
Người bảo họ:
“Thế thì của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”. (Mt 22,21)
Bài Ðọc I: Is 45, 1. 4-6
“Ta đã cầm tay hữu của Cyrô để bắt các dân suy phục trước mặt nó”.
Trích sách Tiên tri Isaia.
Ðây Chúa phán cùng Cyrô, kẻ xức dầu của Chúa mà Ta đã cầm tay hữu nó, để bắt các dân suy phục trước mặt nó, bắt các vua quay lưng lại, mở các cửa trước mặt nó, và các cửa không được đóng lại:
Nhân vì Giacóp tôi tớ Ta, và Israel kẻ Ta kén chọn, Ta đã gọi đích danh ngươi: Ta đã kêu gọi ngươi khi ngươi không nhận biết Ta. Ta là Chúa, và chẳng còn chúa nào khác: ngoài Ta ra, không có Thiên Chúa nào nữa. Ta đã thắt lưng cho ngươi khi ngươi không nhận biết Ta, để các kẻ từ đông sang tây nhận biết rằng ngoài Ta ra không có ai khác: Ta là Chúa, và chẳng có chúa nào khác.
Ðáp Ca: Tv 95, 1 và 3. 4-5. 7-8. 9-10a và c
Ðáp: Hãy kính tặng Thiên Chúa quyền thế với vinh quang (c. 7b).
Xướng: Hãy ca mừng Thiên Chúa bài ca mới, hãy ca mừng Thiên Chúa, hỡi toàn thể địa cầu. Hãy tường thuật vinh quang Chúa giữa chư dân, và phép lạ Người ở nơi vạn quốc.
Xướng: Vì Thiên Chúa, Người hùng vĩ và rất đáng ngợi khen, Người khả uý hơn mọi bậc chúa tể. Vì mọi chúa tể của chư dân là hư ảo, nhưng Thiên Chúa đã tác tạo trời xanh.
Xướng: Hãy kính tặng Thiên Chúa, hỡi người chư dân bá tánh, hãy kính tặng Thiên Chúa quyền thế với vinh quang, hãy kính tặng Thiên Chúa vinh quang xứng với danh Người. Hãy mang lễ vật, tiến vào hành lang nhà Chúa.
Xướng: Mặc lễ phục, thờ lạy Thiên Chúa. Toàn thể địa cầu, hãy run sợ trước thiên nhan, hãy công bố giữa chư dân rằng Thiên Chúa ngự trị. Người cai quản chư dân theo đường đoan chính.
Bài Ðọc II: 1 Tx 1, 1-5b
“Tôi hằng nhớ đến đức tin, đức cậy và đức mến của anh em”.
Khởi đầu thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Thêxalônica.
Phaolô, Silvanô và Timôthêu kính gửi giáo đoàn thành Thêxalônica trong Thiên Chúa Cha và trong Chúa Giêsu Kitô. Nguyện chúc cho anh em được ân sủng và bình an.
Tôi hằng tạ ơn Thiên Chúa cho mọi người anh em, trong khi tôi cầu nguyện, tôi hằng nhớ đến anh em không ngừng; tôi nhớ đến sự nghiệp của lòng tin, công việc của lòng bác ái, sự vững lòng trông cậy của anh em vào Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, trước mặt Thiên Chúa là Cha chúng ta. Hỡi anh em là những kẻ được Thiên Chúa yêu mến, tôi từng biết anh em được Chúa tuyển chọn, bởi vì Tin Mừng của chúng tôi ở nơi anh em, không phải chỉ với lời nói mà thôi, mà là với quyền năng, với Thánh Thần và với lòng xác tín.
Alleluia: Ga 10, 27
Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta”. – Alleluia.
Tin Mừng: Mt 22, 15-21
“Cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho ông Cêsarê, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, các người biệt phái họp nhau lại bàn mưu để bắt bẻ Chúa Giêsu trong lời nói. Các ông sai môn đồ của các ông đi với những người thuộc phái Hêrôđê đến nói với Người rằng: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người ngay chính, căn cứ theo sự thật mà dạy bảo đường lối Thiên Chúa. Thầy chẳng cần để ý đến ai, vì Thầy không tây vị người nào. Vậy xin Thầy nói cho chúng tôi biết Thầy nghĩ thế nào: Có được phép nộp thuế cho Cêsarê hay không?” Chúa Giêsu thừa hiểu ác ý của họ, nên nói: “Bọn người giả hình, các ngươi gài bẫy Ta làm gì? Hãy đưa Ta xem đồng tiền nộp thuế”. Họ đưa cho Người một đồng bạc. Và Chúa Giêsu hỏi họ: “Hình tượng và danh hiệu này là của ai?” Họ thưa rằng: “Của Cêsarê”. Bấy giờ Người bảo họ rằng: “Vậy, cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho Cêsarê, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa”.
SUY NIỆM
A/ 5 Phút Lời Chúa
TRÁNH NHẦM LẪN ĐÁNG TIẾC
“Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa.” (Mt 22,21)
Suy niệm: Lập trường rõ ràng, dứt khoát của Chúa Giê-su đối với Thiên Chúa và tiền của giúp các môn đệ khỏi đánh đồng, nhầm lẫn các giá trị phải chọn lựa trong cuộc sống. Lắm khi người môn đệ khó phân định rạch ròi đâu là ý Chúa, lãnh vực nào thuộc về Ngài và đâu là ý cũng như lãnh vực của Xê-da – đại diện cho tiền của và danh vọng. Hiện nay chủ nghĩa quốc gia-tôn giáo đang trỗi dậy đó đây, đề cao quyền của quốc gia trên tôn giáo, sự tự trị của tôn giáo tại đất nước mình. Người môn đệ dễ bị cám dỗ ngã theo rồi hành động theo chủ nghĩa quốc gia-tôn giáo ấy, phản lại tính phổ quát của đức tin, đức ái. Lúc đó họ trở thành những tín đồ cuồng tín, không chinh phục được ai, trái lại, làm cho nhiều người lìa xa Thiên Chúa. Tín hữu là người vừa mắc nợ tổ quốc về lòng trung thành, vừa mang ơn Thiên Chúa về tình yêu cứu độ. Người tín hữu phải chu toàn cả hai vai trò, không được bỏ vai này phò vai kia.
Mời Bạn: Chúa bảo môn đệ phải nộp thuế phần đời cũng là cách Chúa muốn môn đệ lưu ý đến đưa giá trị Nước Trời vào xã hội trần thế. Thế giới này do Chúa dựng nên, Ngài mơ ước xã hội ấy trở thành Vương quốc của công lý, tình yêu, sự thật, tình phụ tử với Thiên Chúa chi phối đời sống con người. “Của Thiên Chúa trả về Thiên Chúa” là thế đó.
Sống Lời Chúa: Là Ki-tô hữu, Chúa bảo ta không được trốn thuế; là công dân Nước Trời, Chúa bảo ta đóng góp theo khả năng cho nhu cầu vật chất của Giáo hội nữa.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin mở rộng lòng con, cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người anh chị em, để Nước Chúa được hiển trị mọi ngày.
B/ TGM Giuse Nguyễn Năng
Suy niệm: Của ai trả lại cho người đó, đó là luật công bằng. Con người chúng ta, những gì chúng ta có, những gì chúng ta đang hưởng… Tất cả đều phát xuất từ Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta và cả muôn loài đều qui hướng về Thiên Chúa, phải trả lại cho Thiên Chúa.
Cầu nguyện: Lạy Cha, chúng con được mang bản tính của Cha, chúng con là hình ảnh của Cha. Xin cho chúng con trở về với bản chất của mình, trở về với nguồn cội của mình. Chúng con chỉ tìm được chính mình khi chúng con tìm về với Cha. Xin đừng để chúng con vong thân, đừng để chúng con bị tha hóa. Hạnh phúc đích thật của chúng con chỉ có ở trong Cha. Chúng con cầu xin, nhờ Ðức Giêsu Kitô, Con Cha, Chúa chúng con. Amen.
Ghi nhớ: “Cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho ông Cêsarê, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa”.
C/ TGM Giuse Vũ Văn Thiên
THIÊN CHÚA VÀ XÊDA
Đọc lịch sử Giáo Hội, chúng ta thấy có những giai đoạn, thần quyền và thế quyền hợp làm một. Điều này có nghĩa, Giáo Hội vừa có uy quyền đối với các tín hữu, vừa có quyền hành mang tính quyết định trong xã hội. Tình trạng này đem lại lợi ích không nhỏ cho Giáo Hội, nhưng cũng làm cho Giáo Hội mất đi tinh thần của Chúa Giêsu, Đấng Sáng lập Giáo Hội. Mặt khác, đã là quyền hành chính trị thì bao giờ cũng có thủ đoạn âm mưu, bao giờ cũng có kẻ ủng hộ, người chống đối. Chính vì vậy, nếu Giáo Hội của Chúa Giêsu tham gia vào quyền lực chính trị, thì sẽ có nhiều kẻ thù. Lịch sử đã chứng minh điều ấy. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu phân biệt dứt khoát: Của Xê-da thì trả cho Xê-da, và của Thiên Chúa thì trả cho Thiên Chúa. Cần phân biệt rõ ràng thần quyền với thế quyền, để Giáo Hội mang gương mặt của Chúa Giêsu, Đấng là Thiên Chúa cao sang đã trở nên khó nghèo vì chúng ta, đồng thời giúp Giáo Hội thực thi sứ mạng của mình, là tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu để loan báo Tin Mừng cứu độ.
Thiên Chúa là Chủ của lịch sử. Ngài vừa sáng tạo vũ trụ thiên nhiên và con người, vừa nâng đỡ điều khiển để vũ trụ tồn tại và xoay vần trong trật tự. Vua Ki-rô được coi như vị cứu tinh Chúa gửi đến để giải phóng người Do Thái khỏi ách lưu đày bên Babilon. Ngôn sứ Isaia (Bài đọc I), đã diễn tả việc Chúa chọn vua Ki-rô rất chi tiết: Ngài cầm lấy tay ông, cho ông một tước hiệu và ban cho ông sức mạnh với quyền năng. Với việc tuyển chọn vua Ki-rô, Thiên Chúa tỏ ra Ngài là Cha của gia đình nhân loại. Mọi quyền hành đều từ Ngài mà đến và phải phục vụ lợi ích của con người. Những ai nắm quyền hành trong tay mà đi ngược lại với ý muốn của Thượng Đế và đàn áp bóc lột dân nghèo, thì quyền lực của họ không vững bền. Họ sẽ phải diệt vong. Sau này, Đức Giêsu tuyên bố với Philatô: Ông chẳng có quyền gì trên tôi nếu không từ ơn trên ban cho.
Xê-da vừa là tượng trưng cho quyền bính thế gian, vừa diễn tả ảnh hưởng của vật chất trần thế. Cũng như những quyền lực trần gian có những lúc huy hoàng hùng mạnh, nhưng rồi cũng đến lúc phải suy thoái tiêu tan, vật chất trên đời có thể giúp con người làm được mọi sự, nhưng cũng có thể là chiếc bẫy làm cho con người gục ngã. Sống ở đời, cần phải biết phân biệt Xê-da với Thiên Chúa, để có một mối tương quan quân bình trong cách sử dụng và tích luỹ của cải.
Người tin Chúa không bị bứng khỏi thế gian, nhưng sống giữa thế gian. Họ sống ở đời này nhưng hướng về đời sau. Họ được mời gọi chung tay xây dựng cuộc sống xã hội nhân ái yêu thương, nhưng quê hương vĩnh cửu của họ lại ở trên trời. Chính vì vậy, người tín hữu phải biết phân biệt điều gì thuộc về Thiên Chúa và điều gì thuộc về thế gian. Họ không được phép để cho thế gian lôi kéo và nhấn chìm trong những ràng buộc đam mê đến nỗi họ đánh mất hạnh phúc Nước Trời. Trong giáo huấn của mình, Chúa Giêsu luôn đòi buộc những ai muốn theo Chúa phải chọn lựa dứt khoát, để xứng đáng trở thành môn đệ của Người. Hình ảnh người cầm cày còn ngoái lại đàng sau diễn tả những người bắt cá hai tay hay đức tin nửa mùa. Cũng vậy, những ai đã tin vào Chúa còn cậy dựa và những thế lực thần thiêng khác, thì không phải là môn đệ đích thực. Ngỏ lời với giáo dân cộng đoàn Thê-sa-nô-li-ca, Thánh Phaolô khen ngợi lòng bác ái của họ. Một cộng đoàn được thúc đẩy bởi Đức tin, Đức cậy và Đức mến, dồi dào sức sống và nhiệt thành truyền giáo. Tình yêu thương và liên đới giữa cộng đoàn tín hữu đã làm toả lan sự thánh thiện và diễn tả hình ảnh sống động về Đức Giêsu, Đấng cứu độ trần gian. Tình liên đới và quảng đại của cộng đoàn Thê-sa-nô-li-ca, là mẫu mực cho các cộng đoàn đức tin của chúng ta hôm nay.
Hôm nay là Chúa nhật thứ ba của tháng Mười, là ngày Truyền giáo. Truyền giáo là bản chất của Giáo Hội. Mỗi người tín hữu, nhờ Bí tích Rửa tội, đều có bổn phận truyền giáo, tuỳ theo khả năng, trình độ và địa vị của mình. Lệnh truyền của Chúa Giêsu phục sinh cho các môn đệ hai ngàn năm qua vẫn mang tính thời sự cấp bách. Cùng với lời cầu nguyện, mỗi chúng ta hãy làm toả lan sự thánh thiện qua đời sống hằng ngày của mình, để trình bày hình ảnh của Giáo Hội và hình ảnh của Đấng Cứu thế nơi trần gian. Noi gương Chúa Giêsu không mệt mỏi đi đến với mọi người, đem cho họ sự chữa lành và an ủi phần xác cũng như phần hồn, mỗi tín hữu cần ra khỏi chính mình để đến với tha nhân, khởi đầu từ những người thân thuộc lân cận, rồi đến với những người không cùng niềm tin hay bất đồng quan điểm đang sống xung quanh chúng ta.
D/ Lm. Inhaxiô Hồ Thông
Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXIX Thường Niên Năm A nêu lên một vấn đề cách tinh tế: mối tương quan giữa công dân trần thế và công dân Nước Trời.
Is 45: 1, 4-6
Bài Đọc I trích từ I-sai-a đệ nhị, trong đó vị ngôn sứ an ủi những người lưu đày ở Ba-by-lon. Ông thoáng thấy vua Ky-rô nước Ba-tư là dụng cụ Thiên Chúa chọn để giải thoát dân Ngài khỏi cảnh lưu đày tại Ba-by-lon.
1 Th 1: 1-5
Bài Đọc II trích từ thư thứ nhất của thánh Phao-lô gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca. Đây là bản văn Tân Ước đầu tiên làm chứng về sức sống mãnh liệt của Giáo Hội tiên khởi. Thánh nhân ca ngợi đức tin, đức cậy và đức mến của họ.
Mt 22: 15-21
Trong cuộc tranh luận với nhóm Biệt Phái, Đức Giê-su đưa ra câu trả lời cho một vấn đề nan giải giữa công dân trần thế và công dân Nước Trời: “Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”.
BÀI ĐỌC I (Is 45: 1, 4-6)
Bản văn này là một trong nhiều sứ điệp an ủi mà vị ngôn sứ biệt danh I-sai-a đệ nhị gửi đến những người Do thái lưu đày tại Ba-by-lon.
Vị ngôn sứ này, trên mười năm, từ 550 đến 539 trước Công Nguyên, đã tìm cách an ủi đồng bào của mình, họ nhục chí trước cuộc lưu đày tưởng chừng như vô tận này. Ông hứa với họ sự giải thoát sắp gần đến. Niềm hy vọng của ông nhắm đến vua Ky-rô nước Ba-tư.
Vào năm 553 trước Công Nguyên, vua Ky-rô đã chiến thắng vua Mê-đi là Astyage. Sau khi đã thống nhất quyền lực Ba-tư và quyền lực Mê-đi, ông xuất quân chinh phục miền Tiểu Á. Vào năm 539, ông tiến quân vào kinh thành Ba-by-lon, chấm dứt thời kỳ thống trị của Đế Quốc Ba-by-lon. Ngay cả trước khi những cuộc chiến thắng ngoạn mục của vua Ky-rô vang dội khắp nơi, vị ngôn sứ lưu đày đã loan báo rằng Thiên Chúa có ý định sử dụng vua Ky-rô để giải thoát dân Ngài khỏi cảnh tù đày tại Ba-by-lon.
1. Đức Chúa đã chọn vua Ky-rô Ba tư, vua ngoại giáo (45: 1)
Sấm ngôn thật sự gây hoang mang. Làm thế nào Đức Chúa nhờ đến một vị vua ngoại giáo để giải thoát dân Chúa chọn? Vị ngôn sứ xua tan những thành kiến của những người lưu đày khi khẳng định với họ đó là cách thức Thiên Chúa hành động. Ông quả quyết vua Ky-rô đã được Đức Chúa tuyển chọn và thánh hiến để trở nên khí cụ trung thành của Thiên Chúa.
Phần đầu sấm ngôn được trình bày như một bản văn phong vương, đồng hóa vua Ky-rô với một vị vua của dân Ít-ra-en:
“Đức Chúa phán với kẻ Người đã xức dầu, với vua Ky-rô
-Ta đã cầm lấy tay phải nó,
để bắt các dân tộc suy phục nó” (45: 1a).
Đức Chúa xức dầu thánh hiến vị vua mà Ngài đã tuyển chọn. Ngài “cầm lấy tay phải”, nghĩa là Ngài trợ giúp và bảo vệ vua, đảm bảo rằng vua sẽ chiến thắng mọi quân thù.
Trong sấm ngôn của mình, vị ngôn sứ xác định Đức Chúa hứa với vua Ky-rô là vua sẽ chiến thắng mọi quân thù như thế nào:
“Ta tước khí giới của các vua,
mở toang các cửa thành trước mặt nó,
khiến các cổng không còn đóng kín nữa” (45: 1b).
Đây cốt là các cổng thành danh tiếng bằng đồng của kinh thành Ba-by-lon. Quả thật, chúng mở toang trước vua Ky-rô mà không phải tốn một làn tên mũi kiếm nào. Thành đô Ba-by-lon bị sụp đổ mà không cần phải giao chiến.
2. Đức Chúa, Chúa Tể của mọi biến cố (45: 4-6)
Chính vì lợi ích của dân Ngài mà Đức Chúa dẫn đưa vua Ky-rô từ chiến thắng này đến chiến thắng khác:
“Vì lợi ích của tôi tớ Ta là Gia-cóp,
và của người Ta đã chọn là Ít-ra-en,
Ta đã gọi ngươi đích, đã ban cho ngươi một tước hiệu,
dù ngươi không biết Ta” (45: 4).
Ngài “gọi đích danh vua”, nghĩa là Ngài trao phó cho vua một sứ mạng (đây là diễn ngữ Kinh Thánh được dùng để chỉ ơn gọi). Ngài ban cho vua một tước hiệu (có thể là tước hiệu “Đấng được xức dầu” hay “người mục tử của Ta”, được ngôn sứ trích dẫn ở nơi khác) dù vị vua ngoại giáo này không biết Ngài.
Quả thật, vua Ky-rô hành xử như một người được Đức Chúa tuyển chọn. Vua tỏ ra mình hào hiệp : chiến thắng vua Mê-đi là Astyage, ông để cho vua này được sống, chiến thắng vua Ba-by-lon là Crésus, ông cũng hành xử như thế. Ông không gây bất kỳ thiệt hại nào đối với thành đô Ba-by-lon. Ông kính trọng tôn giáo của kẻ bại trận.
Dù thế nào vị ngôn sứ quả quyết chỉ một mình Đức Chúa là Chúa Tể của mọi quyền bính chính trị, chính Ngài ban quyền lực, chính Ngài hướng dẫn mọi biến cố:
“Ta là Đức Chúa, không còn Chúa nào khác ;
chẳng có ai là Thiên Chúa, ngoại trừ Ta” (45: 5)
Đức Chúa không chỉ là Thiên Chúa của dân Do thái mà còn là Thiên Chúa của muôn dân nước. Ngài không lệ thuộc vào một quyền lực trần thế nào, trái lại mọi quyền bính đều xuất phát từ Ngài.
“Dù ngươi không biết Ta, Ta đã trang bị cho ngươi đầy đủ,
để từ Đông sang Tây, thiên hạ biết rằng
chẳng có thần nào khác, ngoại trừ Ta.
Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác” (45 : 6).
Dù có ý thức hay không, họ đều là khí cụ trong tay Ngài để thi hành chương trình cứu độ của Ngài. Đó cũng là lời công bố của Đức Giê-su với quan tổng trấn Phi-la-tô: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài” (Ga 19: 11).
BÀI ĐỌC II (1Th 1: 1-5)
Với Chúa Nhật hôm nay, chúng ta bắt đầu đọc thư thứ nhất của thánh Phao-lô gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca. Thánh nhân viết thư này từ Cô-rin-tô vào năm 51. Đây là thư đầu tiên của thánh Phao-lô và cũng là bản văn Tân Ước xưa nhất. Được viết chưa tới hai mươi năm sau cái chết của Đức Giê-su, thư này thật sự là một chứng liệu quý báu minh chứng niềm tin của Giáo Hội tiên khởi.
1. Lời chứng
Phần đầu thư cung cấp một lời chứng đáng chú ý về niềm tin của Giáo Hội tiên khởi. Trước hết, đây là một trong những thư thường hằng liên kết danh xưng “Thiên Chúa” với tước hiệu “Cha”: “Thiên Chúa là Cha” và “Thiên Chúa là Cha chúng ta”. Tiếp đó, danh xưng “Chúa Giê-su Ki-tô”, nghĩa là Đức Giê-su là “Đấng Ki-tô” (Mê-si-a) và là “Chúa”, tước hiệu này bao hàm thần tính và vinh quang của Ngài. Cựu Ước dành riêng tước hiệu “Chúa” này cho Đức Chúa, Thiên Chúa của dân Ít-ra-en. Cuối cùng, quyền năng của Chúa Thánh Thần được bày tỏ trong công việc loan truyền Tin Mừng: “Khi chúng tôi loan báo Tin Mừng cho anh em, thì không phải chỉ có lời chúng tôi nói, mà cón có quyền năng, có Thánh Thần”. Như vậy, Ba Ngôi Thiên Chúa là nét độc đáo của Ki-tô giáo.
Mặc khác, ngay từ bản văn Tân Ước đầu tiên, xuất hiện thành ngữ Hy-lạp: “Ecclesia” (“Hội Thánh”), để chỉ một cộng đoàn Ki-tô hữu. Để loan báo Giáo Hội tương lai của mình, Đức Giê-su thật ra đã sử dụng thành ngữ Híp-ri: “Qahal”. Thánh Mát-thêu là tác giả Tin Mừng duy nhất đã đặt trên môi miệng Đức Giê-su thành ngữ này (Mt 16: 18; 18: 17). Thành ngữ qahal chỉ “đại hội” của dân Do thái trong hoang địa (Đnl 4: 9-13; 9: 10; 18: 16; 23: 2; 31: 30) hoặc của cộng đồng phụng vụ (1Sb 13: 2; 28: 8; 2Sb 20: 3; 30: 1; Nkm 1: 12). Vả lại, hai thành ngữ Do thái và Hy lạp, giống nhau bởi ngữ căn của chúng: thành ngữ Do thái, qahal, bao gồm khái niệm kêu gọi, triệu tập, trong khi thành ngữ Hy lạp ecclesia phát xuất từ động từ kaleô, kêu gọi, quy tụ. Cả hai đều diễn tả chính xác thực tại Hội Thánh: không tự mình hình thành nên, nhưng đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa, tập hợp lại hay quy tụ lại thành dân Thiên Chúa.
Nếu thánh Phao-lô gọi các cộng đoàn địa phương là Hội Thánh, thánh nhân luôn luôn hiệp nhất các cộng đoàn này vào Hội-Thánh Mẹ, là Hội Thánh Giê-ru-sa-lem. Toàn thể hình thành nên một Hội Thánh duy nhất, mà thánh nhân sẽ gọi là “thân thể của Đức Ki-tô”.
2. Hội Thánh Thê-xa-lô-ni-ca
Thê-xa-lô-ni-ca là thủ phủ của miền Ma-kê-đô-ni-a. Đây là thành phố thứ hai của Châu Âu mà thánh Phao-lô loan báo Tin Mừng. Thành phố thứ nhất là Phi-líp-phê cũng thuộc miền Ma-kê-đô-ni-a.
Thê-xa-lô-ni-ca là một thành phố biển và thương mại phồn vinh. Thê-xa-lô-ni-ca là tên mà một trong các tướng lãnh của đại đế A-lê-xan-đê lấy tên vợ của mình đặt tên cho thành phố này. Ở đây có một cộng đồng kiều bào Do thái sinh sống. Họ có một hội đường. Trong sách Công vụ, thánh Lu-ca đã tường thuật những diễn biến của việc thành lập Hội Thánh Thê-xa-lô-ni-ca này vừa ngắn gọn vừa gian nan (Cv 17: 1-9). Chính trong hội đường Do thái này mà thánh Phao-lô lên tiếng ba ngày sa-bát liên tiếp.
Lời rao giảng của thánh nhân được vài người Do thái và một số đông người Hy-lạp hoan hỉ đón nhận, trái lại, gây phẫn nộ cho cộng đoàn Do thái ở đây. Họ gây náo loạn trong thành phố đến nổi thánh Phao-lô và bạn đồng hành của ngài là ông Xi-la buộc phải vội vã rời bỏ thành phố ngay đêm ấy. Thánh Phao-lô trốn chạy đến Bê-roi-a và từ đó đến A-thê-na bằng đường biển. Lo lắng vì đã để lại một cộng đoàn non trẻ, niềm tin chỉ vừa mới bén rễ, ấy vậy đã phải chịu nhiều phiền nhiễu rồi, thánh nhân khẩn khoản xin Ti-mô-thê trở lại Thê-xa-lô-ni-ca để ủy lạo những người Ki-tô hữu non trẻ này. Khi gặp lại thánh Phao-lô lúc đó ở Cô-rin-tô, Ti-mô-thê đem đến cho thánh nhân những tin tức đầy khích lệ: Hội Thánh non trẻ nhưng thật kiên vững.
Vui mừng và an tâm, thánh Phao-lô viết thư thứ nhất này. Thư này cùng với thư gửi tín hữu Phi-líp-phê, chứa chan những lời trìu mến nhất của thánh nhân.
3. Chúng tôi, Phao-lô, Xin-va-nô và Ti-mô-thê
Theo thể thức thư tín vào thời đó, một hay nhiều người đồng ký tên vào trong cùng một bức thư: “Chúng tôi, Phao-lô, Xin-va-nô và Ti-mô-thê”. Xin-va-nô cũng được gọi Xi-la trong sách Công Vụ và sau này trở thành thư ký của thánh Phê-rô ở Rô-ma (1Pr 5: 12). Vào lúc này, ông thay thế ông Ba-na-bê bên cạnh thánh Phao-lô, sau khi thánh nhân chia tay với Ba-na-bê ở Cô-rin-tô. Còn Ti-mô-thê là một trong những người bạn đồng hành trung thành nhất của thánh Phao-lô. Chúng ta gặp thấy tên ông bên cạnh tên thánh Phao-lô trong sáu bức thư sau này.
Tiếp đó là tên người nhận thư: “xin gửi thư này cho Hội Thánh Thê-xa-lô-ni-ca”. Chúng ta lưu ý việc chuyển từ số ít tập thể: “Hội Thánh” đến ngôi thứ hai số nhiều: “Chúc anh em…”
4. Thiên Chúa là Cha chúng ta và là Chúa Giê-su Ki-tô
Đây thật sự là hoàn toàn mới mẻ. Cộng đoàn Ki-tô hữu không chỉ ở trong Thiên Chúa là Cha, nhưng cũng ở trong Đức Giê-su Ki-tô được công bố là Chúa. Ngay từ những hàng đầu tiên của thư đầu tiên này, chúng ta gặp thấy biểu thức tiêu biểu của thánh Phao-lô: “trong Đức Giê-su Ki-tô”, thường trở đi trở lại trong các thư của thánh nhân. Đây là biểu thức mấu chốt bày tỏ cuộc sống nội tâm của thánh nhân, cũng như tính năng động tông đồ của ngài.
5. Ân sủng và bình an
Lời chào đầu thư liên kết lời chào của người Do thái: “bình an” (“shalom”) với lời chào của người Hy-lạp: “ân sủng” (“charis”). Thánh nhân sẽ sử dụng lời chào này trong tất cả các thư của ngài, ngoại trừ hai bức thư gửi cho Ti-mô-thê, trong đó thánh nhân thêm vào “lòng thương xót”: “ân sủng, lòng thương xót và bình an”. Thật ra, sự liên kết của hai thành ngữ này vốn đã hiện diện trong Do thái giáo rồi. Chúng ta gặp thấy điều này trong sách Dân Số: “Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh em. Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến amh em và dủ lòng thương anh em. Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em” (Ds 6: 24-26). Lời nguyện này tái xuất hiện trong các sách Khải Huyền Do thái như sách Hê-nốc 1: 4: “Nguyện xin Thiên Chúa ban cho anh em ân sủng và bình an”, cũng như trong các lời nguyện của cộng đồng Qum-rân. Nhưng thánh Phao-lô tô đem lại cho thành ngữ này sự giàu có của Ki-tô giáo. Ngài viết cho các tín hữu Phi-líp-phê: “Bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết” (Pl 4: 7).
6. Cảm tạ Thiên Chúa
“Chúng tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa khi nghĩ đến anh em”. Sau này, hầu như các thư của ngài, thánh Phao-lô bắt đầu với lời “cảm tạ” hay “chúc phúc” theo cách Do thái. Trong thư gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca này, thánh nhân đặc biệt khai triển lời cảm tạ. Ngài diễn tả niềm vui của mình vì biết các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca vẫn một mực trung thành và vững mạnh bất chấp những phiền nhiễu mà những người Do thái gây ra cho họ.
7. Ba nhân đức đối thần
“Chúng tôi không ngừng nhớ đến những việc anh em làm vì lòng tin, những nỗi khó nhọc anh em gánh vác vì lòng mến, và những nghịch cảnh anh em kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi Chúa chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô”. Một lần nữa, bản văn Tân Ước đầu tiên này cho thấy một trong những lợi ích lớn lao về phương diện lịch sử cũng như về phương diện thần học, đó là khám phá ở đây lời phát biểu ba nhân đức căn bản mà sau này sẽ được gọi là ba nhân đức đối thần. Ở Tx 5: 8 cũng như ở Col 1: 4-5, thánh nhân sẽ trích dẫn ba nhân đức này theo cùng một trật tự: đức tin, đức mến và đức cậy, còn ở 1Cr 13: 13 theo một trật tự khác: đức tin, đức cậy và đức mến.
8. Chiều kích Ba Ngôi
Các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca đa số đều xuất thân từ lương dân. Thánh nhân nhấn mạnh họ cũng thuộc về dân Chúa chọn, cùng một tước hiệu như những đồng đạo của họ xuất thân từ Do thái. Từ đây sự tuyển chọn của Thiên Chúa mở rộng cho hết mọi người. Nhưng nhất là thánh nhân thán phục những thành quả đáng ngạc nhiên ở Thê-xa-lô-ni-ca: họ không chỉ là hoa trái do lời rao giảng Tin Mừng của thánh nhân, nhưng còn là tác động của Chúa Thánh Thần nữa.
Trong thư gửi tín hữu Cô-rin-tô, thánh nhân viết: “Tôi nói, tôi giảng mà chẳng có dùng lời lẽ khôn khéo hấp dẫn, nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của Thần Khí và quyền năng Thiên Chúa. Có vậy, đức tin của anh em mới không dựa vào lẽ khôn ngoan phàm nhân, nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa.” (1Cr 2: 1-4). Thật ra, đây là điều mà thánh nhân đã nói với các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca rồi: “Khi chúng tôi rao giảng Tin Mừng cho anh em , thì không phải chỉ có lời chúng tôi nói, mà còn có quyền năng, có Thánh Thần, và một niềm xác tín sâu xa”.
TIN MỪNG (Mt 22: 15-21)
Câu chuyện Tin Mừng hôm nay rất nổi tiếng được cả ba Tin Mừng nhất lãm thuật lại. Lời công bố của Đức Giê-su: “Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa” đã được biện luận như một sự phân biệt giữa hai thế lực, tôn giáo và trần thế. Biện luận này gợi lên nhiều áp dụng thực tiễn khác nhau qua nhiều thế kỷ.
Trong bối cảnh trực tiếp, lời công bố của Đức Giê-su được ghi từ một trong những cuộc tranh luận với nhóm Biệt Phái vào những ngày cuối cùng sứ vụ của Đức Giê-su ở Giê-ru-sa-lem trước cuộc Tử Nạn của Ngài: “Nghe các dụ ngôn Ngài kể, các thượng tế và người Biệt phái hiểu là Người nói về họ. Họ tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì dân chúng cho Người là một ngôn sứ” (Mt 21: 45).
Những người Biệt Phái bàn mưu tính kế với nhau tìm cách gài bẫy để Đức Giê-su lỡ lời mà tố cáo Ngài. Họ cấu kết với phe Hê-rô-đê, một đảng phái chính trị, được thiết lập từ vua Hê-rô-đê Cả, luôn luôn sát cánh với chính quyền Rô-ma. Những người Biệt phái hy vọng phe Hê-rô-đê làm chứng về lời của Đức Giê-su ngõ hầu có thể tố cáo Ngài.
1. Âm mưu thâm độc
Rào trước đón sau bằng những lời “đường mật”, họ tán dương những lời dạy chí công vô tư của Đức Giê-su: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật, và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa”. Chữ “đường lối” là từ ngữ tôn giáo, thành ngữ này có cội rễ trong các Thánh Vịnh, đặc biệt Tv 119, trình bày hai con đường, một dẫn đến việc thực thi đức công chính và một dẫn đến sự hư mất.
Bất chấp ác ý được khéo léo bọc trong những lời ca ngợi, thật ra những lời này diễn tả chính xác nhân cách của Đức Giê-su trong những lời dạy của Ngài. Cuối cùng, viện cớ soi sáng lương tâm của mình, họ nêu câu hỏi có chủ ý gài bẫy Ngài: “Có được phép nộp thuế cho Xê-da, hoàng đế Rô-ma hay không?”
Vào thời đó, miền Giu-đa có một hoàn cảnh đặc thù. Kể từ khi vua Ác-khê-lao, con của vua Hê-rô-đê Cả, bị hoàng đế Au-gút-tô phế truất vào năm 6 Công Nguyên, miền Giu-đa được đặt dưới quyền cai trị trực tiếp của chính quyền Rô-ma, đại diện tại chỗ là một quan Tổng Trấn. Trong khi đó, miền Ga-li-lê và những địa hạt phương Bắc vẫn dưới quyền cai trị của hai người con khác của vua Hê-rô-đê Cả là tiểu vương Hê-rô-đê An-ti-pa và tiểu vương Phi-líp-phê.
Ở miền Giu-đa, nhóm Nhiệt Thành khuyến cáo không được nộp thuế cho đế quốc, vì đây là cử chỉ thuần phục chính quyền chiếm đóng. Nhóm Sa-đu-xê-ô, hợp tác với chính quyền Rô-ma, ủng hộ việc nộp thuế. Nhóm Biệt phái giữ lập trường trung lập: họ không thừa nhận việc sử dụng bạo lực của nhóm Nhiệt Thành cũng như tinh thần cộng tác của nhóm Sa-đu-xê-ô. Vì thế, “nộp thuế hay không” là một vấn đề có tính thời sự. Nhưng ý định của các địch thủ của Ngài thì hoàn toàn khác: họ muốn đặt Ngài vào trong một vấn đề tiến thoái lưỡng nan để trừ khử Ngài.
Chính quyền Rô-ma ban hành ba thứ thuế thông thường. Trước hết là “thuế điền thổ”, mỗi người đều phải đóng thuế cho nhà nước một phần mười hoa màu đất đai của mình. Đoạn, “thuế lợi tức” gồm một phần trăm lợi tức của mỗi người. Sau cùng là “thuế thân” quy định mọi người nam từ mười bốn đến sáu mươi lăm tuổi và người nữ từ mười hai đến sáu mươi lăm đều phải đóng một quan tiền, tức bằng lương công nhật của một người (Mt 20: 1-2). Thuế trong câu hỏi ở đây là thuế thân.
Nếu Chúa Giê-su trả lời “được phép”, Ngài sẽ mất uy tín đối với quần chúng, vì họ đặt ở nơi Ngài niềm hy vọng giải phóng quốc gia khỏi ách đô hộ Rô-ma. Nếu Ngài trả lời “không được phép”, Ngài tự đặt mình đối đầu với quyền lực Rô-ma, chắc chắn những người thuộc nhóm Hê-rô-đê, thân chính quyền Rô-ma, có cớ tố cáo là Ngài phản động. Nhưng nếu Ngài tránh né không trả lời thì họ đã rào trước đón sau rồi: “Thầy là người chân thật, và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa”.
2. Câu trả lời của Đức Giê-su
Nhưng Đức Giê-su không tránh né câu hỏi hóc búa này. Ngài yêu cầu họ cho Ngài xem “một quan tiền nộp thuế”. Điều này rất quan trọng. Chung quy có hai loại tiền tệ hiện hành ở Giê-ru-sa-lem. Đồng tiền chính thức của đế quốc Rô-ma mang hình và danh hiệu của hoàng đế Rô-ma (Xê-da). Mọi hình thức nộp thuế đều phải được quy định bằng đồng tiền chính thức này. Ngoài ra, còn có “đồng tiền đền thờ”, đặc thù của dân Do thái, được dùng riêng cho phụng tự (đó là lý do tại sao có những người đổi tiền trong sân đền thờ).
Cầm lấy một quan tiền mà họ trao cho Ngài, Ngài hỏi họ: “Hình và danh hiệu này là của ai đây?” Họ đáp: “Của Xê-da”. Ngài trả lời: “Của Xê-da trả về Xê-da; của Thiên Chúa trả về cho Thiên Chúa”.
Về phương diện lịch sử, đây là lần đầu tiên mà sự phân biệt giữa Thiên Chúa và quốc gia được diễn tả rõ nét nhất. Người Ki-tô hữu vừa là công dân trần thế vừa là công dân Nước Trời. Đứng trước một sự phân biệt ấy người ta dễ rơi vào hai thái độ quá khích: hoặc đặt nặng các giá trị Nước Trời mà xem nhẹ các giá trị trần thế, hay quá chú trọng các giá trị trần thế mà hờ hửng với các giá trị Nước trời.
Câu trả lời của Đức Giê-su “Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về cho Thiên Chúa” đặt người tín hữu trước hai bổn phận phải chu toàn: công dân trần thế và công dân nước trời. Cả hai không hề loại trừ nhau nhưng cùng đồng hiện diện cùng nhau và có ảnh hưởng hỗ tương với nhau: tìm cách xây dựng Nước Trời qua nổ lực xây dựng trần thế bằng cách thăng tiến nó và làm cho nó thấm nhuần sự hiện diện của Thiên Chúa để cuối cùng dẫn đưa nó về Ngài. Như thế, phục vụ Thiên Chúa qua phục vụ tha nhân rồi. Đó cũng là lời dạy của Công Đồng Va-ti-can II: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Ki-tô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ” (“Vui Mừng và Hy Vọng”, 1).
Các đối thủ của Đức Giê-su nghĩ là đặt Ngài vào trong thế bí không có lối thoát, nhưng lại nhận ra rằng Ngài quán triệt vấn đề đến nỗi khiến họ phải kinh ngạc. Những kẻ muốn Ngài cứng họng phải gặp thấy ở nơi câu trả lời của Ngài một lời dạy rành mạch thấu tình đạt lý: một sự hiệp nhất cuộc sống của mỗi người tín hữu giữa bổn phận công dân trần thế và bổn phận công dân Nước Trời.
E/ Những bài suy niệm khác
