“Trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy,
và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.” (Mt 16,18)

Bài Ðọc I: Is 22, 19-23

“Ta sẽ để chìa khoá nhà Ðavít trên vai nó”.

Trích sách Tiên tri Isaia.

Ðây Chúa phán cùng Sobna, quan cai đền thờ rằng: “Ta sẽ trục xuất ngươi ra khỏi địa vị ngươi, và Ta sẽ cách chức ngươi; trong ngày đó, Ta sẽ gọi đầy tớ Ta là Êliaqim, con trai Helcia. Ta sẽ lấy áo choàng của ngươi mà mặc cho nó, lấy đai lưng của ngươi mà thắt cho nó, sẽ trao quyền ngươi vào tay nó, nó sẽ nên như cha các người cư ngụ ở Giêrusalem và nhà Giuđa. Ta sẽ để chìa khoá nhà Ðavít trên vai nó: nó sẽ mở cửa và không ai đóng lại được; nó đóng cửa lại và không ai mở ra được. Ta sẽ đóng nó vào nơi kiên cố như đóng đinh, và nó sẽ trở nên ngai vinh quang nhà cha nó”.

Ðáp Ca: Tv 137, 1-2a. 2bc-3. 6 và 8bc

Ðáp: Lạy Chúa, lòng nhân hậu Chúa tồn tại muôn đời, xin đừng bỏ rơi công cuộc tay Chúa.

Xướng: Lạy Chúa, con sẽ ca tụng Chúa hết lòng, vì Chúa đã nghe lời miệng con xin; trước mặt các thiên thần, con đàn ca mừng Chúa; con sấp mình thờ lạy bên thánh điện Ngài. 

Xướng: Và con sẽ ca tụng uy danh Chúa, vì lòng nhân hậu và trung thành của Chúa. Khi con kêu cầu, Chúa đã nhậm lời con, Chúa đã ban cho tâm hồn con nhiều sức mạnh. 

Xướng: Quả thực Chúa cao cả và thường nhìn kẻ khiêm cung, còn người kiêu ngạo thì Ngài ngó tự đàng xa. Lạy Chúa, lòng nhân hậu Chúa tồn tại muôn đời; xin đừng bỏ rơi công cuộc tay Chúa. 

Bài Ðọc II: Rm 11, 33-36

“Mọi sự đều do Người, nhờ Người và trong Người”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Ôi thẳm sâu thay sự giàu có, thượng trí và thông biết của Thiên Chúa: sự phán quyết của Người làm sao hiểu được, và đường lối của Người làm sao dò được! Vì chưng, nào ai biết được ý Chúa? Hoặc ai đã làm cố vấn cho Người? Hay ai đã cho Người trước để Người sẽ trả lại sau? Vì mọi sự đều do Người, nhờ Người và trong Người: nguyện Người được vinh quang đến muôn đời. Amen.

Alleluia: Ga 14, 5

Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống: không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”. – Alleluia.

Tin Mừng: Mt 16, 13-20

“Con là Ðá, Thầy sẽ ban cho con chìa khoá nước trời”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu đến địa hạt thành Xêsarêa Philipphê, và hỏi các môn đệ rằng: “Người ta bảo Con Người là ai?” Các ông thưa: “Người thì bảo là Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là Êlia, kẻ khác lại bảo là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó”. Chúa Giêsu nói với các ông: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai?” Simon Phêrô thưa rằng: “Thầy là Ðức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Chúa Giêsu trả lời rằng: “Hỡi Simon con ông Giona, con có phúc, vì chẳng phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha Thầy, Ðấng ngự trên trời. Vậy Thầy bảo cho con biết: Con là Ðá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng được. Thầy sẽ trao cho con chìa khoá nước trời: sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; và sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở”. Bấy giờ Người truyền cho các môn đệ đừng nói với ai rằng Người là Ðức Kitô.

Kể từ đó, Chúa Giêsu bắt đầu tỏ cho các môn đệ thấy: Người sẽ phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ bởi các kỳ lão, luật sĩ và thượng tế, phải bị giết, và ngày thứ ba thì sống lại. Phêrô kéo Người lại mà can gián Người rằng: “Lạy Thầy, xin Chúa giúp Thầy khỏi điều đó. Thầy chẳng phải như vậy đâu”. Nhưng Người quay lại bảo Phêrô rằng: “Hỡi Satan, hãy lui ra đàng sau Thầy, con làm cho Thầy vấp phạm, vì con chẳng hiểu biết những sự thuộc về Thiên Chúa, mà chỉ hiểu biết những sự thuộc về loài người”.

SUY NIỆM

A/ 5 Phút Lời Chúa

ĐỨC KITÔ, NIỀM HY VỌNG CỦA LOÀI NGƯỜI

“Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” (Mt 16,16)

Suy niệm: Qua hằng ngàn năm, dân Do Thái mong chờ Đấng Cứu thế xuất hiện để giải thoát, đưa đất nước lên hàng cường quốc. Vậy mà, điều đáng buồn là khi Đức Giê-su, Vị Cứu thế đến, họ chỉ nhìn thấy Ngài như là ông Gio-an Tẩy giả, Ê-li-a, Giê-rê-mi-a hay một ngôn sứ nào đó mà thôi! Nghĩa là một con người được Chúa đặc biệt chọn để nói lời của Ngài.
Trái lại, Phê-rô, nhờ Chúa Cha mặc khải, đã nói đúng chân tướng của Đấng Cứu thế: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” Phê-rô, thay mặt anh em, bày tỏ sự tin tưởng, niềm hy vọng các ông đặt nơi Thầy mình. Ngài là Đấng Ki-tô, Đấng được xức dầu, Đấng đến để chữa lành những vết thương, đổi mới trần thế. Khi quyết định theo Ngài, các ông “đặt cược” cả vận mạng, tương lai đời mình cho Ngài. Thế nhưng, chỉ sau cuộc Khổ nạn và Phục sinh của Thầy, Phê-rô cũng như các Tông đồ khác mới ‘ngộ’ ra Đấng Ki-tô ấy phải qua đau khổ, thập giá mới khải hoàn phục sinh, đem lại hy vọng tươi sáng cho tất cả nhân loại.

Mời Bạn: Trong Tông huấn “Đức Ki-tô hằng sống”, Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô nói rằng: “Đức Ki-tô là niềm hy vọng của chúng ta, và một cách kỳ diệu Người mang sự tươi trẻ đến cho thế giới chúng ta, và mọi sự được Người chạm đến đều trở nên trẻ trung, mới mẻ, đầy tràn sức sống.” Đặt hy vọng nơi Đức Ki-tô, cuộc đời bạn mới tràn đầy niềm vui, sức sống, dù giữa muôn khổ đau, thách đố. Bạn đã chọn Đức Ki-tô là niềm hy vọng của đời mình chưa?

Sống Lời Chúa: Bạn hãy thiết tha cầu xin cho mình có được niềm hy vọng ở nơi Chúa.

Cầu nguyện: Đọc kinh Trông Cậy.

B/ TGM Giuse Nguyễn Năng

Suy niệm: Trước câu hỏi của Ðức Giêsu đặt ra cho các Tông Ðồ: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao ?”

Thánh Phêrô thay cho anh em nói lên niềm xác tín của mình nơi Ðức Giêsu: “Bỏ Thầy chúng con biết theo ai ? Thầy mới có lời ban sự sống đời đời”.

Còn câu trả lời của chúng ta thế nào ? Hãy trả lời cho Chúa bằng cuộc sống và bằng chính thái độ sống của mình.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Chúa luôn muốn con người bước đi trong đường lối của Chúa. Nhưng Chúa không ép chúng con. Trái lại, Chúa hoàn toàn tôn trọng sự tự do lựa chọn của mỗi người chúng con.

Xin cho chúng con ngày càng khám phá rõ hơn nét đẹp của đường lối Chúa, để chúng con lựa chọn cho mình một đời sống hạnh phúc vĩnh cửu. Ðời sống ấy chỉ có được khi chúng con sống theo ý Chúa mà thôi. Amen.

Ghi nhớ: Người ta bảo Con Người là ai ?”

C/ TGM Giuse Vũ Văn Thiên

CẦM BUỘC VÀ THÁO CỞI

Nói đến chìa khóa là người ta nghĩ đến việc mở hay đóng cửa. Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay trao cho ông Phêrô chìa khoá, nhưng Người lại nói đến việc cầm buộc và tháo cởi: “Thày sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy”. Phêrô vừa thay mặt anh em để tuyên xưng đức tin: “Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống!”. Sau lời tuyên xưng Đức tin của vị tông đồ, Chúa đã đổi tên cho ông từ Simon thành Phêrô, nghĩa là Đá Tảng và trao cho ông quyền cầm buộc và tháo cởi. Quyền này thật lớn lao, đến nỗi trên trời cũng sẽ dựa theo quyền này để quyết định tương lai của một con người, hoặc bị trừng phạt, hoặc được thưởng công. Hai ngàn năm đã qua, Giáo Hội tiếp nối Phêrô lãnh nhận và thực thi quyền này. Nhờ quyền ràng buộc và tháo cởi, Giáo Hội duy trì trật tự nội bộ, đóng góp phần mình xây dựng xã hội trần gian, đồng thời phản chiếu tình thương của Thiên Chúa cho con người của mọi thời đại, mở ra cho muôn dân con đường đến gặp gỡ Đức Kitô và đón nhận ơn cứu độ.

Ý tưởng cầm buộc và tháo cởi được Đức Giêsu nhắc lại một lần nữa, cũng trong Tin Mừng thánh Mátthêu, ở chương 18, câu 18: “Thầy bảo thật anh em: dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy”. Nếu ở Mt 16, 19, Chúa trao chìa khoá cho cá nhân Phêrô, thì ở đây, Chúa lại trao chìa khoá cho Cộng đoàn Giáo Hội, với danh nghĩa tập thể. Giáo Hội được ủy thác thay mặt Chúa để hướng dẫn con người đạt tới sự thánh thiện. Giáo Hội là một người mẹ, cưu mang, sinh hạ và chăm sóc các tín hữu. Ai nghe lời Giáo Hội là nghe lời Chúa. Ai hiệp thông với Giáo Hội là hiệp thông với Chúa. Giáo Hội không chỉ là cơ chế của loài người, nhưng trước hết là một tổ chức do Chúa Giêsu thiết lập, là trung gian thông chuyển ơn cứu độ đến cho hết mọi người. Chính Giáo Hội quản lý kho tàng Đức tin và có sứ mạng thông truyền Đức tin cho con người thuộc mọi thời đại và mọi nền văn hóa.

Hình ảnh chiếc chìa khoá cũng được nhắc đến trong Bài đọc I. Đây là chìa khoá Đavít, tượng trưng cho quyền lực của người lãnh đạo dân Israen. Vị tể tướng triều đình thời đó là Sép-na. Ông này vì bê bối và bất trung, nên Thiên Chúa loại bỏ. Qua ngôn sứ Isaia, Chúa phế bỏ Sép-na và thiết lập người thay thế là Engiakim. Người này sẽ được trao chìa khoá nhà Đavít và có quyền đóng cũng như mở. Sở dĩ đoạn Kinh Thánh Cựu ước này được đọc trong Phụng vụ, vì nhãn quan Kitô giáo nhận ra, Engiakim là hình ảnh của Đấng Thiên Sai. Người đến trần gian với quyền lực lãnh nhận từ Đấng Tối cao. Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai. Người được trao toàn quyền trên trời dưới đất (x. Mt 28,18). Người là Đấng được các vị kỳ lão trong sách Khải Huyền tung hô: “Con Chiên đã bị giết nay xứng đáng lãnh nhận phú quý và uy quyền, khôn ngoan cùng sức mạnh, danh dự với vinh quang, và muôn lời cung chúc” (Kh 5,12). Người cũng là Đấng duy nhất có khả năng mở bảy ấn, vừa bày tỏ quyền năng của Thiên Chúa, vừa ổn định trật tự trần gian (x. Kh, chương 6).

Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai. Tuy vậy, trải qua mọi thời đại, con người cũng như sứ mạng của Chúa bị nhiều người hiểu sai lạc, thậm chí có người cố ý xuyên tạc hay làm cho hình ảnh của Người bị biến dạng. Có nhiều người quan niệm về Đức Giêsu như một nhân vật huyền thoại, hoặc chỉ là một vĩ nhân như bao vĩ nhân khác của lịch sử. Một số khác lại coi Chúa như một chính trị gia, hay chỉ là một bậc thày về những tư tưởng đạo đức. Họ kính trọng Chúa, nhưng không công nhận Người là Thiên Chúa và là Đấng Thiên Sai. Điều này dễ hiểu. Bởi lẽ sứ mạng của Chúa được Chúa Cha trao phó. Con người không thể hiểu thế giới thần linh, vì “sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào! Quyết định của Ngài, ai suy cho thấu!” (Bài đọc II). Các môn đệ đã theo Chúa được vài năm, mà nay khi Người đặt câu hỏi về thân thế và sứ mạng của Người, các ông còn lúng túng: “Kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy giả, kẻ thì bảo là ông Êlia, người khác thì cho là ông Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ”. Thì ra các môn đệ cũng chỉ dựa vào dư luận và những lời đồn. Chúa muốn mỗi người hãy suy tư và tự đưa ra quan điểm của mình: “Còn anh em, anh em nói Thày là ai?”. Tin vào Chúa không thể dựa trên những lời đồn thổi, nhưng là sự hiểu biết kèm theo niềm xác tín nơi Người. Phêrô đã thưa: “Thày là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.

Người tín hữu chân chính phải xác định rõ Chúa Giêsu là ai trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa và Người là ai đối với đời sống của mình. Một Đức tin mờ nhạt mông lung không thể làm nền tảng cho cuộc đời của người tín hữu. Nó giống như ngôi nhà được xây trên cát, lúc bão tố mưa sa dễ dàng bị đổ sập. Một lối sống chỉ dựa vào dư luận của đám đông mà không dựa trên những tiêu chuẩn của giáo huấn Tin Mừng sẽ không chắc chắn vì luôn bị thay đổi cho hợp thời.

“Phần anh em, anh em nói Thày là ai?”. Chúa Giêsu vẫn đang đặt câu hỏi ấy đối với mỗi tín hữu chúng ta. Câu hỏi ấy được đặt ra trong cuộc sống đời thường, nhất là trong cuộc gặp gỡ giữa chúng ta với Chúa, vào lúc sau hết của cuộc đời. Không thể vừa tuyên xưng Chúa Giêsu là Chúa của đời mình, vừa sống trái ngược với Tin Mừng Người rao giảng. Không thể vừa tuyên xưng Đức Giêsu là Sự thật, vừa sống trong sự dối trá với anh chị em mình.

Quyền cầm buộc và tháo cởi mà Chúa đã trao cho Phêrô và Giáo Hội, không chỉ được hiểu như những hình phạt chế tài, mà còn quảng diễn tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa. Ngài không muốn cho con người phải trầm luân đời đời, nhưng được sống trong hạnh phúc đời này và đời sau. Mỗi người tín hữu hãy cảm nhận tình thương ấy, và là chứng nhân đem tình thương đến cho mọi người.

D/ Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Chủ đề của Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXI năm A này có thể được gọi là lễ trao ban quyền hành qua dấu chỉ biểu tượng chìa khóa.

Is 22: 19-23

Bản văn I-sai-a gợi lên việc tấn phong một tổng giám quản hoàng cung của vương quốc Giu-đa, viên quan nầy sẽ thực hiện quyền hành qua dấu chỉ biểu tượng của chìa khóa.

Rm 11: 33-36

Trong đoạn trích thư gởi tín hữu Rô-ma kết thúc phần đạo lý, thánh Phao-lô ca ngợi sự khôn ngoan đầy lòng xót thương của Thiên Chúa.

Mt 16: 13-20

Tin Mừng tường thuật Đức Giê-su tấn phong thánh Phê-rô làm lãnh đạo Giáo Hội của Ngài cũng qua dấu chỉ biểu tượng của chìa khóa.

BÀI ĐỌC I (Is 22: 19-23)

Bài Đọc I hình thành một sự đối chiếu tuyệt vời với Tin Mừng hôm nay. Ngôn sứ I-sai-a gợi lên chính Thiên Chúa đích thân chọn một tổng giám hoàng cung của vương quốc Giu-đa và trao ban cho viên quan này tước vị và quyền quản trị hoàng cung qua dấu chỉ biểu tượng của chìa khóa. Thánh Mát-thêu tường thuật việc Đức Giê-su chọn thánh Tông Đồ Phê-rô làm vị lãnh đạo tương lai của Giáo Hội Ngài, cũng qua dấu chỉ biểu tượng của chìa khóa.

Biến cố mà ngôn sứ I-sai-a thuật lại chắc chắn được định vị vào trước thế kỷ VII tCn, nghĩa là trước khi những cuộc tấn công cuối cùng của quân đội Át-sua tàn phá vương quốc Giu-đa. Chính Thiên Chúa sẽ truất quyền ông Sép-na, “tổng giám hoàng cung” đương nhiệm, mà trao cho ông Ê-li-a-kim, người Thiên Chúa gọi là “tôi tớ” của Ngài. Câu chuyện nầy có hai nét đặc trưng: lễ tấn phong và hậu cảnh thiên sai.

1. Lễ tấn phong

“Áo thụng của ngươi, Ta sẽ lấy mặc cho y; cân đai của ngươi, Ta sẽ đem thắt cho y; quyền bính của ngươi, Ta sẽ trao vào tay y”: Xem ra vị quyền cao chức trọng này mặc một phẩm phục đặc biệt, cân đai xác định tước vị và quyền hành của ông: “Đối với dân cư Giê-ru-sa-lem và nhà Giu-đa, y sẽ là một người cha”: Chung chung, tước hiệu “cha” dành riêng cho vua, “vị cha của dân tộc”, chắc chắn, ở đây, tước hiệu này muốn đối lập người được tiến cử với vị tiền nhiệm, kẻ đã chỉ nghĩ đến tư lợi của mình. “Ta sẽ đặt chìa khóa nhà Đa-vít trên vai y”: Cử chỉ nầy tương tự với việc đặt vương trượng trên vai của vị quân vương vào ngày đăng quang của mình, chìa khóa đặt trên vai là dấu chỉ quyền bính của vị quan nafy. Với tư cách là tổng giám hoàng cung, ông có quyền ấn định giờ mở và đóng cửa hoàng cung và giới thiệu những khách viếng thăm. Chính ở đây mà bản văn mặc lấy chiều kích Mê-si-a.

2.Hậu cảnh thiên sai

Trong ánh sáng giải thích theo chiều hướng thiên sai, phần cuối bài thơ mặc lấy một chiều kích khác. “Ta sẽ đặt chìa khóa nhà Đa-vít trên vai y: y mở ra thì không ai đóng được, y đóng lại thì không ai mở được. Ta sẽ làm cho y vững chắc như đinh đóng cột, và y sẽ làm cho gia tộc của mình được rạng rỡ vinh quang.” Những biểu thức này được hiểu nếu nhân vật được tấn phong là một tân vương. Nhưng phải chăng đây thật sự là một “tân vương thuộc dòng dõi vua Đa-vít”? Một truyền thống đã giải thích hậu duệ vua Đa-vít này theo nghĩa thiên sai. Quả thật, sách Khải Huyền thánh Gioan đã giải thích bản văn theo truyền thống này, khi áp dụng vào Đức Ki-tô: “Đây là lời của Đấng Thánh, Đấng Chân Thật, Đấng giữ chìa khóa vua Đa-vít. Người mở ra thì không ai đóng lại được, Người đóng lại thì không ai mở ra được” (Kh 3: 7). Theo sau thánh Gioan, các Giáo Phụ cũng đã giải thích lời sấm của ngôn sứ I-sai-a theo viễn cảnh thiên sai nầy.

BÀI ĐỌC II (Rm 11: 33-36)

Bài thánh thi nầy tôn vinh sự khôn ngoan khôn ví của Thiên Chúa kết thúc phần trình bày đạo l‎ý của thư gởi tín hữu Rô-ma.

1. Ơn Cứu Độ cho người Do thái

Sau khi đã bàn về ơn cứu độ của dân ngoại, thánh Phao-lô gợi ra ơn cứu độ của dân Do thái. Những nhận định nầy đã đem lại cho thánh nhân một sự thanh thản: sự bất phục tùng của dân Ít-ra-en lại phục vụ kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa dành chỗ cho dân ngoại. Đến phiên mình, dân ngoại sẽ mở ra những con đường đầy lòng xót thương cho dân Ít-ra-en.

2. Niềm cảm tạ tri ân

Từ đó, thánh Phao-lô cất cao lời ca ngợi niềm hy vọng chan chứa trong niềm hân hoan phấn khởi. Chính căn cứ trên toàn bộ kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, thánh nhân diễn tả lòng cảm mến tri ân của mình.
Bản văn của ngôn sứ I-sai-a vang lên trong tâm trí của thánh nhân:

“Thần khí Đức Chúa, ai đo cho nổi?
Ai làm quân sư chỉ vẽ cho Người?
Người đã thỉnh ý ai để giúp Người thông hiểu,
bảo cho Người biết lối công minh,
dạy cho Người mở mang kiến thức,
chỉ cho Người con đường trí tuệ?” (Is 40: 13).

Thánh vịnh gia cũng đã ca ngợi sự khôn ngoan cao vời khôn ví của Thiên Chúa:

“Kỳ diệu thay, tri thức siêu phàm,
quá cao vời, con chẳng sao vươn tới!
….
Lạy Chúa, con thấy tư tưởng Ngài khó hiểu biết bao,
tính chung lại, ôi nhiều vô kể!” (Tv 139: 6, 17).

3. Lời chúc tụng

Thánh Phao-lô hoàn tất lời ngợi ca nầy với một cung giọng mang sắc thái phụng vụ: “Xin tôn vinh Chúa mãi muôn đời. A-men.” Lời tán tụng nầy, câu “Vinh  Chúc” này với những đặc ngữ chắc chắn là tự phát, như nhiều câu tán tụng khác điểm xu‎yết các thư của thánh nhân. Vinh Tụng Ca nầy cũng có thể được một kinh nguyện nào đó của Giáo Hội tiên khởi khơi nguồn cảm hứng cho thánh nhân.

TIN MỪNG (Mt 16: 13-20)

Vì người Biệt Phái và kinh sư quấy nhiễu, vua Hê-rô-đê ngờ vực và đám đông dân chúng không hiểu, Đức Giê-su hơn bao giờ hết phiêu bạt đây đó. Ngài tìm những nơi yên tỉnh để được sống riêng tư thân thiết với các môn đệ Ngài và chú tâm huấn luyện các ông. Vì thế, nhiều lần Ngài vượt qua biên giới Ga-li-lê và ẩn mình một thời gian ở xứ Phê-ni-xi, trong miền Tia và Xi-đôn. Bấy giờ Đức Giê-su đến vùng kế cận thành Xê-da-rê Phi-líp, một trong những địa hạt phía Bắc Pa-lét-tin không thuộc quyền của vua Hê-rô-đê An-ti-pa, nhưng tiểu vương Phi-líp, một nhà cai trị chừng mực và khôn ngoan. Chính tiểu vương Phi-líp nầy đã cho xây cất thành phố mà ông đặt tên Xê-da-rê để kính nhớ hoàng đế Âu-gút-tô. Để tránh nhầm lẫn với thành phố lớn Xê-da-rê duyên hải, thành phố nầy được gọi là “Xê-da-rê Phi-líp”. Trong lãnh địa nầy, Đức Giê-su có thể bình yên đi lại. Ngài đồng hành với các môn đệ. Chính trong khung cảnh tươi vui và thanh bình nầy, Ngài bắt chuyện với các ông.

Thánh Mát-thêu nói với chúng ta Đức Giê-su vừa đi vừa chuyện trò thân mật với các ông trong khi thánh Lu-ca lại đặt câu chuyện nầy vào trong một bối cảnh khác: “Hôm ấy, Đức Giê-su cầu nguyện một mình. Các môn đệ cũng ở đó với Người.” (Lc 9: 18). Trong Tin Mừng của mình, thánh Lu-ca không bao giờ quên kể ra việc Đức Giê-su cầu nguyện trong những giây phút quan trọng.

1. Thăm dò dư luận

Trước khi đề cập đến cuộc chuyện trò cách chi tiết hơn, cần thiết phải nhắc lại hai sự kiện vừa mới xảy ra trước đây. Sự kiện thứ nhất chỉ một mình thánh Gio-an tường thuật: sau bài diễn từ bánh hằng sống, nhiều môn đệ lìa bỏ Ngài vì họ cho rằng “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” (Ga 6: 60). Lúc đó, Đức Giê-su buồn rầu quay về nhóm Mười Hai và hỏi họ: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” Ông Phê-rô liền đáp: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” (Ga 6: 67-69).

Sự kiện thứ hai kể ra việc Đức Giê-su thực hiện hai phép lạ cùng một lúc: đi trên mặt biển và dẹp yên bảo tố, hai phép lạ này đặc biệt dành riêng cho các môn đệ và chỉ cho các môn đệ mà thôi. Thánh Phê-rô là người đầu tiên nhận ra Đức Giê-su và là người duy nhất được Thầy cho phép đi trên biển dậy sóng để gặp Ngài. Sau cùng tất cả đều bái lạy Ngài và tuyên xưng: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa” (Mt 16: 33). Đức tin trong những giây phút đầy cảm kích còn động lại những gì trong lòng các môn đệ Ngài? Các môn đệ hiểu gì khi họ tuyên xưng Ngài là “Con Thiên Chúa”? Vì thế, đây là giây phút thuận tiện để mà Đức Giê-su dò xét mức độ đức tin của họ vào Ngài.

Trước hết, Ngài hỏi các ông dư luận quần chúng về Ngài ngỏ hầu giúp các môn đệ hiểu biết hơn rằng đức tin của họ phải thoát khỏi thế kiềm kẹp của dư luận sai lầm như thế nào. Kẻ thì nói Ngài là ông Gioan Tẩy Giả. Ý tưởng thật lạ thường, nhưng nhắc độc giả nhớ rằng tiểu vương Hê-rô-đê nghi ngờ Đức Giê-su chính là ông Gio-an Tẩy Giả đã từ cõi chết sống lại (Mt 14: 1-2). Kẻ khác thì bảo Ngài là ngôn sứ Ê-li-a, bởi vì theo truyền thống, ngôn sứ Ê-li-a phải trở lại để chuẩn bị cuộc giáng lâm của Đấng Mê-si-a. Lòng tin nầy dựa trên sấm ngôn của ngôn sứ Ma-la-khi: “Này Ta sai ngôn sứ Ê-li-a đến với các ngươi, tước khi Ngày của Đức Chúa đến, ngày trọng đại và kinh hoàng” (Ml 3: 23). Có người lại cho Ngài là ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Thánh Mát-thêu là thánh ký duy nhất nêu tên ngôn sứ Giê-rê-mi-a trong câu chuyện nầy (x. Mt 16: 14). Sách Ma-ca-bê quyển hai chứng thực rằng ngôn sứ Giê-rê-mi-a được xem như đấng che chở dân Chúa chọn và là đấng cầu bầu có hiệu quả nhất như ông Mô-sê xưa (2Mcb 15: 13-16; x. Xh 32: 11).

2. Lời tuyên xưng của thánh Phê-rô

Tuy nhiên, không phải dư luận quần chúng về Ngài mà Chúa Giê-su thực sự muốn biết khi hỏi các môn đệ của Ngài. Câu hỏi về dư luận quần chúng chỉ như khúc dạo đầu cho một câu hỏi khác, còn quan trọng hơn nhiều, mà Đức Giê-su muốn dò hỏi từ chính các môn đệ Ngài: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”. Tất cả các môn đệ đều được hỏi, thánh Phê-rô trả lời nhân danh họ: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống”. “Đấng Ki-tô” là một tước hiệu được phiên âm từ tiếng Hy-lạp: “Christos” dịch sát từ tiếng Híp-ri: “Mê-si-a”, có nghĩa “Đấng Được Xức Dầu”. Trong các sấm ngôn Cựu Ước, tước hiệu này loan báo Đấng Mê-si-a thuộc dòng dõi vua Đa-vít được Thiên Chúa tuyển chọn để cứu độ dân Ngài. Còn trong cụm từ “Con Thiên Chúa hằng sống”, “Thiên Chúa hằng sống” là biểu thức tiêu biểu Cựu Ước. Biểu thức nầy nhắc nhớ rằng Đức Chúa là Thiên Chúa hằng sống đối nghịch với các ngẫu tượng vô tri vô giác của dân ngoại. Như vậy, qua lời tuyên xưng nầy, thánh Phê-rô nhận ra Đức Giê-su là Đấng Ki-tô và là Con Thiên Chúa, nghĩa là Ngài không đơn giản chỉ là Đấng Ki-tô phàm nhân thuộc dòng dõi vua Đa-vít được Thiên Chúa tuyển chọn, nhưng còn là Đấng Ki-tô có nguồn gốc thần linh. Như vậy, lời tuyên xưng của thánh Phê-rô được ghi lại trong Tin Mừng Mát-thêu hôm nay là đầy đủ nhất so với Tin Mừng Mác-cô: “Thầy là Đấng Ki-tô” (Mc 8: 29) và Tin Mừng Lu-ca: “Thầy là Đấng Ki-tô của Thiên Chúa” (Lc 9: 20).

Đó là lý do tại sao chỉ duy Tin Mừng Mát-thêu ghi lại cho chúng ta rằng Đức Giê-su tán dương lời tuyên xưng đức tin này và nhận ra mặc khải siêu nhiên mà thánh Phê-rô nhận được: “Chẳng phải xác thịt hay máu huyết mặc khải cho anh, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời”. Kiểu nói “Xác thịt hay máu huyết” là cách nói thông thường trong văn chương kinh sư để diễn tả bản chất phàm nhân trong thân phận yếu đuối mõng dòn trái ngược với Thiên Chúa hằng sống. Như vậy, lời tuyên xưng của thánh Phê-rô: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” không phải do thánh nhân khám phá, cũng không phải do loài người chỉ dạy, nhưng do Thiên Chúa mặc khải. Lời tuyên xưng này cũng đã được Đức Giê-su xác nhận và chứng thực khi chính Ngài công bố trước các môn đệ của Ngài mối liên hệ độc nhất vô nhị của Ngài với Thiên Chúa là Cha Ngài: “Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời”. Vài ngày sau đó, Đức Giê-su sẽ dẫn thánh Phê-rô cùng với hai môn đệ khác, tham dự biến cố Biến Hình của Ngài căn cứ trên mặc khải ở Xê-da-rê Phi-líp.

3. Lễ tấn phong thánh Phê-rô

Phần cuối của câu chuyện nầy, được gọi là lễ tấn phong Phê-rô cũng chỉ được gặp thấy tại Tin Mừng Mát-thêu, lại có một tầm quan trọng lớn lao đối với Giáo Hội.

“Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Đá, trên tảng đá nầy, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy”. Từ A-ram: “Kepha” được dịch sang bản văn Hy lạp: “Petros”, nghĩa là “đá tảng”. Ấy vậy, từ A-ram “Kepha” cũng như từ Hy-lạp “Petros” không bao giờ được dùng cho tên riêng, nhưng là một danh từ. Khi nâng danh từ “kepha” lên đến tầm mức tên riêng của một người: “Anh là Kepha (Petros: phiên âm: Phê-rô), trên tảng đá nầy, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy”, một cách nào đó, Đức Giê-su đổi tên thánh nhân từ Si-mon sang Phê-rô. Theo truyền thống Do thái, việc đổi tên một người đồng nghĩa việc đổi mới người ấy để lãnh nhận một sứ mạng mới, như vậy, với một con người mới và một vận mệnh mới, thánh Phê-rô sẽ là nền tảng bất khả chuyển lay trên đó Chúa Giê-su xây dựng Giáo Hội của Ngài.

Đức Giê-su chọn hình ảnh: “Quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” để khẳng định tính chất vĩnh cửu của Giáo Hội. Chắc chắn ở đó có một sự ám chỉ đến một niềm tin rất phổ biến, theo đó tảng đá trên đó Đền Thờ Giê-ru-sa-lem được xây dựng sẽ bịt kín lối vào cõi Âm Ty.

“Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời”. Hình ảnh nầy chúng ta đã gặp thấy trong bản văn của I-sai-a (Bài Đọc I): trao chìa khóa cho ai là trao cho người ấy quyền lãnh đạo. Trong bản văn của I-sai-a, chìa khóa được trao cho vị tổng quản hoàng cung, ông có nhiệm vụ coi sóc và quản trị hoàng cung. Cũng vậy, chìa khóa được trao cho thánh Phê-rô, vị tổng quản Giáo Hội, thánh nhân có nhiệm vụ coi sóc và quản trị Giáo Hội của Đức Kitô.

“Dưới đất, anh ngăn cấm điều gì, trên trời cũng ngăn cấm như vậy; dưới đất, anh cho phép điều gì, trên trời cũng cho phép như vậy”. Trong Do thái giáo, các kinh sư thường sử dụng cặp từ đối lập: “buộc” và “tháo” để áp dụng vào những quyết định kỷ cương cũng như lãnh vực đạo lý, vì thế: “buộc” nghĩa là “bắt phải giữ” hay “ngăn cấm”, và “tháo” nghĩa là “cho phép” hay “chuẩn miễn”. Giáo Hội cũng sử dụng theo cùng một cách như vậy, nhưng thêm vào đây một quy chiếu đặc thù hơn: tha thứ tội lỗi.

4. Quyền Chúa Giê-su trao cho thánh Phê-rô

Để kết thúc buổi chia sẻ này, chúng ta nên đọc và hiểu bản văn Tin Mừng Mát-thêu này một cách tinh tế, đừng vội đồng hóa lời tuyên xưng của thánh Phê-rô với con người của thánh nhân, bởi vì ngay sau câu chuyện này, Đức Giê-su đã quở trách nặng lời với thánh nhân khi thánh nhân tìm cách ngăn cản Ngài thực hiện con đường cứu độ cho muôn người qua cuộc Thương Khó, Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài (Mt 16: 21-23). Vì thế, chính không phải con người của thánh nhân, nhưng lời tuyên xưng của thánh nhân mới là đá tảng vững chắc trên đó Đức Giê-su xây dựng Hội Thánh của Ngài mà ngay cả quyền lực tử thần cũng sẽ không thắng nổi.

Vì thế, không lạ gì trong các sách Tin Mừng, ngoài bản văn của thánh Mát-thêu, chúng ta còn gặp thấy hai bản văn khác nữa nói về quyền tối thượng của thánh Phê-rô. Trong Tin Mừng của thánh Lu-ca, vào buổi chiều Tiệc Ly, trước khi báo trước cho thánh nhân biết nội trong đêm nay thánh nhân sẽ chối thầy đến ba lần, Đức Giê-su nói với chỉ một thánh Phê-rô,: “Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh.” (Lc 22: 32). Theo truyền thống Tin Mừng Lu-ca, thánh Phê-rô được trao quyền lãnh đạo của Giáo Hội Ngài không phải vì thánh nhân có đức độ tài năng hơn các bạn đồng môn khác, nhưng chỉ vì thánh nhân có cảm nghiệm sâu xa hơn những môn đệ khác về sự mõng dòn yếu đuối của bản thân mình qua ba lần chối Thầy và sự tha thứ vô hạn của Thầy đối với mình. Chỉ như thế, thánh nhân mới có thể cảm thông những yếu đuối của anh em mình và nâng đỡ đức tin của anh em mình trong những gian nan thử thách.

Trong Tin Mừng của thánh Gioan, vào sáng sớm sương mờ của biển hồ Ti-bê-ri-a, Đức Giê-su Phục Sinh gặp gỡ các môn đệ của Ngài. Sau khi đã cho các ông một mẽ lưới cá lạ lùng và đã dọn sẵn cho các ông một bữa ăn trên bờ hồ, xảy ra một cuộc đối thoại thật cảm động của Chúa Giê-su với chỉ một mình thánh Phê-rô. Trong cuộc đối thoại đó, Chúa Giê-su hỏi thánh Phê-rô ba lần cùng một câu hỏi: “Anh có mến Thầy không?”, và ba lần Chúa Giê-su trao quyền mục tử cho thánh nhân (Ga 21: 15-17). Như vậy, theo truyền thống Tin Mừng Gioan, quyền mà Chúa Giê-su trao cho thánh Phê-rô không là cai trị, nhưng là ân cần chăm lo cho đoàn chiên của Ngài bằng trọn một tấm lòng yêu mến mà thánh nhân dành cho Thầy mình. Quả thật trong Tin Mừng Gioan, Chúa Giê-su đã tự giới thiệu mình: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10: 11), khác với kẻ chăn chiên thuê: “Người làm thuê, vì không phải là mục tử, và vì chiên không thuộc về anh, nên khi thấy sói đến, anh bỏ chiên mà chạy” (Ga 10: 12). Kẻ chăn chiên thuê mà Chúa Giê-su đề cập đến ở đây chính là giới lãnh đạo tôn giáo của dân Ít-ra-en, họ cũng đã được Thiên Chúa chọn và trao ban quyền chăm lo cho dân của Ngài. Nhưng Chúa Giê-su trách cứ họ khi gọi họ là kẻ chăn chiên thuê vì họ chỉ nghĩ đến tư lợi của riêng mình, không sống chết với đoàn chiên mà Thiên Chúa ủy thác cho họ.

Có hiểu như thế, chúng ta mới có thể nhìn thấy cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội Chúa Ki-tô thật đẹp biết bao. Cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội được chính Đức Giê-su thiết lập không phải để cai trị nhưng để yêu thương và phục vụ. Ngay chính Tin Mừng Mát-thêu, Tin Mừng thuật lại cho chúng ta cuộc tấn phong thánh Phê-rô hôm nay, cũng ghi lại những lời tâm huyết mà Đức Giê-su muốn các môn đệ chân chính của Ngài phải khắc cốt ghi tâm: “Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20: 25-28). Chính thánh Phê-rô đã hiểu, nên sau này thánh nhân đã khuyên các bậc kỳ mục: “Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em: lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt thành tận tụy. Đừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã trao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên. Như thế, khi Vị Mục Tử tối cao xuất hiện, anh em sẽ được lãnh triều thiên vinh hiểu không bao giờ hư nát” (1Pr 5: 2-4).

Cuối cùng, chúng ta đừng quên, chính đương kim Giáo Hoàng Phan-xi-cô đã chọn bản văn Tin Mừng Gioan chứ không bản văn Tin Mừng Mát-thêu vào ngày lễ đăng quang của mình, để nhấn mạnh chức năng Mục Tử tối cao của ngài, chứ không vai trò thủ lãnh tối cao của Giáo Hội.

E/ Những bài suy niệm khác