“Trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy,
và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.”
(Mt 16,18)

BÀI ĐỌC I: Is 22, 19-23
“Ta sẽ để chìa khoá nhà Đavít trên vai nó”.

Trích sách Tiên tri Isaia.

Đây Chúa phán cùng Sobna, quan cai đền thờ rằng: “Ta sẽ trục xuất ngươi ra khỏi địa vị ngươi, và Ta sẽ cách chức ngươi; trong ngày đó, Ta sẽ gọi đầy tớ Ta là Êliaqim, con trai Helcia. Ta sẽ lấy áo choàng của ngươi mà mặc cho nó, lấy đai lưng của ngươi mà thắt cho nó, sẽ trao quyền ngươi vào tay nó, nó sẽ nên như cha các người cư ngụ ở Giêrusalem và nhà Giuđa. Ta sẽ để chìa khoá nhà Đavít trên vai nó: nó sẽ mở cửa và không ai đóng lại được; nó đóng cửa lại và không ai mở ra được. Ta sẽ đóng nó vào nơi kiên cố như đóng đinh, và nó sẽ trở nên ngai vinh quang nhà cha nó”.

ĐÁP CA: Tv 137, 1-2a. 2bc-3. 6 và 8bc
Đáp:
 Lạy Chúa, lòng nhân hậu Chúa tồn tại muôn đời, xin đừng bỏ rơi công cuộc tay Chúa (8).

1) Lạy Chúa, con sẽ ca tụng Chúa hết lòng, vì Chúa đã nghe lời miệng con xin; trước mặt các thiên thần, con đàn ca mừng Chúa; con sấp mình thờ lạy bên thánh điện Ngài. – Đáp.

2) Và con sẽ ca tụng uy danh Chúa, vì lòng nhân hậu và trung thành của Chúa. Khi con kêu cầu, Chúa đã nhậm lời con, Chúa đã ban cho tâm hồn con nhiều sức mạnh. – Đáp.

3) Quả thực Chúa cao cả và thường nhìn kẻ khiêm cung, còn người kiêu ngạo thì Ngài ngó tự đàng xa. Lạy Chúa, lòng nhân hậu Chúa tồn tại muôn đời; xin đừng bỏ rơi công cuộc tay Chúa. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: Rm 11, 33-36
“Mọi sự đều do Người, nhờ Người và trong Người”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Ôi thẳm sâu thay sự giàu có, thượng trí và thông biết của Thiên Chúa: sự phán quyết của Người làm sao hiểu được, và đường lối của Người làm sao dò được! Vì chưng, nào ai biết được ý Chúa ? Hoặc ai đã làm cố vấn cho Người ? Hay ai đã cho Người trước để Người sẽ trả lại sau ? Vì mọi sự đều do Người, nhờ Người và trong Người: nguyện Người được vinh quang đến muôn đời. Amen.

TIN MỪNG: Mt 16, 13-20
13 Một hôm, khi Đức Giê-su đến miền Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng: “Người ta nói Con Người là ai ?” 14 Các ông thưa: “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.” 15 Đức Giê-su lại hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?” 16 Ông Si-môn Phê-rô thưa: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” 17 Đức Giê-su nói với ông: “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. 18 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. 19 Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.” 20 Rồi Người cấm ngặt các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Ki-tô.

SUY NIỆM
A/ 5 phút với Lời Chúa

ĐỨC KI-TÔ, NIỀM HY VỌNG CỦA LOÀI NGƯỜI

“Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” (Mt 16,16)

Suy niệm: Qua hằng ngàn năm, dân Do Thái mong chờ Đấng Cứu thế xuất hiện để giải thoát, đưa đất nước lên hàng cường quốc. Vậy mà, điều đáng buồn là khi Đức Giê-su, Vị Cứu thế đến, họ chỉ nhìn thấy Ngài như là ông Gio-an Tẩy giả, Ê-li-a, Giê-rê-mi-a hay một ngôn sứ nào đó mà thôi! Nghĩa là một con người được Chúa đặc biệt chọn để nói lời của Ngài.
Trái lại, Phê-rô, nhờ Chúa Cha mặc khải, đã nói đúng chân tướng của Đấng Cứu thế: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Phê-rô, thay mặt anh em, bày tỏ sự tin tưởng, niềm hy vọng các ông đặt nơi Thầy mình. Ngài là Đấng Ki-tô, Đấng được xức dầu, Đấng đến để chữa lành những vết thương, đổi mới trần thế. Khi quyết định theo Ngài, các ông “đặt cược” cả vận mạng, tương lai đời mình cho Ngài. Thế nhưng, chỉ sau cuộc Khổ nạn và Phục sinh của Thầy, Phê-rô cũng như các Tông đồ khác mới ‘ngộ’ ra Đấng Ki-tô ấy phải qua đau khổ, thập giá mới khải hoàn phục sinh, đem lại hy vọng tươi sáng cho tất cả nhân loại.

Mời Bạn: Trong Tông huấn “Đức Ki-tô hằng sống”, Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô nói rằng: “Đức Ki-tô là niềm hy vọng của chúng ta, và một cách kỳ diệu Người mang sự tươi trẻ đến cho thế giới chúng ta, và mọi sự được Người chạm đến đều trở nên trẻ trung, mới mẻ, đầy tràn sức sống.” Đặt hy vọng nơi Đức Ki-tô, cuộc đời bạn mới tràn đầy niềm vui, sức sống, dù giữa muôn khổ đau, thách đố. Bạn đã chọn Đức Ki-tô là niềm hy vọng của đời mình chưa?

Sống Lời Chúa: Bạn hãy thiết tha cầu xin cho mình có được niềm hy vọng ở nơi Chúa.

Cầu nguyện: Đọc kinh Trông Cậy.

 B/ Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

ĐẤNG GIỮ CHÌA KHÓA NHÀ ĐAVÍT

Qua Lời Tổng Nguyện của Chúa Nhật Thường Niên XXI, Năm A này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: chỉ có Chúa mới có thể làm cho chúng ta trở nên một lòng một ý, vì thế, chúng ta phải xin cho mình biết yêu mến luật Chúa truyền và mong điều Chúa hứa, để dù sống giữa những thế sự thăng trầm, chúng ta vẫn một lòng gắn bó với cõi phúc chân thật.

Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Người bệnh thì mới cần đến thầy thuốc. Trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, ngôn sứ Xôphônia đã cho thấy: Những kẻ thi hành mệnh lệnh của Đức Chúa, những người tìm kiếm Đức Chúa, tìm kiếm sự công chính, đức khiêm nhường, họ là những người nghèo hèn trong xứ sở. Bài đọc hai của giờ Kinh Sách được trích từ Hiến chế mục vụ Vui Mừng và Hy Vọng của Công Đồng Vaticanô II, về Hội Thánh trong thế giới ngày nay nói: đang khi chúng ta nỗ lực lo cho trái đất này ngày một tốt đẹp hơn, thì chúng ta cũng đang hướng về một vương quốc vĩnh cửu và phổ quát, vương quốc đầy tràn sự thật và sự sống, đầy tràn ân sủng và thánh thiện, đầy tràn tình thương, công lý và bình an, đúng như tâm tình mà ngôn sứ Isaia mời gọi: Trời hãy hò reo, đất hãy nhảy múa, núi non hãy bật tiếng hò reo, vì Thiên Chúa chúng ta ngự đến. Người chạnh lòng thương những kẻ nghèo khổ của Người.

Quả thật, những người yêu mến luật Chúa truyền và mong điều Chúa hứa đều là những người đơn sơ bé mọn. Họ không có niềm trông cậy nào khác, ngoài một mình Chúa, bởi vì, chỉ có một mình Chúa là đầu mối, nguồn gốc mọi sự, như trong bài đọc hai của Thánh Lễ, thánh Phaolô đã cho thấy: muôn vật đều do Người mà có, nhờ Người mà tồn tại và quy hướng về Người. Do đó, cũng chỉ có một mình Chúa mới làm cho chúng ta nên một lòng một ý. Đức Giêsu không thiết lập nhiều Hội Thánh, nhưng, chỉ có một Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Quyền chìa khóa của thánh Phêrô được lãnh nhận từ Đức Kitô, chính Người là Đầu của Hội Thánh. Chính Người là Đấng giữ chìa khoá vua Đavít, Người mở ra thì không ai đóng lại được, Người đóng lại thì không ai mở ra được.

Trong bài đọc một của Thánh Lễ, ngôn sứ Isaia đã tiên báo: Chìa khoá nhà Đavít, Đức Chúa sẽ đặt trên vai Engiakim, vua Giuđa, ông mở ra thì không ai đóng được, ông đóng lại thì không ai mở được. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu đã trao cho thánh Phêrô chìa khóa Nước Trời: Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh ràng buộc điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy. Bài Đáp Ca, với Thánh Vịnh 137, vịnh gia cho thấy: Chúa tuy thật cao cả, nhưng vẫn nhìn đến kẻ thấp hèn; đứa ngạo mạn ngông nghênh, từ xa Ngài đã biết. Công trình do tay Ngài thực hiện, xin đừng bỏ dở dang. Chắc chắn, Chúa sẽ không để cho công trình của Người bị dở dang, nhưng, với tự do của mình, chúng ta có thể làm cho công trình của Chúa bị dang dở nơi chúng ta.

Ơn cứu độ là một ân huệ nhưng không, chúng ta được cứu độ là do bởi ân sủng, nhưng, không phải một ân sủng chung chung, mà là, ân sủng của Đức Kitô; chúng ta được cứu độ là do bởi đức tin, nhưng, không phải một đức tin chung chung, mà là, đức tin vào Đức Giêsu. Do đó, chỉ có một mình Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Độ Duy Nhất, chính Người là Đấng giữ chìa khóa nhà Đavít, là cửa dẫn chúng ta vào hưởng ơn cứu độ. Công trình cứu độ của Chúa sẽ dở dang, nếu chúng ta không cộng tác: không để cho Người làm cho chúng ta nên một lòng một ý, để chúng ta có thể tuân giữ luật Người truyền và trông đợi điều Người hứa.

Niềm hy vọng của chúng ta vào lời hứa của Chúa được thể hiện qua việc dù sống giữa những thế sự thăng trầm, chúng ta vẫn một lòng gắn bó với cõi phúc chân thật. Sống giữa thế gian, nhưng, không thuộc về thế gian. Đây là một thách đố lớn đối với những người môn đệ của Đức Giêsu. Ađam và Eva đã chọn ăn trái cấm, bởi vì, ông bà đã không tuân giữ lời Chúa truyền, và cũng chẳng mong điều Chúa hứa. Ông bà đã tin rằng: ông bà đã chọn một cái gì đó lớn hơn điều Chúa hứa.

Thánh Phêrô được trao chìa khóa Nước Trời, sau khi thánh nhân tuyên xưng: Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống. Chính trên niềm tin đá tảng này, mà Đức Giêsu đã đặt nền móng xây dựng Hội Thánh. Niềm tin đặt nơi Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người, hằng vâng phục thánh ý Chúa Cha, và hoàn toàn tín thác nơi Cha: đến đổ giọt máu, giọt nước cuối cùng, chết tủi nhục trên thập giá để hoàn tất thánh ý cứu độ nhân loại, chính niềm tin đó sẽ giúp chúng ta can đảm, kiên cường khi đối mặt với những khó khăn, thử thách của cuộc sống. Chúng ta vững tin rằng: mình sẽ chiến thắng được các thế lực tăm tối, nhờ bám chặt vào quyền năng của Đức Giêsu, Đấng nắm giữ chìa khóa nhà Đavít. Nước Trời luôn rộng cửa đón mời chúng ta, nhưng, nếu chúng ta không tỉnh thức, sẵn sàng, chúng ta sẽ bị bỏ lại bên ngoài cửa như những cô khờ dại mang đèn, nhưng không mang theo dầu.

C/ Lm Jos. Phạm Duy Thạch, SVD

I.Bối cảnh

Mt 16,13-20 nằm ở khoảng trung tâm của Tin Mừng Mátthêu. Có thể nói rằng đoạn văn này như là phần “nóc nhà” nối kết hai “mái nhà” (hai phần) mô tả về căn tính của Đức Giêsu. Cả hai phần đều cố gắng diễn tả Đức Giêsu là Đấng Kitô với hai khía cạnh khác nhau: Phần trước là Đức Kitô quyền năng trong giảng dạy và làm phép lạ, phần sau là Đức Kitô chịu khổ nạn và bày tỏ vinh quang phục sinh. Trong đoạn văn này, Đức Giêsu đã đặt ra câu hỏi mấu chốt cho toàn Tin Mừng Mátthêu: Đức Giêsu Nadarét là ai? Câu trả lời của ông Phêrô cho thấy hai đặc tính Kitô học quan trọng nhất của Đức Giêsu: Đấng Kitô và Con Thiên Chúa hằng sống. Câu trả lời này đáp lại lời giới thiệu mở đầu của Tin Mừng Mátthêu: “Sách gia phả của Đức Giêsu Kitô, con trai Đavid, con trai Ápraham” (Mt 1,1), và nó cũng nối kết với lời tuyên xưng của người đại đội trưởng ở đoạn cuối của cuộc khổ nạn: “Quả thật người này là Con Thiên Chúa” (Mt 27,54; Mc 15,39). Phần trao quyền tháo – cởi trên trời dưới đất của Đức Giêsu dành cho ông Phêrô, vị tông đồ trưởng gợi nhớ đến quyền giải thích Torah của Đức Giêsu trong Tin Mừng Mátthêu. Trong bối cảnh rộng quyền này có thể liên hệ với quyền “tha thứ – cầm giữ” Đức Giêsu ban cho các môn đệ ở Ga 20,23 và lời mời gọi “chăm sóc chiên” dành cho Phêrô trong Ga 21. Trong bối cảnh trực tiếp, câu chuyện này đặt ngay trước lời tiền báo thứ nhất về cuộc khổ nạn – phục sinh (Mt 16,21-23) và lời mời gọi: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24-26).

II.Cấu trúc

Bối cảnh: Vùng Kaisarêa và Philípos

Câu hỏi mấu chốt:

“Người ta nói Con Người là ai?”

“Gioan Tẩy Giả, …Êlia, … Giêrêmia hoặc một trong các ngôn sứ

 “Còn các con nói Thầy là ai?”

 “Thầy là Đấng Kitô, con trai của Thiên Chúa hằng sống.”

Mối phúc: Phúc cho con, … vì Cha của Thầy, Đấng ở trên trời mặc khải

Trao ban: Con là Phêrô và trên tảng đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy

cổng địa ngục sẽ không thắng được nó

Trao cho con chìa khoá Nước Trời

điều con trói buộc dưới đất sẽ bị trói buộc trên trời

điều con tháo cởi dưới đất sẽ được tháo cởi trên trời

Lệnh cấm: Không nói cho ai rằng Người là Đấng Kitô

III.Một số điểm chú giải

  1. Vùng Kaisarêa và Philíppos[1]Đây là danh xưng của thành phố nổi tiếng nằm về phía Bắc của Galilê, dưới chân núi Hermon.[2] Thành phố này thuộc lãnh địa của tiểu vương Philíppos, một trong ba người con của vua Hêrôđê Cả. Trong ba tác giả Tin Mừng Nhất Lãm chỉ có Máccô và Mátthêu nhắc đến địa danh này. Máccô nói là “những làng thuộc Kaisarêa của Philíppos” trong khi đó Mátthêu nói là “một phần đất thuộc Kaisarêa của Philíppos”. Ý nghĩa của hai cách dùng này xem ra không khác nhau là mấy. Điều đáng để ý ở đây là danh xưng Kaisarêa Philíppos. Tại sao các tác giả lại nhắc đến bối cảnh này? Đây là một thành phố khá lớn thời Đức Giêsu. Danh xưng của nó được ghép bởi hai cái tên: (i) Tên của hoàng đế Tiberius Kaisarêa Augustus, thời Đức Giêsu rao giảng (tại vị từ 14 CE – 37 CE, Tổng trấn Pontius Pilatus, 26 CE – 36 CE), trước ông là hoàng đế là Kaisarêa Augustus (tại vị, 27 BCE – 14 CE); (ii) Tên của tiểu vương Philíppos, con của vua Hêrôđê Cả. Tiểu vương này thường gọi là Hêrôđê Philippos II (tại vị, 4 BCE – 34 CE, vùng Đông Bắc sông Jorđan). Có một thành phố khác mang tên Kaisarêa nổi tiếng hơn. Đó là thành phố cảng Kaisarêa Maritima, thủ phủ của đế quốc Rôma ở Juđêa, nằm trên bờ biển Địa Trung Hải. Danh xưng Kaisarêa của Philíppos, ghi dấu thành phố mang tên hoàng đế Rôma (Kaisarêa), được tiểu vương Philippos xây. Về mặt tôn giáo, đây là thành phố thờ thần Hy Lạp mang tên là Pan nổi tiếng (thần mình người đầu dê). Ngày nay, còn có hai dấu tích về hai đền thờ, được sử dụng thờ thần Pan thời bấy giờ. Như thế, chúng ta có thể đoán ngụ ý của tác giả khi để cho Đức Giêsu ra “đề kiểm tra” cho các môn đệ trong bối cảnh này. Tại nơi mà, về mặt chính trị, người ta tôn vinh hoàng đế của Rôma và về mặt tôn giáo, người ta thờ thần Pan của Hy Lạp, thì người ta trả lời thế nào về vị thế của Đức Giêsu, các môn đệ hiểu thế nào về căn tính người Thầy của họ? Đâu là vị trí của Đức Giêsu so sánh với những nhân vật được tôn vinh/ thờ phượng nơi thành phố này? Câu hỏi được đặt ra có vẻ đúng lúc và đúng nơi.
  2. Người ta nói Con Người là ai … các con nói Thầy là ai? Nội dung câu hỏi là chung, nhưng đối tượng nhắm đến của câu hỏi là riêng biệt: Nhóm những người chung chung, được gọi là “người ta” (οἱ ἄνθρωποι), và nhóm các môn đệ “các con” (ὑμεῖς). Nhân vật trả lời câu hỏi dành cho “người ta”, cũng là các môn đệ. Điều này giả định rằng các môn đệ đã thu thập được nhiều luồng ý kiến về Đức Giêsu. Câu hỏi này được đặt ra ở chương 16 của Tin Mừng Mátthêu, phần trung tâm của sách Tin Mừng . Điều này ngụ ý rằng, các môn đệ đã trải nghiệm khoảng thời gian khá dài đi theo, sống với và làm việc cùng với Đức Giêsu. “Người ta” cũng ít nhiều thấy Đức Giêsu làm phép lạ và nghe Người giảng. Độc giả, nếu đọc Tin Mừng Mátthêu từ chương đầu tiên đến chương 16, cũng đã đọc được những hoạt động và lời giảng của Đức Giêsu. Có thể nói rằng, các môn đệ, và cả độc giả, dân chúng có khá đủ dữ liệu để đưa là câu trả lời về con người và sứ vụ của Đức Giêsu. Hơn nữa, câu hỏi đặt ở vị trí này để trong phần không gian còn lại Đức Giêsu còn tiếp tục giáo dục, tỏ bày cho các môn đệ về căn tính của mình.
  3. Gioan Tẩy Giả, …Êlia, … Giêrêmia hoặc một trong các ngôn sứ: Đây là phần tổng hợp khá gọn gàng, súc tích và đầy đủ của các môn đệ về suy nghĩ của “người ta”. Dữ liệu của câu trả lời này có thể tìm thấy trong Tin Mừng Máccô (Mc 6,17-20), trong đó, dân chúng đưa ra nhiều ý kiến: Ông Gioan Tẩy Giả từ cõi chết trỗi dậy, Êlia, một trong các ngôn sứ. Vua Hêrôđê thì khẳng định: “Ông Gioan, người ta đã cho chém đầu, chính ông ấy đã trổi dậy” (Cf. Mt 14,2). Xem ra, quan điểm Đức Giêsu là hình ảnh ông Gioan Tẩy Giả tái sinh là khá phổ biến trong dân, đặc biệt là đối với vua Hêrôđê. Xét về mức độ nổi tiếng trong lời rao giảng, ông Gioan có thể thu hút dân chúng không thua gì Đức Giêsu. Tuy nhiên, về khả năng làm các phép lạ, có lẽ Gioan không bằng. Vì thế, nếu họ hiểu Đức Giêsu là ông Gioan, nhưng là ông Gioan đã từ cõi chết sống lại, và nhờ đó mà có thể làm nhiều phép lạ (Mc 6,14). Thực tế, Tin Mừng không ghi lại một phép lạ nào của Gioan cả. Xét về góc độ sứ vụ, ông Gioan rất giống với Đức Giêsu, vì cái chết tử đạo của vị ngôn sứ dám nói sự thật để bảo vệ Luật Chúa. Đức Giêsu cũng sẽ bị người ta âm mưu giết chết vì những lời nói và việc làm của một ngôn sứ. Tuy nhiên, khía cạnh này chỉ dành cho độc giả đã đọc toàn bộ câu chuyện về Đức Giêsu. Đức Giêsu được hiểu nhầm là ngôn sứ Êlia với hai lý do: (i) Sứ mạng trở lại và dọn đường cho Đấng Mêsia của ông đã được các ngôn sứ nói đến (Ml 3,1; 4,5-6; Mt 11,14; 17,10-12; Mc 9,11-13). (ii) Ngôn sứ Êlia có khả năng làm phép lạ lẫy lừng như Đức Giêsu. Thậm chí ông có thể chữa lành một người đã chết (x.1 V 17). Theo 2 V 2,11 ông Êlia đã được mang lên trời cách lạ lùng trong cơn gió lốc. Trong Tin Mừng Mátthêu Đức Giêsu khẳng định ông Gioan Tẩy Giả chính là ông Êlia, người phải đến (Mt 11,14). Ngôn sứ Giêrêmia là nhân vật Mátthêu thêm vào, không có trong câu chuyện của Máccô. Có tác giả cho rằng người ta đồng hóa Đức Giêsu với ngôn sứ Giêrêmia vì đôi khi Người nói điều tương tự với lời của ngôn sứ này (so sánh Mt 11,29 và Gr 6,16).[3] Tác giả D. Hagner dẫn ý kiến của một vài học giả cho rằng Giêrêmia là một biểu tượng mấu chốt của Cựu Ước, người đóng một vai trong sự đến của đấng Cánh Chung (x 2 Mcb 15,13-16). Ông cũng cho thấy một số điểm tương đồng giữa Đức Giêsu và ngôn sứ Giêrêmia, như là lời rao giảng về cuộc xét xử chống lại dân và đền thờ đặc biệt trong đau khổ và tử đạo.[4] D. Harrington nghĩ rằng, Mátthêu thêm tên ngôn sứ Giêrêmia trong danh sách này vì đây là mối quan tâm chung của Mátthêu trong việc xem Giêrêmia như là hình ảnh của Đức Giêsu. Trên thực tế, Giêrêmia được nhắc tên trong ba bản văn (Mt 2,17; 16,14; 27,9) và có nhiều ám chỉ đến sách ngôn sứ Giêrêmia (Mt 7,15-23; 11,28-30; 23,37-39). Cũng có nhiều mô thức Giêrêmia trong bài giảng tại Đền Thờ: Việc gửi các ngôn sứ đến, việc sát hại các ngôn sứ, và cuộc xét xử mang tính ngôn sứ chống lại Đền Thờ (x. Gr 7; 26; Mt 23,29 – 24,2).[5] Các quan điểm của “người ta” về Đức Giêsu tuy không sai lắm nhưng chưa đến mức hoàn thiện. Tác giả C. Keener có lý khi cho rằng khi gọi Đức Giêsu bằng những danh xưng ấy người ta muốn ghép Người vào những loại suy nghĩ đã tồn tại thay vì để cho Người tự định nghĩa căn tính của Người cho họ.[6]
  4. Đấng Kitô: Khác với nhân vật “người ta”, các môn đệ, đặc biệt là nhóm Mười Hai đã có cơ hội sống với, ở cùng Đức Giêsu trong một khoảng thời gian dài. Họ đã nghe những lời giảng của Đức Giêsu. Khi không hiểu thông điệp của dụ ngôn, họ lại được Người giải thích riêng (Mt 13,16-23; 13,36-43). Họ theo Đức Giêsu trên hành trình rao giảng và đã chứng kiến nhiều dạng phép lạ Người đã làm, từ chữa lành bệnh tật đến trục xuất quỷ, hóa bánh ra nhiều, đi trên mặt nước biển… Chính vì thế Đức Giêsu mong chờ nơi các môn đệ một câu trả lời khác hơn. Ông Simôn Phêrô, có lẽ là đại diện bày tỏ quan điểm của đa số các môn đệ, bởi sau đó không thấy trong nhóm có ai thêm một câu trả lời bổ sung nào. Danh xưng “Đấng Kitô” là danh xưng cao nhất so với các danh xưng mà “người ta” đồn đoán về Người. Danh xưng này gợi nhớ đến một niềm mong đợi lâu đời của toàn thể dân Israel trong thời Cựu Ước cho đến thời Đức Giêsu. Đấng Kitô, là cách chuyển dịch tiếng Việt từ tiếng Hy Lạp “χριστὸς” (khristos). Danh xưng tiếng Hy Lạp “khristos” này lại được chuyển dịch từ tiếng Hípri “משיח” (Masiah), có nghĩa là Đấng được xức dầu. Có ba loại người có thể được xức dầu trong truyền thống Do Thái: Vua, tư tế, và ngôn sứ. Danh hiệu “Kitô” của Đức Giêsu bao hàm cả ba tước vị này. Tuy nhiên, tước vị nổi bật mà dân Israel mong mỏi nhất nơi Đức Giêsu là Đấng Kitô vua, Kitô vương đế. Truyền thống Cựu Ước nói đến một lời hứa về một Đấng Kitô (Mêsia) sẽ xuất hiện trong dòng dõi vua Đavid. Người này sẽ được Thiên Chúa ban cho “vương quyền vững bền”… “ngai vàng vững bền mãi mãi”… đối với Thiên Chúa “người ấy sẽ là con”, đối với người ấy “Thiên Chúa sẽ là cha” (2 Sm 7,12-16). Ngôn sứ Isaia mô tả Đấng Kitô tương lai sẽ là: “Cố vấn kỳ diệu, thần linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, và Thủ lãnh hòa bình. Người sẽ mở rộng quyền bính, và lập nền hòa bình vô tận cho ngai vàng và vương quốc vua Đavid” (Is 9,5-6). Tác giả Tin Mừng Mátthêu ngay từ đầu đã giới thiệu Đức Giêsu là Đấng Kitô (Mt 1,1). Trong trình thuật Giáng Sinh, tác giả lại cố gắng nhấn mạnh đến nguồn gốc “từ nhà Đavid” của Đức Giêsu (Mt 1,20), sinh quán Bếtlehem (Mt 2,1, quê hương của dòng họ Đavid). Tác giả còn cho thấy Đức Giêsu là “Đức vua của dân Do Thái mới sinh” được các nhà chiêm tinh tìm đến bái thờ (Mt 2,1-12). Trong suốt trình thuật về sư vụ rao giảng, nhiều nhân vật cứ nhắc đi nhắc lại rằng Đức Giêsu là “con trai của Đavid” (Mt 9,27; 12,23; 15,22; 20,30.31; 21,9.15). Như vậy, ông Phêrô và các môn đệ đã trả lời chuẩn xác căn tính của Đức Giêsu rằng:  Người là Đấng Kitô. Tuy nhiên, cách hiểu của ông và các môn đệ về căn tính này chỉ mới được một nửa, chưa trọn vẹn. Đấng Kitô mà các ông hiểu chỉ là Đấng Kitô quyền năng trong lời nói và hành động. Từ đây trở đi, Đức Giêsu bắt đầu tỏ lộ cho các ông một sự thật khủng khiếp về Đấng Kitô (Người lặp lại điều này ba lần): “Từ lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết rằng Người phải đi Jêrusalem; phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ lão, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21; cũng x. 17,22-23; 20,17-19). Đó là Đấng Kitô khổ nạn và phục sinh. Phục sinh mới là vinh quang viên mãn của Người. Tuy vậy, các môn đệ không muốn đón nhận Đấng Kitô khổ nạn, và cũng chẳng hiểu vinh quang phục sinh, nên họ rất khó đón nhận mầu nhiệm này, nếu không muốn nói là không thể đón nhận, thể hiện bằng phản ứng tiêu cực của ông Phêrô (Mt 16,22-23). Chính vì thế, ngay sau đó, Đức Giêsu liền mời gọi “ai muốn theo tôi, hãy từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). Đấng Kitô trọn vẹn phải là sự kết hợp giữa Đấng Kitô vinh quang có năng quyền làm phép lạ và Đấng Kitô chịu khổ nạn, chịu chết và phục sinh.
  5. Con trai của Thiên Chúa hằng sống: Trong câu chuyện tranh luận với nhóm Pharisêu Đức Giêsu đã gián tiếp phủ nhận Người là “Con trai của Đavid”. Vua Đavid gọi Đấng Kitô là “Chúa của tôi”, nên Đấng Kitô không thể Con Trai của Đavid được. Người phải vượt trội hơn thế nữa (Mt 22,45-46). Đây là danh xưng riêng của tác giả Mátthêu. Câu tuyên xưng trong Tin Mừng Máccô chỉ gọn gàng “Thầy là Đấng Kitô” (Mc 8,29). Câu tuyên xưng trong Tin Mừng Luca mở rộng hơn một tý: “Đấng Kitô của Thiên Chúa” (Lc 9,20). Phêrô của Mátthêu tuyên xưng dài nhất: “Đấng Kitô, con trai của Thiên Chúa hằng sống”. Dường như cả Mátthêu và Luca, vẫn được xem có niên đại muộn hơn Máccô, đã biên tập chỉnh sửa lại lời tuyên xưng này của Máccô. Đức Giêsu không chỉ là “Con Người”, Đấng Mêsia trong dòng tộc nhân loại Đavid, nhưng Người còn có nguồn gốc thần linh. Niềm tin vào thần tính của Đức Giêsu trong cộng đoàn Mátthêu thời bấy giờ khiến ông phải thêm danh xưng “Con Thiên Chúa” vào trong câu tuyên xưng này. Thật ra, ngay từ đầu, tác giả đã lý giải lý do tại sao ông Giuse phải gọi tên Hài Nhi là “Giêsu”: Vì Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ. Giêsu (Tiếng Việt), Iesous (Ἰησοῦς: tiếng Hy Lạp), Giơhôsua [יְהוֹשֻׁ֣עַ] trong tiếng Do Thái có nghĩa là “Thiên Chúa cứu”. Nghĩa là trong danh xưng Giêsu đã ẩn chứa danh xưng Thiên Chúa. Rõ nét hơn, trong trình thuật Đức Giêsu chịu Phép Rửa, tiếng từ trời đã giới thiệu rằng: “Đây là Con Trai yêu của Ta, với Người Ta hài lòng” (Mt 3,17). Lời chứng nhận này lại được lặp lại trong biến cố biến hình (Mt 17,5). Quỷ đã không ngừng thách thức Đức Giêsu bộc lộ căn tính này: “Nếu ông là Con Trai của Thiên Chúa thì…” (Mt 4,2.6). Những người qua lại cũng lặp lại cùng một mô thức dưới chân thập giá: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì hãy xuống khỏi thập giá” (Mt 27,40). Hai người bị quỷ ám trong vùng Gađara, cũng kêu lên danh xưng này: “Hỡi Con Trai của Thiên Chúa, có chuyện gì giữa chúng tôi và ông” (Mt 8,29). Khi Đức Giêsu dẹp yên bão tố, những người trong thuyền đã bái lạy và thừa nhận rằng: “Quả thật, Ngài là ‘Con Thiên Chúa’” (Mt 14,33). Trong cuộc xét xử, vị Thượng tế đã hỏi Đức Giêsu danh xưng khá giống với lời tuyên xưng của ông Phêrô: “Ông có phải là Đấng Kitô, Con Trai của Thiên Chúa không?” (Mt 26,63). Cuối cùng, người đại đội trưởng và những người đang ở cùng ông chứng kiến Đức Giêsu hấp hối đã tuyên xưng rằng: “Quả thật, ông này là Con Thiên Chúa”. Đức Giêsu không chỉ là Đấng Kitô, xuất thân trong dòng dõi vua Đavid, nhưng Người còn là Con Thiên Chúa làm người.
  6. Phêrô: Trong đoạn văn này Phêrô được gọi bằng ba danh xưng: (i) Simon Phêrô; (ii) Phêrô, Barjona; (iii) Phêrô. Trong Tin Mừng Gioan ông được Đức Giêsu đổi từ “Simon, con trai của ông Gioan” thành Kêpha, nghĩa là Phêrô (Ga 1,42). “Kêpha” là tiếng Aram, có nghĩa là đá. “Phêrô” là tiếng Hy Lạp, cũng có nghĩa là đá. Đức Giêsu đã chơi chữ: “Con là Phêrô, trên đá này [σὺ εἶ Πέτρος, καὶ ἐπὶ ταύτῃ τῇ πέτρα)], Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy”. Trong tiếng Hy Lạp tên gọi Phêrô và tảng đá giống nhau. Tiếng Việt thường dịch ra là: “Con là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này Thầy sẽ xây …” (CGKPV); “Ngươi là Đá và trên Đá ấy, Ta sẽ xây…” (NTT). Việc Đức Giêsu xây Giáo Hội trên đá là một chọn lựa của người khôn ngoan như Người đã dạy (Mt 7,24-25). “Barjona” thường được dịch là “Con ông Giôna” (CGKPV, giống bản tiếng Pháp TOB, bản tiếng Anh NRS, Bản tiếng Ý CEI), vì “Bar” trong tiếng Aram nghĩa là “con trai”. Tác giả Nguyễn Thế Thuấn chọn cách chuyển ngữ “Baryôna”, giống với bản Latin Vulgata và bản tiếng Anh ESV. Chọn lựa này có vẻ hợp lý hơn vì đó là một phần trong tên riêng của ông Simon (Σίμων Βαριωνᾶ). Đức Giêsu gọi tên đầy đủ của ông Simôn trong bối cảnh này có lẽ nhằm biểu lộ sự trang trọng, đặc biệt cho mối phúc mà Người sắp công bố và sứ vụ Người sắp trao cho ông. Tác giả Tin Mừng thứ tư diễn giải rõ ràng hơn danh xưng “con trai”: Simon, con trai của ông Gioan  (ὁ υἱὸς Ἰωάννου). Như vậy, ông Simon là con ông Gioan, theo truyền thống Tin Mừng thư tư (Ga 1,41 và 21,15) hay là “Barjona” (Con ông Giôna) theo tác giả Mátthêu (tác giả Máccô và Luca không có đoạn Đức Giêsu nói riêng với ông Simon)? Tác giả D. Harrington cho rằng hầu hết các nhà chú giải giả định rằng tên của bố ông Simon là Yohanan (Gioan).[7] Có tác giả cho rằng Giôna là dạng khác của Gioan trong tiếng Hy Lạp (Gioan = Giôna).[8] Cách hiểu này xem ra hợp lý nhất, khi chưa có một giải pháp nào tốt hơn.
  7. Hội thánh (ἐκκλησία): Đây là hạn từ đặc biệt của tác giả Mátthêu, đến nỗi người ta có thể gọi Tin Mừng của ông là Tin Mừng về Giáo Hội.[9] Không có tác giả Tin Mừng nào khác sử dụng danh xưng này, trong khi tác giả Mátthêu sử dụng ba lần (Mt 16,18; 18,172). Luca, tác giả của Tin Mừng thứ ba, cũng là tác giả sách Công Vụ, sử dụng thường xuyên hạn từ này, những chỉ trong sách Công Vụ, chứ không phải trong Tin Mừng thứ ba. “ἐκκλησία” (ekklesia) trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “đại hội”, “cuộc gặp gỡ”, “giáo hội”. Cộng đồng Israel trong thời lang thang trong sa mạc thường được gọi là “đại hội” (עֵדָה;קְהַ֥ל ). Bản dịch Bảy Mươi là “συναγωγή” (synagôghê) cho cả hai hạn từ Hípri (עֵדָה;קְהַ֥ל ). “ἐκκλησία” cũng được bản Bảy Mươi dùng để dịch hạn từ “קְהַ֥ל” (đại hội, cộng đồng). Sách Đệ Nhị Luật nhiều lần nói về “đại hội của Chúa” (ἐκκλησίαν κυρίου: Đnl 23,2.2.4.9). Hạn từ “synagôghê” trong Tân Ước thường được hiểu là “hội đường”, nơi hội họp của người Do Thái. Danh xưng này cũng là một “cuộc họp mặt thờ phượng” “đại hội thờ phượng”. Danh xưng “ekklesia” cũng được sử dụng để diễn tả một cuộc “tụ họp” các công dân có mục đích chính trị (Cv 19,32).[10] Tác giả sách Hípri cũng dùng hạn từ này để diễn tả “đại hội” Israel (Hr 2,12). Tuy nhiên, danh xưng này được dùng phổ biến trong sách Công Vụ và các thư thánh Phaolô để diễn tả một nhóm Kitô hữu sống ở một nơi nào đó. Trong Tiếng Việt, nó thường được chuyển ngữ là “Hội Thánh”, hay “Giáo Hội”. “Hội Thánh” (cộng đoàn những người tin) và “Nhà Thờ” (cấu trúc vật chất dành cho việc thờ phượng) là hai cụm từ khác nhau trong tiếng Việt, trong khi đó tiếng Latin, Anh, tiếng Ý, tiếng Đức, tiếng Pháp và nhiều thứ tiếng khác, hai cụm từ này chỉ là một (Latin: Ecclesia; Anh: Church; Pháp: Église; Đức: Chirche; Ý: Chiesa). Trong bối cảnh, Đức Giêsu dùng gọi “Hội Thánh” là “của tôi”. “Hội Thánh” này do chính Đức Giêsu “xây dựng” và “trên đá này” là nơi Đức Giêsu xây dựng.[11] Theo lối chơi chữ (Phêrô = đá), Phêrô chính là nơi mà trên đó Đức Giêsu xây dựng Hội Thánh. Dĩ nhiên, ông Phêrô trong tư cách là đại diện của nhóm Mười Hai, cộng đoàn các Tông Đồ, chứ không phải là cá nhân ông. Vào thời Tin Mừng Mátthêu được soạn thảo, có lẽ trong Hội Thánh, vai trò lãnh đạo và mở rộng Hội Thánh của ông Phêrô đã trở nên rõ ràng trong hiểu biết của các cộng đoàn Kitô hữu.[12] Và việc Giáo Hội phát xuất từ các Tông Đồ và phát triển dưới chỉ dẫn của họ là điều khá rõ ràng như trình thuật của sách Công Vụ. Vì thế, tuyên bố Hội Thánh được xây trên nền tảng Phêrô (cùng cộng đoàn các Tông Đồ” là điều dễ hiểu. Danh xưng “Hội Thánh” của Đức Giêsu được đặt song song với “Nước Trời” mà ông Phêrô được trao chìa khóa. “Hội thánh” có thể được xem là dấu chỉ của “Nước Trời”.
  8. Cổng địa ngục (ύλαι ᾅδου): “Cổng địa ngục” là hình ảnh ẩn dụ cho sự chết, vốn đối lại với “Thiên Chúa hằng sống” trong c.16. Trong Cựu Ước “cổng địa ngục” mô tả nơi mà những người chết đi đến (G 38,17; Tv 9,13; 107,18). “Cánh cổng” tượng trưng cho quyền lực giam hãm của sự chết. Đức Giêsu muốn nói là “sự chết không thể cầm tù Giáo Hội” do Đức Giêsu thiết lập.[13] Khi vua Khítkigia lâm bệnh và được khỏi, ông đã sáng tác một bài thơ trong đó ông cảm nhận mình bị giam trong “cổng địa ngục”: “Vào giữa những ngày của tôi, tôi phải ra đi, tôi bị giam trong cổng địa ngục suốt những năm còn lại” (Is 38,9). Cv 2,27.31 trích Tv 16,8-11 nói về sự phục sinh của Đức Giêsu như một bằng chứng rằng Chúa không bỏ rơi linh hồn Người “trong địa ngục”. Tác giả thư thứ nhất Corintô nói về sự sống lại của Đức Kitô, mang lại sự sống cho những ai tin vào Người và mọi thù địch phải quy phục dưới chân Đức Giêsu và kẻ thù cuối cùng bị tiêu diệt là sự chết (1 Cr 15,12-28). Đức Giêsu hứa “cổng địa ngục” sẽ không thắng được Giáo Hội của Người. Quyền lực sự chết không thống trị trên Giáo Hội. Cộng đoạn cánh chung của Thiên Chúa sẽ không chết dù phải trải qua bao nhiêu gian khổ, bách hại. Những thành viên của Giáo Hội dù có chết cũng không bị cái chết đánh bại vì họ sẽ được phục sinh trong ngày sau hết.[14]
  9. Chìa khoá Nước Trời … Tháo cởi – trói buộc … dưới đất – trên trời: Đây là dữ liệu riêng của tác giả Mátthêu. Tác giả ghép lời tuyên xưng với quyền chìa khóa của ông Phêrô. Chìa khóa là hình ảnh tượng trưng cho quyền lực trên điều gì đó.[15] Đoạn văn này có lẽ có nguồn gốc từ Is 22,15-25, trong đó Eliakim được Chúa hứa là sẽ thay ông Sepna, làm người quản lý trong vương quốc Đavid: “Chìa khóa nhà Đavid, Ta sẽ đặt trên vai nó. Nó mở ra thì không ai đóng được, nó đóng lại thì không ai mở ra được”. Ở đây, ông Phêrô được giao chìa khóa Nước Trời. Cũng như ông Êliakim, được giao cho nhiệm vụ quản lý trong vương quốc Đavid, ông Phêrô được giao cho nhiệm vụ quản lý trong Nước Trời. Người quản lý có cả quyền trên những người còn lại trong nhà và có trách nhiệm thay chủ điều hành những công việc trong nhà.[16] Điều khác biệt giữa quản lý Êliakim và Phêrô là mối liên hệ chặt chẽ giữa “dưới đất” và “trên trời” trong quyền “trói buộc – tháo cởi”. Tác giả T. France cho rằng “tháo cởi” và “trói buộc” là ẩn dụ của quyền lực quản trị. Những thuật ngữ này được dùng trong văn chương Rabbi để công bố điều gì được hay không được phép. Quyền này một lần nữa được trao cho cả nhóm các môn đệ trong 18,18, áp dụng cho việc sửa lỗi anh em trong cộng đoàn.[17] Trong Tin Mừng Gioan, sau khi Phục Sinh, lần đầu tiên Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ, Người đã trao ban Thánh Linh và trao ban quyền tha tội: “Hãy nhận lấy Thánh Linh, anh em tha rội cho anh, thì người ấy được tha, anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20,22-23). Tin Mừng Gioan rõ ràng nhấn mạnh đến quyền tha tội của cộng đoàn các Tông Đồ. Quyền “tháo cởi – trói buộc” ở đây, được thảo luận rất nhiều trong dòng lịch sử, và có nhiều cách hiểu khác nhau: “Ngôn ngữ của trừ sự trừ quỷ”; “cấm đoán – trục xuất”. Những cách hiểu này có lẽ không hợp với bối cảnh. Trong bối cảnh của Tin Mừng Mátthêu, Tin Mừng nhấn mạnh đến quyền giải thích Torah của Đức Giêsu, “thảo cởi – trói buộc” nên hiểu như những chỉ dẫn đúng hoặc sai trong việc giải thích Luật Chúa, như cách hiểu của H.Stretter, Derette; Zanne; Davies-Allison; Luz; hoặc là quyền giảng dạy (Bornkamm). Sự giải thích này có thể được hiểu rộng ra bao gồm cả tha thứ hay không tha thứ (Schlatter) và như thế, xác định ơn cứu độ hay kết án (A. Schweiter).[18] Ông Phêrô có thể được hiểu như người mở cửa Nước Trời bằng hoạt động rao giảng của mình trong khi đó những người lãnh đạo Israel đóng lại, không cho người ta vào (Mt 23,13; Cf. Lc 11,25). Ông là một người thi hành sứ vụ tiêu biểu thời cánh chung, một “người đánh bắt người ta”.[19]
  10. Người cấm họTác giả Mátthêu diễn tả mục đích việc cấm đoán rõ ràng nhất so với hai tác giả Nhất Lãm còn lại. Đức Giêsu cấm để họ không nói với ai rằng Người là Đấng Kitô. Trong phần liệt kê ý kiến của “người ta”, không có ý kiến nào cho biết căn tính “Kitô” của Đức Giêsu cả. Chỉ có các môn đệ biết và Đức Giêsu không muốn cho họ tiết lộ cho ai. Có lẽ, lý do của lệnh cấm là các môn đệ chưa thật sự hiểu trọn vẹn về danh xưng Kitô này. Họ chỉ mới hiểu một nửa là Đấng Kitô bày tỏ vinh quang trong lời nói và hành động, còn Đấng Kitô vinh quang phục sinh sau cuộc khổ nạn thì họ chưa biết rõ.[20] Trong câu chuyện biến hình, Đức Giêsu cũng căn dặn các môn đệ là “đừng nói với ai về thị kiến ấy cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy” (Mt 17,9). Trong cuộc biến hình, các môn đệ cũng đã ngất ngây về vinh quang của Đức Giêsu, nhưng vinh quang ấy chỉ trọn vẹn sau cuộc khổ hình. Các môn đệ có sứ mạng giới thiệu và chứng minh cho những người Do Thái rằng Đức Giêsu chính là Đấng Kitô (Mêsia) mà họ hằng mong chờ, nhưng phải sau biến cố phục sinh, khi họ đã chứng kiến Đức Giêsu trải qua cuộc khổ nạn và phục sinh. Đó là những chứng từ đã được tác giả sách Công Vụ ghi lại: “Đấng Kitô phải chịu khổ hình và sống lại từ cõi chết … Đấng Kitô ấy chính là Đức Giêsu mà tôi rao giảng cho anh em” (Cv 17,3; Cv 2,22-36; 3,17-26; 9,19-22).

IV.Bình luận tổng quát

Tin Mừng thứ nhất ngay từ đầu đã giới thiệu cho cộng đoàn độc giả rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô và là Con Thiên Chúa. Trong những trình thuật Giáng Sinh, tác giả đã cố gắng giới thiệu hai căn tính này của Đức Giêsu. Trong các trình thuật về bài giảng và việc làm từ 4,17 đến trước câu chuyện này (16,13-20), tác giả đã ghi lại không biết bao nhiêu lời nói và hành động của Đức Giêsu để bộc lộ căn tính của Người. Đoạn văn Mt 16,13-20 có thể được xem như là bản lề nối kết hai phần trình bày về căn tính của Đấng Kitô (Mêsia). Phần phía trước đoạn này là Đức Kitô quyền năng trong lời nói và làm đủ loại phép lạ; phần từ đoạn này trở về sau là Đức Kitô vinh quang phục sinh saukhi trải qua cuộc khổ nạn. Đến thời điểm này, người ta vẫn chỉ xem Đức Giêsu như Gioan Tẩy Giả (sống lại), Êlia, Giêrêmia, hay một trong các ngôn sứ, trong khi đó các Tông Đồ đã có một hiểu biết vượt bậc. Lời tuyên xưng của ông Phêrô, đại diện cho Nhóm Mười Hai, “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Ông Phêrô của tác giả Mátthêu tuyên xưng sâu và rộng hơn ông Phêrô của Máccô (Đấng Kitô) và Luca (Đấng Kitô của Thiên Chúa). Nơi lời tuyên xưng của Phêrô trong Mátthêu, người ta thấy được một căn tính kép: Người vừa là Đấng Kitô vừa là Con Thiên Chúa Hằng sống. Nghĩa là, Người không chỉ là một Đấng Chúa sai đến thuộc dòng dõi vua Đavid, nhưng còn có nguồn gốc, căn tính thần linh. Danh xưng “Con Thiên Chúa” cũng là danh xưng nối kết Tin Mừng Mátthêu từ đầu đến cuối (Mt 4,17 và Mt 27,54). Lời tuyên xưng này là một lời tuyên xưng đỉnh cao về mặt chữ. Tuy nhiên, ý nghĩa sâu xa và trọn vẹn của danh xưng kép này, thì ông Phêrô và các anh em chưa hiểu hết. Có thể nói họ chỉ hiểu được một nửa, và đó cũng là điều họ mong chờ và muốn hiểu: Đức Kitô quyền năng có thể giải quyết cho họ mọi vấn đề trong cuộc sống, từ bệnh tật, quỷ ám, cho đến đói kém, thảm họa thiên nhiên và chủ quyền đất nước. Vào thời điểm này, họ không được tiết lộ căn tính kép của Đấng Kitô, cũng như không được tiết lộ vinh quang của cuộc biến hình trên núi, bởi lẽ, họ phải trải nghiệm phần còn lại của ý nghĩa căn tính Kitô – Con Thiên Chúa: Đấng Kitô khổ nạn – chết – phục sinh. Đây là điều không ai muốn nghe, không ai có thể hiểu và đón nhận. Đức Giêsu sẽ bật mí sự thật khủng khiếp này cho họ đến ba lần trước khi bước vào cuộc khổ nạn. Dù muốn hay không họ cũng phải trải nghiệm. Chỉ sau khi Đức Kitô Phục Sinh, họ mới nhận ra ý nghĩa trọn vẹn của căn tính Kitô – Con Thiên Chúa. Khi đã hiểu rồi, họ bắt đầu rao giảng, giải thích, chứng minh, Đức Giêsu là Đấng Kitô – Con Thiên Chúa không những cho người Do Thái ở Jêrusalem, mà còn mở rộng ra cho những người ở Giuđê, Samari, và toàn thế giới (Cv 1,8; 28,31). Khi cộng đoàn các môn đệ bắt đầu được xây dựng quanh niềm tin vào Đức Kitô – Con Thiên Chúa phục sinh, đứng đầu là ông Phêrô, cộng đoàn bắt đầu cho thấy hình ảnh Giáo Hội của Chúa Kitô, được thiết lập trên nền tảng các Tông Đồ và cổng địa ngục không thể thắng được. Khi “Giáo Hội” càng mở rộng sứ vụ rao giảng, có thêm nhiều người được ơn cứu độ, thì sứ vụ chìa khóa, mở cửa Nước Trời của ông Phêrô càng phát huy rõ nét nhất.

D/ Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

 NHẬN LÃNH TRÁCH NHIỆM CHÚA TRAO

A.DẪN NHẬP

 Chúa nhật 21 hôm nay giúp chúng ta hướng lòng về Mầu nhiệm Hội thánh. Công đồng Vatican II gọi “Hội thánh là Dân Thiên Chúa”, một dân có tổ chức hẳn hoi, một Hội có đầy đủ các đặc tính của nó. Hội thánh được coi như một gia đình, trong đó mỗi người đóng một vai trò hoặc lớn hoặc nhỏ, nhưng mọi người đều có trách nhiệm phải bảo vệ và xây dựng gia đình đó.

 Trong số các hồng ân Chúa ban cho loài người, Hội thánh chắc hẳn là hồng ân quí giá nhất. Chính Hội thánh có nhiệm vụ tiếp tục công trình của Đức Kitô và ban cho chúng ta những đặc ân Người mang đến. Chính Hội thánh làm cho Chúa Kitô hiện diện giữa chúng ta. Chúng ta hãy tìm hiểu Hội thánh, để thêm lòng yêu mến và cố gắng làm tròn nhiệm vụ của chúng ta đối với Hội thánh.

 Chúng ta là những thành viên trong Hội thánh. Đã là thành viên thì mỗi người đều có quyền lợi và bổn phận, bởi vì quyền lợi và bổn phận phải đi liền với nhau. Chúng ta đã được lãnh nhận nhiều ơn Chúa qua Hội thánh, thì chúng ta cũng phải có bổn phận bảo vệ và xây dựng Hội thánh. Tuy mỗi người chỉ là một thành phần nhỏ nhưng cũng quan trọng, bởi vì một ngôi nhà được xây dựng lên phải bao gồm nhiều yếu tố, nhiều chất liệu mà thiếu một yếu tố nào thì ngôi nhà ấy chưa được hoàn hảo. Hội thánh là một ngôi nhà chung, mỗi người phải có trách nhiệm góp phần vào việc xây dựng ngôi nhà đó.

B.TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+Bài đọc 1: Is 22, 19-23

 Lời tiên tri của Isaia hôm nay nói về việc truất phế một vị quan coi đền thờ là Sobna, dưới triều vua Ezechia, vì ông này có những hành vi nhũng lạm. Ông này không xứng đáng, nên chức vụ này được trao cho người khác là Êliakim, ông này sẽ lo quyền lợi chung và sẽ là người cha cho dân của ông.

 Mặc dù Êliakim phục vụ cho vua Ezéchia, nhưng trách nhiệm của Eliakim không phải do vua trao, mà do chính Thiên Chúa. Ngài trao cho Eliakim “chìa khóa”, nghĩa là thẩm quyền để hành xử trong phạm vi trách nhiệm của mình. Ngài còn hứa sẽ che chở, trợ giúp để ông thi hành trách nhiệm được giao phó.

+Bài đọc 2: Rm 11,33-36

 Trong thư gửi cho tín hữu Rôma, thánh Phaolô ca tụng sự khôn ngoan vô cùng của Thiên Chúa. Đường lối của Ngài không ai hiểu thấu, vì mọi vật đều do Ngài mà có, nhờ Ngài mà tồn tại. Chúng ta chỉ biết ca ngợi tình thương của Chúa đối với chúng ta, và cố gắng sống theo đường lối và thánh ý của Ngài: Xin tôn vinh Thiên Chúa đến muôn đời.

+Bài Tin mừng: Mt 16,13-20

 Sau khi các Tông đồ cho Chúa Giêsu biết dư luận của dân chúng về Ngài, thì Chúa Giêsu lại hỏi chính các ông xem các ông bảo Ngài là ai ? Thánh Phêrô đã thay cho các ông khác mà tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Chúa Giêsu đã chấp nhận lời tuyên xưng ấy và để đáp lại, Ngài đã đặt Phêrô làm thủ lãnh Hội thánh, tượng trưng cho tước vị và quyền hạn này là việc trao chìa khoá.

 Như vậy, thánh Phêrô và những người kế vị đã nhận được nhiệm vụ tiếp tục sứ mạng của Chúa Kitô điều khiển Hội thánh, là dân Thiên Chúa. Ngài còn hứa sẽ bảo trợ thánh Phêrô và các Đấng kế vị trong chức vụ mình, và bảo đảm với các vị là Hội thánh của Ngài luôn bền vững, không một quyền lực nào có thể phá nổi.

C.THỰC HÀNH LỜI CHÚA: 

HỘI THÁNH CỦA CHÚA KITÔ

I.HỘI THÁNH VÀ VIỆC TRAO QUYỀN BÍNH

1.Xây dựng Hội thánh

 Sau khi Phêrô đã tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, Chúa Giêsu liền thưởng cho ông: “Phêrô, con là Đá, trên Đá này Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy”.

 Con là Đá”: Đá ở đây vừa là tảng đá vừa là tên mới của Simon. Trong Kinh thánh, khi trao nhiệm vụ đặc biệt cho một nhân vật nào, thì Thiên Chúa thường đổi tên người đó (St 17,5-15; 35,10; Tv 13,16; 2V 23,34). Việc đổi tên như vậy cho thấy có mối liên hệ mới mẻ giữa người đổi tên và kẻ được đổi tên. Quả vậy, khi đổi tên Simon là Phêrô (Đá), Chúa có ý chỉ Phêrô sẽ là Đá tảng vững chắc, trên đó Người sẽ xây Hội thánh của Người. Tất nhiên đây chỉ là tảng đá hữu hình của Hội thánh, còn đá vô hình là Chúa Giêsu (1Cr 3,10-11; 1Pr 2,6-8).

 Qua đặc tính tự nhiên của đá, ta có thể hiểu về đặc tính của Hội thánh. Đá có đặc tính:

          * Cứng: nói lên sức mạnh của Hội thánh.
Bền: nói lên sự trường tồn của Hội thánh.
Chắc: nói lên sự vững bền của Hội thánh.

 Vì thế Phêrô quả là nền tảng của Hội thánh (Lm. Trần Hữu Thành, Suy niệm Tin mừng CN, năm A, tr 257)

 Hội thánh là chính Chúa Giêsu tiếp tục sống giữa chúng ta. Qua các thời đại, cũng có những người lớn tiếng hô hào rằng: Hội thánh đã đến ngày tận số! Nhưng Hội thánh vẫn còn tiếp tục qua 2000 năm nay và vẫn còn tiếp tục. Chúng ta hãy nghe một số phát biểu:

 Năm 305, hoàng đế Dioclesianô ra lệnh đúc tiền với dòng chữ: Để kỷ niệm ngày đạo Kitô bị tiêu diệt.

 Năm 1758, Voltaire nói tiên tri: hai mươi năm nữa đạo Công giáo sẽ hết đời.

 Năm 1850, P. Proudhon quả quyết: các người đạo đức hãy lo giấy thông hành trước đi. Mười năm nữa sẽ không còn vị linh mục nào để xức dầu cho đâu.

 Và năm 1904, Combes tuyên bố: ba tháng nữa bọn giáo sĩ phản động sẽ bị tiêu diệt.

 Đời nào cũng có những người cao hứng muốn làm nhà tiên tri, để phê phán về số mạng của Hội thánh. Nhưng bây giờ họ ở đâu ? Họ đã chết. Hội thánh vẫn còn sống, sống mạnh, sống mãi, sống vững vàng. Thánh Augustinô nói: “Họ nhìn thấy Hội thánh, họ nói: Hội thánh sẽ chết, giáo dân đã đến ngày tận số. Nhưng tôi thấy họ chết mỗi ngày, mà Hội thánh vẫn tồn tại để rao giảng quyền lực của Thiên Chúa cho các thế hệ nối tiếp nhau”.

2.Phêrô được trao quyền lãnh đạo

 Sau khi Chúa Giêsu tuyên bố sẽ lập Hội thánh trên nền tảng là Phêrô, Chúa Giêsu liền ban quyền lãnh đạo cho ông: “Thầy sẽ trao cho con chìa khóa Nước trời, dưới đất con cầm buộc điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất, con tháo cởi điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy” (Mt 16,19).

 Không còn nghi ngờ gì nữa, Đức Giêsu đã tuyển chọn và tấn phong Phêrô làm thủ lãnh của Hội thánh. Ngài xây dựng Hội thánh của Ngài trên tảng đá Phêrô, và hứa sẽ bảo vệ Hội thánh khỏi mọi tấn công của tử thần. Ngài còn trao cho Phêrô chìa khóa Nước trời, tượng trưng cho quyền bính trên trời dưới đất. Với quyền tối thượng này, Phêrô sẽ cai quản, giáo huấn và thánh hoá Hội thánh của Đức Kitô trong tinh thần phục vụ và yêu thương, sẵn sàng hiến mình cho đoàn chiên đã được trao phó.

II.SỨ MẠNG LÃNH ĐẠO HỘI THÁNH

 Hội thánh được Công đồng Vatican II gọi là “Dân Thiên Chúa”. Đã là một dân thì phải có tổ chức hẳn hoi. Chúa Giêsu đã lập một hội giáo. Hội đó là một hội hoàn toàn, có người chỉ huy và có kẻ phục tùng, không phải cá mè một lứa, theo hình thức quân chủ theo nghĩa một người có trọn quyền chỉ huy. Hội đó có đủ các quyền hành của một hội hoàn toàn: có quyền cai trị, quyền giáo huấn và quyền thưởng phạt. Các quyền này nhận thẳng từ Đấng sáng lập không chịu quyền của trần gian.

 Như chúng ta đã biết, Chúa Giêsu đã thiết lập Hội thánh không rõ từ lúc nào, các nhà thần học chưa đồng ý với nhau, nhưng biết chắc chắn rằng Chúa Giêsu đã thiết lập và trao quyền lãnh đạo Hội thánh cho thánh Phêrô: “Thầy trao cho con chìa khóa Nước trời, dưới đất con cầm buộc điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy, dưới đất con tháo cởi cái gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy”. Do đó, thánh Phêrô là vị Giáo hoàng tiên khởi, rồi các vị khác tiếp tục thay phiên nhau mà cai trị Hội thánh. Các ngài cũng chỉ là con người như mọi người, nhưng được Chúa Giêsu tuyển chọn, để thay quyền Ngài mà cai trị Hội thánh. Các ngài là những vị đại diện của Chúa Kitô ở trần gian.

Truyện: ĐGH Gioan-Phaolô II

 Một tờ báo Ý đã tiết lộ một tin quan trọng về ĐGH Gioan-Phaolô II. Tờ báo cho biết, khi Đức Giáo hoàng còn là sinh viên du học tại Rôma, một hôm đã cùng với các bạn đi thăm cha đáng kính Piô, một Linh mục được Chúa in 5 dấu thánh. Vừa gặp, Cha Piô ôm chầm lấy ngài và nói rằng: một ngày kia Cha sẽ làm Giáo hoàng và sẽ chịu đau khổ, máu sẽ chảy. Cha Wojtyla trả lời: “Điều ấy tôi không sợ, vì tôi sẽ không bao giờ làm Giáo hoàng”. Nhưng thánh ý Chúa nhiệm mầu! Cha Wojtyla đã làm Giáo hoàng và máu đã chảy trong cuộc mưu sát ngày 13.10.1981 tại công trường thánh Phêrô. Gioan-Phaolô II là vị Giáo hoàng thứ 264, từ ngày vị Giáo hoàng tiên khởi là thánh Phêrô được Chúa trao quyền tối thượng (Lm. Hồng Phúc, Suy niệm lời Chúa, năm A, tr 128).

Giáo hoàng là vị Cha chung
Cầm quyền thống trị với lòng yêu thương.

Chúa Giêsu xây dựng Hội thánh trên Tảng đá Phêrô. Đá là một vật cứng, nhưng người ta thường nói: “Nước chảy đá mòn” nên tảng đá Phêrô có thể bị sứt mẻ, nhưng không bị vỡ tan. Điều đó nói lên sự yếu đuối của Phêrô. Mặc dù ông đã hứa với Chúa: “Dầu tất cả có vấp phạm vì Thầy đi nữa, thì con đây cũng chẳng bao giờ vấp ngã” (Mt 26,33). Và ngay đêm sau đó, không ai bắt ông phải chết, không ai ra tay tra khảo, chỉ có mấy người đầy tớ gặng hỏi, ông đã thốt lên những điều độc địa và thề rằng: “Tôi không biết người ấy” (Mt 26,74).

Thế là đã rõ, Chúa Giêsu đã không chọn một vị thánh để dẫn dắt Hội thánh của Ngài, mà đã chọn một dân chài, ít học, nóng nảy, bộc trực, sa ngã và… phản bội. Vượt lên những khuyết điểm, sai lầm và yếu đuối của Phêrô, hẳn Chúa Giêsu đã nhìn thấu suốt tâm can của Phêrô một tâm tình khiêm tốn sâu thẳm và một lòng sám hối chân thành.

Thật vậy, trước đây trong bữa tiệc ly Chúa Giêsu đã tâm sự với các môn đệ: “Đêm nay tất cả các con sẽ vấp ngã vì Thầy” (Mt 26,21) thì Phêrô không thể nào tin được. Ông quả quyết với Chúa: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy” (Mt 26,35). Nhưng “ngay lúc ông còn đang nói, thì gà gáy. Chúa Giêsu quay lại nhìn Phêrô” (Lc 22,60). Ánh mắt của Chúa nhìn thấu tâm hồn ông làm cho ông đau nhói. Ông rút lui ra ngoài, tan nát cõi lòng, bước đi nặng trĩu.

Ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết vì lầm lỗi của mình: tại sao mình lại phản bội Thầy ? Lúc này Phêrô mới nhận thấy mình không còn là tảng đá vững chắc nữa, mà mình chỉ là cát bụi, mình yếu đuối dễ sa ngã, không còn cậy vào sức mình như trước nữa, mà phải hoàn toàn trông cậy vào sự nâng đỡ của Chúa. Gương sa ngã của thánh Phêrô làm cho chúng ta nhớ đến lời khuyên của thánh Phaolô: “Ai đang đứng, ý tứ kẻo ngã”. Cái cột trụ Hội thánh đã đổ thì những cột khác có đứng vững không ?

Tuy thế, ông Phêrô cố quên đi quá khứ tội lỗi, để hướng tới tương lai của ơn thánh: cảm nghiệm sâu xa của lòng Chúa khoan dung tha thứ. Với kinh nghiệm bản thân đã kinh qua, sau này thánh Phêrô đã khuyên bảo các tín hữu của mình: “Vậy anh em hãy sám hối và trở lại cùng Thiên Chúa, để Người xoá bỏ tội lỗi cho anh em” (Cv 3,19).

III.SỨ MẠNG XÂY DỰNG HỘI THÁNH

 Trong bài TM hôm nay, Chúa Giêsu đã chọn thánh Phêrô là Tảng đá để Ngài xây dựng Hội thánh trên đó. Hội thánh này phải vững chắc, vì xây nhà trên nền đá thì phải vững chắc, không sợ mưa sa bão táp (x. Mt 7,24-27).

 Hội thánh được xây dựng trên đá tảng Phêrô là đúng rồi, nhưng câu hỏi được đặt ra là “Chúa còn xây dựng Hội thánh của Ngài trên tảng đá nào khác nữa không ?” Thánh Phêrô đã trả lời cho chúng ta trong thư thứ nhất của ngài: “Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên đền thờ thiêng liêng” (1Pr 2,5). Như thế có nghĩa là thánh Phêrô trả lời cho chúng ta là “có”: vì mỗi Kitô hữu cũng là một viên đá để xây dựng Hội thánh.

 Như thế, thánh Phêrô không dành độc quyền xây dựng Hội thánh, mà chia quyền ấy cho mọi tín hữu. Công đồng Vatican II cũng không nói khác với Phêrô: mọi Kitô hữu đều có sứ mạng xây dựng Hội thánh, mỗi người trong cương vị của mình, hoàn cảnh của mình và theo khả năng của mình mà xây dựng.

 Hội thánh là gia bảo mà Chúa Giêsu để lại cho chúng ta qua các Tông đồ và các Đấng kế vị. Trải qua 2000 năm Hội thánh đã phải chịu bao phen sóng gió, bao cuộc bách hại nhất là tại đế quốc Rôma trong 250 năm kể từ năm 64 đến năm 313, và tại Việt Nam chúng ta trong suốt hơn 100 năm dưới triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và nhóm Văn Thân. Tuy thế Hội thánh vẫn luôn đứng vững, vì Chúa đã hứa với Phêrô là không sức mạnh nào có thể phá nổi.

 Nếu Hội thánh là di sản quí báu cha ông chúng ta đã để lại, chúng ta phải bảo vệ và xây dựng Hội thánh, đừng bao giờ để cha ông chúng ta phải than vì “Đời cha vo tròn, đời con bóp méo” (tục ngữ). Hội thánh là ai ? Hội thánh là ta, là mỗi người chúng ta. Chúng ta phải làm sao cho Hội thánh luôn mặc một vẻ đẹp và hấp dẫn trước mặt lương dân. Bảo vệ và xây dựng Hội thánh, đó là công tác của chúng ta. Hãy giữ lấy gia sản quí báu ấy, như các em thiếu nhi thường hát trong các buổi sinh hoạt giáo lý:

Cái nhà là nhà của ta
Công khó ông cha làm ra.
Cháu con hãy gìn giữ lấy
Muôn năm với nước non nhà
(Lm. Ng. Văn Thích)

 Qua 2000 năm lịch sử của Hội thánh, chúng ta thấy Hội thánh luôn được phát triển trong những hoàn cảnh thật khó khăn, có biết bao thế lực chống phá, ngăn cản việc truyền giáo, nhiều nhà truyền giáo đã phải đổ máu ra để xây dựng Hội thánh vì “Máu các thánh Tử đạo là hạt giống sinh ra các tín hữu” (Tertullianô).

Truyện: Viên đá đầu tiên

 Cho đến năm 1896, vùng Cayenne ở Saint Ouen không bao giờ thấy bóng chiếc áo dòng đen. Nhưng một ngày trong năm đó, một vị linh mục cả gan xâm nhập vào vùng ấy. Một người thấy vậy liền ném đá vào đầu linh mục. Vị linh mục cúi xuống nhặt lấy viên đá đầy máu đỏ.

– Xin cảm ơn ông, đây là viên đá đầu tiên của một đền thờ tôi muốn xây ở đây.

 Và sự thật viên đá đó là viên đá đầu tiên của đền thờ Mân Côi được xây ở đó.

 Nước Chúa trên mặt đất này là Hội thánh, cũng bắt đầu trong nhỏ hèn, trong bạc đãi như vậy. Hội thánh vẫn phát triển trong âm thầm và đau khổ. (Nguyễn Hài Đồng, Tự điển câu truyện, 1969, tr 114).

 Chúng ta luôn tin tưởng rằng: Hội thánh của Chúa luôn vững bền, mặc dầu luôn gặp muôn vàn khó khăn, vì Hội thánh là ngôi nhà được xây trên đá vững chắc. Vậy xây nhà trên đá là gì ? Thưa là biết lắng nghe Lời Chúa và nhất là biết đem Lời Chúa ra thực hành trong đời sống hằng ngày. Theo giáo huấn của Chúa Giêsu, ai xây nhà trên đá là người khôn (Mt 7,24-27), còn ngược lại, kẻ nào không lắng nghe Lời Chúa và nhất là không thực hành Lời Chúa thì giống như người ngu xây nhà trên cát bùn.

 Còn đối với các Đấng bậc trong Hội thánh, Chúa Giêsu đã muốn cho thánh Phêrô và những người kế vị trở thành lãnh đạo Hội thánh mà Ngài đã lập ra, điều này không thể chối cãi được. Bởi đó, chúng ta phải công nhận quyền uy của các Ngài, phải vâng theo lời dạy của các Ngài và làm cho nhiệm vụ của các Ngài được dễ dàng. Vâng lời các Ngài là vâng lời chính Đức Kitô. Ngài đã phán: “Ai nghe lời các con là nghe Ta”.

 Nếu người ta đang hô hào người dân phải bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, vì đó là bổn phận của mỗi công dân, thì chúng ta, mỗi người đều là công dân Nước trời, là thành viên trong Hội thánh, chúng ta cũng có nhiệm vụ phải yêu mến, bảo vệ và xây dựng Hội thánh, xây dựng giáo xứ, xây dựng xã hội và xây dựng gia đình. Việc xây dựng đầu tiên, làm nền tảng cho mọi cuộc xây dựng tiếp theo, chính là nỗ lực lắng nghe và sống Lời Chúa.