“Này bà, bà có lòng mạnh tin”.

BÀI ĐỌC I: Is 56, 1. 6-7
Ta sẽ dẫn con cái Ta lên núi thánh”.

Trích sách Tiên tri Isaia.

Đây Thiên Chúa phán: “Hãy giữ luật và thực thi công bình, vì ơn cứu độ của Ta đã gần tới, và sự công chính của Ta sẽ tỏ hiện.

“Người ngoại bang theo Chúa để phụng sự Chúa và mến yêu danh Người, để trở nên tôi tớ Chúa, tất cả những ai giữ ngày Sabbat, không hề sai lỗi, và trung thành với giao ước của Ta, Ta sẽ dẫn chúng lên núi thánh, và Ta sẽ cho chúng niềm vui trong nhà cầu nguyện. Ta sẽ nhận những lễ toàn thiêu và hiến tế của chúng trên bàn thờ, vì nhà Ta là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc”.

ĐÁP CA: Tv 66, 2-3. 5. 6 và 8
Đáp: Chư dân hãy ca tụng Ngài! Thân lạy Chúa, hết thảy chư dân hãy ca tụng Ngài (c. 4).

1) Xin Thiên Chúa xót thương và chúc phúc lành cho chúng con, xin tỏ ra cho chúng con thấy long nhan Ngài tươi sáng, để trên địa cầu, thiên hạ nhìn biết đường lối của Ngài, cho chư dân người ta được rõ ơn Ngài cứu độ. – Đáp.

2) Các dân tộc hãy mừng vui và khoái trá, vì Ngài công bình cai trị chư dân, và Ngài cai quản các nước địa cầu. – Đáp.

3) Chư dân hãy ca tụng Ngài. Thân lạy Chúa, hết thảy chư dân hãy ca tụng Ngài! Xin Thiên Chúa chúc phúc lành cho chúng con, để cho khắp cùng bờ cõi trái đất kính sợ Ngài. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: Rm 11, 13-15. 29-32
“Thiên Chúa ban ơn và kêu gọi Israel, thì Người không hề hối tiếc”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, tôi nói với anh em là những người gốc Dân Ngoại rằng: Bao lâu tôi là Tông đồ các Dân Ngoại, tôi sẽ tôn trọng chức vụ của tôi, nếu có cách nào làm cho đồng bào tôi phân bì, mà tôi cứu rỗi được ít người trong họ. Vì nếu do việc họ bị loại ra, mà thiên hạ được giao hoà, thì sự họ được thâu nhận sẽ thế nào, nếu không phải là một sự sống lại từ cõi chết ?

Vì Thiên Chúa ban ơn và kêu gọi ai, thì Người không hề hối tiếc. Như xưa anh em không tin Thiên Chúa, nhưng nay vì họ cứng lòng tin, nên anh em được thương xót; cũng thế, nay họ không tin, vì thấy Chúa thương xót anh em, để họ cũng được thương xót. Thiên Chúa đã để mọi người phải giam hãm trong sự cứng lòng tin, để Chúa thương xót hết mọi người.

TIN MỪNG: Mt 15, 21-28
Khi ấy, ra khỏi đó, Chúa Giêsu lui về miền Tyrô và Siđon, thì liền có một bà quê ở Canaan từ xứ ấy đến mà kêu cùng Người rằng: “Lạy Ngài là con Vua Đavít, xin thương xót tôi: con gái tôi bị quỷ ám khốn cực lắm”. Nhưng Người không đáp lại một lời nào. Các môn đệ đến gần Người mà xin rằng: “Xin Thầy thương để bà ấy về đi, vì bà cứ theo chúng ta mà kêu mãi”. Người trả lời: “Thầy chỉ được sai đến cùng chiên lạc nhà Israel”. Nhưng bà kia đến lạy Người mà nói: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi”. Người đáp: “Không nên lấy bánh của con cái mà vứt cho chó”. Bà ấy đáp lại: “Vâng, lạy Ngài, vì chó con cũng được ăn những mảnh vụn từ bàn của chủ rơi xuống”. Bấy giờ, Chúa Giêsu trả lời cùng bà ấy rằng: “Này bà, bà có lòng mạnh tin. Bà muốn sao thì được vậy”. Và ngay lúc đó, con gái bà đã được lành.

SUY NIỆM
A/ 5 phút với Lời Chúa

TẤT CẢ ĐỀU ĐỒNG BÀN

Đức Giê-su nói: “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con.” Bà ấy thưa: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.” Bấy giờ Đức Giêsu đáp: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy.” (Mt 15,26-28)

Suy niệm: Thoạt nghe câu nói đầy cứng cỏi của Đức Giê-su, nhiều người không khỏi bất bình nghĩ rằng sao Chúa hắt hủi người đàn bà ngoại giáo này như thế. Thực ra, Đức Giê-su đang đưa cho bà một cây sào để bà nắm lấy. Ở Đông phương, gọi người khác là “chó” là một lời nguyền rủa rất nặng. Tuy nhiên, ở đây, Đức Giê-su dùng từ “chó con” để nói lên tính cách gia đình của nó trong gia đình chủ, được nuôi nấng, cưng chiều, khác với lũ chó hoang ngoài phố chợ. Có lẽ vì nhận ra được tính thân ái này mà bà đã tiếp tục đối đáp với Đức Giê-su và cuối cùng được ơn Chúa như người Ít-ra-en từng được.

Mời Bạn: Tại sao bạn gặp có cơ may có đức tin? Tại sao bạn được ưu đãi cho vào ăn “bánh của con cái Thiên Chúa”? Có phải vì thế mà bạn quên đi đám đông bao la đang chờ đợi các mảnh vụn từ bàn ăn thần linh này không? Thiên Chúa chọn ai trước là để họ góp công thực hiện mục tiêu cuối cùng này, là hết thảy mọi người phải được cứu độ.

Chia sẻ: Mối tương quan của bạn đang chỉ giới hạn giữa những người cùng đạo hay bạn đang có những cố gắng kết nối tương quan thân ái với những anh chị em ngoài Công giáo nữa?

Sống Lời Chúa: Bạn sắp xếp đi thăm viếng một gia đình ngoài Ki-tô giáo.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, Chúa dành cho con vinh dự được ăn bánh của con cái Thiên Chúa. Xin cho con biết rằng, Chúa cũng muốn nhiều anh em khác được ân phúc như con.

B/ Lm. Jos. Ph.D.Thạch, SVD

I.BỐI CẢNH

Trong bối cảnh trực tiếp Mt 15,21-28 được đặt ngay sau câu chuyện dài kể lại cuộc tranh luận về luật ô uế – thanh sạch giữa nhóm Kinh Sư – Pharisêu từ thành đô Jêrusalem đến. Nhóm giáo quyền thành đô phàn nàn về thói quen không rửa tay trước khi dùng bữa. Thói quen này đi ngược với truyền thống của tiền nhân về luật thanh tẩy. Đức Giêsu dạy rằng “không phải cái vào miệng làm cho người ta ra ô uế nhưng cái từ miệng xuất ra, cái đó mới làm cho người ta ra ô uế. Sau câu chuyện này Đức Giêsu thẳng tiến về vùng dân ngoại, vùng đất theo quan niệm của người Do Thái, là vùng đất ô uế. Chính vì thế, khi buộc phải đi qua vùng đất dân ngoại, người Do Thái phải giũ bụi chân lại trước khi vào đất của mình. Hiểu bối cảnh này mới thấy được chủ trương khai phá của Đức Giêsu trên hành trình loan báo Tin Vui. Mátthêu là tác giả duy nhất nhấn mạnh Galilê, nơi Đức Giêsu khai mạc, và rao giảng phần lớn thời gian, là vùng đất của dân ngoại (Mt 4,15). Cuối cùng, Đức Giêsu Phục Sinh căn dặn các môn đệ “đi và làm cho muôn dân thành môn đệ, làm phép rửa chọ họ, nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19). Sự đón nhận bằng niềm tin mãnh liệt của người phụ nữ Canaan, đối lại với sự chối từ của nhóm giáo quyền Do Thái từ Jêrusalem.

II.CẤU TRÚC

Câu chuyện Mt 15,21-28 là một mẫu đối thoại giữa Đức Giêsu và người phụ nữ Canaan, trong đó có một phần can thiệp từ các môn đệ. Người phụ nữ nhắm đến Đức Giêsu ba lần (cc. 22b.25.27). Đức Giêsu đáp trả ba lần, một lần cho các môn đệ (c.24) và hai lần cho người phụ nữ (cc.26-28). Ngay sau khởi đầu lời cầu xin của người phụ nữ là phản ứng làm ngơ của Đức Giêsu. Các môn đệ tiếp nối “sự làm ngơ” của Thầy Giêsu bằng cách yêu cầu Người “đuổi” bà ấy đi. Đức Giêsu dường như đồng tình với ý tưởng của các môn đệ. Sau lời kêu cầu lần thứ hai, Đức Giêsu nói ẩn ý với người phụ nữ “không tốt khi lấy bánh dành cho con cái mà ném cho những chú chó con”. Người phụ nữ vẫn kiên trì và cuối cùng Đức Giêsu phải công nhận niềm tin mãnh liệt của bà, và bà được như ý muốn của mình.

III.BỐI CẢNH: ĐẾN VÙNG TIA VÀ XIĐÔN

Người phụ nữ Canaan: Xin thương xót tôi, lạy Ngài, con trai của Đavíd (21)

Con gái của tôi bị quỷ ám nghiêm trọng (22)

Đức Giêsu: Không đáp lại một lời nào

Các môn đệ: Hãy đuổi bà ấy đi, vì bà ấy đang kêu la phía sau chúng ta (23)

Đức Giêsu: “Không được sai đến (với ai) ngoại trừ với những con chiên lạc nhà Israel (24)

Người phụ nữ Canaan: Đến bái lạy Người, nói rằng: “Thưa ngài! Hãy giúp tôi” (25)

Đức Giêsu: “Không tốt khi lấy bánh của con cái và ném cho những chú chó con” (26)

Người phụ nữ Canaan: “Đúng vậy, thưa ngài!

Nhưng … những chú chó con chỉ ăn những mảnh vụn” (27)

Đức Giêsu: “Đức tin của bà mạnh thật! Hãy xảy ra cho bà như bà muốn” (28ab)

Kết: Và con gái của bà ấy được cứu chữa từ giờ ấy (28c)

IV.MỘT VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1.Turos và Xiđônos[1]: Turos và Xiđônos là hai thành phố cổ của vùng Phônêxia, dọc theo biển Địa Trung Hải.[2] Hiện nay, hai thành phố này thuộc nước hiện đại Lêbannon. Turos được biết đến từ thời Cựu Ước như là một thành phố rất kiên cố (Gs 19,29; 2 Sm 24,7). Vua Khiram của thành Turos là bạn thân của vua Đavíd (1 V 5,15). Chính vua này đã cung cấp gỗ bá hương, thợ mộc, thợ đẽo đá, và họ đã xây nhà cho vua Đavíd (2 Sm 5,11; 1 Sbn 14,1; 22,4). Ông cũng cung cấp gỗ bá hương cho vua Salômon để xây đền thờ Đức Chúa (1 V 9,11). Những người Turos và Xiđônos cũng giúp Étra xây lại đền thờ (gọi là đền thờ thứ hai) (Er 3,7). Hoàng hậu Dêdabel, hiền thê của vua Akhát là người Xiđônos (1 V 16,31). Xiđônos được biết đến như là thành trì mà con cái Israel không thể chinh phục trong cuộc chiến dành Đất Hứa (Tl 1,31). Có một thời dân Israel chạy theo các thần của Xiđônos (Tl 10,6-16; 1 V 11). Có rất nhiều lời ngôn sứ chống lại thành Turos và Xiđônos (Is 23; Gr 25; 27; 47; Ed 26 – 28; Ge 3; Am 1,9-10; Dcr 9,1-4). Nabucodonoxo (Babylon) bao vây thành Turos năm 585-572 BCE. Alexander Đại Đế chinh phục Turos năm 322 BCE (và Xiđônos năm 333) và phá hủy thành phố hoàn toàn. Sau này cả hai thành phố trở thành những tỉnh giàu có của đế quốc Rôma. Tác giả Tân Ước nhiều lần đề cập đến hai thành phố này. Dân cư của những thành phố này đã đến và nghe Đức Giêsu giảng (Mc 3,7-8; Lc 10,13). Vùng Turos và Xiđônos là nơi Đức Giêsu trừ quỷ cho con gái một phụ nữ người Canaan (Mt 15:21-28; Mc 7,28-30). Đức Giê-su đề cập đến Turos và Xiđônos như hai thành được xét xử khoan hồng hơn hai thành của người Do Thái (Corazin và Bếtsaiđa) (Lc 10,13-14; Mt 11,20-24), vì dân cư hai thành này đã không hoán cải khi nghe Đức Giêsu rao giảng. Đức Giêsu, rời bỏ Ghênêxarét để đi đến hai thành dân ngoại, không phải để du ngoạn nhưng để mang Tin Vui đến cho người phụ nữ Canaan đang chờ đợi Người.

2.Một phụ nữ người Canaan: Người phụ nữ này xuất hiện trong vùng Turos hoặc Siđônos, hoặc có thể là vùng ranh giới giữa hai miền này. Tác giả không cho biết cụ thể hơn. Danh từ “ὁρίων” trong cụm giới “ἀπὸ τῶν ὁρίων” vừa có nghĩa là đường biên giới (từ những đường ranh giới) hoặc là “vùng” (từ những vùng ấy). Theo tác giả Máccô, Đức Giêsu vào trong một ngôi nhà, thuộc thành Turos, nhưng không muốn cho ai biết (Mc 7,24). Người phụ nữ này không có tên. Bà chỉ được định danh là người Canaan (Χαναναία).[3] Danh xưng “người Canaan” rất quen thuộc trong thời Cựu Ước, nhưng vào thời Đức Giêsu, không còn tồn tại một đất nước nào về mặt chính trị có tên gọi Canaan. Một số học giả cho rằng đây là cách thức mà những người theo văn hóa Sêmít gọi những người ở Phônêxia vào thời Tin Mừng Matthêu được viết.[4] Tân Ước chỉ một lần duy nhất dùng danh xưng này. Tác giả Máccô nói rằng “bà là một người Hy Lạp, gốc Phônêxia, thuộc xứ Xyria (Mc 7,26). Dường như Mátthêu đã sửa dữ liệu của tác giả Máccô liên quan đến nguồn gốc của người phụ nữ này, không hiểu với mục đích gì.[5] Tuy vậy, cả hai tác giả đều làm nổi bật căn tính gốc dân ngoại của người phụ nữ này. Chi tiết này chuẩn bị để làm nổi bật niềm tin của bà nơi Đức Giêsu sau đó.

3.Xin thương xót tôi, lạy Ngài, con trai của Đavíd: “Xin thương xót con” là lời thỉnh cầu rất hay gặp trong các sách Cựu Ước, đặc biệt là Thánh Vịnh (Tv 6,2; 9,14; 24,16; 25,11; 26,7). Đối tượng của lời cầu này trong Cựu Ước thường là “Kyrios” (Chúa) và “Theos” (Thiên Chúa). Lời kêu xin “xin thương xót” ở đây đi kèm với danh xưng “ngài” (kurios) và “Con trai của Đavíd”[6] được lặp lại bốn lần trong Tin Mừng Mátthêu (Mt 9,27; 15,22; 20,30.31). Danh xưng “kurios” có thể mang hai nghĩa: “Chúa” (ông chủ) và “ngài” (với nghĩa là quý ông, gọi cách tôn trọng). Trong cả bốn lần, vì đi kèm với danh xưng “Con trai của Đavíd, nên danh xưng “kurios” nên hiểu theo nghĩa thứ hai (“ngài”, theo nghĩa trang trọng). Cách đặc biệt, trong đoạn văn này danh xưng “kurios” được lăp lại ba lần: Hai lần trong cách gọi “lạy Ngài” (thưa Ngài), và một lần với ý nghĩa là “ông chủ”, trong cụm giới từ “từ bàn của ông chủ của chúng” (ἀπὸ τῆς τραπέζης τῶν κυρίων αὐτῶν). Cách gián tiếp người phụ nữ này, nhìn nhận Đức Giêsu như là chủ của mình. Tác giả Mátthêu lưu ý đặc biệt đến danh xưng “Con trai của Đavíd”. Quả vậy, trong lời tựa của Tin Mừng Matthêu, tác giả đã giới thiệu Đức Giêsu là “Con trai của Đavíd” (υἱὸς Δαυίδ). “Con trai Đavíd” có nghĩa là hậu duệ của vua Đavíd. Cách gọi này gợi nhớ đến lời hứa và niềm mong đợi một Đấng Mêsia xuất thân từ dòng dõi vua Đavíd. Niềm tin này có gốc tích từ lời hứa của Thiên Chúa dành cho vua Đavíd qua ngôn sứ Nathan (2 Sm 7). Qua ngôn sứ Nathan, Thiên Chúa hứa sẽ ban cho Đavíd một người kế vị mà triều đại của người này sẽ vô cùng vô tận, đối với Thiên Chúa, người ấy sẽ là con và đối với người ấy, Thiên Chúa sẽ là Cha. Đấng Mêsia này, theo cách nghĩ của bà này (cũng như cách nghĩ của hai người mù trong Mt 9,27-30; 20,29-34), có khả năng chữa lành cách đặc biệt. Động từ “κράζω” (kêu, la) được chia ở thì vị hoàn (chưa hoàn thành – ἔκραζεν), diễn tả sự kéo dài, mức độ khẩn thiết trong lời cầu cứu của bà. Trong lần cầu cứu thứ hai, người phụ nữ còn kèm theo hành động “phủ phục” (bái lạy) Đức Giêsu. Các môn đệ cũng cảm thấy phiền vì bà ấy “đang kêu la” phía sau họ. Tất cả những chi tiết này cho thấy rằng lời cầu xin mang tính khẩn thiết và tăng dần.

4.Con gái của tôi bị quỷ ám nghiêm trọng: Lý do người phụ nữ này muốn Đức Giêsu thương xót và giúp đỡ là vì con gái của bà bị quỷ ám nghiêm trọng. Tác giả không nói rõ đây là loại quỷ gì và tình trạng cụ thể của cô gái như thế nào. Cuối cùng, tác giả cũng chỉ kết bằng việc cho biết cô gái đã được chữa lành. Có lẽ, ý tưởng chính là câu chuyện đức tin của người phụ nữ, chứ không phải phép lạ chữa lành. Một số dữ liệu từ sách Tin Mừng cho thấy những tình trạng cụ thể của người bị quỷ ám. Thứ nhất, người bị quỷ ám quậy phá dữ tợn, đập tan xiềng xích, khiến ai cũng sợ (Mt 8,28). Thứ hai, người bị quỷ ám bị câm, không nói được (Mt 9,32.33), hay vừa mù và vừa câm (Mt 12,22). Thứ ba, người không ăn uống (Mt 11,18). Thứ bốn, quỷ ám có thể biểu hiện như là bị kinh phong (Mt 17,15). Câu chuyện Đức Giêsu chữa đứa bé trai bị kinh phong (Mt 17,14-18) rất giống với câu chuyện trừ quỷ cho con gái người phụ nữ Canaan. Trừ quỷ là một trong những năng lực siêu việt của Đấng Mêsia và trừ quỷ cũng chứng tỏ sự hiện diện của Nước Thiên Chúa (Mt 12,28).

5.Người không đáp trả bà ấy một lời nào… Hãy cho bà ấy về đi… Thầy không được sai đến ngoại trừ với những con chiên lạc nhà Israel: Phản ứng lúc đầu của Đức Giêsu, theo cách mô tả của tác giả, là một sự thờ ơ, lạnh lùng: “Người không đáp trả một lời nào”.[7] Cách Đức Giêsu đáp trả lại đề nghị của các môn đệ càng tô điểm thêm thái độ làm ngơ của Đức Giêsu: “Ngoại trừ với những con chiên lạc nhà Israel”. Trong bối cảnh của Tin Mừng Mátthêu, ý niệm “chỉ được sai đến với các con chiên lạc nhà Israel” được nhấn mạnh cách đặc biệt. Trong bài giảng sứ vụ, Đức Giêsu căn dặn các môn đệ cách rõ ràng: “Đừng đi về phía các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của dân Samari. Tốt hơn hãy đến với các con chiên lạc nhà Israel” (Mt 10,5b-6). Tuy nhiên, Mátthêu là tác giả duy nhất liệt kê Rúth, và vợ tướng Uria (Bethsêva), Rakháp, ba người phụ nữ gốc dân ngoại vào trong gia phả của Đức Giêsu (Mt 1,1-17). Ông cũng là tác giả duy nhất kể câu chuyện về ba nhà chiêm tinh từ Phương Đông đến bái thờ và dâng lễ phẩm cho Hài Nhi Giêsu (Mt 2,1-12). Tin Mừng Mátthêu lại kết thúc bằng mệnh lệnh “hay đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19). Như vậy, phải hiểu thế nào về khuynh hướng tồn tại sứ vụ hai mặt trái ngược trong Tin Mừng: Chỉ đến với các con chiên lạc Israel và đến với cả dân ngoại nữa? Có lẽ, nên hiểu là sứ vụ của Đức Giêsu, theo phác họa của Mátthêu, có hai giai đoạn rõ rệt: Ưu tiên đến với những người Israel trước, rồi sau đó, đến với dân ngoại. Hoặc đây là một cách thức để lý giải sự tồn tại cả hai nhóm người trong cộng đoàn Mátthêu lúc bấy giờ (cộng đoàn đa số người gốc Do Thái, nhưng cũng có khá nhiều người gốc dân ngoại).[8] Thật ra, lược đồ này được sách Công Vụ thể hiện rõ qua hai tông đồ vĩ đại: Phêrô, tông đồ mang sứ vụ cho người Do Thái; Phaolô, tông đồ dân ngoại. Phaolô và Barnaba đã khẳng định rõ quyền ưu tiên dành cho người Do Thái: “Anh em phải là những người đầu tiên được nghe công bố lời Thiên Chúa, nhưng vì anh em khước từ lời ấy, và tự coi mình không xứng đáng hưởng sự sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại” (Cv 13,46; cf. 18,6; Cv 28,28).[9] Trong đoạn Tin Mừng này, thoạt tiên, có vẻ Người khước từ cách thẳng thừng lời cầu xin của người phụ nữ. Tuy nhiên, nếu nhìn toàn bộ câu chuyện, người đọc phải nhận ra rằng đây chỉ là một cách thức để mở ra một không gian cho người phụ nữ chứng tỏ niềm tin của mình.[10] Bởi lẽ, Đức Giêsu rõ ràng chủ động đến với vùng Turos và Xiđônos, vùng dân ngoại.[11] Người không ngại tiếp xúc với người phụ nữ Canaan và cuối cùng con gái của bà được chữa lành. Tinh thần các môn đệ thì rất rõ ràng. Họ cảm thấy phiền hà, và muốn Đức Giêsu “đuổi” bà ấy đi. Động từ “yêu cầu” được dùng ở thì vị hoàn (diễn tả sự kéo dài, hoặc lặp lại), cho thấy các môn đệ “yêu cầu, đề nghị” Đức Giêsu “đuổi bà” này đi nhiều lần. Câu đáp trả của Đức Giêsu “Thầy không được sai đến (với ai) ngoại trừ đến với các con chiên lạc nhà Israel”[12], có lẽ nên hiểu như là một câu hỏi “Thầy không được sai đến với ai ngoại trừ các con chiên lạc nhà Israel, có phải không?”, với ngụ ý rằng, thầy biết rồi, Thầy đâu có được sai đến với người ngoại đâu. Nếu đó là một lời khẳng định thì không ăn nhập gì với đề nghị của các môn đệ cả.

6.“Không tốt khi lấy bánh của con cái và ném cho những chú chó con”[13]: Đáp lại lời nài nỉ kèm theo hành động phủ phục của người phụ nữ, Đức Giêsu dùng một câu thành ngữ. Cách nói này nghe có vẻ nặng nề, nhưng có thể hiểu rằng Đức Giêsu đang tạo không gian cho người phụ nữ này chứng minh niềm tin của mình cho đến cùng.[14] Câu nói của Người chỉ là đơn giản nhắc lại một câu thành ngữ mà ai cũng biết rồi, kiểu như, bà không nghe người ta nói là “không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho chó con à?” Đức Giêsu ám chỉ Israel là “con cái trong nhà”, nên được hưởng những chúc lành, còn những người ngoại chỉ là những “con chó nhỏ” trong nhà, vì họ chối từ Chúa và đường lối của Người.[15] Tác giả Mátthêu bỏ phần giảm nhẹ của tác giả Máccô: “Hãy đễ những đứa trẻ được ăn no trước đã” (Mc 7,25a). Thế nhưng, mục đích của Đức Giêsu chỉ có một: Giúp người phụ nữ tiến tới trên hành trình đức tin của mình và Người đã thành công.

7.Chó con chỉ ăn những mảnh vụn rơi xuống từ bàn của chủ chúng”: Đây là câu nói mấu chốt, khiến cho Đức Giêsu phải nhìn nhận niềm tin mãnh liệt của bà. Đó là đỉnh điểm của hành trình chứng minh niềm tin của mình: Hai lần nài nỉ, với cấp độ tăng dần, vời hành động cúi xuống dưới chân Đức Giêsu. Lúc bà nói câu này, có lẽ, bà vẫn quỳ gối, chưa kịp đứng lên. Một chút tự ái sẽ làm cho mọi cố gắng của bà tiêu tan trong chốc lát. Bà vẫn kiên trì, khiêm hạ, hiểu biết lý lẽ.[16] Cách gọi của bà dành cho Đức Giêsu vẫn trân trọng như lúc đầu “thưa Ngài”. Bà khiêm tốn nhìn nhận thân phận “những chú cho con” của mình và con gái mình, đối lại với ông chủ là Đức Giêsu.[17] Người đàn bà gián tiếp nhìn nhận Đức Giêsu là ông chủ của mình. Khác với Máccô, tác giả Mátthêu nói là “từ bàn của ông chủ của chúng” (Mc 7,28: “Những chú chó con dưới bàn ăn những mảnh vụn từ những đứa trẻ”. “Những mảnh vụn” tượng trưng cho chút ân huệ còn lại của ông chủ, sau khi phần ân huệ chủ yếu đã dành cho con cái Israel.

8.“Oh, người phụ nữ! Đức tin của bà lớn thật!” Sau câu nói của người phụ nữ, Đức Giêsu lập tức xác nhận niềm tin của bà một cách long trọng.[18] Lần đầu tiên trong câu chuyện, và cũng là lần duy nhất trong Mátthêu, Đức Giêsu gọi danh xưng “người phụ nữ” (γύναι). Gioan là tác giả dùng nhiều nhất cách gọi này: Hai lần cho mẹ Maria (Ga 2,4;19,26); Một lần cho người phụ nữ Samari (Ga 4,21); Một lần cho người phụ nữ ngoại tình (8,10); Hai lần cho Maria Madalena (20,13.15. Luca ghi lại hai trường hợp: Đức Giêsu gọi người phụ nữ bị còng lưng (Lc 13,12) và Phêrô gọi người đầy tớ gái (Lc 22,57). Đây có thể là cách gọi lịch sự, tôn trọng dành cho một người phụ nữ mới gặp lần đầu, cũng có thể là cách gọi trang trọng dành cho Đức Maria. Đây không phải lần đầu tiên Đức Giêsu ngợi khen niềm tin của một người ngoại. Trong câu chuyện chữa lành đầy tớ một người đại đội trưởng (Mt 8,5-13), Đức Giêsu cũng tuyên bố: “Tôi bảo thật các ông rằng tôi không thấy một người Israel nào có lòng tin như vậy” (Mt 8,10). Niềm tin của người phụ nữ này biện minh cho việc Đức Giêsu đến vùng Turos và Syđônos và Người không đuổi người phụ nữ đi, theo như yêu cầu của các môn đệ. Niềm tin của bà trái ngược lại sự chối từ của các Kinh Sư và những người Pharisêu đến từ Jêrusalem trong tranh luận về luật thanh tẩy trước đó.

9.Hãy xảy ra cho bà như bà muốn… con gái của bà ấy được cứu chữa từ giờ ấy: Đức Giêsu đã tỏ lòng thương xót theo tiến trình thỉnh cầu của người phụ nữ. Phải gọi là tiến trình vì đó không phải là một lời thỉnh cầu đơn lẻ. Người phụ nữ đã thực hiện nhiều lời thỉnh cầu cùng với hành động phủ phục và cả sự khiêm hạ. Đó là một hành trình minh chứng đức tin mạnh mẽ. Cụm giới từ chỉ thời gian “từ giờ ấy” (ἀπὸ τῆς ὥρας ἐκείνης) nhấn mạnh hiệu quả câu tuyên bố của Đức Giêsu: “Hãy xảy ra như bà muốn”.

V.BÌNH LUẬN TỔNG QUÁT

 Sau cuộc tranh luận gay gắt giữa nhóm Kinh Sư – Pharisêu đến từ Jêrusalem và Đức Giêsu, liên quan đến việc giữ luật thanh tẩy tay trước khi ăn. Luật này dựa trên nền tảng thức ăn sạch hay dơ, ăn thức ăn như thế nào có thể làm cho người ta trở nên thanh sạch hay ô uế. Quan điểm của nhóm giáo quyền Jêrusalem là nếu ai dùng bữa mà không thanh tẩy đôi tay thì sẽ trở nên ô uế. Ô uế thì đối nghịch lại với sự thánh thiện. Ô uế thì không còn xứng đáng là dân Thiên Chúa nữa vì Thiên Chúa là Đấng Thánh. Quan điểm của Đức Giêsu là: “Ăn mà không rửa tay không làm cho người ta ra ô uế được” (Mt 15,20); vì “Không phải những cái bên ngoài đi vào miệng làm cho người ta ra ô uế được, nhưng những cái từ miệng xuất ra mới làm cho người ta ra ô uế” (Mt 15,11). Những điều xấu xa mà xuất ra từ lòng người mà Đức Giêsu nói là: Ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống” (Mt 15,19). Sau cuộc tranh luận này, Đức Giêsu lập tức đi về vùng dân ngoại – Turos và Xiđônos – là vùng có thể gây ô uế theo quan điểm của người Do Thái. Đây chắc chắn không phải là một chuyến du lịch, du ngoạn. Đó cũng không phải là chuyến đi tình cờ, vì Đức Giêsu phải đi từ bờ hồ Ghênêxarét đến vùng bờ biển Địa Trung Hải, một quãng đường dài từ Đông qua Tây. Đức Giêsu rõ ràng có chủ đích khi đến vùng này. Người sẵn sàng đi vào vùng đất mà người Do Thái đương thời xem là ô uế. Người phụ nữ Canaan khởi đầu với lời cầu khẩn “xin thương xót tôi!”, một lời cầu khẩn dân Chúa chỉ dùng để cầu cùng Chúa trong Cựu Ước. Lạ thay, một người phụ nữ gốc dân ngoại lại cầu xin một cách khẩn thiết với “Con Trai của Đavíd”. Dù là người Canaan, bà lại dùng một danh xưng gợi nhớ truyền thống về Đấng Mêsia trong dòng lịch sử dân Israel. Đấng Mêsia được hứa xuất thân từ dòng dõi vua Đavíd. Cách gọi này cũng không nằm ngoài khung thần học của Matthêu, bởi ngay từ đầu (trong gia phả), tác giả đã giới thiệu Đức Giêsu là “Con Trai của Đavíd”. “Con Trai của Đavíd” trong bối cảnh này là một người có khả năng trục xuất quỷ. “Trục xuất quỷ” là dấu hiệu cho sự hiện diện của Nước Thiên Chúa. Tuy nhiên, toàn bộ câu chuyện này không nhắm đến phép lạ trục xuất quỷ, mà là hành trình chứng tỏ đức tin của người phụ nữ dân ngoại. Bà đã không ngừng nài xin Đức Giêsu, và sẵn sàng quỳ dưới chân Người, thậm chí nhìn nhận thân phận “chó con” của mình, so với thân phận “con cái” của người Israel. Cuối cùng, Đức Giêsu đã phải nhìn nhận niềm tin mãnh liệt của bà và cho bà được như ý muốn. Niềm tin của người phụ nữ này đã chứng minh một thực tế rằng: Trong khi những lãnh đạo Do Thái không muốn đón nhận Đức Giêsu, những người ngoại lại rộng mở đón nhận Người. Đó là lý do vì sao Đức Giêsu cần phải đến với vùng dân ngoại. Sự kiện Đức Giêsu đến với dân ngoại dường như cũng muốn lý giải vì sao trong cộng đoàn Mátthêu, cộng đoàn gốc Do Thái, cũng có những người gốc dân ngoại. Trong Tin Mừng Mátthêu, những người Israel được ưu tiên nghe Tin Mừng, nhưng những người ngoại cũng không bị loại trừ. Sứ vụ của Đức Giêsu luôn mở rộng ra cho tất cả mọi người. Những ai mở lòng đón tiếp Người đều được Người tỏ lòng thương xót.

C/ Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XX Thường Niên Năm A dâng hiến một chủ đề chung: đón tiếp muôn dân nước, bất cứ những ai bày tỏ niềm tin của mình vào Thiên Chúa.

Is 56: 1, 6-7
Bài Đọc I là sứ điệp loan báo ơn cứu độ phổ quát: mời gọi cộng đoàn Giê-ru-sa-lem đón nhận vào lòng cộng đoàn mình những kiều cư tôn kính Thiên Chúa Ít-ra-en.

Rm 11: 13-15, 29-32
Trong thư gởi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô nhắc lại rằng ngài là Tông Đồ dân ngoại: vì dân Do thái từ chối nên lời loan báo cứu độ được gởi đến cho muôn dân.

Mt 15: 21-28
Đoạn Tin Mừng theo thánh Mát-thêu tường thuật câu chuyện người đàn bà xứ Ca-na-an. Cuối cùng, Đức Giê-su đáp trả lời khẩn cầu kiên vững nhưng khiêm tốn của người đàn bà ngoại giáo nầy và ca ngợi đức tin của bà.

BÀI ĐỌC I (Is 56: 1, 6-7)
Đoạn trích nầy mở ra phần thứ ba của sách I-sai-a. Phần nầy, xét toàn bộ, được gán cho vị ngôn sứ biệt danh là I-sai-a đệ tam (ch. 56-66), vì người ta không biết tên ông. Cũng như vị tiền nhiệm của ông, ngôn sứ I-sai-a đệ nhị (ch. 40-55) kín đáo ẩn mình dưới danh nghĩa của vị ngôn sứ I-sai-a vĩ đại, được gọi là I-si-a đệ nhất (ch. 1-39).
Ngôn sứ I-sai-a đệ tam thực hiện sứ vụ của mình ở Giê-ru-sa-lem, trong những thập niên sau cuộc lưu đày Ba-by-lon trở về, và nhất là vào thời kỳ tái thiết Đền Thờ (521-515 tCn).
Ngay đầu tác phẩm của mình, vị ngôn sứ công bố sứ điệp phổ quát của ơn cứu độ.

1.Những kiều cư.
Chắc chắn vào lúc nầy có một số lượng khá lớn ngoại kiều ở Giê-ru-sa-lem và Giu-đê. Chúng ta nghĩ đến những ngoại bang đã đến định cư ở đây trong khi một phần dân cư bị đưa đi lưu đày tại Ba-by-lon.
Đối với kiều cư được gọi là gérim, tức là những ngoại kiều đến định cư lập nghiệp dài lâu trên đất Do thái, luật dự kiến một quy chế thuận lợi; họ được hưởng một số quyền lợi được luật qui định. Sách Lê-vi đồng hoá họ với “những người thân cận” và đòi hỏi phải “yêu thương họ như chính mình” (Lv 19: 33-34).
Vì thế, “nhân danh đức công chính và điều chính trực”, vị ngôn sứ tố cáo những kỳ thị đối với những kiều cư này:
“Đức Chúa phán như sau: Hãy tuân giữ điều chính trực,
thực thi điều công minh, vì ơn cứu độ của chúng ta đã gần tới,
và đức công chính của Ta sắp được biểu lộ” (Is 56: 1)
Diễn ngữ: “Vì ơn cứu độ của Ta đã gần tới”, muốn nói rằng Đức Chúa sẵn sàng can thiệp bởi vì Ngài là Đấng bảo vệ những người đơn côi yếu hèn.

2.Yêu mến Thánh Danh.
Ngôn sứ liệt kê những điều kiện khái quát về việc đón nhận những kiều cư vào lòng cộng đoàn Ít-ra-en:
“Người ngoại bang nào gắn bó cùng Đức Chúa
để phụng sự và yêu mến Thánh Danh,
cũng trở nên tôi tớ của Người ” (56: 6).
Theo văn hóa Do thái, tên chính là người mang tên ấy, vì thế, “Yêu mến Thánh Danh” không gì khác là “yêu mến chính Thiên Chúa”. Kiểu nói: “Yêu mến Thánh Danh” không gặp thấy nơi nào khác ngoài đoạn văn Cựu Ước nầy. Nhưng thật có ‎ý nghĩa khi vị ngôn sứ đòi hỏi trước tiên lòng yêu mến đối với Thiên Chúa. Kiểu nói: “Để phụng sự Người và yêu mến Thánh Danh” không phân biệt các tín hữu thuộc bất kỳ tôn giáo nào, miễn là có lòng yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của dân Ít-ra-en. Kiểu nói: “tôi tớ”, chỉ chung các tín hữu.
“Hết những ai giữ ngày sa-bát mà không vi phạm”: Điểm nhấn được đặt trên “ngày sa-bát” rất có ý nghĩa. Trong thời lưu đày, việc tuân giữ ngày sa-bát đã mang lấy một tầm quan trọng lớn lao. Ngày sa-bát đã trở nên dấu chỉ biệt phân, qua đó người Do thái bị tản mác ở giữa dân ngoại khẳng định căn tính của mình.
“Cùng những ai tuân thủ giao ước của Ta”: Câu nầy tóm gọn những đòi hỏi ở trên. Trong số những đòi hỏi nầy, phép cắt bì không được kể ra. Vả lại, phép cắt bì chỉ đòi hỏi những tân tòng, tức là những ai muốn trở thành dân Chúa chọn, chứ không “những người kính sợ Thiên Chúa”, tức là những người có thiện cảm với Do thái giáo. Sau này, thánh Phê-rô công bố chiều kích phổ quát tại nhà viên quan chức Rô-ma, ông Co-nê-li-ô: “Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào. Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận” (Cv 10: 34-35).

3.Sứ điệp phổ quát.
Nhân danh Đức Chúa, vị ngôn sứ công bố: Phục hồi quyền lợi của những kiều cư, tháp nhập họ vào dân Thiên Chúa là sáng kiến của Thiên Chúa:
“Đều được Ta dẫn lên Núi Thánh,
và cho hân hoan nơi nhà cầu nguyện của Ta” (56: 7)
Trong Kinh Thánh, chúng ta thường gặp thấy niềm vui được phụng thờ Thiên Chúa. Các “Thánh Vịnh lên đền” đều ca ngợi tâm tình hân hoan tôn giáo nầy, ví dụ như Thánh Vịnh 43:
“Con sẽ bước tới bàn thờ Thiên Chúa,
tới gặp Thiên Chúa, nguồn vui của lòng con” (Tv 43: 4).
Vị ngôn sứ loan báo rằng mọi hiến lễ mà muôn dân dâng lên trên bàn thờ Thiên Chúa đều được Ngài chấp nhận:
“Trên bàn thờ của Ta, Ta sẽ ưng nhận,
những lễ toàn thiêu và hy lễ chúng dâng,
vì nhà của Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân”:
Đây là biểu thức có cung giọng đặc biệt, một trong những cung giọng mang chiều kích phổ quát nhất trong toàn bộ Cựu Ước. Đức Giê-su sẽ lập lại biểu thức nầy khi Ngài đuổi những người buôn bán súc vật để làm hiến lễ và những người đổi tiền ra khỏi Đền thờ, nơi lương dân mong ước đến cầu nguyện với Thiên Chúa Ít-ra-en. Hành vi của Đức Giê-su không chỉ muốn nói rằng tất cả những gì làm tục hóa Đền Thờ rồi sẽ sớm biến mất, nhưng nơi thánh thiêng nầy phải được dành cho mọi dân tộc.

BÀI ĐỌC II (Rm 11: 13-15, 29-33)
Đoạn trích thư của thánh Phao-lô gởi tín hữu Rô-ma hôm nay hòa hợp với các bài đọc khác của Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật nầy: cả ba bài đọc đều nói về việc rộng mở cửa đón nhận muôn dân.
Việc rộng mở cửa đón nhận muôn dân nầy càng cần thiết hơn khi dân Do thái, nói chung, cố chấp trong sự mù quáng của mình. Đó là nguyên do ưu phiền của thánh Phao-lô. Thánh nhân ngỏ lời với các tín hữu Rô-ma, những người xuất thân từ ngoại giáo: “Tôi xin nói với anh em là những người gốc dân ngoại.”
Thánh Phao-lô tự đặt mình lần lượt vào trong hai viễn cảnh: viễn cảnh của chính ngài, vị Tông Đồ dân ngoại, và viễn cảnh của Thiên Chúa, Đấng đầy lòng xót thương.

1.Viễn cảnh của vị Tông Đồ dân ngoại.
Khi mới đọc đoạn thư này lần đầu, chúng ta có thể nghĩ rằng thánh Phao-lô dâng trọn cuộc đời mình cho sứ vụ tông đồ dân ngoại với một hậu ý: để sinh lòng ghen tức ở nơi đồng bào của mình trước việc dân ngoại mỗi ngày mỗi đông đúc được dự phần vào kế hoạch của Thiên Chúa, thay thế cho dân Chúa chọn. Chắc chắn đây không là mục đích hàng đầu trong hoạt động truyền giáo của thánh nhân, nhưng chỉ là ý định kèm theo của thánh nhân. Ở đây thánh nhân bày tỏ nỗi lòng của mình: ơn cứu độ của dân Ít-ra-en ám ảnh thánh nhân. “Một ích người” mà thánh nhân mong muốn cảm hóa đức tin của họ, xem ra như mầm mống và bảo chứng cho cuộc hoán cải của tất cả những người khác.
Nếu việc dân Do thái bị gạt ra ngoài đã là cơ hội cho thế giới được hòa giải với Thiên Chúa, tức là cuộc hoán cải của dân ngoại, giai đoạn đầu tiên của ơn cứu độ phổ quát cho muôn người, thì giai đoạn thứ hai sẽ là tuyệt vời biết mấy, khi toàn thể dân Ít-ra-en tái sáp nhập vào cộng đồng tin: đó sẽ được ví như các vong nhân sống lại từ cõi chết.

2.Viễn cảnh của Thiên Chúa đầy lòng xót thương.
Đối với vị Tông Đồ dân ngoại, Thiên Chúa không thể bỏ rơi dân riêng của Ngài: ân ban và ơn gọi bất khả đổi thay. Cả dân ngoại lẫn dân Do thái đều đã “không vâng phục Thiên Chúa”. Ở đầu bức thư của mình, thánh nhân đã cho thấy rằng dân ngoại đã đón nhận đủ ánh sáng ngõ hầu cư xử với nhau một cách chính trực và từ tâm, nhưng họ đã lún sâu vào sự bất chính và thờ ngẫu tượng, theo nghĩa nầy, họ đã không vâng phục Thiên Chúa. Dân Do thái, đến giờ Thiên Sai, đã không thấy ánh sáng, đến phiên mình họ cũng đã không vâng phục Thiên Chúa.
Vị Tông Đồ thiết lập mối quan hệ nhân quả giữa việc bất phục tùng của dân Ít-ra-en và sự hoán cải của dân ngoại. Chắc chắn đây là quan hệ nhân quả lịch sử. Trước việc người Do thái chống đối có hệ thống, thánh Phao-lô, Ba-na-ba và các tông đồ khác đã cương quyết quay về phía dân ngoại. Nhưng, còn sâu xa hơn, thánh nhân cho thấy mối quan hệ nhân quả thuộc trật tự tâm lý trong ‎ ý định Thiên Chúa. Lúc đó, theo thể loại đối xứng đặc thù Sê-mít, thánh nhân mô tả chuyển động kép của lòng Chúa xót thương: lòng xót thương mà dân ngoại đã có được khi trở về cùng Thiên Chúa, lòng xót thương mà dân Ít-ra-en sẽ được hưởng khi trở lại cùng Thiên Chúa. Cuối cùng, thánh nhân tóm lại chương trình quan phòng của Thiên Chúa, trong một biểu thức thấm thía: “Quả thế, Thiên Chúa đã giam hãm mọi người trong tội không vâng phục, để thương xót mọi người”.

TIN MỪNG ( Mt 15: 21-28)
Câu chuyện người đàn bà xứ Ca-na-an được định vị trong bối cảnh đặc thù: kể từ phép lạ hóa bánh ra nhiều và việc đám đông dân chúng không nhận ra sứ điệp của Ngài, Đức Giê-su đã quyết định hướng sứ vụ của mình hơn nữa về việc đào tạo các môn đệ của mình. Vì thế, “Đức Giê-su lui về miền Tia và Xi-đôn”. Lúc này, Ngài đang ở miền đất dân ngoại. Ngài đã vượt qua biên giới phân chia giữa miền Ga-li-lê và xứ Phê-ni-xi, xa khỏi đám đông Do thái và những luật sĩ, những người đã đặt ra nhiều câu hỏi để quấy nhiểu Ngài. Trong bầu khí yên tỉnh của miền đất dân ngoại này, Ngài dành hết thời gian cho các môn đệ mà Ngài muốn chuẩn bị sứ mạng tương lai của họ.

1.Sự xuất hiện của một người đàn bà xứ Ca-na-an:
“Thì nầy có một người đàn bà xứ Ca-na-an…”. Ca-na-an là tên cổ xưa của Phê-ni-xi, như trong cùng một câu chuyện thánh Mác-cô xác định rõ nguồn gốc của người phụ nữ này: “Bà là người Hy-lạp, gốc Phê-ni-xi thuộc xứ Xy-ri” (Mc 7: 26). Khi sử dụng kiểu nói: “người đàn bà Ca-na-an”, thánh Mát-thêu không quan tâm đến tên gọi cổ xưa, nhưng gợi lên quá khứ thù địch giữa dân Ca-na-an và dân Ít-ra-en, cũng như thánh Gioan nói “người đàn bà Sa-ma-ri” để hàm chứa ở nơi tên gọi nầy những ký ức thù nghịch không đội trời chung giữa hai dân tộc nầy (Ga 4: 9). Thêm nữa, khi nói “người đàn bà Ca-na-an”, thánh Mát-thêu muốn khẳng định rằng bà không phải dân Do thái đến lập nghiệp ở đây, nhưng thật sự là dân ngoại.
Người đàn bà Ca-na-an trước đây đã nghe nói về Đức Giê-su. Vì thế, khi nghe biết Đức Giê-su hiện đang có mặt ở trong miền, bà đến khẩn khoản van xin Ngài, không phải cho bà nhưng cho đứa con gái bệnh hoạn khốn khổ của bà: “Lạy Ngài là Con vua Đa-vít, xin rũ lòng thương tôi! Đức con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm”. Bengel đã nói về bà: “Bà đã xem nỗi bất hạnh của con bà như của chính bà”. Còn William Barclay thì xoáy sâu vào tình mẫu tử ở nơi người đàn bà ngoại giáo nầy: “Chính bởi tình yêu khiến bà đến gần người ngoại quốc nầy, chính tình yêu khiến bà cam chịu sự nín lặng, lạnh nhạt của Ngài mà vẫn tiếp tục kêu xin, chính tình yêu mà bà cam chịu đau khổ vì lời từ chối tàn nhẫn, chính tình yêu mà đã khiến bà có thể thấy được niềm thương cảm phía sau những lời nói của Chúa Giê-su”.[1]
Khi đặt trên môi miệng của người phụ nữ ngoại giáo này lời khẩn cầu với tước hiệu thiên sai đặc thù của dân Do thái: “Lạy Ngài (kurie) là Con vua Đa-vít”, phải chăng thánh Mát-thêu muốn nhấn mạnh sự bạo dạn của người đàn bà Ca-na-an nầy? Hay đúng hơn thánh nhân muốn ghi nhận ở nơi người đàn bà nầy một tấm lòng tin tưởng không hề lay chuyển ngay từ giây phút gặp gỡ ban đầu? Chúng ta lưu ý rằng trong câu chuyện này những lời khẩn cầu của người phụ nữ nầy vang lên cung giọng phụng vụ: “Lạy Ngài (“Kurie”) là Con vua Đa-vít, xin rủ lòng thương tôi!”“Lạy Ngài (“Kurie”), xin cứu giúp tôi!”, như “Lạy Chúa, xin thương xót chúng con” (“Kyrie Eleison”).
Với lời khẩn cầu này, thánh Mát-thêu chuẩn bị cho chúng ta tham dự vào chiều kích vĩ đại trong phần tiếp theo của câu chuyện.

2.Thái độ thinh lặng kỳ lạ của Đức Giê-su.
Để khơi dậy đức tin ở nơi người đàn bà xứ Ca-na-an, Đức Giê-su sử dụng khoa sư phạm có thể được gọi phương pháp thử thách. Phương pháp nầy bao gồm hai giai đoạn: trước hết, thinh lặng: “Người không đáp một lời nào”; đoạn, từ chối thẳng thừng. Người đàn bà vẫn bám riết theo Ngài mà kêu xin đến mức các môn đệ cảm thấy động lòng nên xin Đức Giê-su: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi!”.

3.Một đức tin trải qua thử thách.
Đức Giê-su đáp lại các ông bằng lời từ chối thẳng thừng, nhưng thật ra Ngài muốn người đàn bà nghe được: “Thầy chỉ được sai đến cứu những con chiên lạc nhà Ít-ra-en mà thôi”. Vào lúc sai nhóm Mười Hai đi truyền giáo, Đức Giê-su đã chỉ thị cho họ theo cùng một cách như vậy: “Anh em đừng đi về phía các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của dân Sa-ma-ri. Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en.” (Mt 10: 5-6).
Quả thật, Đức Giê-su đặt ưu tiên “các con chiên lạc nhà Ít-ra-en” cho sứ mạng của Ngài. Tuy nhiên, Ngài đã động lòng xót thương trước lời khẩn cầu của viên quan ngoại giáo tại Ca-pha-na-um cho người đầy tớ đau nặng. Có biết bao nhiêu việc tương tự như thế giữa câu chuyện của viên quan ngoại giáo và câu chuyện người đàn bà Ca-na-an. Ngài không đóng kín lòng mình đối với dân ngoại. Họ là hoa trái đầu mùa sứ điệp của Ngài. Tuy nhiên, đó là thời gian của các môn đệ Ngài, các ngài sẽ thực hiện tất cả mọi chiều kích rộng mở cho muôn dân nước.
Lời từ chối thẳng thừng của Đức Giê-su cũng không làm cho người phụ nữ này nao núng, bà đến sụp lạy mà van xin: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi!”. Đức Giê-su đáp lại cách dứt khoát khi viện dẫn rằng bà không thuộc dân của Ngài: “Không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con”. Dân Do thái thường khinh bỉ dân ngoại là “Đồ lũ chó dân ngoại”. Tuy nhiên, trong lời nói của Đức Giê-su “lũ chó con” từ Hy lạp Kunaria gợi lên chó nuôi trong nhà, là con vật cưng đối lập với chó hoang lang thang kiếm ăn ngoài đường. Vì thế, thánh Mác-cô, trong cùng một câu chuyện, đặt hoạt cảnh nầy “vào trong một nhà nọ” (Mc 7: 24). Câu trả lời của Đức Giê-su và câu đáp trả của người đàn bà rất đối xứng với nhau theo từng từ và được định vị vào bối cảnh trong nhà: bánh, chó con, bàn ăn, những mảnh vụn.

4.Niềm tin kiên vững nhưng khiêm tốn của người đàn bà Ca-na-an.
Người đàn bà Ca-na-an trả lời với tất cả tấm lòng khiêm cung của mình: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con lại được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống”. Bà nhìn nhận rằng sứ điệp của Đức Giê-su gởi đến ưu tiên cho dân Do thái và tất cả phép lạ Ngài đã thực hiện trước hết trên quê hương của Ngài: “Thưa Ngài, đúng thế”. Nhưng với một ‎trực giác tuyệt vời, bà tin rằng lòng Chúa xót thương chắc hẳn vượt ra bên ngoài dân Do thái, vì thế, bà cũng có thể đón nhận những mảnh vụn của lòng Chúa xót thương.
Đức Giê-su thán phục đức tin của người đàn bà Ca-na-an như Ngài đã thán phục đức tin của viên quan ngoại giáo. Vì thế, Ngài nhận lời khẩn cầu của bà: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được như vậy”.

5.Dấu chỉ của bánh.
Trong cuộc đối thoại của Đức Giê-su với người phụ nữ ngoại giáo này, từ “bánh” được lập đi lập cả trong lời tuyên bố của Đức Giê-su lẫn trong lời đáp trả của bà. Thật khó mà nghĩ rằng đây chỉ là một sự ngẫu nhiên. Theo lời Đức Giê-su, bánh trước hết được dành riêng cho “con cái”, nghĩa là cho dân Do thái, dân Chúa chọn, đám đông nầy mà Đức Giê-su đã nuôi ăn no nê bằng bánh vật chất, nhưng tiên báo bánh siêu nhiên, như bánh man-na trong sa mạc loan báo những thiện hảo của thời thiên sai.
Từ bánh nầy mà người đàn bà xứ Ca-na-an đã đón nhận những mảnh vụn. Bà đã nhận được bảo chứng của những phúc lộc Nước Trời mà các môn đệ sau biến cố Phục Sinh nhận được chỉ thị phân phát trọn vẹn cho muôn dân. Thật có ý nghĩa biết bao, sau câu chuyện này, thánh Mát-thêu kể cho chúng ta câu chuyện “Đức Giê-su hóa bánh ra nhiều” lần thứ hai cho đám đông dân chúng trong vùng đất ngoại giáo này (Mt 15: 32-39).

D/ Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

DÂN NGOẠI CŨNG ĐƯỢC HƯỞNG ƠN CỨU ĐỘ

Qua Lời Tổng Nguyện của Chúa Nhật Thường Niên XX, Năm A này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Gia nghiệp Chúa hứa ban cho ta thì cao quý hơn những gì lòng ta dám ước mong. Do đó, chúng ta phải yêu mến Chúa trên hết mọi sự, hơn hết mọi loài. Không phải: chỉ có dân Dothái được hưởng gia nghiệp của Chúa, nhưng, dân ngoại cũng được thừa hưởng cùng một lời hứa, miễn là: họ yêu mến Chúa và tuân giữ những gì Người truyền dạy. Thật vậy, Thiên Chúa là muốn cho tất cả mọi người được hưởng cứu độ của Người (x.1Tm 2,3-4). Thánh Phaolô đã khẳng định rằng: “Trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại cùng được thừa kế gia nghiệp với người Dothái, cùng làm một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa”  (Eph 3,5-6).

Trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, ngôn sứ Isaia được mời gọi làm ngôn sứ để loan báo cho muôn dân biết: Thiên Chúa là Đấng Siêu Việt Tuyệt Đối, cả mặt đất sẽ đầy tràn vinh quang Chúa, đồng thời, cũng cảnh báo Ítraen chỉ còn một số nhỏ sống sót mà thôi. Điều này được ngôn sứ nói rõ hơn trong bài đọc một của Thánh Lễ: dân ngoại sẽ gắn bó với Đức Chúa qua việc tuân giữ điều chính trực, thực hành điều công chính, phụng sự Đức Chúa, yêu mến Thánh Danh, và dân ngoại sẽ được Đức Chúa dẫn lên Núi Thánh của Người.

Trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, thánh Gioan Kim Khẩu khi chú giải câu Thánh Kinh “Chính anh em là muối cho đời, và ánh sáng cho trần gian”, thánh nhân nói: “Thầy không chỉ sai anh em đến với hai thành, mười thành, hay hai mươi thành, cũng không sai anh em đến với một dân tộc như sai các ngôn sứ xưa, nhưng Thầy sai anh em đi khắp cả địa cầu, biển khơi, đến với toàn thế giới đang bị ảnh hưởng xấu xa… Bấy giờ, anh em sẽ là chứng nhân của Thầy cho đến tận cùng trái đất”. Thánh nhân muốn cho thấy ơn cứu độ là phổ quát, là dành cho tất cả mọi người. Điều này cũng được thánh Phaolô, Tông Đồ của dân ngoại, khẳng quyết trong bài đọc hai của Thánh Lễ: ơn cứu độ mà Thiên Chúa đã hứa ban, thì không bao giờ Người rút lại, chỉ có điều, chúng ta có yêu mến, vâng phục Chúa để được hưởng ơn cứu độ của Người hay không mà thôi: kẻ bên trong, nhưng lại ở ngoài; kẻ bên ngoài, nhưng lại ở trong.

Bài Đáp Ca với Thánh Vịnh 66, vịnh gia đã kêu gọi “chư dân”, nghĩa là, dân ngoại hãy ca tụng Đức Chúa. Vịnh gia cũng ước mong cho cả hoàn cầu biết đường lối Chúa, và muôn nước biết ơn cứu độ của Người.

Dân ngoại cũng được hưởng ơn cứu độ của Chúa. Điều này được thể hiện rõ nét nhất trong bài Tin Mừng hôm nay, mà người đàn bà Canaan là đại diện. Bà đã làm gì, để được hưởng điều cao quý hơn những gì mà lòng bà ước mong? Thưa, bà đã hoàn toàn tin tưởng, yêu mến, vâng phục Đức Giêsu, bằng chứng là, bà tự nhận mình là chó, tự đánh mất phẩm giá của một con người, để được nhận làm con Thiên Chúa, hưởng gia nghiệp, ơn cứu độ của Người.

Đức Kitô chính là Đấng Cứu Độ Duy Nhất, ngoài Người ra không ai có thể đem lại ơn cứu độ. Hội Thánh là nhiệm thể của Đức Kitô, ngoài Hội Thánh, không có ơn cứu độ, nhưng, Hội Thánh ở đây phải được hiểu là Hội Thánh phổ quát, là bí tích cứu độ phổ quát, nghĩa là, bao gồm tất cả những ai kết hiệp với Mầu Nhiệm Vượt Qua của Đức Giêsu. Do đó, ơn cứu độ dành cho tất cả mọi người, mọi nơi và mọi thời, bất luận, họ sống trong hay ngoài Hội Thánh hữu hình, trước hay sau Đức Giêsu lịch sử.

Chúng ta thuộc về Hội Thánh hữu hình, nhưng, coi chừng: kẻ ở trong nhà, thì lại là người ở ngoài, còn kẻ ở ngoài, thì lại là người ở trong. Chúng ta ở trong Hội Thánh hữu hình, nếu chúng ta không tin nhận Đức Kitô, chối từ ân sủng, thì chúng ta không thể được cứu rỗi. Quả thật, lỗi cố tình này nhiều khi được cho là tội phạm đến Chúa Thánh Thần: cố tình chối từ ơn thánh, và những phương tiện cần thiết để được cứu độ. Qua biến cố Đức Kitô, ơn cứu độ đã được thực hiện cách thành toàn. Ơn cứu độ Người thực hiện mang tính phổ quát, áp dụng cho mọi người, mọi nơi và mọi thời. Lệnh truyền của Đức Giêsu trước khi lên trời đã chứng thực điều đó (x. Mc 16,15-16). Vì thế, Đức Kitô trở thành Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người. Nhờ Người, muôn vật được tạo thành, cũng nhờ người muôn loài được ơn cứu độ (x. Cv 4,12). Chính Người cũng ủy thác cho Hội Thánh phân phát các mầu nhiệm cứu độ cho muôn dân.

Chúng ta với tư cách là thành viên của Hội Thánh, chúng ta cũng phải loan truyền ơn cứu độ đến cho tất cả mọi người bằng chính đời sống chứng tá của chúng ta, bằng những ưu tiên lựa chọn hằng ngày của cuộc sống: quyết chọn Đức Kitô và thuộc về Đức Kitô, cho dẫu, chúng ta phải bị trả giá: bị bách hại, bị khinh khi, bị thiệt thòi mất mát: mất danh dự, mất quyền lợi, hay mất cả mạng sống mình.

E/ Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

 CHÚA MUỐN CỨU RỖI MỌI NGƯỜI

A.DẪN NHẬP

 Thiên Chúa không dành riêng ơn cứu độ cho một dân tộc nào, mà muốn dành cho mọi dân tộc không phân biệt màu da, tiếng nói. Dân Do thái là dân được tuyển chọn, dân riêng của Chúa được chuẩn bị để đón nhận ơn cứu độ, đón nhận lời rao giảng của Chúa Giêsu, nhưng họ đã từ chối, lại còn chống đối Ngài.

 Người đàn bà Canaan là đại diện cho dân ngoại được đón nhận đức tin, được Chúa ban hồng ân theo lòng tin khiêm tốn và kiên trì của bà. Chính Chúa Giêsu đã phải bỡ ngỡ về lòng tin sắt đá của bà, nên đã khen ngợi: “Lòng tin của bà mạnh thật”, và đáp lại lòng tin ấy Chúa Giêsu đã nói: “Bà muốn sao thì được như vậy”.

 Chúng ta là những Kitô hữu, ai cũng đã có đức tin nhưng nhiều khi còn non yếu, có khi còn non yếu hơn cả người ngoại. Hãy củng cố đức tin ấy và sẵn sàng đón nhận những thử thách Chúa gửi cho, để đức tin của chúng ta mỗi ngày một tăng trưởng dưới sự hướng dẫn và che chở của Chúa.

B.TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+Bài đọc 1: Is 56,1.6-7

 Tiên tri Isaia đã viết đoạn sách này từ một thế kỷ sau cuộc lưu đày ở Babylon. Dân Israel được trở về quê hương, xây dựng lại đền thờ Giêrusalem, và đền thờ trở nên trung tâm của mọi sinh hoạt tôn giáo và xã hội. Isaia cho biết: Thiên Chúa không những chỉ dành ơn cứu độ cho dân riêng của Ngài là Israel, Ngài còn muốn mở rộng dân này bằng cách nhận tất cả những ai thừa nhận Ngài, như là Đức Chúa chân thật và duy nhất, mà hiến thân phục vụ Ngài, vì “Nhà Ta là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc”.

+Bài đọc 2: Rm 11,13-15.29-32

 Trên bước đường truyền giáo, thánh Phaolô thấy dân Do thái đã được chuẩn bị đón Chúa lại khước từ không nhận Ngài. Tuy thế, Ngài không thất vọng, vì dân ngoại đã có lòng tin mạnh mẽ, nên được Thiên Chúa xót thương, để cho dân Do thái, dân đã có đạo từ lâu, thấy mình không được ơn thương xót cứu giúp vì kém lòng tin, nên phải có lòng tin mạnh mẽ mới mong được ơn thương xót của Chúa.

 Lòng thương xót của Chúa đối với dân ngoại là một đòn bẩy gián tiếp bẩy dân có đạo noi gương lòng tin mạnh mẽ của dân ngoại, đánh thức lòng tin của dân Chúa để sẽ được Chúa xót thương.

+Bài Tin mừng: Mt 15,21-28

 Bài Tin mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta: Thiên Chúa không phải chỉ dành riêng cho dân Do thái, mà còn ban ơn cho cả dân ngoại. Người đàn bà Canaan là một người dân ngoại, đáng lẽ bà không được hưởng hồng ân của Chúa ban, vì Đức Giêsu chỉ muốn thi hành sứ mệnh của Ngài với dân Do thái mà thôi, theo lời Ngài đã hứa với họ, nhưng Chúa không ngần ngại nhận lời cầu xin của người dân ngoại này.

 Tại sao Chúa ban hồng ân cho bà ấy ? Vì bà đã có đức tin rất khiêm nhường và hoàn toàn trông cậy, nên bà ấy đã làm cho Chúa xiêu lòng: Ngài đã nhận lời cầu xin của bà và hứa cho con bà khỏi bị quỉ ám.

 C.THỰC HÀNH LỜI CHÚA: 

LÒNG TIN CỦA BÀ MẠNH THẬT

 Lòng tin mạnh mẽ cần thiết, thế nên lòng tin ấy cần phát sinh tâm tình khiêm hạ, can đảm, kiên trì cũng như niềm hy vọng thật sự, thì lòng tin ấy mới có hiệu lực và ích lợi. Người đàn bà Canaan ngày hôm nay, do lòng tin mạnh mẽ, nên bà đã khiêm hạ thực sự, nhìn nhận tất cả những thành kiến của người khác đối với mình, sự khiêm hạ này đã khiến Đức Kitô động lòng như thế nào ?

 Bà cũng đã can đảm nói lên ước muốn và kiên trì xin cho được một ân huệ, bất chấp sự thinh lặng hững hờ của Chúa Giêsu, và bà đã không thất vọng vì những câu trả lời của Đức Giêsu đối với các môn đệ. Trái lại, qua những lời bà nghe thấy, bà nắm chắc được tia hy vọng lóe sáng ở đó: Ngài để cho vụn bánh từ bàn ăn rơi xuống… nhờ niềm hy vọng mà lời cầu xin của bà ta có sức mạnh.

I.NÓI VỀ ĐỨC TIN

1.Tin là gì ?

 Đức tin là hạt giống thiên ân. Hạt giống đức tin vun trồng nhờ ơn thánh và sự nỗ lực của từng cá nhân. Tin là đòi hỏi chúng ta chấp nhận những điều vượt trên sự lý giải của lý trí. “Tin là chấp nhận vô điều kiện và bước theo” (ĐHY Nguyễn Văn Thuận).

 Phân tích chữ TIN. Chữ TIN bởi chữ TÍN.

 Theo Hán học, chữ TÍN gồm chữ “nhân” và chữ “ngôn”, nghĩa là tin vào lời người khác nói.

 Tiếng Pháp thì chữ CROIRE, nguyên ngữ của nó nghĩa là “dựa vào lời lẽ kẻ khác và chứng kẻ khác mà tin”, vì họ không thể sai lầm và không thể đánh lừa chúng ta.

 Chữ TIN còn có nghĩa rộng là nhận làm chắc chắn những cái ngũ quan ta không thấy, chỉ nhờ lý luận của ta mà biết có thực. Ví dụ: Tôi thấy có vùng khói trước mặt tôi, tôi tin có lửa sau bức tường che mắt tôi.

 Theo triết gia Spinoza và những triết gia khác đã phân tách: tin là việc hoàn toàn tuỳ thuộc vào lý trí, chúng ta tin vì những lý chứng hiển nhiên đáng cho ta tin. Một ý tưởng hiển nhiên nó thúc bảo chúng ta phải tin, chúng ta không thể phủ nhận không tin được …

 Ông J. Calvet nói: “Dĩ nhiên lòng tin phải dựa vào lý chứng, bởi vì một phần nào nó cũng là kiến thức về chân lý, nhưng nó là một hành động tự do của ý chí cho chúng ta tin tưởng gieo mình vào cánh tay của Thiên Chúa, khi ta tới chỗ nào mà khoa học không còn gì cho ta biết nữa” (J. Calvet, Prends et lis, dịch bởi Lê Thành Trị, Tìm hiểu Duy linh, tr 91-92).

2.Thấy và hiểu mới tin ư ?

 Khó hiểu là một chuyện mà phi lý lại là một chuyện khác! Khó hiểu mà hợp với chân lý thì không sao. Chỉ sợ khó hiểu mà đi ngược với chân lý thôi.

 Biết bao điều bí ẩn trong vũ trụ mà ta chưa hiểu hết được, hay nói một cách thông thường, chán chi những sự dễ dàng trước mắt mà ta không hiểu nổi và không hiểu hết.

 Trí khôn con người chỉ hiểu biết một mức nào thôi, cũng ví như cậu học sinh không thể hiểu biết được ngang với trình độ giáo sư. Ví dụ: một em bé, học mới trình độ toán cộng, em làm một bài toán: 1+1+1 = 3. Nhưng tôi lại bảo rằng cũng phương pháp làm toán mà ba con số 1 bằng số 1: 1x1x1 = 1.

 Em bé chưa hiểu quy tắc phép nhân nên không hiểu biết được. Vậy thì hỏi em bé này có tin phương pháp làm toán này không ? Ví dụ trên cũng như trăm ngàn ví dụ khác đều chứng minh cho ta thấy rằng: chán chi sự việc trong đời rất tầm thường mà ta không thể hiểu hết được, nhưng ta vẫn tin (Sđd, tr 88-89).

Truyện: Hiểu mới tin

 Một vị trạng sư tự phụ rêu rao trước mặt đông người rằng: mình chỉ tin cái mình hiểu thôi. Trong đám đông có một thằng nhỏ đã được nghe cha xứ giảng, đứng lên hỏi:

– Thưa ông, nếu vậy ông không tin những gì ông không hiểu ư ?

– Dĩ nhiên thế.

– Thưa ông, vậy xin ông cho cháu biết: tại sao ông cử động được ngón tay ?

– Tại vì ta muốn, chỉ có thế thôi.

– Ông muốn, vậy sao ông không thể cử động được hai tai ?

 Vị trạng sư bí lối không biết trả lời thế nào, bèn mắng:

– Thằng nhỏ này mày muốn giảng cho ta phải không ?

 Nghe vậy mọi người đều cười (Lm. Trần Công Hoán, Tìm hiểu ít thắc mắc, tr 50).

 II.ĐỨC TIN CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ CANAAN

 Người đàn bà Canaan ngoại giáo này có một đức tin đặc biệt đã làm cho Chúa phải xiêu lòng, mà ban cho bà được như ý sở nguyện: “Bà muốn thế nào sẽ được như vậy” (Mt 15,28). Như vậy, đức tin của người đàn bà này có nhiều đặc tính, chúng ta cùng tìm hiểu.

1.Đức tin mạnh mẽ

 Tại sao một số người có đức tin mạnh mẽ, đang khi số khác đức tin lại yếu kém ? Tại sao một số người thấy đức tin là điều dễ dàng, đang khi số khác lại thấy đó là điều khó khăn ? Người đàn bà ngoại giáo này biết mình là người ngoại, không hy vọng được Chúa đoái nghe, vì người Do thái không ưa người Canaan, nếu không muốn nói là ghét và khinh bỉ họ. Thái độ lãnh đạm, khó chịu và muốn xua đuổi của các Tông đồ đối với bà ? Nhưng bà tin rằng thế nào Chúa cũng phải thương bà. Bà có lòng tin như một người ngoại khác là viên bách quan kia: “Thưa Thầy, tôi chẳng đáng Thầy vào nhà tôi, song xin Thầy chỉ phán một lời” (Mt 8,8). Nghe vậy Chúa Giêsu bỡ ngỡ nói với các kẻ theo Ngài: “Quả thật, Ta bảo các ngươi, Ta chưa hề gặp được lòng tin như thế nơi một người nào trong Israel” (Mt 8,10).

 2.Tin và khiêm nhường

 Chữ “con cái” thì hiểu về dân Do thái, “chó con” thì hiểu về dân ngoại. Chúa Giêsu dùng cách nói thông thường của người Do thái, chứ không có ý mỉa mai. Dùng chữ “chó con” mà không dùng chữ “chó” không. Chó con giống nuôi trong nhà được vỗ về, con chó hay chạy bậy nơi đường phố có ý nghĩa khinh bỉ. Và chính tiếng “chó con” đã gợi cho bà này một lời thỉnh nguyện đầy khiêm nhường và tin tưởng.

 Các Tông đồ đuổi bà đi mà không được, và chính Chúa Giêsu cũng dùng kiểu nói hơi nặng lời: “Không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con”. Bà sụp lạy trước mặt Ngài hơn lũ chó con nằm chực vụn bánh trên bàn chủ rơi xuống, nên không lạ gì bà đã thưa: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng lũ chó con lại được ăn những vụn bánh trên bàn rơi xuống”. Thật đáng kinh ngạc! Không ai trong dân Israel hay dân có đạo nào lại khiêm tốn, hạ mình xuống đến thế trước mặt Ngài.

3.Tin và yêu thương

 Người đàn bà Canaan này có đứa con gái bị quỉ ám đau khổ lắm. Bà thương con vô cùng mà không biết làm cách nào để cứu chữa con, bà bất lực hoàn toàn trong cảnh huống này. Vì quá thương đứa con gái bị quỉ ám, nên đã lặn lội đi tìm Đức Giêsu, nài nỉ van xin Ngài, bị các Tông đồ xua đuổi nhiều lần, bị Chúa Giêsu có vẻ hững hờ và còn nói những lời khinh bỉ nữa. Bà vẫn kiên trì, lòng yêu thương con bà giúp bà chịu đựng tất cả. Bà đến với Chúa Giêsu là vì người khác chứ không vì chính bà, bà đã đến vì tình yêu, đã đến với tư cách một người mẹ đầy lòng yêu thương, tin tưởng. Lòng yêu thương của bà đối với đứa con đã làm cho Chúa cảm động và nhận lời cầu khẩn của bà. Còn tình yêu nào cảm động cho bằng câu chuyện dưới đây

Truyện: Người mẹ Arménia

 Câu chuyện này xảy ra vào tháng 12 năm 1987. Một cơn động đất đã xảy ra ở Armenia thuộc Liên Xô cũ giết chết hàng ngàn người. Trong số những người bị chôn dưới đống gạch vụn có hai mẹ con bà Suzanna. Hai mẹ con may mắn nằm lọt trong một khoảng trống nhỏ. Tất cả lương thực họ có chỉ là một hũ mứt nhỏ. Nhưng chẳng bao lâu hũ mứt cũng hết sạch. Lúc đó đứa con 4 tuổi kêu lên: “Mẹ ơi, con khát quá”. Bà Suzanna không biết tìm đâu ra nước cho con. Nhưng tình mẫu tử đã gợi cho bà một sáng kiến táo bạo: bà dùng một miếng kính vỡ cắt đầu ngón tay mình cho máu chảy ra và đưa vào miệng đứa con cho nó mút. Một lúc sau nữa nó lại kêu khát, bà lại cắt một đầu ngón tay nữa. Cứ như thế cho đến cuối cùng người ta cứu hai mẹ con ra. Sau khi ra ngoài, bà mẹ cho biết rằng: “Lúc đó tôi biết thế nào tôi cũng chết. Nhưng tôi muốn con tôi sống”.

4.Tin và kiên nhẫn

 Người đàn bà này gặp cản trở vì không phải là người Do thái. Bà ấy thuộc về một dân tộc không những là ngoại giáo, nhưng từ lâu còn là thù địch của dân được Chúa tuyển chọn. Thế mà bà đã cứ kêu to nài xin Chúa Giêsu cứu chữa con của bà bị quỉ ám.

 Bà mẹ người Canaan này là người dân ngoại. Bà biết ít hay không biết gì về Đấng là Thiên Chúa thật. Tuy nhiên, rõ ràng là bà đã nghe biết phép lạ của Chúa Giêsu, bà kêu lớn tiếng: “Lạy Ngài là con vua Đavít, xin thương xót tôi”. Tóm lại, bà này không tin rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa, nhưng bà tin Ngài là một người khác thường và có quyền năng tuyệt vời.

 Các môn đệ cứ muốn đuổi bà ấy đi, còn Chúa Giêsu thì thoái thác. Nhưng bà mẹ khôn ngoan và kiên trì này không thất vọng. Bà kêu lớn tiếng: “Lạy Ngài, xin giúp tôi”… Người đàn bà này đến với Chúa không phải chỉ vì Ngài có thể giúp đỡ, nhưng Ngài là nguồn hy vọng duy nhất của bà. Bà đến với niềm hy vọng tha thiết với nhu cầu thúc bách, với quyết tâm không chịu nản lòng. Người đàn bà này có một đức tính tối cần để cho lời cầu nguyện được hữu hiệu, đó là bà có lòng kiên nhẫn và thiết tha vô cùng. Cầu nguyện đối với bà không phải là một nghi thức, nhưng là dốc đổ ước vọng nung nấu linh hồn bà, khiến bà cảm biết mình không thể bị từ chối.

 III.ĐỨC TIN CỦA CHÚNG TA THẾ NÀO ?

 Qua bài Tin mừng hôm nay, Giáo hội muốn mời gọi chúng ta noi gương bắt chước người ngoại giáo này, để có một đức tin chân thành, khiêm tốn và kiên trì trong khi cầu nguyện.

 Trong cuộc đời, rất nhiều khi ta bị hay được Thiên Chúa thử thách, nghĩa là Ngài cố tình để ta lâm vào cảnh đau khổ, cùng khốn, khó khăn. Cả cuốn sách về ông Gióp trong Kinh thánh nói lên sự thử thách có thể tới mức rất khủng khiếp của Ngài. Và thái độ của Đức Giêsu đối với người đàn bà Canaan là một thí dụ. Nhưng cuộc thử thách nào cũng phát xuất từ tình thương vô biên của Ngài đối với ta. Vì thử thách tới một mức độ nào đó rất là cần thiết để giúp con người tiến bộ, phát triển đức độ hoặc tài năng. Qua thử thách ta mới được rèn luyện vững vàng, bản lãnh. Và nhờ có thử thách ta mới chứng tỏ được đức tin, đạo đức, tài năng hay bản lĩnh của ta tới mức độ nào.

 Kinh thánh nói: “Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Thử thách rất quan trọng cho con người trong cả đời sống vật chất cũng như tinh thần, nhất là trong đời sống thiêng liêng. Tổ phụ Abraham được gọi là “Pater credentium” (cha của những kẻ tin), vì ông đã chịu một thử thách quá sức tưởng tượng mà ông đã thắng.

 Khi nghe tiếng Thiên Chúa phán, Abraham kể ra có nhiều cớ để từ chối đề nghị của Thiên Chúa. Người ta thường dễ phiêu lưu, mạo hiểm khi còn trẻ tuổi, chưa bị gắn buộc bởi nghĩa vụ gia đình, hoặc chưa gây được sự nghiệp: nhưng Abraham đã cao niên, tuổi quá thất tuần (St 12,4), lại đã lập gia thất (St 11,29), còn cơ nghiệp thì dư dật, bộ hạ đông đúc, lục súc không ít, lời Thiên Chúa mời gọi xem như chẳng đem thêm gì đến cho tổ phụ và còn nguy hiểm nữa.

 Người ta lại cũng dễ thay đổi môi trường sinh hoạt khi có môi trường phong phú hơn đem đến cho mình cơ hội sống an toàn, sung mãn, với đủ tiện nghi: nhưng khi ấy Abraham đang sống tại Harân, một thị xã miền Mêsopotamia mà lịch sử công nhận là văn minh, phồn thịnh. Bỏ Harân đã chắc gì tìm thấy một vị trí khá hơn ? Nơi Thiên Chúa ấn định là nơi xa lạ, chẳng hiểu đến rồi làm ăn có nổi chăng ? Đành rằng Chúa cũng hứa nơi ấy sau này sẽ phì nhiêu cho con cháu của ông Abraham (St 12,2-3): nhưng tổ phụ làm gì có con cái để mà hy vọng cho hậu thế ? (St 18,11-12)

 Vậy mà lời Chúa vang lên, Abraham đáp liền, rời cảnh an ninh, nếp sống nhàn hạ, lên đường để khởi xướng một giai đoạn lang thang, long đong, chật vật, hết nếm mùi đói kém lại chịu cơn khói lửa của chiến tranh (St 12,10 và 14,13-14). Abraham đã gỡ mọi dây liên ái, để gia nhập đất khách quê người: mà tổ phụ đã làm như thế CHỈ VÌ THIÊN CHÚA ĐÃ GỌI, CHỈ VÌ ABRAHAM ĐÃ TIN.

 Đức tin bao giờ cũng là một cuộc VĨNH BIỆT, CHIA LY: vĩnh biệt cái lòng tự phụ làm mình đinh ninh là có thể giải quyết mọi vấn đề, đối phó với các trở ngại bởi duy sức riêng mình, chẳng cần nhờ đến sự can thiệp bên ngoài, bên trên. Vĩnh biệt để chấp nhận một trật tự khác: trật tự siêu nhiên của Thiên Chúa (Lm. Nguyễn Huy Lịch, báo Nhà Chúa, số 3, 1968, tr 6-7).

 Trong mọi gian nan thử thách, chúng ta luôn tin tưởng rằng Chúa luôn ở bên chúng ta để nâng đỡ, khích lệ mặc dầu chúng ta không trông thấy. Con mắt Ngài hằng theo dõi chúng ta, như người mẹ hiền đang tập cho con bước đi. Đứa con cứ tin tưởng bước đi trong vòng tay của mẹ, nếu có ngã thì vòng tay của mẹ đã ôm vào lòng.

Truyện: Chính ba tôi cầm tay lái

 Ông Byron, một thi sĩ Anh, có viết một câu chuyện như sau:

 Hôm ấy, một con tàu đang rẽ sóng lướt đi trên mặt biển mông lung. Phía chân trời xa, một chòm mây xám chờn vờn nổi lên. Bầu trời quang đãng không mấy chốc đã bị phủ kín đen đặc. Rồi cơn giông tố ầm ầm phát nổ. Sấm chớp kinh hoàng. Và càng lâu mưa càng lớn, gió càng mạnh. Các hành khách hoảng hồn mất vía kêu la thất thanh, hỗn loạn. Duy có một đứa trẻ cứ ngồi chơi trên cầu tàu, bình tĩnh ngồi nhìn con tàu chòng chành nghiêng ngửa, giữa muôn con sóng dữ tợn gầm gừ đang lao mình tới, như không có việc gì xảy ra.

 Lạ lùng! Một thuỷ thủ giương to đôi mắt hỏi:

– Em không sợ chết sao ?

– Sao lại sợ ? Chính ba tôi cầm tay lái con tàu này kia mà.

 Chớ chi ta cũng trả lời được như vậy trước mỗi một cơn thử thách, mỗi một bước gập ghềnh trên biển dương thế đầy giao động, vì chính Cha chúng ta đang cầm lái con tàu trần gian!

 Chớ chi ta biết áp dụng vào đời sống lời Chúa đã nói lên trước ngày Thương khó:

 “Tôi phải đâu một mình đơn côi ?
“Tôi có Người Cha vạn năng ở bên cạnh”
(Ga 16,32)

 Xin Chúa cho mọi người chúng con cũng có một lòng tin mạnh mẽ vào quyền năng của Chúa như người đàn bà Canaan nọ, và từ niềm tin đó chúng con cũng biết khiêm hạ, trước nhan Chúa, nhưng không khiếp sợ; trái lại, can đảm kiên trì bày tỏ tất cả những ước muốn chất chứa trong cõi lòng chúng con với niềm hy vọng sâu xa vào sự giúp đỡ của Chúa. Có như thế đời sống của chúng con sẽ đầy tràn sự thỏa mãn và hạnh phúc.