
Người bảo họ:
“Thế thì của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”.
(Mt 22,21)
BÀI ĐỌC I: Is 45, 1. 4-6
“Ta đã cầm tay hữu của Cyrô để bắt các dân suy phục trước mặt nó”.
Trích sách Tiên tri Isaia.
Đây Chúa phán cùng Cyrô, kẻ xức dầu của Chúa mà Ta đã cầm tay hữu nó, để bắt các dân suy phục trước mặt nó, bắt các vua quay lưng lại, mở các cửa trước mặt nó, và các cửa không được đóng lại:
Nhân vì Giacóp tôi tớ Ta, và Israel kẻ Ta kén chọn, Ta đã gọi đích danh ngươi: Ta đã kêu gọi ngươi khi ngươi không nhận biết Ta. Ta là Chúa, và chẳng còn chúa nào khác: ngoài Ta ra, không có Thiên Chúa nào nữa. Ta đã thắt lưng cho ngươi khi ngươi không nhận biết Ta, để các kẻ từ đông sang tây nhận biết rằng ngoài Ta ra không có ai khác: Ta là Chúa, và chẳng có chúa nào khác.
ĐÁP CA: Tv 95, 1 và 3. 4-5. 7-8. 9-10a và c
Đáp: Hãy kính tặng Thiên Chúa quyền thế với vinh quang (c. 7b).
Xướng:
1) Hãy ca mừng Thiên Chúa bài ca mới, hãy ca mừng Thiên Chúa, hỡi toàn thể địa cầu. Hãy tường thuật vinh quang Chúa giữa chư dân, và phép lạ Người ở nơi vạn quốc. – Đáp.
2) Vì Thiên Chúa, Người hùng vĩ và rất đáng ngợi khen, Người khả uý hơn mọi bậc chúa tể. Vì mọi chúa tể của chư dân là hư ảo, nhưng Thiên Chúa đã tác tạo trời xanh. – Đáp.
3) Hãy kính tặng Thiên Chúa, hỡi người chư dân bá tánh, hãy kính tặng Thiên Chúa quyền thế với vinh quang, hãy kính tặng Thiên Chúa vinh quang xứng với danh Người. Hãy mang lễ vật, tiến vào hành lang nhà Chúa. – Đáp.
4) Mặc lễ phục, thờ lạy Thiên Chúa. Toàn thể địa cầu, hãy run sợ trước thiên nhan, hãy công bố giữa chư dân rằng Thiên Chúa ngự trị. Người cai quản chư dân theo đường đoan chính. – Đáp.
BÀI ĐỌC II: 1 Tx 1, 1-5b
“Tôi hằng nhớ đến đức tin, đức cậy và đức mến của anh em”.
Khởi đầu thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Thêxalônica.
Phaolô, Silvanô và Timôthêu kính gửi giáo đoàn thành Thêxalônica trong Thiên Chúa Cha và trong Chúa Giêsu Kitô. Nguyện chúc cho anh em được ân sủng và bình an.
Tôi hằng tạ ơn Thiên Chúa cho mọi người anh em, trong khi tôi cầu nguyện, tôi hằng nhớ đến anh em không ngừng; tôi nhớ đến sự nghiệp của lòng tin, công việc của lòng bác ái, sự vững lòng trông cậy của anh em vào Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, trước mặt Thiên Chúa là Cha chúng ta. Hỡi anh em là những kẻ được Thiên Chúa yêu mến, tôi từng biết anh em được Chúa tuyển chọn, bởi vì Tin Mừng của chúng tôi ở nơi anh em, không phải chỉ với lời nói mà thôi, mà là với quyền năng, với Thánh Thần và với lòng xác tín.
TIN MỪNG: Mt 22,15-21
15 Bấy giờ những người Pha-ri-sêu đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giê-su phải lỡ lời mà mắc bẫy. 16 Họ sai các môn đệ của họ cùng đi với những người phe Hê-rô-đê, đến nói với Đức Giê-su rằng: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. 17 Vậy xin Thầy cho biết ý kiến: có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không ?”
18 Nhưng Đức Giê-su biết họ có ác ý, nên Người nói: “Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình! 19 Cho tôi xem đồng tiền nộp thuế!” Họ liền đưa cho Người một quan tiền. 20 Người hỏi họ: “Hình và danh hiệu này là của ai đây ?” 21 Họ đáp: “Của Xê-da.” Bấy giờ, Người bảo họ: “Thế thì của Xê-da, trả về Xê-da ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.”
SUY NIỆM
A/ 5 phút với Lời Chúa
TRÁNH NHẦM LẪN ĐÁNG TIẾC
“Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa.” (Mt 22,21)
Suy niệm: Lập trường rõ ràng, dứt khoát của Chúa Giê-su đối với Thiên Chúa và tiền của giúp các môn đệ khỏi đánh đồng, nhầm lẫn các giá trị phải chọn lựa trong cuộc sống. Lắm khi người môn đệ khó phân định rạch ròi đâu là ý Chúa, lãnh vực nào thuộc về Ngài và đâu là ý cũng như lãnh vực của Xê-da – đại diện cho tiền của và danh vọng. Hiện nay chủ nghĩa quốc gia-tôn giáo đang trỗi dậy đó đây, đề cao quyền của quốc gia trên tôn giáo, sự tự trị của tôn giáo tại đất nước mình. Người môn đệ dễ bị cám dỗ ngã theo rồi hành động theo chủ nghĩa quốc gia-tôn giáo ấy, phản lại tính phổ quát của đức tin, đức ái. Lúc đó họ trở thành những tín đồ cuồng tín, không chinh phục được ai, trái lại, làm cho nhiều người lìa xa Thiên Chúa. Tín hữu là người vừa mắc nợ tổ quốc về lòng trung thành, vừa mang ơn Thiên Chúa về tình yêu cứu độ. Người tín hữu phải chu toàn cả hai vai trò, không được bỏ vai này phò vai kia.
Mời Bạn: Chúa bảo môn đệ phải nộp thuế phần đời cũng là cách Chúa muốn môn đệ lưu ý đến đưa giá trị Nước Trời vào xã hội trần thế. Thế giới này do Chúa dựng nên, Ngài mơ ước xã hội ấy trở thành Vương quốc của công lý, tình yêu, sự thật, tình phụ tử với Thiên Chúa chi phối đời sống con người. “Của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa” là thế đó.
Sống Lời Chúa: Là Ki-tô hữu, Chúa bảo ta không được trốn thuế; là công dân Nước Trời, Chúa bảo ta đóng góp theo khả năng cho nhu cầu vật chất của Giáo hội nữa.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin mở rộng lòng con, cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người anh chị em, để Nước Chúa được hiển trị mọi ngày.
B/ Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
CỦA XÊDA TRẢ XÊDA, CỦA THIÊN CHÚA TRẢ THIÊN CHÚA
Qua Lời Tổng Nguyện của Chúa Nhật XXIX Thường Niên, Năm A này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa là Chúa các chúa, Vua muôn vua, vì thế, Chúa là Đấng rất đáng chúng ta tôn thờ và phụng sự. Chúng ta tôn thờ Chúa như thần dân đối với Vua trong Vương Quốc của Người, và chúng ta phụng sự Chúa như con thơ đối với Cha hiền trong Nhà của Người. Do đó, chúng ta không chỉ xin ơn trung tín: để tuân giữ những gì Chúa truyền dạy, mà còn phải xin cho mình có lòng quảng đại: để làm hơn cả những gì luật dạy, mà đáp lại tình phụ tử bao la cao cả của Người.
Trong bài đọc một của Thánh Lễ hôm nay, Chúa phán với ngôn sứ Isaia rằng: Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác; chẳng có ai là Thiên Chúa, ngoại trừ Ta. Thiên Chúa cao cả quyền năng, muốn làm gì là Chúa làm nên: Đức Chúa đã cầm lấy tay phải vua Kyrô để bắt các dân tộc suy phục ông, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách hôm nay, Thiên Chúa đã can thiệp để cứu thoát Dân của Người, khi cất nhấc cô Étte lên ngôi hoàng hậu thay cho bà Vátti, đúng như lời Thánh Vịnh 112 nói: Ai sánh tày Thượng Đế Chúa ta, Đấng ngự chốn cao vời, cúi xuống để nhìn xem bầu trời trái đất? Kẻ mọn hèn, Chúa kéo ra khỏi nơi cát bụi, ai nghèo túng, Người cất nhắc từ đống phân tro, đặt ngồi chung với hàng quyền quý.
Bởi vì Thiên Chúa là Đấng rất đáng chúng ta tôn thờ và phụng sự, nên trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 95, vịnh gia đã kêu gọi chúng ta: Hãy dâng Chúa quyền lực và vinh quang, xứng danh Người. Hãy bưng lễ vật, bước vào tiền đình Chúa, và thờ lạy Chúa uy nghiêm thánh thiện, toàn thể địa cầu, hãy run sợ trước Thánh Nhan. Tuy Thiên Chúa cao cả quyền năng, nhưng, Người không phải là một ông chủ hà khắc, trái lại, Người luôn tỏ lòng yêu thương đối với con cái mình, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, thánh Autinh đã cho thấy: Chúng ta cầu nguyện với Đấng đã biết chúng ta cần gì trước khi chúng ta xin. Thiên Chúa chúng ta không cần chúng ta tỏ ý muốn của chúng ta cho Người biết, vì Người không thể không biết, nhưng, Người muốn dùng việc cầu nguyện để kích thích lòng khao khát của chúng ta, hầu chúng ta có thể lãnh nhận ơn Người sẵn sàng ban cho, như ngôn sứ Giêrêmia đã nói: Các ngươi hết lòng kiếm Ta, Ta sẽ cho gặp; đến cầu nguyện với Ta, Ta sẽ nhậm lời các ngươi. Chính Ta biết kế hoạch Ta sẽ làm cho các ngươi, kế hoạch thịnh vượng chứ không phải tai ương, để các ngươi có một tương lai và một niềm hy vọng.
Tâm tình chính đáng và phải đạo mà chúng ta dành cho Thiên Chúa, chính là: lòng tin, lòng mến, và lòng trông cậy chúng ta đặt nơi Người. Khi chúng ta dám can đảm sống như các tín hữu Thêxalônica trong bài đọc hai của Thánh Lễ hôm nay: làm việc vì lòng tin, khó nhọc vì lòng mến, và kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi Chúa, sống như thế, chúng ta sẽ cho mọi người thấy: chúng ta sống trong thế gian, nhưng, không thuộc về thế gian: Giữa thế gian, chúng ta chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời, và làm sáng tỏ lời ban sự sống như câu Tung Hô Tin Mừng của ngày lễ hôm nay mời gọi.
Chúng ta sống tương quan với Đấng Sáng Tạo và với các thụ tạo của Người ở hai chiều kích: công bình và bác ái. Hội Thánh dạy chúng ta có hai cách ăn năn tội: cách chẳng trọn và cách trọn; “cách chẳng trọn” là không phạm tội vì sợ hình phạt hỏa ngục, còn “cách trọn” là vì lòng yêu mến Chúa.
“Của Xêda, trả về Xêda”, các nhà phụng vụ muốn chúng ta xin ơn trung tín để chúng ta trung thành tuân giữ nghĩa vụ của một công dân trong Nước Chúa: thờ phượng Chúa và sống công bình với tha nhân. “Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”, các nhà phụng vụ muốn chúng ta xin ơn quảng đại để chúng ta sẵn sàng dấn thân làm hơn cả những gì luật buộc, hầu đáp đền tình yêu vô bờ mà Chúa dành cho chúng ta, bởi vì, Người là Cha nhân hậu, hằng luôn yêu thương chăm sóc chúng ta; và chúng ta phải yêu thương tha nhân, bởi vì, chúng ta đều là anh chị em của nhau, con cùng một Cha trên trời.
“Của Xêda”, đồng tiền có in hình ảnh của Xêda, tức những gì thuộc về thụ tạo của Thiên Chúa, “Của Thiên Chúa”, nén vàng có in hình ảnh của Thiên Chúa, Đấng tạo dựng chúng ta theo hình ảnh của Người. Tất cả là của Thiên Chúa, Người đã ban cho chúng ta cách nhưng không. Do đó, những gì chúng ta nhận được từ Thiên Chúa, hay từ các thụ tạo của Người là tha nhân và thiên nhiên vạn vật xung quanh chúng ta, thì theo lẽ công bình và những đòi hỏi của tình yêu, chúng ta cũng phải có những tâm tình, thái độ hồi đáp tương xứng và còn hơn thế nữa, để giữa một thế giới tăm tối bị bao bọc bởi những bất công, hận thù, chia rẽ, chúng ta chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời, và làm sáng tỏ lời ban sự sống như câu Tung Hô Tin Mừng mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay.
C/ Lm. Jos. Phạm Duy Thạch, SVD
I. BỐI CẢNH
Máccô và Luca đặt câu chuyện này (Mc 12,13-17; Lc 20,20-25) ngay sau dụ ngôn “những người thuê vườn xấu xa tệ hại” (Mc 12,1-11; Lc 20,9-19), được kết thúc bằng phản ứng của những Thượng Tế và Kinh Sư: “Họ tìm cách giết Đức Giêsu nhưng lại sợ dân chúng” (Mc 12,12). Điều này có tính mạch lạc khi câu chuyện trong Máccô tiếp nối ý tưởng “họ cử mấy người Pharisêu và mấy người thuộc Hêrôđê đến cùng Người để Người phải lỡ lời mà mắc bẫy” (Mc 12,13). Khác với Máccô và Luca, Mátthêu có thêm câu chuyện “dụ ngôn tiệc cưới” (Mt 22,1-14) trước khi trình bày câu chuyện “nộp thuế cho Kaisar” (Mt 22,15-22). Chủ đề “chối từ” vẫn được tiếp nối cách mạch lạc, vì câu chuyện về tiệc cưới có nhóm người từ chối lời mời của nhà vua, còn câu chuyện này những người Pharisêu tìm cách gài bẫy để gây bất lợi cho Đức Giêsu. Chủ đề “thử thách” với động từ “πειράζω” nhắc nhớ đến những cuộc thử thách Đức Giêsu đã chịu và đã vượt qua trong Mt 4,1-11. Ngoài ra, nhiều lần Đức Giêsu cũng bị các lãnh đạo Do Thái thử thách (Mt 16,1; 19,3). Ngay sau đoạn văn này là thử thách của nhóm Xađốc dành cho Đức Giêsu liên quan đến “sự sống lại” (Mt 22,23-33); và người thông luật Pharisêu thử thách Người về điều răn trọng nhất (Mt 22,34-40).
II. CẤU TRÚC
| Mở đầu (15): Âm mưu đánh bẫy. Bản chất Đức Giêsu: Người chân thật, dạy con đường trong sự thật (16) Thử thách: Có hợp pháp nộp thuế cho Kaisar hay không (17) Bản chất kẻ thử thách: Xấu xa, đạo đức giả, thử thách người khác (18) Hóa giải thử thách (19-21): “Hãy trả cho Kaisar những điều của Kaisar, cho Thiên Chúa, những điều của Thiên Chúa” Kết thúc (22): Âm mưu thất bại, ngạc nhiên rời đi |
III. MỘT SỐ ĐIỂM CHÚ GIẢI
- Những người Pharisêu: Là nhóm nhân vật đã xuất hiện gần câu chuyện này nhất đi kèm với nhóm các thượng tế. Họ tìm cách bắt Đức Giêsu (Mt 21,45). Trong câu chuyện này họ tham vấn nhau để đánh bẫy Đức Giêsu bằng lời. Trong chương 23, họ xuất hiện cùng với các Kinh Sư với đặc tính “giả hình” (23,13.14.15.23.25.29); Họ mù quáng (Mt 23,26). Cùng nhóm “những người Xađốc” họ đến chịu Phép Rửa và bị ông Gioan gọi là “rắn độc” (Mt 3,7). Nhóm Pharisêu tranh luận với Đức Giêsu về nhiều đề tài: Ăn uống với người thu thuế và những người tội lỗi (Mt 9,10-13); Ăn chay (9,14-17); Về giữ ngày Sabát (Mt 12,1-14); Thanh sạch (Mt 15,1-9). Sự xung đột trở nên gay gắt sau khi Đức Giêsu chữa bệnh cho người bại tay trong ngày Sabát. Những người Pharisêu tham vấn tìm cách giết Đức Giêsu (Mt 12,14). Danh xưng Pharisêu không xuất hiện trong vụ xử án Đức Giêsu. Họ chỉ xuất hiện với đề xuất cho lính canh đến gác ở mộ Đức Giêsu (Mt 27,62-66). Phải chăng họ thật sự không hiện diện trong các phiên xử án, trong cuộc thương khó? Hoặc là họ vẫn hiện diện như là các thành viên Hội Đồng Do Thái nhưng không được nêu danh? Dù thế nào đi nữa, sự xung đột giữa nhóm này với Đức Giêsu là điều quá rõ ràng.
- Những người của Hêrôđê: Cụm từ Hy Lạp “τῶν Ἡρῳδιανῶν” có thể mang nghĩa là những người đang phục vụ Hêrôđê, có thể hơn, nó mang nghĩa là những người ủng hộ gia đình ông Hêrôđê. Danh xưng Hêrôđê xuất hiện dày đặc trong trình thuật Giáng Sinh của Mátthêu, đặc biệt Hêrôđê Cả là người truy đuổi Hài Nhi Giêsu (Mt 2,13-18). Tương tự, Hêrôđê Antipa chính là người đã bỏ tù và ra lệnh hành quyết ông Gioan Tẩy Giả cách oan ức (Mt 14,1-12). Theo B. Newman – P.Stine, những người thuộc Hêrôđê là những người ủng hộ con cháu của Hêrôđê với tư cách là đảng cầm quyền, và như thế ủng hộ sự cai trị của Rôma. Đối lại, những người Pharisêu là nhóm tôn giáo bảo thủ, họ chủ trương không nộp thuế cho chính quyền Rôma. Chính là một người Pharisêu tên là Xađốc đã bạn đồng hành với Juđa trong cuộc nổi dậy chống nộp thuế.[1] Có thể nói đây là hai nhóm có quan điểm đối nghịch.[2] Tác giả Máccô ghi nhận rằng sau khi chứng kiến Đức Giêsu chữa người bại tay ngay trong hội đường vào ngày sabát “nhóm Pharisêu lập tức bàn tính với nhóm Hêrôđê để tìm cách giết Đức Giêsu” (Mc 3,6). Trong Matthêu, đây là lần duy nhất những người Pharisêu đi chung với “những người của Hêrôđê”. Sự xuất hiện chung của hai nhóm đối nghịch này nhằm bao vây Đức Giêsu cả hai phía: Phía luật thuế của Rôma, và phía những người không ủng hộ nộp thuế. Như thế, đó thật sự là một vụ thử thách gay go.
- Chân thật, rao giảng đường lối Thiên Chúa trong sự thật, không lo lắng về ai, không nhìn vào mặt người ta[3]: Qua mô tả của nhóm môn đệ của những người Pharisêu và nhóm “thuộc Hêrôđê”, độc giả biết được Đức Giêsu là người chân thật. Cụm từ “không lo lắng về ai” (οὐ μέλει σοι περὶ οὐδενός) có lẽ diễn tả sự thẳng thắn, không lo sợ ai chi phối khi sống thật và nói thật. Thành ngữ Sêmít “không nhìn vào mặt người ta” (οὐ γὰρ βλέπεις εἰς πρόσωπον ἀνθρώπων), có thể là “không xem xét đến địa vị của người ta”, hoặc có thể là “không thiên vị ai”, dù cho địa vị của họ là gì đi nữa[4]. Mệnh để chỉ lý do được bắt đầu bằng liên từ “vì”, “vì thầy không nhìn vào mặt người ta”, có thể bổ nghĩa cho mệnh đề “thầy không bị ai chi phối” (nghĩ đen: không lo lắng về bất cứ ai). Nghĩa là, Đức Giêsu không lo sợ người ta gây bất lợi gì, cho dù người đó là ai, và ở địa vị nào. Bản tính Đức Giêsu là thật và Người thể hiện bằng cách “dạy con đường của Thiên Chúa trong sự thật” (καὶ τὴν ὁδὸν τοῦ θεοῦ ἐν ἀληθείᾳ). Động từ “dạy” ở thì hiện tại (διδάσκεις) diễn tả một sự thật hiển nhiên. Đức Giêsu luôn dạy nội dung ấy như thế, với tâm thế như vậy, dù kẻ ở trước mặt Người có là ai và ở vị thế nào. Thực tế, Người đang đối diện với hai thế lực đối lập (Pharisêu và Hêrôđê). Trong Tin Mừng Gioan Đức Giêsu tự giới thiệu mình là “con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6) và Người nói nhiều về sự thật. Khi mô tả Đức Giêsu như thế, nhóm người được sai đến không có mục đích tâng bốc Đức Giêsu, cho bằng tạo nên một tiền đề vững chắc buộc Đức Giêsu phải nói thật quan điểm trước câu hỏi mang tính gài bẫy của họ.
- Thử thách … đánh bẫy: Âm mưu ban đầu là của riêng nhóm những người Pharisêu, những người “thuộc Hêrôđê” chỉ là phương tiện, có thể nói như vậy. Những người Pharisêu đã “đi bàn tính với nhau” (nghĩa đen, đi lấy lời tư vấn). Mục đích là “để đánh bẫy Người trong lời nói” (ὅπως αὐτὸν παγιδεύσωσιν ἐν λόγῳ). Cụm giới từ “trong lời nói” (ἐν λόγῳ) có chức năng như phương tiện. Họ dùng lời của họ để “đánh bẫy” Đức Giêsu, hoặc họ đánh bẫy Đức Giêsu qua câu trả lời của Người. Phương thức đánh bẫy bằng lời là câu hỏi: “Có hợp pháp nộp thuế cho Kaisar không?” Hành động “đánh bẫy” được Đức Giêsu diễn tả là “thử thách”: Tại sao lại thử thách tôi (τί με πειράζετε). Đây chính là hành động của “kẻ cám dỗ”/ “quỷ” (ὁ πειράζων/ ὁ διάβολος) trong trình thuật “Đức Giêsu chịu cám dỗ” (Mt 4,1-11), nơi mà “kẻ cám dỗ” đã giăng ba cái bẫy để thử thách Đức Giêsu nhưng Người chiến thắng hoàn toàn. Nhóm lãnh đạo Do Thái nhiều lần thử thách (cám dỗ) Đức Giêsu: Nhóm Pharisêu và Xađốc thử Người, bằng cách đòi Người một dấu từ trời (Mt 16,1); Nhóm Pharisêu thử Đức Giêsu về luật li dị (Mt 19,13); nhóm những người thông luật thử Người về điều răn trọng nhất (Mt 22,35). Có thể, đây là những hình thức thử thách khác nhau nhằm nối dài cơn thử thách của quỷ lúc Đức Giêsu khai mạc sứ vụ.
- Xấu xa, đạo đức giả: Đức Giêsu bộc lộ tri thức siêu nhiên khi Người biết rõ, nhìn rõ những âm mưu bên trong của nhóm Pharisêu và những môn đệ của họ.[5] Đối lại với bản tính “chân thật” của Đức Giêsu, luôn dạy đường lối Chúa với sự thật là bản tính xấu xa của những người Pharisêu. Đức Giêsu nói câu này trực tiếp với các môn đệ của những người Pharisêu, và gián tiếp với những người Pharisêu. Những người “thuộc Hêrôđê” có lẽ không phải là đối tượng mà Đức Giêsu nhắm đến, vì dường như họ chỉ là phương tiện của nhóm Pharisêu. Danh xưng “kẻ đạo đức giả” (ὑποκριταί), theo nghĩa chặt là một diễn viên trên sân khấu ngày xưa, được Tân Ước dùng để mô tả những người “giả hình”, “giả bộ” (không thật). Người này giống như các diễn viên trên sân khấu đóng nhiều vai, mang nhiều mặt nạ khác nhau (ngày xưa chủ yếu là hóa trang bằng mặt nạ). Người ta chỉ thấy họ qua các vai diễn, qua các khuôn mặt mà không biết, không rõ, gương mặt thật của họ là như thế nào. Đặc tính “xấu xa” mô tả bản tính “kẻ đạo đức giả”. Thực chất, những lời của họ nói từ đầu đến cuối là không thật, vì mục đích của họ ngay từ đầu đã xấu xa và không thật. “Kẻ đạo đức giả” là danh xưng Đức Giêsu của Mátthêu dùng thường xuyên cho những người Pharisêu. Đặc biệt trong chương 23, Không chỉ là những người Pharisêu mà các Kinh Sư cũng bị gọi là “kẻ giả hình”. Đây cũng là danh xưng đặc nét của Tin Mừng Mátthêu. Có đến mười một lần Mátthêu dùng danh xưng này ở hô cách (Mt 6,2.5.16; 15,7; 22,18; 23.13.15.23.25.27.29; Luca: 2 lần 12,56; 13,15, và các tác giả khác: không dùng).
- Nộp thuế cho Kaisar: Sau khi Rôma áp đặt quyền cai trị trên Juđêa vào năm 6 CE, họ áp đặt một loại thuế gọi là thuế thân. Những người Do Thái yêu nước đã có nhiều phản ứng dữ dội đến nỗi dẫn đến một cuộc nổi dậy do Juđa lãnh đạo. Cuộc nổi dậy đó là cảm hứng và tiền thân cho phong trào “nhiệt thành” sau này.[6] Việc nộp thuế như thế là điều kiện để được sống bình an như là một chủ thể của đế quốc Rôma, và thực hiện các quyền liên quan đến thân phận đó. Thuế thân được áp dụng cho đàn ông, phụ nữ và nô lệ từ 12, 14 tuổi đến 65 tuổi. Thuế được đóng bằng tiền Rôma. Mt 22,19 cho thấy rằng, tiền thuế là một đồng denari = tiền công một ngày (Mt 20,2).[7] Vào thời của Đức Giêsu, đồng denari mang hình ảnh của hoàng đế Tibêriô và ấn ảnh tiếng Latinh “Tiberius Caesar Divi Augusti Filius Augustus Pontifex Maximus” (Tiberius Kaisar, con trai của thần Augusttô, thượng tế Augustô”). Cả hai tước hiệu “Con trai thần Augustô” và “thượng tế Augustô” đều xúc phạm đến lòng đạo đức của người Do Thái.[8] Tibêriô cai trị với vị thế là hoàng đế giữa năm 14 – 37 CE.
- Của Kaisar … của Thiên Chúa: Đức Giêsu bị đặt trong tình thế tiến thoái lưỡng nan. Người không thể ủng hộ việc đóng thuế thân, vì những người Do Thái không thích chuyện ấy, đại diện là nhóm Pharisêu, đặc biệt là nhóm nhiệt thành và Người cũng không thể nói ngược lại, vì nếu thế Người sẽ cổ võ phong trào chống lại chính sách của đế quốc Rôma mà nhóm “thuộc về Hêrôđê” đang ủng hộ. Đức Giêsu chọn lựa giải pháp trung dung. Về mặt chính trị, phải trả cho Kaisar những gì thuộc về Kaisar, nhưng về mặt tôn giáo, việc nộp thuế cho đế quốc chẳng ảnh hưởng gì đến bổn phận đối với Thiên Chúa. Có thể vừa là một công dân tròn trách nhiệm vừa là tôi tớ trung thành với Thiên Chúa.[9] Câu trả lời của Đức Giêsu không chỉ dừng lại ở mức độ được phép hay không được phép nộp thuế, nhưng còn đi xa hơn khi Người nhấn mạnh bổn phận đối với Thiên Chúa. Đức Giêsu vừa nối kết vừa phân biệt giữa con người xã hội và con người tôn giáo.[10] Người không phủ nhận bổn phận xã hội, nhưng nhấn mạnh thêm bổn phận với Thiên Chúa. Cụm động từ “trả lại cho Thiên Chúa” (“ἀποδίδωμι”) gợi nhớ đến cụm động từ “trả lại hoa trái” trong dụ ngôn “những người thuê vườn xấu xa tệ hại” (Mt 21,33-43). Những người thuê vườn xấu xa tệ hại không nộp hoa trái cho ông chủ, nên sẽ bị tiêu diệt và vườn nho lại được trao cho những người khác biết nộp hoa trái đúng mùa. Tin Mừng Luca ghi lại lời tố cáo của Hội Đồng Do Thái dành cho Đức Giêsu trước mặt quan Philatô: “Người này xách động dân chúng tôi và ngăn cản dân chúng nộp thuế cho hoàng đế Kaisar” (Lc 23,2). Lời tố cáo này xem ra chỉ là lời vu khống vì theo câu chuyện này, Đức Giêsu không hề ngăn cản dân chúng nộp thuế.
IV. BÌNH LUẬN TỔNG QUÁT
Trong Mt 22,15-22, Đức Giêsu tiếp tục bị giáo quyền Do Thái tấn công trong những ngày giảng dạy ở Jêrusalem. Nhóm người tấn công cụ thể ở đây là những người Pharisêu. Họ đã tham vấn nhau và bày mưu tính kế trước khi gửi các môn đệ đến với Đức Giêsu. Sự xuất hiện của nhóm “những người của Hêrôđê” cho thấy sự sắp xếp chu đáo của họ trong vụ gài bẫy Đức Giêsu. Cả hai nhóm đều có mặt, một nhóm đại diện cho những người Do Thái bảo thủ, rất khó chấp nhận nộp thuế thân cho người Rôma; Nhóm kia đại diện cho những người tùng phục ủng hộ chính sách Rôma hoàn toàn. Dù có trả lời thế nào trước câu hỏi: “Có hợp luật để nộp thuế thân cho Kaisar không?” Đức Giêsu cũng sẽ dính bẫy. Đối diện với mưu đồ bất chính của những kẻ xấu xa, được gọi là “những kẻ đạo đức giả”, Đức Giêsu không lảng tránh. Thay vì trả lời câu hỏi “có hoặc không”, Người cho họ thấy một thực tế rằng họ đang bị Rôma đô hộ và đồng tiền họ đang xài rõ ràng mang hình ảnh và ấn ảnh Rôma. Đức Giêsu không có đồng tiền ấy trong khi họ luôn có trong mình. Thế thì, cho đến khi nào họ thoát khỏi tình trạng này, họ vẫn phải “trả chao Kaisar” những gì thuộc về “Kaisar”.[11] Điều quan trọng là vượt ra khỏi mọi cơ cấu thống trị về mặt chính trị xã hội, họ phải nhận biết Đấng thống trị tối cao là Thiên Chúa, và họ phải phụng sự Người. Trong bối cảnh của sự xung đột giữa hai nhóm người: Những người được xem là ưu tuyển và nhóm những người vốn bị xem là kém hơn, câu chuyện này càng cho thấy sự thúc đẩy những người yếu thế hơn để họ biết nắm lấy vận mệnh đời mình mà vươn lên Thiên Chúa, là vua tối cao của toàn cõi vũ hoàn.
D/ Lm. Giuse Đinh Lập Liễm
PHẢI TRẢ VỀ CHO AI ?
A.DẪN NHẬP
Thiên Chúa có thể dùng mọi phương tiện để thực hiện ý định của Ngài. Ngài dùng ngay cả vua ngoại đạo để giải thoát dân Ngài. Mọi sự đều ở trong tay Chúa. Chúa muốn thế nào thì được như vậy, không ai có thể phá bỏ được kế hoạch của Thiên Chúa.
Người Kitô hữu sống trên trần thế có hai nhiệm vụ song song nhiệm vụ đối với Thiên Chúa và đối với Tổ quốc. Trên nguyên tắc, hai nhiệm vụ này độc lập với nhau, nhưng trong thực tế, khi thi hành những nhiệm vụ này, đôi lúc chúng ta gặp không ít khó khăn, đôi lúc làm cho chúng ta lo lắng. Câu hỏi được đặt ra là làm thế nào vừa phụng sự Thiên Chúa vừa phụng sự Tổ quốc mà không xung đột nhau ? Làm sao có thể sống tốt đạo đẹp đời một cách hài hòa trong cuộc sống hằng ngày ?
Chúa Giêsu cũng là một công dân của nước Do thái. Ngài cũng có lý lịch rõ ràng và một Tổ quốc để phụng sự. Ngài đã chu toàn nhiệm vụ của một người công dân của một nước bị trị (x. Mt 17,26; Lc 23,22) theo nguyên tắc “Của César thì trả cho César”. Chúng ta cũng phải theo cách sống của Chúa Giêsu: chu toàn nhiệm vụ đối với Thiên Chúa và Tổ quốc. Dĩ nhiên, trong những trường hợp có sự va chạm giữa chính quyền và tôn giáo thì chúng ta hãy theo nguyên tắc này: không luật lệ nào được chống lại luật của Thiên Chúa, vì như thế là cũng phạm đến con người.
Nhiệm vụ của Kitô hữu là phải cầu nguyện và khôn khéo thế nào, để tạo ra sự hoà hợp giữa Giáo hội và quốc gia để cả hai cùng phục vụ con người một cách tốt đẹp.
B.TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1: Is 45,1.46.6
Thiên Chúa có thể dùng bất cứ phương tiện nào để thực hiện ý định của Ngài: bằng chứng là Ngài đã dùng Cyrô, vua ngoại đạo, để giải thoát dân Ngài.
Theo lịch sử, năm 587 trước công nguyên, đế quốc Babylon xâm chiếm Giêrusalem, dân chúng bị bắt đi đầy. Gần 50 năm sau, đế quốc Babylon sụp đổ và đế quốc Ba Tư chiếm ngôi bá chủ. Năm 538, vua Ba Tư là Cyrô, sau khi chiến thắng Babylon, đã ra sắc chỉ cho dân Do thái được hồi hương.
Mặc dầu vua là người không biết Thiên Chúa, nhưng Ngài đã dùng vua để thực hiện chương trình của Ngài. Chính vua Cyrô cũng không ngờ rằng: ông là khí cụ của Thiên Chúa: chính Thiên Chúa trao quyền cho ông. Thiên Chúa cho ông thống trị các dân, và Thiên Chúa xúi lòng ông cho dân Chúa được hồi hương. Vì thế tiên tri Isaia đã không ngại gọi ông là “Đấng xức dầu của Thiên Chúa”.
+ Bài đọc 2: Tx 1,1-5b
Thánh Phaolô đã thành lập giáo đoàn Thessalonica vào năm 50 trong chuyến truyền giáo lần thứ hai. Trong khi gặp rất nhiều khó khăn: người Do thái muốn ám hại, nên Ngài phải bỏ trốn trước khi hoàn thành việc đào tạo và tổ chức giáo đoàn. Khi được tin tốt về giáo đoàn non trẻ này, Ngài vô cùng sung sướng vì họ có một đức tin vững vàng, một lòng cậy trông và một đức ái sống động. Ngài viết thư này để khuyến khích họ và cảm tạ Chúa vì tất cả những thành quả mà giáo đoàn này đã thu lượm được: “Chúng tôi không ngừng nhớ đến những việc anh em làm vì lòng tin, những nỗi khó nhọc anh em gánh vác vì lòng mến, và những gì anh em kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi”.
+ Bài Tin mừng: Mt 22,15-21
Bình thường nhóm biệt phái và nhóm Hêrôđê không thuận nhau vì, một đàng nhóm biệt phái là người ái quốc chống lại chính quyền Rôma đang đặt ách đô hộ trên quê hương họ; đàng khác nhóm Hêrôđê thì ủng hộ chính quyền Rôma để trục lợi. Hai khuynh hướng mâu thuẫn nhau, nhưng hôm nay cùng liên minh với nhau để gài bẫy Chúa Giêsu.
Họ chất vấn Chúa bằng một cầu rất hóc búa: “Có được phép nộp thuế cho César không ?” Nếu trả lời “có” thì nhóm biệt phái cho Ngài là phản quốc vì tiếp tay với ngoại bang; nếu trả lời “không” thì sẽ bị nhóm Hêrôđê tố cáo là Ngài phản động và chắc chắn Ngài sẽ bị chính quyền bắt giữ.
Nhưng, Chúa Giêsu giội cho họ một gáo nước lạnh khi trả lời: “Của César trả cho César, của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa”. Chúa Giêsu đã thoát khỏi cạm bẫy thâm độc của họ; đồng thời dạy cho họ một bài học thực hành: có sự khác biệt giữa tôn giáo và chính trị. Tôn giáo không phải là để phục vụ cho chính trị, và chính trị cũng không để phục vụ cho tôn giáo.
C.THỰC HÀNH LỜI CHÚA:
RES CLAMAT DOMINO: CỦA ĐÒI VỀ CHỦ.
I.BỐI CẢNH CÂU CHUYỆN
Từ trước tới nay chúng ta thấy Chúa Giêsu ở thế công. Ngài đã dùng ba dụ ngôn để chỉ trích những nhà lãnh đạo truyền thống Do thái: dụ ngôn đứa con trai bất hiếu không chịu nghe lời cha, dụ ngôn người làm vườn gian ác đã giết đầy tớ vua, dụ ngôn tiệc cưới của nhà vua vì họ không đến dự.
Bây giờ chúng ta thấy họ đưa ra đòn phản công, để đưa Chúa Giêsu vào thế gọng kìm bằng một câu hỏi hóc búa, nhằm hai mục đích: một là bị nhà cầm quyền bắt, hai là mất uy tín với dân chúng vì là người phản quốc.
Cũng nên biết, chúng ta đang ở vào năm 30 dưới thời hoàng đế César Tiberius, và quân đội ông đang chiếm xứ Do thái gây nhiều nhiễu nhương cho dân chúng, phong trào chống đối đang âm ỉ lan rộng. Họ có hai tầng lớp người lãnh đạo chống đối nhau: nhóm biệt phái ái quốc chống nhà cầm quyền và nhóm Hêrôđê thân chính quyền đô hộ để trục lợi. Bình thường, hai nhóm này chống đối nhau, nhưng hôm nay cùng nhau tìm phương thế ám hại Chúa Giêsu với một câu hỏi hóc búa về vấn đề nộp thuế.
Dân Do thái phải nộp thuế cho chính quyền Rôma. Có ba thứ thuế:
– Thuế điền thổ.
– Thuế lợi tức.
– Thuế thân.
Luật thuế thân qui định mọi người nam nữ từ 14 đến 65 tuổi đều phải đóng một denier, tương đương với lương công nhật của một người. Thuế ở trong câu hỏi đây là thuế thân.
Người dân các nước bị trị bao giờ cũng phải nộp thuế cho chính quyền bảo hộ. Năm 1920, ông Gandhi hô hào dân chúng Ấn không đóng thuế cho đế quốc Anh, để tranh đấu cho nước được độc lập. Đóng thuế là nghĩa vụ của dân đối với chính quyền. Dân Ấn không đóng thuế là không công nhận người Anh là chính quyền của mình, là chống lại đế quốc xâm lăng để giải phóng đất nước thoát cảnh thực dân.
Vậy, Chúa Giêsu có theo đường lối của ông Gandhi không hay phải theo một đường lối nào để giải quyết cho ổn thỏa ? Câu trả lời xảy ra như sau theo Tin mừng của Luca: Hôm ấy, nhóm biệt phái và nhóm Hêrôđê sai mấy môn đệ đến hỏi thử Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. Vậy xin Thầy cho biết ý kiến: Có được phép nộp thuế cho César hay không ?”
Hỏi như vậy là họ đã đưa Chúa Giêsu vào thế gọng kìm, mà triết học gọi là cái thế “lưỡng đao luận”, nghĩa là con dao hai lưỡi, nói thế nào cũng chết: chối cũng chết mà nhận cũng chết. Nếu Chúa Giêsu bảo nên nộp thuế là lệ thuộc vào ngoại bang, là phản quốc, do đó mất uy tín với dân chúng. Nếu Chúa bảo là không thì bị liệt vào loại phản động, chống chính quyền, thế nào cũng bị bắt.
Nhưng Chúa Giêsu lại có một cách xử lý rất khéo léo, rất tinh vi: “Cho tôi xem đồng tiền nộp thuế”. Họ đưa cho Ngài một quan tiền. Người hỏi họ: “Hình và danh hiệu này là của ai ?” Họ đáp: “Của César”. Bấy giờ, Người bảo họ: “Thế thì của César, trả về cho César; của Thiên Chúa, trả về cho Thiên Chúa”.
II.BÀI HỌC CHÚA DẠY TA.
1.Chúa Giêsu, một người công dân
Chúa Giêsu có một lý lịch rõ ràng. Ngài là một công dân Do thái nên Ngài phải thi hành mọi nhiệm vụ đối với một công dân Do thái đang bị người Rôma đô hộ. Bản thân Ngài sống như mọi người không có gì khác, cả gia đình Ngài cũng vậy. Kinh thánh cũng cung cấp cho chúng ta một số chi tiết chứng tỏ gia đình Thánh gia thất đã chu toàn nghĩa vụ công dân:
– Cha mẹ Ngài đã vâng lệnh nhà vua để về Belem khai hộ khẩu (Lc 2,4).
– Chính Ngài đã sai Phêrô đi câu cá để lấy tiền nộp thuế cho mình và cho Phêrô nữa (Mt 17,26).
– Chính quyền ra lệnh bắt và giết Chúa, Ngài vẫn vui lòng tuân lệnh dù Ngài biết lệnh ấy bất công, mà chính Philatô, người lên án giết Chúa cũng phải nhận là Ngài vô tội (Lc 23,22).
Câu nói của Ngài “Của César thì trả cho César” đã phản ảnh một cách hết sức trung thực những công việc Ngài đã làm, đúng như Thánh kinh đã viết về Ngài: “Chúa làm trước, rồi mới dạy người ta làm sau” (Cv 1,1).
2.Kitô hữu, một người công dân
Một người công dân phải có giấy khai sinh và có một hộ khẩu thường trú. Không ai ở trên trời rơi xuống, không ai sống lơ lửng trên không trung. Mỗi người phải có một quốc tịch, mặc dù có thể thay đổi được quốc tịch ấy. Đã là công dân của một nước nào thì phải chấp hành những luật lệ của nước ấy. Mọi công dân phải góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tránh những hành vi làm tổn thương đến Tổ quốc ấy.
Về điểm này, ta có bằng chứng về cách sống của những cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. Một tác giả vô danh hồi thế kỷ thứ ba đã viết trong tác phẩm “Thư gửi cho Diognetus” như sau:
“Người Kitô hữu không khác với những người khác về cư trú, về ngôn ngữ hay về lối sống. Bởi vì họ không cư ngụ một thành nào riêng biệt, cũng không dùng ngôn ngữ nào khác thường và nếp sống của họ chẳng có chi khác biệt. Không phải do suy tư hay bận tâm tra cứu mà họ khám phá được các giáo thuyết. Họ không chủ trương một giáo điều nào của loài người như một số người nọ.
Họ ở rải rác trong các thành phố Hy lạp lẫn trong các thành của người Man di, tuỳ theo số phận dun dủi. Họ sống theo tập tục của kẻ bản xứ trong cách phục sức, ăn uống và cách sống, nhưng bộc lộ một thái độ sống khiến nhiều người cho là lạ lùng. Họ sống trong quê hương của họ mà như những kẻ ở đậu. Họ tuân thủ mọi cái chung như các công dân khác và chịu gánh nặng dường như ngoại kiều. Miền xa lạ cũng là quê hương của họ nhưng mọi quê hương chỉ là đất khách cho họ mà thôi. Họ cũng dựng vợ gả chồng như ai và sinh đẻ con cái, nhưng chẳng hề bỏ con. Họ đồng bàn nhưng chẳng đồng sàng”. (Cap.V.VI PG 21173 B.117 C, Các Bài đọc 2 Mùa PS, tr 84)
Chúng ta phải khẳng định rằng trước khi là một Kitô hữu ta đã là người của một quốc gia nào đó, ví dụ, trước khi là người Công giáo, tôi đã là người Việt Nam. Nhờ phép rửa tội, chúng ta trở thành người Việt Nam Công giáo. Giữa người công dân Việt Nam và người công dân Công giáo Việt Nam không có gì khác nhau, không có gì mâu thuẫn nhau. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Mọi người đều có bổn phận và quyền lợi như nhau đối với đất nước.
3.Tương quan giữa tôn giáo và chính trị
Vấn đề tương quan giữa tôn giáo và chính trị, giữa Giáo hội và quốc gia là một vấn đề tế nhị và đôi khi, thật gai góc, nhiều khi có nhiều lấn cấn. Chúng ta có thể đưa ra đây mấy nguyên tắc cho chúng ta hành xử trong đời sống thực tế không thể tránh được:
a)Nguyên tắc thứ nhất:
Xã hội dân sự và xã hội tôn giáo, quốc gia và Giáo hội là hai vấn đề độc lập với nhau. Dù là cả hai phục vụ cho ơn gọi cá nhân và xã hội của con người; nhưng quan điểm và cách hành động của họ vẫn khác nhau.
b)Nguyên tắc thứ hai:
Với tư cách là công dân, thành viên của một đoàn thể thế gian, người Kitô hữu phải chấp nhận sống theo luật lệ của đoàn thể đó và làm tròn bổn phận như đóng thuế, vâng phục chính quyền hợp pháp trong mọi việc mà chính quyền đòi hỏi. Người Kitô hữu sẽ dùng mọi phương tiện hợp pháp: bỏ phiếu, báo chí, nghiệp đoàn để góp phần xây dựng một xã hội công bằng và nhân đạo hơn.
c)Nguyên tắc thứ ba:
Người Kitô hữu cố giữ giá trị hướng thượng và tư cách tuyệt đối những quyền của Thiên Chúa, vì biết rằng: khi những giá trị này bị xâm phạm thì con người cũng bị xâm phạm, nhất là kẻ hèn yếu. Chúng ta không bao giờ chấp nhận một luật lệ nào chống lại luật của Thiên Chúa. Người Kitô hữu cố gắng làm sao để tạo ra sự hoà hợp giữa Giáo hội và quốc gia, và như thế cả hai sẽ phục vụ tốt biết bao cho con người. (Cf Cử hành Phụng vụ Chúa nhật , tr 215)
III.SỰ CHỌN LỰA CỦA CHÚNG TA
Người Kitô hữu chúng ta có hai quyền công dân đi đôi với nhau. Chúng ta là công dân của thế giới, tức trần thế này và công dân thiên quốc. Chúng ta phải phụng sự Thiên Chúa và Tổ quốc, hai nhiệm vụ này phải đi sánh đôi. Như thế chúng ta kính trọng và tôn kính đối với những đòi hỏi của hai bên.
Thiên Chúa có thể dùng mọi phương tiện để giúp ích cho con người và cho dân Chúa. Trong bài đọc thứ nhất, ta thấy Thiên Chúa đã dùng vua Cyrô để giải phóng dân Chúa. Như thế, dân Chúa đã phải tùng phục chính quyền trong những công việc về chính trị, mà không thể làm khác vì đó là đường lối của Thiên Chúa.
Thánh Phêrô trong thư thứ nhất đoạn 2 câu 17 đã bảo các Kitô hữu: “Hãy tôn kính Thiên Chúa và hãy kính trọng Hoàng đế”. Và trong thư gửi tín hữu Rôma đoạn 13, câu 1 và 7, thánh Phaolô bảo các Kitô hữu “Hãy vâng phục các vị cầm quyền. Hãy nộp cho họ những gì các ngươi mắc nợ họ, hãy nộp thuế thân, thuế tài sản và hãy tỏ lòng kính trọng họ”.
Mong ước rằng hai loại quyền công dân này của chúng ta không bao giờ xung đột nhau. Tuy nhiên, lỡ có xảy ra xung đột, thì người Kitô hữu phải biết cách giải quyết. Các Kitô hữu đã từng phải giải quyết như thế ngay từ thời Chúa Giêsu. Họ đã phải giải quyết như thế suốt thời kỳ đế quốc Rôma bách hại Giáo hội. Họ đã phải giải quyết như thế suốt thời trung cổ. Họ đã phải giải quyết như thế trong thế kỷ 16 và 17 khi hàng chục ngàn Kitô hữu phải chạy trốn sang Mỹ châu để giữ đạo mà không bị nhà nước can thiệp.
Có lẽ chúng ta có thể minh hoạ tất cả những điều trên bằng trường hợp của thánh Thomas More, vị thánh tử đạo người Anh. Robert Bolt đã làm nổi bật cuộc xung đột của More – liên quan đến những gì thuộc César và những gì thuộc về Thiên Chúa – trong cuốn sách nhan đề “A man for all seasons” (Người của mọi mùa).
Truyện: Thánh Thomas More
Vua Henry VIII nước Anh đã kết hôn hợp thức với bà Catherine d’Aragon, nhưng ông nại đến Tòa thánh Rôma xin huỷ bỏ cuộc hôn nhân đó. Toà thánh đã từ chối. Henry liền tự mình giải quyết vấn đề và tái kết hôn. Thế là ông ta ra lệnh cho bạn bè và các chức sắc ký vào một văn bản tuyên bố đồng ý nhìn nhận hành động của ông là đứng đắn. Nhiều bạn bè của More đã ký vào, nhưng More thì từ chối. Henry yêu cầu More ký vào, nếu không sẽ bị bắt giam và xử tội tạo phản theo luật nhà nước. More vẫn khăng khăng từ chối. Ngài bị giằng co giữa hai bổn phận: một đối với Chúa, một đối với Tổ quốc. Khi chúng xung đột nhau, thì More không còn chọn lựa nào ngoài sự trung tín với luật Chúa (M. Link, Giảng lễ Chúa nhật, năm A, tr 305).
Như thế, bài Tin mừng hôm nay nhắc chúng ta nhớ đến hai bổn phận đi đôi với nhau của chúng ta. Chúng ta là công dân trần thế, đồng thời cũng là công dân Nước trời. Chúng ta có bổn phận phải trung tín với cả hai Tổ quốc. Chúng ta hy vọng các bổn phận này không bao giờ xung đột nhau. Nhưng nếu lỡ có xung đột thì chúng ta phải giải quyết chúng giống như thánh Thomas More đã làm, nghĩa là không gây thương tổn cho Thiên Chúa hoặc cho lương tâm ta.
Cuộc sống của Kitô hữu tại thế là như vậy, chúng ta không thể làm khác được. Nhiều lúc chúng ta hay than vãn là chúng ta phải mang hai gánh trên vai: vừa phải chu toàn bổn phận ở đời lại vừa lo tròn nghĩa vụ trong đạo. Đối với những ai có tâm hồn đạo đức thánh thiện thì sự khó khăn đó không đến nỗi quá băn khoăn lo lắng; trái lại, đối với những ai mang nặng ích kỷ trần tục nếu chẳng may đạo hay đời đòi hỏi phải chịu khó hy sinh làm một điều gì đó, tức khắc họ lên tiếng phàn nàn kêu trách và nại đủ lý do để từ chối.
Đây chính là vấn đề mà người biệt phái đã thắc mắc với Chúa và Chúa đã giãi bày cho họ cũng như cho chúng ta hiểu để biết mà sống cho tốt đạo đẹp đời. Trong mọi trường hợp chúng ta phải đặt quyền lợi của Chúa trên hết, đôi lúc vì thế mà phải bị thiệt thòi. Lời Chúa vẫn còn yên ủi chúng ta, khi chúng ta gặp phải những trường hợp éo le như thế: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì ích lợi gì”.
Truyện: Mọi sự thuộc về Chúa
Hoàng đế Frédéric đi tham quan một trường học nhỏ miền quê. Đúng lúc học trò đang học môn địa lý. Vua hỏi một em nhỏ tuổi:
– Làng con ở đâu ?
– Tâu hoàng thượng, làng con ở trong nước Phổ.
– Nước Phổ ở đâu ?
– Tâu hoàng thượng, nước Phổ ở trong đế quốc Đức.
– Đế quốc Đức ở đâu ?
– Tâu hoàng thượng, đế quốc Đức ở trong châu Âu.
– Châu Âu ở đâu ?
– Tâu hoàng thượng, châu Âu ở trong thế giới.
– Thế giới ở đâu ?
Suy nghĩ một lát em bé dõng dạc trả lời:
– Tâu hoàng thượng, thế giới ở trong tay Chúa.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho dân tộc mình theo lời của Thomas Jefferson:
Lạy Thiên Chúa tối cao,
Ngài ban cho chúng con mảnh đất tốt tươi này làm gia nghiệp. Xin hãy chúc lành cho mảnh đất chúng con, xin hãy cứu chúng con khỏi bạo lực, và mọi đường lối xấu xa, xin hãy bảo vệ sự tự do của chúng con…
Xin ban thần trí khôn ngoan xuống trên những kẻ mà nhân danh Ngài, chúng con đã uỷ thác quyền cai trị… Trong thời thịnh vượng, xin đổ tràn xuống lòng chúng con niềm tri ân, và trong ngày gian truân, xin đừng để niềm tin của chúng con vào Ngài bị suy giảm. Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
