nhiệm này. Đây là chủ đề của chương 7 sách Đa-ni-en.
Phụng vụ trên thiên quốc:
“Tôi đang nhìn thì thấy đặt những chiếc ngai
và một Đấng Lão Thành an tọa”.
Đấng Lão Thành chính là Thiên Chúa muôn năm trường cửu. Thật ra, hình ảnh thần thoại này đã được báo trước. Hình ảnh nổi tiếng nhất là về “Đấng Lão Thành của Đại Dương” trong những câu chuyện thần thoại Hy-lạp, đây là biểu tượng về yếu tố xưa nhất của vũ trụ, hiện hữu trước mọi loài, tức là nước nguyên thủy (dân Hy-lạp thường nói: “Đại dương là cha của muôn loài”).
“Áo Người trắng như tuyết,
tóc trên đầu Người tựa lông chiên tinh tuyền”.
Trong sách Khải Huyền của mình, thánh Gioan mô tả Đức Ki-tô vinh quang theo cùng hình ảnh tương tự: “Đầu Người tóc trắng như len trắng, như tuyết; mắt Người như ngọn lửa hồng… Mặt Người tỏa sáng như mặt trời chói lọi” (Kh 1: 14-15).
“Ngàn ngàn hầu hạ Người,
vạn vạn túc trực trước Thánh Nhan”.
Trong sách Khải Huyền của mình, thánh Gioan cũng mô tả tương tự: “Tôi thấy, và tôi nghe tiếng muôn vàn thiên thần ở chung quanh ngai.. Số các thiên thần có tới ức ức triệu triệu” (Kh 5: 11).
“Tòa bắt đầu xử, sổ sách được mở ra”.
Tác giả không cho biết những thẩm phán của phiên tòa này là ai. Hình ảnh về “sổ sách thiên giới”thuộc về một truyền thống rất cổ kính. Khi thì sách ghi lại những hành động thiện hay ác của con người, như “Đức Chúa đã để ý và Người đã nghe: một cuốn sổ được viết trước nhan Người, ghi tên những kẻ kính sợ Đức Chúa và tôn kính Danh Người” (Ml 3: 16; x. Lc 10: 20); khi thì sách ghi lại tên tuổi của những người được tuyển chọn cho “thế giới sắp đến”, như “Sổ sách đã mở sẵn; rồi một cuốn khác cũng đã mở ra: đó là Sổ Trường Sinh. Các người chết được xét xử tùy theo việc họ đã làm, chiếu theo những gì đã được ghe chép trong sổ sách” (Kh 20: 12).
Phong vương “Con Người”:
“Trong những thị kiến ban đêm, tôi mãi nhìn thì kìa:
có ai như một Con Người đang ngự giá mây trời mà đến”
Diễn ngữ “Con Người” được dịch sát từ “con của con người” là thành ngữ của người Do thái được dùng để chỉ “một phàm nhân mỏng dòn yếu đuối” đối diện với Thiên Chúa, Đấng vô cùng cao cả như được lập đi lập lại nhiều lần trong sách Ê-dê-ki-en, chẳng hạn như: “Hỡi con người (“con của loài người”), hãy đứng cho vững. Ta sắp nói với ngươi đây” (Ed 2: 1).
Tuy nhiên, trong thị kiến của sách Đa-ni-en, nhân vật này có nguồn gốc từ Thiên Chúa, vì “ngự giá mây trời mà đến”. Mây trời, theo biểu tượng Kinh Thánh, luôn luôn là dấu chỉ về sự hiện diện của Thiên Chúa. Chính Đấng Lão Thành trao cho Ngài mọi quyền năng:
“Đấng Lão Thành trao cho Người
quyền thống trị, vinh quang và vương vị;
muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ
đều phải phụng sự Người”.
Nếu những quyền năng của phàm nhân sẽ có ngày suy vong và biến mất, thì:
“Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu,
không bao giờ mai một;
vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong”.
Tất cả mọi sấm ngôn đều chứa đựng một viễn cảnh sắp xảy đến, đồng thời mở ra một viễn cảnh xa mà tác giả thoáng thấy.
Viễn cánh sắp xảy đến:
Nếu đọc toàn bộ chương 7 này, chúng ta nhận ra nhân vật “Con Người” này vừa là một cá nhân vừa là một tập thể. Viễn cảnh nhị trùng này rất phù hợp với tâm thức Do thái. “Con Người” là vị thủ lãnh lý tưởng mà Dân Thiên Chúa hằng mong đợi, đồng thời chính là Dân Thiên Chúa. Những câu tiếp theo giải thích rõ điều này. Khi con thú thứ tư bị tiêu diệt vĩnh viễn, rồi sẽ có một cuộc xét xử, theo đó:
“Còn vương quốc với quyền thống trị
cũng như địa vị cao cả của các vương quốc khắp thiên hạ
sẽ được trao cho dân thánh của Đấng Tối Cao” (Đn 7: 27).
Với những tín hữu trung kiên trong thử thách, vị ngôn sứ loan báo cuộc giải thoát sắp đến và đảm bảo vinh quang dành cho những người tử vì đạo. “Con Người”, về phương diện tập thể, là Dân Ít-ra-en, được giải thoát, tìm lại nền độc lập và với tư cách là dân thánh nhận được quyền thống trị trên thế giới lương dân.
Viễn cảnh cánh chung:
Thị kiến của vị ngôn sứ không đề cập gì đến ngày tận thế. Tuy nhiên, những viễn cảnh cánh chung không bao giờ vắng bóng trong các sách khải huyền: đây là luật của văn thể khải huyền. Những biến cố, được loan báo như sắp xảy đến, được đưa vào trong bức tranh rộng lớn về thế giới đang đến. Những sách khải huyền Do thái sau sách Đa-ni-en quả thật đã lấy lại diễn ngữ “Con Người” mà ban cho một nhân vật vừa cá nhân hơn, vừa cánh chúng hơn; như sách Ê-nốc gần kề với kỷ nguyên Ki-tô giáo.
Khi nhận lấy cho mình tước hiệu “Con Người”, Đức Giê-su muốn nói rằng Ngài thuộc vào nhân loại – điều này cho phép Ngài mang lấy trên mình vận mệnh của nhân loại – đồng thời Ngài thuộc vào Thiên Chúa. Như vậy, Đức Giê-su khẳng định rằng Ngài bảo đảm cuộc chiến thắng tối hậu.
BÀI ĐỌC II (2Pr 1: 16-19)
Ngay từ đầu thư thứ hai, tác giả đã tự giới thiệu mình: “Tôi là Si-mê-ôn Phê-rô, tôi tớ và Tông Đồ của Đức Giê-su Ki-tô” (1: 1). Chắc chắn thư này chứa đựng những bút tích của chính thánh Phê-rô, như chính thánh nhân gợi lên cái chết sắp đến của mình: “Vì biết rằng sắp đến thời tôi phải bỏ lều này, như Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, cũng đã tỏ cho tôi biết” (1: 14); hay thánh nhân đưa ra những lời khuyên nhũ sau cùng, nhắc lại sự kiện thánh nhân được tham dự vào biến cố “Biến Hình”. Tuy thế, xem ra đúng hơn bức thư là một di cảo, được một trong các môn đệ của thánh nhân bổ sung sau khi thánh nhân đã qua đời để đương đầu với những hoàn cảnh mới. Như vậy những lời cảnh giác được lập lại chống lại bè ngộ đạo gợi ra ngày tháng xuất bản khá muộn thời.
Một chứng nhân về biến cố Biến Hình:
Đoạn trích thư hôm nay dâng hiến hai lợi ích. Lợi ích thứ nhất là nêu lên biến cố Biến Hình. Cuộc Biến Hình không là một câu chuyện thần thoại hoang đường, nhưng là một biến cố thực mà chính thánh Tông Đồ Phê-rô đã là một chứng nhân: “Chúng tôi đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Người… Tiếng đó, chính chúng tôi đã nghe thấy từ trời phán ra, khi chúng tôi ở trên núi thánh với Người”. Như vậy, đức tin của người Ki-tô hữu có thể dựa vào lời chứng của các Tông Đồ.
Lời chứng của các ngôn sứ:
Lợi ích thứ hai của đoạn trích này là mối liên hệ mà vị tông đồ thiết lập giữa sức mạnh lời chứng của các tông đồ và sự chắc chắn lời chứng của các ngôn sứ. Chắc hẳn thánh Phê-rô nghĩ đến vinh quang của Con Người trong thị kiến của Đa-ni-en và đến vinh quang được hứa ban cho Người Tôi Trung đau khổ trong bản văn I-sai-a (Is 52: 13 và 53: 10-12). Thánh Tông Đồ Phê-rô khẳng định cách minh nhiên nhân vật được Kinh Thánh linh hứng. Thánh Phao-lô cũng khẳng định như thế trong thư thứ hai của thánh nhân gởi cho ông Ti-mô-thê: “Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng” (2Tm 3: 16).
Như vậy đức tin Ki-tô giáo dựa niềm xác tín của mình trên lời chứng của các ngôn sứ – lời chứng này xác minh lời chứng của của các Tông Đồ. “Lời các ngôn sứ” này được sánh ví với “chiếc đen tỏ rạng giữa chốn tối tăm, cho đến khi ngày bừng sáng và sao mai mọc lên soi chiếu tâm hồn anh em”, nghĩa là cho đến ngày quang lâm của Đức Ki-tô. Sao Mai là tước hiệu thiên sai bắt nguồn từ sách Dân Số, theo đó vua Đa-vít được loan báo dưới dấu hiệu của một ngôi sao trong lời sấm của ông Bi-lơ-am:
“Tôi thấy nó, nhưng bây giờ chưa phải lúc,
tôi nhìn nhưng chưa thấy nó kề bên;
một vị sao xuất hiện từ Gia-cóp,
một vương trượng trỗi dậy từ Ít-ra-en” (Ds 24: 17).
Tước hiệu “Sao Mai” này được đưa vào trong các sách khải huyền. Sách Khải Huyền của thánh Gioan nhắc lại điều này cách chính xác: “Chính Ta là Chồi Non và Dòng Dõi Đa-vít, là Sao Mai sáng ngời”(Kh 22: 16).
Thánh Phê-rô nội tâm hóa biểu tượng này: chính trong lòng mà ánh sáng của Chúa Ki-tô bừng lên; cuộc sống của người Ki-tô hữu rực rỡ ánh vinh quang của Đấng Phục Sinh, mà cuộc Biến Hình cho một thị kiến tiếp cận.
TIN MỪNG (Mt 17: 1-9)
Bài trình thuật biến cố Biến Hình là một trong những bài trình thuật Tin Mừng chất nặng mầu nhiệm nhất, nhưng cũng là một trong những bài trình thuật phong phú nhất về giáo huấn. Cả ba Tin Mừng Nhất lãm tường thuật biến cố Biến Hình nầy đều đặt vào trong bối cảnh vài ngày sau lời tuyên xưng đức tin của thánh Phê-rô và lời loan báo đầu tiên về cuộc Thương Khó của Đức Giê-su. Trước đó, Đức Giê-su đã thăm dò niềm tin các tông đồ của Ngài khi hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?”. Thánh Phê-rô đã thay mặt cho các môn đệ khi tuyên xưng: “Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Nghĩ rằng giây phút đã đến để mặc khải Ngài là Đấng Ki-tô như thế nào, Đức Giê-su loan báo cuộc Thương Khó của Ngài. Tuy nhiên, lời loan báo này đã gặp phải sự phản kháng dữ dội của thánh Phê-rô, bởi vì thánh nhân không thể nào dung hòa được một viễn cảnh về Đấng Ki-tô chịu đau khổ như thế với lời tuyên xưng của thánh nhân về một Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống. Biến cố Biến Hình mang đến một câu trả lời. Chúa Giê-su nhận ra lời loan báo về cuộc Thương Khó của Ngài đã gây nên cơn choáng váng đối với các môn đệ của Ngài. Vì thế, như một cách thức giải tỏa sự kỳ chướng của thập giá, Đức Giê-su đã đem ba môn đệ lên núi cao và ở đó Ngài thay đổi hình dạng trước mắt các ông để cho các ông thấu hiểu rằng đau khổ và tử nạn là con đường cứu độ mà Ngài phải đi qua, nhưng đây không là một ngõ cụt mà là khai mở cuộc Phục Sinh vinh hiển. Vì thế, biến cố Biến Hình là tham dự trước cuộc Phục Sinh vinh quang.
Thời gian và nơi chốn (17: 1)
Bài trình thuật bắt đầu với thời điểm “Sáu ngày sau”. Thời điểm nầy, xét về phương diện văn chương, đóng vai trò chuyển tiếp vừa để nối kết với bài trình thuật đi trước, nhưng đồng thời vừa để dẫn vào bài trình thuật theo sau. “Sáu ngày sau” nghĩa là sáu ngày sau khi thánh Phê-rô tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống (Mt 16: 16) và sự phản kháng của thánh nhân trước lời loan báo cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Thầy đến nổi Chúa Giê-su tuyên bố với các môn đệ rằng con đường thập giá là điều kiện tất yếu của những ai muốn làm môn đệ Ngài. Bài trình thuật đi trước kết thúc với một lời nói bí nhiệm của Đức Giê-su: “Thầy bảo thật anh em: trong số người có mặt ở đây, có những kẻ sẽ không phải nếm sự chết trước khi thấy Con Người đến hiển trị” (Mt 16: 28). Vì thế, đa số các Giáo Phụ và các nhà chú giải nhận thấy câu nói bí nhiệm nầy là lời loan báo trực tiếp đến biến cố Biến Hình, đặc biệt kiểu nói “trong số người có mặt ở đây” có thể nhắm đến ba môn đệ được tuyển chọn làm chứng nhân cho biến cố Biến Hình nầy. Thêm nữa, “Sáu ngày sau” xem ra quy chiếu đến Xh 24: 16: “Vinh quang Đức Chúa ngự trên núi Xi-nai và mây bao phủ núi sáu ngày. Đến ngày thứ bảy, từ giữa đám mây, Người gọi ông Mô-sê”. Chính ở trên núi cao nơi tách biệt nầy mà Đức Giê-su, Mô-sê mới, Đấng giải phóng dân mới của Ngài, dẫn ba môn đệ đặc tuyển lên núi cao để chứng kiến vinh quang của Ngài.
Cuộc Biến Hình chỉ có ba nhân chứng : “Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gioan đi theo mình”. Trước đây, cũng chính ba môn đệ nầy được Đức Giê-su cho phép chứng kiến việc Ngài phục sinh con gái ông Gia-ia (Mc 5 : 37); sau này, cũng chính ba môn đệ nầy được Đức Giê-su dẫn theo với Ngài vào trong vườn Ô-liu, ở đó họ sẽ là những nhân chứng về cơn hấp hối của Ngài (Mt 26 : 37). Trước đây, ở nơi việc Chúa Giê-su làm cho con gái của ông Gia-ia được sống lại, ba môn đệ nầy chứng kiến quyền năng của Ngài trên cả sự chết (Mc 5 : 37), giờ đây, ở nơi cuộc Biến Hình vinh hiển nầy, họ còn nghe Chúa Cha minh chứng về Đức Giê-su (Mt 17 : 5), để rồi sau nầy trong cuộc Khổ Nạn của Ngài, họ có đủ nghị lực chịu đựng và tin tưởng khi thấy Thầy mình phải chịu khổ hình.
Nếu trong cuộc Biến Hình này, ba môn đệ đặc tuyển này được diễm phúc chứng kiến giờ phút vinh quang của Thầy mình với tư cách là Con Thiên Chúa, thì trong vườn Ô-liu, chính cũng ba người môn đệ này cũng chứng kiến giờ phút bi thương của Thầy mình với tư cách là Đấng Mê-si-a mang thân phận của Người Tôi Tớ chịu đau khổ, cảm thấy kinh hoàng khiếp đảm trước cuộc Thương Khó và Tử Nạn của mình.
Việc thánh Phê-rô được dự phần vào biến cố Biến Hình rất quan trọng, bởi vì thánh nhân gặp thấy ở nơi biến cố này sự cũng cố cho lời tuyên xưng linh hứng của mình ở Xê-da-rê : “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16 : 16). Mặt khác, thánh nhân chứng kiến một Đức Giê-su vinh hiển thay thế cho hình ảnh về một Đấng Ki-tô chịu đau khổ mà theo quan điểm của thánh nhân, thánh nhân không thể nào chấp nhận được. Vị thủ lãnh của các Tông Đồ, sau nầy sẽ đảm nhận một công việc khó khăn là rao giảng một Đức Kitô chịu đóng đinh giữa hai tên gian phi, thì lúc nầy chiêm ngưỡng Đức Giê-su vinh hiển, ở giữa hai nhân vật nổi tiếng nhất của lịch sử Ít-ra-en. Vì thế, cuộc Biến Hình là phản đề của đồi Sọ. Như vậy, niềm tin, trên đó tất cả niềm tin của Giáo Hội dựa vào, đặt nền móng ở nơi biến cố Biến Hình này.
Thánh Gio-an, người môn đệ trung tín sẽ theo bước chân của Thầy cho đến dưới chân thập giá để chiêm ngắm một thân thể bị bầm dập rách nát không còn hình tượng người của Đấng chịu đóng đinh trên khổ giá, chính thánh nhân sẽ viết trong Tựa Ngôn Tin Mừng của mình: “Chúng tôi đã thấy vinh quang của Ngài… Ngài là ánh sáng, ánh sáng thật… đầy tràn ân sủng và sự thật…”. Ẩn hiện ở nơi Tựa Ngôn nầy là bức tranh về biến cố Biến Hình. Còn thánh Gia-cô-bê là vị Tông Đồ đầu tiên chết vì niềm tin của mình.
Tại sao Đức Giê-su phải nhọc công dẫn các môn đệ đến nơi núi đồi hoang vắng này, chẳng những thế mà lại còn leo lên đến tận ngọn núi cao? Thánh Lu-ca hé mở cho chúng ta thấy câu trả lời : “Ngài lên núi để cầu nguyện” (Lc 9 : 29). Theo truyền thống Cựu Ước, “núi” là nơi con người gặp gỡ Thiên Chúa và là nơi Thiên Chúa tỏ mình ra. Vì thế, việc núi không được nêu tên không phải là không có chủ ý, bởi vì, kiểu nói “trên ngọn núi cao” không thuộc trật tự địa dư nhưng tâm linh. Trong vài giây phút nữa, ngọn núi Ga-li-lê nầy sẽ mang dáng dấp ngọn núi Xi-nai, nơi các môn đệ chứng kiến cuộc biến hình vinh hiển của Đức Giê-su và cuộc thần hiển của Ba Ngôi Thiên Chúa.
Chúa Giê-su bày tỏ vinh quang của Ngài (17: 2-3)
Thánh Lu-ca đặt biến cố Đức Giê-su biến đổi hình dạng: “Dung nhan Ngài chói lọi như mặt trời, và y phục Ngài trở nên trắng tinh như ánh sáng” vào trong mối tương quan tăng dần theo lời cầu nguyện của Chúa Giê-su với Cha Ngài: “Đang lúc Ngài cầu nguyện, dung mạo Ngài bổng đổi khác, y phục Ngài trở nên trắng tinh chói lòa” (Lc 9: 29). Còn thánh Mát-thêu thì mô tả Đức Giê-su bổng chốc thay hình đổi dạng thành một người rạng ngời vinh hiển. Biến cố Biến Hình nầy mặc khải rằng con người xác thịt của Ngài có mối liên hệ mật thiết với chính con người thần linh của Ngài, nghĩa là cái chết không có toàn quyền trên thân xác của Ngài; theo một cách nào đó, biến cố Biến Hình là một sự tham dự trước vinh quang Phục Sinh của Ngài.
Chính trên một ngọn núi (núi Xi-nai hay núi Khô-rếp) mà ông Mô-sê và ông Ê-li-a đã lần lượt gặp Thiên Chúa. Cũng chính trên một ngọn núi Ga-li-lê, “bỗng ba môn đệ thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Ngài”. Sự hiện diện của hai nhân vật siêu phàm này bảo lãnh tuyệt vời cho tước vị Ki-tô của Đức Giê-su, bởi vì ông Mô-sê đã loan báo rằng một vị ngôn sứ vĩ đại sẽ đến, lời của Đấng ấy sẽ là lời của chính Thiên Chúa (Đnl 18 : 18); còn ông Ê-li-a, theo truyền thống, phải tái lâm để chuẩn bị cho việc Đấng Ki-tô ngự đến. Hơn nữa, hai nhân vật nầy, hiện diện bên cạnh Đức Giê-su vinh hiển, không chỉ biểu tượng cho Lề Luật và Ngôn Sứ, nhưng còn là những người trung gian tuyệt mức của Giao-Ước. Như vậy, họ đại diện cho khởi điểm và đích điểm Lịch Sử Cứu Độ được thành tựu nơi Đức Giê-su. Vì thế, biến cố Biến Hình nhấn mạnh mối liên hệ giữa Cựu Ước và Tân Ước.
Bài trình thuật của thánh Lu-ca nói với chúng ta rằng hai ông Mô-sê và Ê-li-a đàm đạo với Đức Giê-su về “cuộc xuất hành Ngài sắp hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem” (Lc 9 : 31). Từ ngữ “xuất hành” nhắc nhớ đến cuộc hành trình gian khổ nhất của dân Ít-ra-en: ra khỏi đất Ai-cập và lang thang trong hoang địa suốt bốn mươi năm trường. Cuộc hành trình ấy đòi hỏi dân Thiên Chúa đặt trọn niềm tin tưởng vào Thiên Chúa, Đấng dẫn đưa họ đến Đất Hứa. Với một niềm tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, Đức Giê-su cũng dấn thân vào một cuộc hành trình gian khổ nhất, một cuộc hành trình dẫn Ngài đến thập giá, nhưng cũng là cuộc hành trình dẫn Ngài đến vinh quang.
Phản ứng của các môn đệ (17: 4)
Trong chương nầy, như trong những chương trước đây, thánh Mát-thêu nêu bật nhân vật Phê-rô. Trước đây, trong câu chuyện Chúa Giê-su đi trên mặt biển phong ba bão tố mà đến cứu giúp các ông, chỉ mình thánh Phê-rô lên tiếng xin được đi trên mặt biển mà đến với Thầy (Mt 14 : 28); trong câu chuyện Chúa Giê-su hỏi các ông Ngài là ai, chỉ mình ông Phê-rô tuyên xưng niềm tin vào Đức Giê-su ở Xê-da-rê, và chỉ mình ông đã bày tỏ nổi bất bình khi Thầy mình loan báo cuộc Tử Nạn. Trong câu chuyện nầy, thánh Phê-rô cũng là người duy nhất phản ứng: “Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay!Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê và một cho ông Ê-li-a”. Vốn bản tính nhiệt thành, thẳng thắn, bộc trực, nghĩ sao thì nói vậy, thánh Phê-rô cảm thấy hạnh phúc đến độ ông không thể nén được niềm mong ước của mình là được kéo dài kinh nghiệm này luôn mãi nên đề nghị dựng ba lều: một cho Đức Giê-su, một cho ông Mô-sê và một cho ông Ê-li-a. Khi phát biểu ý kiến như vậy, thánh nhân không nghĩ gì đến mình và các bạn đồng môn của mình.
Tuy nhiên, có thể thánh nhân nghĩ đến ý nghĩa của ngày lễ Lều, ngày lễ tưởng niệm các chi tộc Ít-ra-en đã dựng lều trong hoang địa trước khi được định cư trong Đất Hứa. Trong nỗi mong chờ Thiên Chúa thực hiện Lời Hứa của Người là ban cho dân Đấng Ki-tô, Lễ Lều này cũng bày tỏ niềm mong đợi thời thiên sai. Theo truyền thống Do thái, vào thời sau hết, thời thiên sai, Thiên Chúa sẽ ở giữa dân Ngài (Ed 37 :27 ; Hs 12 : 10) trong lều vinh quang của Ngài, còn dân chúng sẽ dựng lều chung quanh Đấng Ki-tô của họ (Ga 1 : 14) và các dấu lạ thời Xuất Hành sẽ tái diễn. Vì thế, qua phản ứng nầy, có thể trong tiềm thức, thánh Phê-rô chứng nhận rằng mình luôn luôn tin vào sự đăng quang vinh hiển của Đấng Ki-tô. Khi đề nghị dựng ba lều, ông nghĩ rằng thời chung cuộc đã đến và cho rằng đã đến lúc thiết lập thiên đàng ở trên trái đất ngỏ hầu cuộc thần hiển trong một ngày sẽ kéo dài mãi mãi. Như chúng ta biết trước đây thánh nhân từ chối con đường khổ nạn mà Thầy mình đã loan báo, bây giờ thánh nhân không muốn xuống núi để được sống trong cảnh tượng vinh quang của Thầy. Thánh nhân muốn đạt đến vinh quang mà không phải qua con đường khổ nạn.
Chúa Cha mặc khải (17: 5-7)
“Ông Phê-rô còn đang nói, chợt có một đám mây sáng ngời bay đến phủ bóng trên các ông”. Biết bao lần trong Cựu Ước, đám mây sáng ngời vừa bày tỏ nhưng đồng thời che phủ sự hiện diện của Thiên Chúa trước mắt của phàm nhân; vì thế, đám mây sáng ngời là dấu chỉ sự hiện diện mầu nhiệm của Thiên Chúa khôn tả (Xh 40 : 34-35 ; 1V 8 : 10-12 ; Ed 10 : 3-4 ; Tv 18 : 12). Sự kiện đám mây sáng ngời bao phủ trên ba vị Tông Đồ chính là hiệp nhất họ với Đức Giê-su, liên kết họ nên một với mầu nhiệm của Ngài, trong mặc khải kín nhiệm mà họ không được hé lộ ra cho bất cứ ai trước khi Ngài sống lại, như Đức Giê-su truyền lệnh cho họ.
Một giọng nói vang lên như vào ngày Đức Giê-su chịu phép rửa trong dòng sông Gio-đan; tuy nhiên, ở đây không còn là “các tầng trời mở ra và Thần Khí ngự xuống trên Ngài”, nhưng “dung mạo Ngài chói lọi như mặt trời và y phục Ngài trở nên trắng tinh như ánh sáng”, nghĩa là, ở nơi con người Đức Giê-su Thực Tại Thiên Quốc, hay chính Thiên Chúa đích thân hiện diện. Qua lời giới thiệu này: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Ngài”, Chúa Cha công bố tước vị “Con Thiên Chúa” của Đức Giê-su không chỉ nhấn mạnh sự đặc tuyển, nhưng cũng nhắm đến tầm quan trọng của sứ điệp: “Các ngươi hãy vâng nghe lời Người”. Huấn lệnh nầy xem ra nhắc nhớ lời hứa của Đức Chúa với dân Người qua ông Mô-sê: từ giữa họ, Thiên Chúa sẽ cho xuất hiện một vị ngôn sứ vĩ đại như Mô-sê, Người sẽ đặt lời Người trên miệng của Đấng ấy, vì thế “Các ngươi hãy nghe vị ấy” (Đnl 18 : 15).
Thiên Chúa nói với mọi người nơi Đức Giê-su, Đấng vẫn tiếp tục nói trong mọi thời đại qua Giáo Hội của Ngài: “Giáo Hội không ngừng lắng nghe những lời của Ngài. Giáo Hội lập đi lập lại mãi. Với trọn tấm lòng mộ mến, Giáo Hội tái xây dựng từng chi tiết sự sống của Ngài. Những lời này cũng được những người không Ki-tô hữu lắng nghe. Sự sống của Chúa Ki-tô cũng nói cho nhiều người không có khả năng lập lại với thánh Phê-rô: ‘Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống’ (Mt 16: 16). Ngài, Con Thiên Chúa hằng sống, cũng nói cho dân chúng với Tư cách Phàm Nhân: chính sự sống của Ngài phát ngôn, nhân tính của Ngài, sự trung thành của Ngài với sự thật, tình yêu ôm trọn mọi người của Ngài. Ngoài ra, cái chết của Ngài trên thập giá lên tiếng – phải nói chiều sâu vô phương dò thấu của đau khổ và bỏ rơi. Giáo Hội không bao giờ ngừng sống lại cái chết của Ngài trên Thập Giá và sự phục sinh của Ngài, chúng cấu thành nội dung của cuộc sống hằng ngày của Giáo Hội… Giáo Hội sống mầu nhiệm này, rút ra không biết mệt từ đó và luôn mãi tìm kiếm những con đường mang mầu nhiệm này của Thầy và của Chúa đến nhân loại – đến mọi dân tộc, mọi quốc gia, những thế hệ kế tiếp, và mỗi một con người” (John Paul II, “Redemptor hominis”, 7).
“Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống mặt đất”: Đây là nỗi sợ hãi linh thánh mà phàm nhân cảm thấy khi diện kiến Thiên Chúa. “Đức Giê-su đến gần”: Động từ “đến gần” là một động từ thánh Mát-thêu rất tâm đắc, nhưng chỉ có hai lần được áp dụng cho Đức Giê-su: ở đây và ở 28: 16-18. Trong cả hai trường hợp, Đức Giê-su đến gần các môn đệ với mục đích là trợ giúp những kẻ đang sợ hãi hoặc hoài nghi.
Tin Mừng Mát-thêu đóng khung cuộc đời công khai của Đức Giê-su giữa hai ngọn núi. Khi chuẩn bị ra đi thi hành sứ vụ, chính trên “một ngọn núi rất cao” (4: 8) mà quỷ đã cám dỗ Đức Giê-su nhận quyền hành trên toàn thế giới từ tay nó: “Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi” (4: 9); nhưng Ngài đã dứt khoát từ chối. Khi kết thúc sứ mạng của Ngài và khởi đầu sứ mạng của các môn đệ, chính cũng trên “một ngọn núi” (28: 16) mà Đức Giê-su gặp gỡ nhóm Mười Hai lần cuối cùng trước khi từ giả các ông mà về trời. Cũng chính ngọn núi này Ngài tuyên bố: “Thầy đã được Thiên Chúa trao toàn quyền trên trời dưới đất” và sai phái các ông đi loan báo Tin Mừng “cho muôn dân”. Vì Ngài đã từ chối nhận mọi quyền hành từ tay quỷ dữ, nên giờ đây Ngài nhận được mọi quyền hành từ tay Thiên Chúa.
Giữa hai biến cố nêu trên, có một biến cố khác cũng xảy ra trên một ngọn núi cao: Đức Giê-su hiển lộ vinh quang thần linh của Ngài, báo trước cuộc khải hoàn Phục Sinh của Ngài. Biến cố này đã xảy ra sau khi Đức Giê-su gạt bỏ đề nghị của Xa-tan qua miệng thánh Phê-rô tìm cách ngăn cản Ngài đi theo con đường cứu độ đầy đau khổ của Thiên Chúa. Theo văn cảnh xa, có thể nói bản văn thuật lại biến cố Biến Hình vừa tóm tắt các chước cám dỗ vừa đón nhận trước cuộc diện kiến trên núi giữa Đấng Phục Sinh và các môn đệ. Chúng ta thấy ở đây có các yếu tố của hai tình trạng ấy của Đức Giê-su: giữa việc Con Thiên Chúa vinh quang và Đấng Ki-tô phải chịu đau khổ nổi bật lên như một gạch nối sự chọn lựa dứt khoát, thái độ cương quyết của Đức Giê-su là đi cho đến tận cùng thánh ý Chúa Cha. Điểm này được minh chứng theo văn cảnh gần: cuộc Biến Hình được đóng khung giữa hai lời loan báo về cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh (16: 21-23; 17: 22-23).
C/ Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
HÃY VÂNG NGHE LỜI NGƯỜI
Qua Lời Tổng Nguyện của Lễ Chúa Hiển Dung, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa Cha đã dùng hai chứng nhân Cựu Ước là ông Môsê và ông Êlia để củng cố niềm tin của các Tông Đồ vào mầu nhiệm cứu độ, và báo trước hồng ân lạ lùng Chúa Cha sẽ ban cho chúng ta là: nhận chúng ta làm nghĩa tử. Xin cho chúng ta biết nghe lời Con của Người, để mai sau, chúng ta được chung hưởng gia nghiệp với Con của Người.
Chúa Cha đã nhận chúng ta làm nghĩa tử, và cho chúng ta được đồng thừa kế với Con của Người. Trong bài đọc một, ngôn sứ Đanien cho thấy: Chúa Cha đã ban cho Đức Kitô quyền thống trị, vinh quang và vương vị, quyền thống trị vĩnh cửu, không bao giờ bị mai một, chẳng bao giờ bị suy vong. Chúng ta sẽ được chung hưởng gia nghiệp đó với Đức Kitô với một điều kiện duy nhất là: hãy vâng nghe Lời Người.
Bài Đáp Ca, với Thánh Vịnh 96, vịnh gia cũng cho thấy: gia nghiệp mà chúng ta sẽ được thừa hưởng đó chính là ơn cứu độ, mà chúng ta phải hát mừng và loan báo cho muôn dân biết, chỉ có một mình Chúa là Đấng Cứu Độ Duy Nhất: uy phong rực rỡ, dũng lực huy hoàng, toàn thể địa cầu phải run sợ.
Trong bài đọc hai, thánh Phêrô khẳng quyết rằng: quyền năng và cuộc quang lâm của Đức Kitô được các Tông Đồ loan báo không phải dựa trên những chuyện hoang đường, nhưng, dựa trên vẻ uy phong lẫm liệt mà chính các ngài đã tận mắt nhìn thấy, và đã tận tai nghe tiếng từ trời phán. Chính vì đã tận mắt nhìn thấy, và đã tận tai lắng nghe, nên thánh Phêrô cực kỳ chắc chắn và ngài muốn chúng ta cũng phải hết lòng tin tưởng vào lời ấy, bởi vì, lời ấy như chiếc đèn tỏ rạng và như sao mai: soi chiếu cho chúng ta biết đường để tiến tới ơn cứu độ, gia nghiệp đời đời của chúng ta.
Trong bài Tin Mừng Lễ Chúa Hiển Dung, năm A này, thánh Mátthêu cho chúng ta thấy: Đức Kitô chính là Đấng Cứu Độ mà Chúa Cha đã hứa ban cho nhân loại, qua Dung Nhan chói lọi như mặt trời và y phục trắng tinh như ánh sáng, mà hai chứng nhân của Cựu Ước là Môsê và Êlia, được sai đến để củng cố niềm tin cho các Tông Đồ về mầu nhiệm cứu độ. Điều mà Chúa Cha muốn các Tông Đồ thực hiện, để trở nên nghĩa tử và đồng thừa kế với Đức Kitô là: hãy vâng nghe Lời Con của Người.
Nhiệm cục mặc khải có khởi nguyên và nguồn cội nơi Chúa Cha, bởi vì, một lời Chúa phán ra làm ra chín tầng trời, một hơi Chúa thở tạo thành muôn tinh tú (x. Tv 33,6). Mọi lời Thiên Chúa hứa đều trở thành “có” nơi Đức Giêsu Kitô (x. 2 Cr 1,20). Đức Giêsu chính là “Lời Chung Cục” của Thiên Chúa. Người “vừa là Đầu vừa là Cuối” (x. Kh 1,17). Từ khi ban cho chúng ta: Con của Người, tức Ngôi Lời, Lời độc nhất và chung quyết, Chúa Cha đã nói với chúng ta cùng một trật và chỉ trong một lần: tất cả mọi sự trong Lời Duy Nhất ấy, và Người không còn gì để nói nữa. Vì thế, nếu chúng ta muốn tra vấn Thiên Chúa để xin Người ban cho chúng ta: những thị kiến hay mặc khải mới nào đó, thì sự tra vấn đó không những là một chuyện điên rồ, mà còn là một sự xúc phạm đến Thiên Chúa.
Qua biến cố Biến Hình, Chúa Cha muốn chúng ta: hãy vâng nghe Lời của Con Người, nhưng, Lời đó là Lời nào? Thưa, Lời đó chính là Ngôi Lời Nhập Thể, Lời Hằng Hữu đã trở nên nhỏ bé, đến nỗi, có thể nằm gọn trong một máng cỏ, để con người có thể đụng chạm, sờ mó, và kinh nghiệm được. Với ý chí nhân loại của mình, Đức Giêsu đã hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa Cha. Trong Mầu Nhiệm Vượt Qua, với “ngôn ngữ điên rồ của thập giá” (x. 1 Cr 1,18), Ngôi Lời đã trở nên im tiếng, Người đã nói lời yêu thương cho mức cùng kiệt, không giữ lại bất cứ điều gì, không còn gì để nói, Người đã “cạn lời”, khi đã “trút cạn” tình yêu cho nhân loại đến giọt nước giọt máu cuối cùng trong sự thinh lặng hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa Cha.
Mầu Nhiệm Thập Giá đã cho thấy: Chúa Cha đã nói qua sự thinh lặng của Người. Kinh nghiệm về sự xa cách với Cha, là kinh nghiệm “đêm tối” trong hành trình trần thế của Con Thiên Chúa, đến nỗi, Người phải thốt lên: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34; Mt 27,46). Sự thinh lặng trao nộp chính Con Một của mình để cứu độ nhân loại, kết hợp sự thinh lặng tự hiến hoàn toàn không còn lời nào để nói của Ngôi Lời, đã trở thành Lời Hằng Sống, Lời Cứu Độ cho tất cả những ai biết lắng nghe và thông dự vào Lời của Con Thiên Chúa: “Lạy Cha, con xin phó hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). “Lời thinh lặng” của Thiên Chúa nối dài những Lời, mà Người đã nói trước đó. Trong những khoảnh khắc đen tối nhất của cuộc đời chúng ta, Thiên Chúa nói với chúng ta qua “lời thinh lặng” của Người. Ước gì khi suy niệm Lời Chúa, trong bối cảnh của ngày Lễ Chúa Biến Hình hôm nay, chúng ta quyết phải xin cho bằng được ơn mà các nhà phụng vụ muốn chúng ta xin là: biết lắng nghe Lời của Con Chúa, nhất là, Lời thinh lặng, Lời “không lời” của thập giá, để chúng ta cũng có được kinh nghiệm như Đức Giêsu: trút cạn lời tình yêu, trút cạn cả con người mình, để thánh ý Chúa Cha được thể hiện trong cuộc đời chúng ta.
Từ “Lời” thinh lặng, không lời, vô hình đầu tiên, Thiên Chúa đã sáng tạo ra thế giới hữu hình với muôn loài muôn vật, và từ “Lời” thinh lặng, không lời cuối cùng của Đấng chịu treo trên thập giá và “lời” im tiếng đầy can đảm của Đấng đứng kề bên thập giá, mà một nhân loại mới được sinh ra. Do bởi, tiếng “không” ồn ào, chát chúa, đầy cao ngạo của Ađam và Eva, mà cửa thiên đàng đã đóng lại, thì nay, do bởi tiếng “vâng” lắng dịu, ngoan ngùy, đầy khiêm cung của Đức Giêsu và của Đức Maria, mà cửa thiên đàng lại khai mở cho tất cả những ai biết lắng nghe và thông dự vào tiếng nói lặng thinh, không lời của thập giá, để trở nên nghĩa tử, đồng thừa kế, và đồng hình đồng dạng với Đấng đã yêu thương và thí mạng vì mình.
Mầu Nhiệm Biến Hình là biến cố, mà Đức Giêsu đã chuẩn bị trước cho các môn đệ, để các ông vững tin: khi bước vào Mầu Nhiệm Thập Giá. Ước gì khi mừng Lễ Chúa Biến Hình hôm nay, chúng ta cũng hãy để cho Chúa: dẫn chúng ta đến dưới chân thập giá như Mẹ Maria, để chúng ta cũng nghe được một tiếng nói lặng thinh, một tiếng nói “không lời” của Đấng, đứng kề bên thập giá, một sự thinh lặng đầy can đảm thấu tận trời cao, xuất phát từ con tim ngoan ngùy, tĩnh lặng hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa, để như Mẹ, chúng ta cũng có thể cưu mang, và sinh hạ Lời Hằng Sống, Lời Cứu Độ cho thế giới hôm nay. Ước gì được như thế!
