“Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó!”
(Mt 21,38)

BÀI ĐỌC I: Is 5, 1-7
“Vườn nho của Chúa các đạo binh là nhà Israel”.

Trích sách Tiên tri Isaia.

Tôi sẽ ca tặng người yêu bài hát của cô bác tôi về vườn nho.

Người tôi yêu có một vườn nho trên đồi xinh tươi. Người rào giậu, nhặt đá, trồng cây chọn lọc, xây tháp giữa vườn, lập máy ép trong vườn, và trông mong nó sinh quả nho, nhưng nó lại sinh toàn nho dại.

Vậy giờ đây, hỡi dân cư Giêrusalem và người Giuđa, hãy luận xét giữa ta và vườn nho ta. Nào còn việc gì phải làm cho vườn nho ta mà ta đã không làm ? Sao ta trông mong nó sinh quả nho, mà nó lại sinh quả nho dại!

Giờ đây ta tỏ bày cho các ngươi biết ta sẽ làm gì đối với vườn nho ta: Ta sẽ phá hàng rào, để nó bị tàn phá, sẽ phá tường để nó phải bị giầy đạp. Ta sẽ bỏ nó hoang vu, không cắt tỉa, không vun xới; gai góc sẽ mọc lên, và ta sẽ khiến mây không mưa xuống trên nó. Vườn nho của Chúa các đạo binh là nhà Israel, và người Giuđa là chồi cây Chúa vui thích. Ta trông mong nó thực hành điều chính trực, nhưng đây toàn sự gian ác. Ta trông mong nó thực hành đức công bình, nhưng đây toàn là tiếng kêu oan.

ĐÁP CA: Tv 79, 9 và 12. 13-14. 15-16. 19-20
Đáp: Vườn nho của Chúa là nhà Israel (c. Is 5, 7a).

1) Từ Ai-cập Chúa đã mang về một gốc nho. Chúa đã đuổi chư dân đi để ương trồng nó. Nó vươn ngành ra cho tới nơi biển cả, vươn chồi non cho tới chỗ đại giang. – Đáp.

2) Tại sao Ngài phá vỡ hàng rào, để bao khách qua đường đều lảy hái nó, để lợn rừng xông ra tàn phá, và muông thú ngoài đồng dùng nó làm cỏ nuôi thân ? – Đáp.

3) Lạy Chúa thiên binh, xin thương trở lại; từ trời cao xin nhìn coi và thăm viếng vườn nho này. Xin bảo vệ vườn nho mà tay hữu Ngài đã cấy, bảo vệ ngành nho mà Ngài đã củng cố cho mình. – Đáp.

4) Chúng con sẽ không còn rời xa Chúa nữa. Chúa cho chúng con được sống, và chúng con ca tụng danh Ngài. Lạy Chúa thiên binh, xin cho chúng con được phục hồi, xin tỏ thiên nhan hiền từ Chúa ra, hầu cho chúng con được ơn cứu sống. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: Pl 4, 6-9
“Thiên Chúa bình an sẽ ở cùng anh em”.

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philipphê.

Anh em thân mến, anh em đừng lo lắng gì hết, nhưng trong khi cầu nguyện, anh em hãy trình bày những ước vọng lên cùng Chúa, bằng kinh nguyện và lời cầu xin đi đôi với lời cảm tạ. Và bình an của Thiên Chúa vượt mọi trí hiểu, sẽ giữ gìn lòng trí anh em trong Chúa Giêsu Kitô.

Vả lại, hỡi anh em, những gì là chân thật, trong sạch, công chính, là thánh thiện, đáng yêu chuộng, danh thơm tiếng tốt, là nhân đức, là luật pháp đáng khen, thì anh em hãy tưởng nghĩ những sự ấy. Những điều anh em đã học biết, đã lãnh nhận, đã nghe và đã thấy nơi tôi, anh em hãy đem những điều đó ra thực hành, thì Thiên Chúa bình an sẽ ở cùng anh em.

TIN MỪNG: Mt 21,33-43
33 Các ông hãy nghe một dụ ngôn khác: “Có gia chủ kia trồng được một vườn nho ; chung quanh vườn, ông rào giậu ; trong vườn, ông khoét bồn đạp nho, và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. 34 Gần đến mùa hái nho, ông sai đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi. 35 Bọn tá điền bắt các đầy tớ ông: chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ. 36 Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước: nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy. 37 Sau cùng, ông sai chính con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng: “Chúng sẽ nể con ta.” 
38 Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con, thì bảo nhau: “Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó!” 39 Thế là chúng bắt lấy cậu, quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi. 40 Vậy xin hỏi: Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia ?” 41 Họ đáp: “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông.” 42 Đức Giê-su bảo họ: “Các ông chưa bao giờ đọc câu này trong Kinh Thánh sao ? Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta. 43 Bởi đó, tôi nói cho các ông hay: Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi.

SUY NIỆM
A/ 5 phút với Lời Chúa

DỤ NGÔN THỜI KHỦNG BỐ

“Có một gia chủ kia trồng được một vườn nho;… Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. Gần đến mùa hái nho, ông cho đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi…” (Mt 21,33-34)

Suy niệm: Nói theo ngôn ngữ hiện đại thì phải gọi những người thợ làm vườn nho trên đây là những người khủng bố. Dùng bạo lực để chiếm đoạt hoa lợi, đã thế họ còn tính toán cả việc giết người và qua mặt pháp luật để cướp luôn cả vườn nho: “Bọn tá điền thấy người con (của chủ vườn nho), thì bảo nhau: Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó!” Chúa Giê-su không chỉ tố giác một xã hội nhiễu nhương đầy bất công áp bức, Ngài muốn vạch rõ gốc rễ của sâu xa của chúng chính là lòng tham vọng muốn chiếm đoạt chủ quyền của Thiên Chúa. Những hệ thống kinh tế, những cung cách làm ăn tạo ưu thế cho người giàu có, thế lực, làm cho người nghèo càng nghèo hơn và tạo hố ngăn cách giàu nghèo ngày càng cách biệt, đó chính là chiếm đoạt chủ quyền của Thiên Chúa trên những tài nguyên mà Chúa trao cho con người quản lý. Những hình thức xâm phạm đến sự sống con người là chiếm đoạt chủ quyền của Ngài là Đấng tạo dựng nên sự sống. Chiếm đoạt chủ quyền của Thiên Chúa, người ta trở thành những kẻ khủng bố đối với anh em mình.

Mời Bạn kiểm điểm đời sống xem mình có đang trở thành kẻ khủng bố cho anh em mình hay không.

Chia sẻ: Thảo luận đề tài: “Yêu thương và kính trọng nhau là vũ khí tốt nhất để chống khủng bố”.

Sống Lời Chúa: Tìm dịp để thăm viếng hoặc giúp đỡ một người, một gia đình đang gặp khó khăn và vày tỏ lòng yêu thương kính trọng đối với họ.

Cầu nguyện: Đọc kinh Kính Mến.

B/ Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

XIN CHÚA THĂM NOM VƯỜN NHO CŨ

Qua Lời Tổng Nguyện của Chúa Nhật XXVII Thường Niên , Năm A này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Những ơn lành Chúa ban thật cao cả, vượt quá mọi công trạng và ước muốn của chúng ta. Ấy thế mà, chúng ta lại phạm tội, phản nghịch cùng Chúa, để rồi, đánh mất những ân huệ cao quý Chúa ban, vì thế, chúng ta hãy xin Chúa thứ tha những lầm lỗi và ban lại cho chúng ta những ơn cao trọng, mà chúng ta chẳng dám mơ tưởng tới bao giờ.

Mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa (Rm 3,23), cho nên, trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, thánh Phaolô đã nói với ông Timôthê rằng: Đức Kitô Giêsu đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi. Sở dĩ tôi được thương xót, là vì Đức Giêsu Kitô muốn tỏ bày tất cả lòng đại lượng của Người nơi tôi là kẻ đầu tiên, mà đặt tôi làm gương cho những ai sẽ tin vào Người, để được sống muôn đời…

Bài đọc một và Thánh Vịnh 79 của bài Đáp Ca hôm nay cho thấy: Ítraen chính là vườn nho của Thiên Chúa: Gốc nho này, Chúa bứng từ Aicập, đuổi chư dân, lấy chỗ mà trồng. Thiên Chúa những mong nó sinh trái tốt, nhưng, nó lại sinh nho dại. Cho nên, vườn nho bị tan hoang, bị giày xéo, trở thành mảnh đất hoang, gai góc mọc um tùm. Đứng trước cảnh tang thương này, vịnh gia đã cầu xin: Lạy Chúa Tể càn khôn, xin trở lại, xin Ngài thăm nom vườn nho cũ, xin phục hồi chúng con, xin tỏa ánh tôn nhan rạng ngời, để chúng con được ơn cứu độ.

Ơn cứu độ Chúa đã hứa ban, không bao giờ Người rút lại, cho dẫu, chúng ta có bội phản bất trung, bằng chứng là, Người luôn gửi các ngôn sứ, các Tông Đồ và các mục tử đến, để nhắc nhở, và dạy dỗ cho những người tội lỗi: biết quay về nẻo chính đường ngay. Các mục tử là những người mà Chính Thầy đã chọn anh em từ giữa thế gian, để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, như câu Tung Hô Tin Mừng mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay.

Các mục tử là những người nhắc nhở và dạy dỗ Dân Chúa, cho nên, trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, thánh Ghêgôriô Cả đã khiển trách nặng nề các mục tử sợ không dám sửa lỗi, không mở mắt cho những người có tội nhìn thấy điều gian ác của họ, bởi vì, bổn phận của các mục tử là: Lạy Chúa, đường lối Ngài, con sẽ dạy cho người tội lỗi, ai lạc bước sẽ trở lại cùng Ngài. Bài đọc hai của Thánh Lễ cho thấy: thánh Phaolô quả thực là một mục tử chân chính, khi ngài đã mạnh dạn nói cho các tín hữu Philipphê biết: Thiên Chúa là nguồn bình an sẽ ở giữa họ, nếu họ đem ra thực hành những gì thánh nhân khuyên bảo: những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến, đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen.

Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu đã cảnh báo cho các thượng tế và kỳ mục trong dân biết rằng: Nếu họ không sinh lợi cho vườn nho của Thiên Chúa, thì: Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi.

Ítraen là vườn nho của Thiên Chúa, Hội Thánh là vườn nho của Thiên Chúa, mỗi người trong chúng ta cũng chính là vườn nho của Thiên Chúa, được Thiên Chúa yêu thương, chăm sóc, giữ gìn; bổn phận của chúng ta là: sinh lợi cho vườn nho của Chúa. Chúa ban cho chúng ta vườn nho, tức ơn cứu độ của Chúa, một ân huệ hoàn toàn nhưng không, vượt quá mọi công trạng và ước muốn của chúng ta. Chúa mới là chủ vườn, còn chúng ta chỉ là tá điền cộng tác với Chúa để chăm sóc vườn nho. Không ở đúng vị trí của mình, không ý thức được chỗ đứng của mình trong công trình cứu độ của Chúa, chúng ta sẽ tự đánh mất mình, bị loại ra khỏi vườn nho. Chúng ta được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa: nếu ví Thiên Chúa như một người đang soi gương, thì chúng ta chỉ là hình ảnh trong gương mà thôi, ấy thế mà, chúng ta lại muốn tiếm quyền, thủ tiêu người đang soi gương, thì hình ảnh trong gương làm sao có thể tồn tại được? Ước gì chúng ta biết ngoan ngùy, luôn trung thành sinh lợi cho vườn nho của Chúa, nếu lỡ, có lầm đường lạc lối, thì biết mau mắn quay về xin Chúa thứ tha, để được nhận lại những ân huệ cao trọng mà chúng ta chẳng dám mơ ước đến bao giờ.

C/ Lm. Inhaxiô Hồ Thông

Từ Bài Đọc I đến Tin Mừng cách nhau khoảng tám trăm năm, nhưng cả hai đối đáp với nhau qua dụ ngôn vườn nho với cung điệu bi thương.
Is 5: 1-7
Trong bài thi ca trữ tình theo thể hát đối, ngôn sứ I-sai-a ca ngợi vườn nho được người chủ hết lòng chăm sóc, nhưng vườn nho lại sinh trái nho dại ngược với lòng mong ước của ông. Lúc đó, lời oán trách của vị ngôn sứ vang lên: vườn nho vô ơn bạc nghĩa, “chính là dân Ít-ra-en”.
Pl 4: 6-9
Những lời thánh Phao-lô gởi tín hữu Phi-líp-phê thì ngược lại, đây là sứ điệp tràn ngập bình an, chan chứa tin tưởng và đầy nhân ái.
Mt 21: 33-43
Tin Mừng là dụ ngôn “các tá điền gian ác”: sau khi bách hại các tôi tớ của ông chủ vườn nho, chúng giết cả người con một của ông để mong chiếm đoạt vườn nho.
BÀI ĐỌC I (Is 5: 1-7)
Bài thi ca của ngôn sứ I-sai-a rất nổi tiếng mô tả dân Ít-ra-en là vườn nho của Đức Chúa. Trước đây, hình ảnh dân Ít-ra-en là vườn nho của Chúa được ngôn sứ Hô-sê phác họa vài nét đơn sơ, nay được ngôn sứ I-sai-a lấy lại với một nguồn thi hứng phong phú. Vì thế, hình ảnh nầy được lập lại nhiều lần trong sách Đệ Nhị Luật (Đnl 32: 32), Thánh vịnh (Tv 80), bởi ngôn sứ Giê-rê-mi-a (Gr 2: 21; 5: 10; 6: 9; 12: 10), ngôn sứ Êdê-ki-en (Ed 15: 1-8; 19: 10-14), vân vân. Dụ ngôn vườn nho của Đức Giê-su (Mt 21: 33-41) rõ ràng quy chiếu đến bài thi ca của I-sai-a.
1.Ngữ cảnh:
Khoa chú giải có thể định vị niên biểu của bài thi ca vườn nho nầy vào khoảng năm 737 trước Công Nguyên, nghĩa là vào giai đoạn đầu sứ vụ của ngôn sứ I-sai-a ở Giê-ru-sa-lem trước khi thành thánh bị vương quốc Sy-ri liên minh với vương quốc phương Bắc vây hãm.
Trước đó, ngôn sứ I-sai-a đã lên án tội thờ ngẫu tượng của vương quốc phương Bắc, vương quốc Ít-ra-en, mà thủ đô là Sa-ma-ri. Khi hướng nhìn về vương quốc phương Nam, vương quốc Giu-đa, mà thủ đô là Giê-ru-sa-lem, ngôn sứ I-sai-a thất vọng theo cách khác: bất công, áp bức những kẻ nghèo hèn cô thế, bạo lực, máu và nước mắt, giả nhân giả nghĩa, vân vân. Bài thi ca vườn nho của ông là một lời cảnh báo.
Chúng ta có thể hình dung vị ngôn sứ ngâm hay hát bài thi ca của ông trên hành lang đền thờ vào dịp lễ hội thu hoạch nho (sau nầy được gọi lễ Lều). Lễ hội nầy kéo dài một tuần lễ. Vào ngày khai mạc và ngày kết thúc, các nghi lễ diễn ra trong khuôn viên đền thánh. Dù thế nào, Pa-lét-tin là miền đất trồng nho, vì thế, bài thi ca của ngôn sứ I-sai-a gây tác động mạnh độ nhạy cảm của một dân trồng nho.
2.Cấu trúc:
Bài thi ca được xây dựng theo hình thức một bài thi ca trữ tình, nhưng tình phụ bạc. Thiên Chúa là hôn phu và là người trồng nho, còn Ít-ra-en là hôn thê và là cây nho hoặc vườn nho. Trong bài thi ca nầy, hai hình ảnh “người trồng nho và cây nho” và “hôn phu và hôn thê” được lồng vào nhau một cách mật thiết. Sự ân cần chăm sóc của người chồng được đền đáp bởi sự bất trung của người vợ. Người chồng bị tình phụ xin đám đông phân xử. Như trong các bài thi ca trữ tình, bài thi ca nầy được sáng tác theo thể hát đối.
Trước hết, vị ngôn sứ, đại diện bạn mình là người trồng nho, cất tiếng hát (5: 1-2). Đoạn, đến phiên mình, người chủ vườn nho thổ lộ nỗi niềm tâm sự và bừng bừng nổi giận (5: 3-6). Sau cùng, vị ngôn sứ tiếp lời (5: 7), chính lúc đó mặc khải gây choáng váng: ông chủ vườn nho không ai khác chính là Đức Chúa; vườn nho không sinh trái tốt chính là Ít-ra-en, dân bất trung sẽ bị trừng phạt vì phụ tình bạc nghĩa của nó.
3.Bạn của người chủ vườn nho (5: 1-2):
Vị ngôn sứ tự xưng mình là “bạn của người chủ vườn nho”, chắc chắn tước hiệu nầy được gợi hứng bởi “bạn của chàng rể” trong những bài tình ca được hát trong đám cưới (tước hiệu này thánh Gioan Tẩy Giả sẽ áp dụng cho mình). Bài thi ca mô tả người chồng hết mực trìu mến chăm lo cho người vợ của mình như ông chủ vườn nho ân cần chăm sóc vườn nho của mình, rào giậu chung quanh, trồng giống nho tốt “trên sườn đồi màu mỡ”.
Đức Giê-su sẽ trích dẫn đúng nguyên văn vài chi tiết của bài thơ trong dụ ngôn của mình về “bọn tá điền sát nhân”“Có một gia chủ kia trồng được vườn nho; chung quanh vườn, ông rào dậu; ông khoét bồn đạp nho, và xây một vọng gác” (Mt 21: 33). Một vọng gác được xât trong vườn nho nói lên tấm lòng ân cần chăm sóc hết mức của người chủ đối với vườn nho của mình: canh giữ ngày lẫn đêm, trông chừng những tên hái trộm, những con thú phá hoại … Than ôi, cho dù được ông chủ vườn nho ân cần săn sóc đến như thế, vườn nho chỉ sinh trái nho dại!
4.Người chủ vườn nho (5: 3-6):
Đến phiên mình, người chủ vườn nho thổ lộ tâm can của mình. Ông xin toàn thể dân chúng làm chứng cho những công sức đổ ra vô ích của mình:
Vậy bây giờ,
dân Giê-ru-sa-lem, và người Giu-đa hỡi,
xin phân xử đôi đàng giữa tôi với vườn nho” (5: 3).
Dụ ngôn trở nên rõ nét hơn. Theo hình ảnh nầy, độc giả nhận ra ông chủ vườn nho thật sự là ai. Vườn nho vô ơn bạc nghĩa sẽ đón nhận sự trừng phạt đích đáng:
“Tôi biến thửa vườn thành mảnh đất hoang vu,
không tỉa cành nhổ cỏ, gai góc mọc um tùm;
sẽ truyền lệnh cho mây, đừng để mưa tưới xuống” (5: 6).
Đây là lối nói ngoa dụ, nhưng cũng để cho thoáng thấy một ông chủ vườn nho quyền năng.
5.Ngôn sứ (5: 7):
Vị ngôn sứ lại cất tiếng hát. Mặc khải của ông được chuẩn bị khéo léo. Dân chúng tự kết án mình vì họ không còn cách nào ngoài thú nhận mình là vườn nho được vun trồng chăm sóc hết mực nhưng chỉ sinh những trái nho dại.
Phương pháp tâm l‎ý nầy nhắc nhớ phương pháp mà ngôn sứ Na-than áp dụng cho vua Đa-vít, khi vua cướp đoạt vợ của tướng U-ri. Na-than xây dựng một dụ ngôn kể về người giàu cướp đoạt con chiên độc nhất của người nghèo. “Vua Đa-vít bừng bừng nổi giận với người ấy”. Na-than nói với vua: “Kẻ đó chính là Ngài” (2Sm 12: 1-7). Dụ ngôn của ngôn sứ I-sai-a cũng theo một cách như vậy:
“Vườn nho của Đức Chúa, các đạo binh,
chính là nhà Ít-ra-en đó;
cây nho Chúa mến yêu quý chuộng,
ấy chính là người xứ Giu-đa” (5: 7).
BÀI ĐỌC II (Pl 4: 6-9)
Chúng ta tiếp tục đọc thư thánh Phao-lô gởi tín hữu Phi-líp-phê. Trong đoạn trích thư hôm nay, thánh nhân đề nghị một khuôn mẫu sống theo đó di sản Do thái giáo, mặc khải Ki-tô giáo và lý tưởng Hy-lạp hòa hợp với nhau.
1.Di sản Do thái giáo:
“Trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giải bày trước mặt Chúa những điều anh em thỉnh nguyện”. Nét đặc trưng của lời cầu nguyện Do thái giáo là lập đi lập lại những lời ngợi ca cảm tạ tri ân: “Ngợi khen Thiên Chúa…Chúc tụng Thiên Chúa…”, theo đó các tín đồ khẩn khoản nài xin Thiên Chúa luôn rủ lòng thương. Mặt khác, lời ngợi ca được xen kẻ với những lời thỉnh nguyện. Các Thánh Vịnh minh chứng rất rõ nét điều nầy. Thánh Phao-lô, trung thành với truyền thống nầy, dễ dàng thích ứng truyền thống nầy vào trong lời cầu nguyện Ki-tô giáo và khuyên bảo các tín hữu Phi-líp-phê thực hành như thế.
2.Mặc Khải Ki-tô giáo:
“Bình an của Thiên Chúa, là bình an không ai hiểu thấu, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hiệp với Đức Giê-su Ki-tô”: Chúc bình an cũng thuộc vào truyền thống Do thái giáo. Ở đây, không chỉ cầu xin “bình an”, nhưng còn những ơn khác nữa. Theo gương Đức Giê-su, thánh Phao-lô đem đến cho chữ “bình an” một chiều kích mới. Đối với thánh nhân, bình an của Thiên Chúa, chính là bình an mà hy tế của Đức Giê-su đã mang lại cho chúng ta. Trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã hòa giải muôn loài muôn vật với mình. Nhờ Thánh Thần của Ngài, Ngài toả rạng bình an giữa các Ki-tô hữu với nhau và giữa các Ki-tô hữu với muôn dân. Bình an là một khía cạnh của cuộc sống đời đời, được khởi sự từ dưới thế nầy.
3.Lý tưởng Hy lạp:
Thánh Phao-lô ngỏ lời với những người Ki-tô hữu chịu ảnh hưởng văn hóa Hy-lạp. Thánh nhân bảo họ đừng từ bỏ, nhưng hãy thấm nhập vào trong con người họ những đức hạnh mà truyền thống cha ông của họ đã dạy: “Những gì là đức hạnh đáng khen, thì xin anh em hãy để ý”.
Như vậy, thánh Phao-lô đã không dửng dưng trước l‎ý tưởng luân lý của truyền thống văn hóa Hy lạp. Ki-tô giáo không nhằm loại bỏ “những gì là chân thật, cao quí, những gì là chính trực, tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt”. Thánh nhân đã hình thành nên “học thuyết nhân bản Ki-tô giáo”. Nhưng học thuyết nầy để thực sự là Ki-tô giáo phải dựa vào lời dạy tông đồ để không có bất kỳ kiếm khuyết nào và sai lệch nào: “Những gì anh em đã học hỏi, đã hấp thụ, đã nghe, đã thấy nơi tôi, thì hãy đem ra thực hành”.
TIN MỪNG (Mt 21: 33-43)
Tiếp theo dụ ngôn “hai người con” mà chúng ta đã đọc vào Chúa Nhật vừa qua, thánh Mát-thêu tiếp tục kể dụ ngôn “những tá điền gian ác” trong cùng một chiều hướng và cùng nhắm đến một đối tượng: “Các thượng tế và các kỳ mục”.
1.Dụ ngôn:
Đức Giê-su mượn ở nơi bài thi ca của ngôn sứ I-sai-a hình ảnh về một gia chủ “trồng được một vườn nho; chung quanh vườn, ông rào giậu; ông khoét một bồn đạp nho, và xây một vọng gác”, nhưng lại triển khai theo một chiều hướng khác với I-sai-a. Trong sấm ngôn của I-sai-a, đối tượng được nhắm đến là vườn nho. Dù được chăm sóc chu đáo, nhưng vườn nho lại sinh những trái nho dại, vì thế, bị bỏ rơi thành hoang phế. Trái lại, trong dụ ngôn, đối tượng được nêu bật là thái độ gian ác của bọn tá điền.
Ông chủ vườn nho “trẩy đi xa” và để vườn nho cho bọn tá điền thuê. Đến mùa thu hoạch, chủ vườn nho sai gia nhân của mình đến thu hoạch huê lợi. Các tá điền không chỉ không giao nộp huê lợi như đã giao ước, trái lại “chúng đánh người nầy, giết người kia, ném đá người nọ”.
Vẫn một mực nhẫn nại, ông chủ vườn nho cố thử thêm một lần nữa: “sai một số đầy tớ khác đông hơn trước; nhưng bọn tá điền vẫn cư xử với họ y như vậy”. Cuối cùng, ông quyết định liều sai đứa con trai một của mình: “Thế là chúng bắt lấy cậu, lôi ra ngoài vườn nho và giết chết cậu”.
2.Ý nghĩa của dụ ngôn đối với lịch sử cứu độ:
Dụ ngôn nầy diễn tả một cách ngắn gọn cả một lịch sử cứu độ dài, một thiên tình sử giữa Thiên Chúa với dân Ngài. Vườn nho của Thiên Chúa chính là dân Ít-ra-en. Ngài đã trao cơ nghiệp của Ngài cho các giai cấp lãnh đạo Do thái để họ vun xới và làm trổ sinh hoa trái. Biết bao lần, Thiên Chúa đã sai các ngôn sứ đến nhắc nhở họ phải trung thành tuân giữ giao ước, nhưng họ đã ngược đãi, bách hại và giết chết các ngài. Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn sai lần lượt các ngôn sứ nầy đến các ngôn sứ khác, nhưng họ không hề thay đổi, vẫn cư xử các ngài theo cùng một cách như thế. Nhưng sự nhẫn nại của Thiên Chúa vẫn không hề vơi, cuối cùng Ngài sai chính con một của Ngài với hy vọng: “Chúng sẽ nể con ta”. Nhưng lòng gian ác của họ đã đạt đến cực điểm. Họ đã tra tay bắt lấy người Con Một của Ngài và lôi ra ngoài thành thánh Giê-ru-sa-lem mà giết đi để mong chiếm đoạt gia sản của Ngài.
Qua dụ ngôn nầy, Đức Giê-su quy trách nhiệm cho giai cấp lãnh đạo Do thái còn cứng rắn hơn dụ ngôn “hai con trai” trước đó. Đồng thời, Ngài cũng kín đáo và thống thiết muốn cho họ hiểu rằng Ngài là Con Một Thiên Chúa và sắp bị giết chết bởi sự gian ác của họ.
3.Ý nghĩa dụ ngôn đối với Giáo Hội.
Như vị ngôn sứ trong bài thi ca vườn nho, Đức Giê-su xin thính giả của Ngài, tức giai cấp lãnh đạo Do thái, phân xử. Những người nầy phẩn nộ trước cách hành xử gian ác của bọn tá điền, không ngờ chính họ lại tự kết án mình. Và như dụ ngôn “hai người con” trước đây, ở đoạn cuối, ý nghĩa của dụ ngôn được Chúa Giê-su giải thích rõ ràng.
Đức Giê-su trích dẫn Tv 118: ‘Viên đá người thợ xây loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Ấy là Chúa đã làm nên như vậy, trước mắt chúng ta, thật lạ lùng”. Thánh Vịnh nầy ca ngợi cuộc chấn hưng của dân Ít-ra-en trong tương lai và được giải thích như Thánh Vịnh thiên sai. Giáo Hội tiên khởi đã thấy ở nơi Thánh Vịnh này lời loan báo về sự Phục Sinh của Đức Ki-tô (x. Cv 4: 11 và 1Pr 2: 7).
Con Thiên Chúa can thiệp và bị giết chết, xem ra là một sự thất bại rõ ràng. Nhưng nhờ cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Người Con nầy, một dân mới chào đời, dân mới này được biểu thị không còn bởi hình ảnh vườn nho nhưng tòa nhà. Toà nhà nầy, Đức Giê-su sẽ là viên đá góc tường hay viên đá chóp đỉnh, sẽ được xây dựng trên nền móng vững chắc: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá nầy, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt. 16: 18).

D/ Lm. Jos. Phạm Duy Thạch, SVD

BỐI CẢNH

Trong bối cảnh trực tiếp Mt 21,33-43 tiếp nối dụ ngôn hai người con (Mt 21,28-32). Đề tài “vườn nho” được tiếp tục. Đối tượng Đức Giêsu kể dụ ngôn này là “các thượng tế và kỳ lão” xuất hiện trong 21,23. Họ chất vấn Đức Giêsu về quyền “thanh tẩy đền thờ” (21,23). Vườn nho và ông chủ trong câu chuyện này gọi nhớ đến những hình ảnh tương tự trong dụ ngôn những người thợ làm vườn nho (Mt 20,1-16). Đề tài vườn nho trong bối cảnh xa hơn nối kết với Is 5,1-7. Một cách tổng quát, câu chuyện này nằm trong chuỗi những tranh luận của Đức Giêsu với các lãnh đạo Do Thái tại kỳ giảng ở Giêrusalem. Ý tưởng “đánh đập, giết, ném đá các đầy tớ” có liên hệ đến số phận các ngôn sứ trong dòng lịch sử và chính Đức Giêsu ngôn sứ. Đặc biệt, hình ảnh người con trai của ông chủ bị giết tiền bào về cái chết của Đức Giêsu Con Thiên Chúa trong hành trình khổ nạn.

Dụ ngôn được cả ba Tin Mừng Nhất Lãm ghi lại với nhiều chi tiết khác biệt[1]

Các chi tiết khác nhau
MáccôMátthêuLuca
Một đầy tớ,

đánh,

đuổi đi tay không

Những đầy tớ,

Một bị đánh

Một bị giết

Một bị ném đá

Một đầy tớ,

đánh

đuổi đi tay không

Một đầy tớ khác

Làm bị thương ở đầu

Ngược đãi

Nhiều đầy tớ hơn trước

Đối xử y như vậy

Một đầy tớ khác,

Bị đánh

Một đầy tớ khác, bị giết Một đầy tớ thứ ba,

Làm bị thương và quăng ra

Nhiều đầy tớ khác

Một vài bị đánh

Một vài bị giết

  
Con trai yêu quý

Giết

Quăng ra ngoài

Con trai

Quăng ra ngoài,

Giết

Con trai yêu quý

Quăng ra ngoài

Giết

Đáp trả của các Thượng Tế và Kỳ Lão trước câu hỏi của Đức Giêsu
Hủy diệt các nông dânHủy diệt các nông dânHủy diệt các nông dân
Trao vườn nho cho những nông dân khácTrao vườn nho cho những nông dân khác, người sẽ trả hoa trái đúng mùaTrao vườn nho cho các nông dân khác
Giải thích của Đức Giêsu
Tv 118,22-23Tv 118,22-23Tv 118,22
 Nước Thiên Chúa sẽ được cất khỏi các ông

Trao cho dân khác

 

CẤU TRÚC

A. Dụ ngôn (33-39)

Bối cảnh:

Một chủ nhà trồng một vườn nho

đặt tường xung quanh, đào nơi đạp nho, xây tháp canh

Cho các nông dân thuê và ra đi

Những nông dân xấu xa tệ hại

Các đầy tớ đến …để thu hoa trái

Những người nông dân bắt … đánh, … giết, … ném đá

Sai nhiều đầy tớ hơn lần trước đến với họ,

Họ cũng đối xử với các đầy tớ như vậy

Sai con trai của mình đến với họ, nói rằng: “Chúng sẽ tôn trọng con trai Ta”

Họ bắt, … ném ra khỏi vườn nho, … giết chết.

B. Bản án dành cho những người thuê vườn (40-41)

Ông chủ sẽ làm gì khi ông đến?

Ông sẽ tiêu diệt những người xấu xa tệ hại

Trao vườn nho cho những nông dân khác

C. Giải thích của Đức Giêsu (42-43)

–        Trích dẫn Sách Thánh: Tảng đá bị loại bỏ thành đầu của góc

–        Nước Thiên Chúa sẽ được lấy đi khỏi các ông và ban cho một dân sinh hoa trái của nó

MỘT SỐ ĐIỂM CHÚ GIẢI

1. Một chủ nhà … ông chủ … ông chủ vườn nho: Đức Giêsu khởi đầu dụ ngôn bằng cách giới thiệu một người đàn ông là một chủ nhà (ἄνθρωπος ἦν οἰκοδεσπότης). Tiếp theo sau đó, cuối cùng khi đặt câu hỏi với thính giả Người dùng danh xưng “ông chủ vườn nho” (ὁ κύριος τοῦ ἀμπελῶνος). Danh xưng chủ nhà, giống với danh xưng được dùng trong dụ ngôn “những người thợ làm vườn nho”. Trong dụ ngôn này, danh xưng “ông chủ vườn nho” cũng được dùng để thay thế cho danh xưng chỉ nhà. Trong truyền thống Cựu Ước, Thiên Chúa được mô tả như là người chủ vườn nho, và Israel là vườn nho của Chúa. Ngôn sứ Isaia đã ghi lại dụ ngôn vườn nho trong đó nước Israel được mô tả như là vườn nho được Thiên Chúa trồng, và chăm sóc rất kỹ lưỡng (Is 5,1-7).[2] Chúa trông mong nó sinh những trái nho nhưng nó sinh toàn nho dại. Kết quả là Thiên Chúa sẽ “loại bỏ hàng rào, và nó sẽ nên hoang tàn, Thiên Chúa phá đổ tường rào và nó sẽ bị giẫm nát, gai góc mọc lên và Thiên Chúa lệnh cho mây không mưa giọt nào trên nó nữa. Ông chủ ở đây trồng và bảo vệ vườn nho tương tự như ông chủ trong Is 5 (trồng một vườn nho và đặt tường xung quanh và đào nơi đạp nho và xây tháp canh = Is 5,2: Cuốc đất, nhặt đá, giống nho quý đem trồng, giữa vườn anh xây một vọng gác, rồi khoét bồn đạp nho). Vịnh gia thời lưu đày thương tiếc cho quốc gia một thời hưng thịnh nay đã bị suy tàn. Ông ví Israel như “một cây nho mà Thiên Chúa mang lên từ Aicập; Rồi, đuổi chư dân và trồng nó vào; Núi đồi được phủ bóng của nó, những cây tuyết tùng hùng vĩ được che phủ bởi nhánh của nó; Nó vươn nhánh ra đến biển và chồi mọc ra tận sông lớn; Nhưng rồi Thiên Chúa đã phá đổ tường để những người qua đường hái trái; heo trong rừng tàn phá nó” (Tv 80,8-13). Ông chủ có thể là Thiên Chúa, vườn nho không thể là Israel vì vào cuối dụ ngôn, cất vườn nho khỏi những người nông dân xấu xa tệ hại và trao cho “các người nông dân thuê vườn khác”. Bối cảnh dụ ngôn có thể là câu chuyện của Is 5, nhưng có nhiều điểm khác biệt. Trong Isaia, chính vườn nho không sinh trái tốt, ở đây là các người thuê vườn không nọp hoa trái; trong Isaia chính vườn nho bị phá hủy, ở đây chính những người thuê vườn bị tiêu diệt và vườn nho được trao cho những người khác thuê; Trong dụ ngôn này vẫn còn hy vọng trong tương lai, trong khi trong Isaia tất cả đều hoang tàn.[3]

2. Các nông dân thuê vườn: Các nông dân, hoặc là những người làm vườn ở đây là những được thuê mướn vườn nho của ông chủ. Danh xưng “γεωργοῖς” (ghêôrgois) được lặp lại sáu lần (cc.33.34.35.38.40.41). Họ không phải làm công nhật như những người công nhân trong dụ ngôn “người thợ làm vườn nho” (20,1-26). Ông chủ cho nhóm người này thuê vườn nho và đúng mùa ông đến thu hoa trái. W. Wright – C. Mann, cho biết là vào thế kỷ thứ nhất, nhiều chủ đất vắng mặt và để đất của mình cho các người làm thuê chăm sóc.[4] Phần phân chia, đóng góp hoa trái thế nào không được đề cập. Chỉ biết rằng đến thời điểm hoa trái, ông chủ sai đầy tớ đến để nhận hoa trái của mình. Tác giả K.R. Snodgrass dẫn lời nhiều tác giả cho rằng hợp đồng thuê đất và chăm sóc vườn giữa người thuê và chủ đất rất nổi tiếng thời bấy giờ. Căng thẳng và mâu thuẫn giữa hai bên cũng được ghi nhận rõ ràng, ngay cả việc tranh cãi xem ai là người giữ lại cành cây sau khi cắt tỉa. Chủ sở hữu ở xa, thỏa thuận cho thuê, chăm sóc vườn nho và sản xuất rượu.[5] Những người nông dân này thường được hiểu như là các lãnh đạo Do Thái, cụ thể là những người chối từ và giết chết Đức Giêsu.[6]

3. Các đầy tớ: Các đầy tớ là những người làm nhiệm vụ đến nhận hoa trái của vườn nho. Mátthêu đề cập đến hai nhóm đầy tớ: Nhóm đầu tiên và nhóm thứ hai, cũng là nhóm cuối cùng đông hơn nhóm đầu tiên. Theo bảng so sánh ở trên, tác giả Máccô liệt kê nhiều lần gửi nhất, với bốn lần gửi (lần thứ nhất: Một đầy tớ; lần thứ hai: Một đầy tớ khác; lần thứ ba: Một đầy tớ khác; và lần thứ bốn: Nhiều đầy tớ khác). Theo tác giả Luca, ông chủ có ba lần gửi đầy tớ đến (lần thứ nhất: Một đầy tớ; lần thứ hai: Một đầy tớ; lần thứ ba: Một đầy tớ). Theo tác giả A. Hultgren, những người đầy tớ này là các ngôn sứ dọc theo chiều dài lịch sử.[7] Tác giả Mátthêu ghi lại lời phàn nàn của Đức Giêsu, trong đó đề cập đến việc Jêrusalem giết các ngôn sứ: “Oh Jêrusalem, Jêrusalem, thành giết các ngôn sứ và ném đá những người được sai đến, đã bao lần Ta muốn tập họp con cái các ngươi lại như gà mẹ tập họp gà con dưới cánh, nhưng ngươi không chịu” (Mt 23,37).[8]

4. Người con trai … người thừa kế: Cả Máccô và Luca đều dùng danh xưng “người con yêu dấu” làm nổi bật ý nghĩa về mặt Kitô học.[9] Mátthêu chỉ dùng danh xưng “người con trai”, mặc dù ông vẫn dùng danh xưng ấy cho Đức Giêsu trong trình thuật phép rửa và biến hình. Người “Con trai” được gửi đến như là giải pháp sau cùng. Ông chủ đã tin rằng “họ sẽ tôn trọng người con trai” này. Người con là đại diện cho uy quyền của ông chủ, vì thế họ phải tôn trọng và vâng phục.[10] Nếu như hình ảnh “ông chủ vườn nho” được hiểu là Thiên Chúa, thì hình ảnh người con trai được hiểu là “Con Thiên Chúa”, tức là chính Đức Giêsu. Trong suốt Tin Mừng Đức Giêsu được giới thiệu như là “Con yêu dấu của” Thiên Chúa, đặc biệt là trong biến cố Đức Giêsu chịu dìm trong nước (Mt 3,17) và biến cố biến hình (Mt 17,5; Cf. 12,8). Trước cái chết trên thập giá của Đức Giêsu, người đại đội trưởng và đồng bạn đã xác nhận: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27,54; Cf. 27,43; 16,16; 14,33 8,29). Trong đoạn văn này “người con trai” được các nông dân nhìn nhận là người thừa kế và nếu giết cậu rồi thì họ có thể chiếm tài sản thừa kế, trong bối cảnh này vườn nho chính là khối tài sản thừa kế. Danh từ “tài sản thừa kế” được hiểu như là đất hứa được ban cho ông Ápraham trong Cựu Ước (Hr 11,8; Cf. Đnl 3,20;12,9). Trong thư gửi tín hữu Galát, ông Phaolô khẳng định rằng, các tin hữu “không còn là đầy tớ nữa, nhưng là người con, mà nếu là người con, thì là người thừa kế nhờ Thiên Chúa” (Gl 4,1.7). Tương tự, trong thư gửi tín hữu Rôma, ông Phaolô cũng xác nhận rằng: “Đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Kitô; vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người” (Rm 8,17). Thừa kế trong câu này được hiểu như là được “hưởng vinh quang”.

5. Những nông dân khác … những dân khác … trao cho: Khi được Đức Giêsu hỏi rằng: “Ông chủ sẽ làm gì khi ông đến? Các thính giả thưa rằng: “Ông chủ sẽ tiêu diệt chúng và sẽ trao vườn nho cho những nông dân khác”. “Những người nông dân khác” được định nghĩa là “những người nộp hoa trái đúng kỳ hạn”. Trong lời giải thích của Đức Giêsu, Người dùng danh từ “một dân khác”, và dân này được định nghĩa là “dân làm ra hoa trái”. “Dân khác” ở đây có thể được hiểu là cộng đoàn “các Kitô hữu” được tạo nên từ những người Do Thái và những người ngoại. “Dân khác” cũng có thể hiểu là dân ngoại qua mọi thời, đối lại với các kitô hữu. Bên cạnh cách hiểu như là “một dân” hay một “nhóm”, danh từ “ethnos” còn được hiểu rộng ra cho một nhóm đặc trưng. Theo nghĩa này, vương quốc không bị cất khỏi Israel toàn thể, và ban cho Giáo Hội toàn thể nhưng là tước đi và trừng phạt hệ thống lãnh đạo trong Israel và ủng hộ hệ thống lãnh đạo của Giáo Hội. Không phải vườn nho bị phá hủy nhưng là những người thuê vườn nho bị trừng phạt và tước quyền.[11]

6. Vườn nho … Nước Thiên Chúa: Vườn nho trong dụ ngôn được chính Đức Giêsu ví như là “Nước Thiên Chúa”. Trong dụ ngôn “người thợ làm vườn nho” (Mt 20,1-16), danh xưng “Nước Trời” được giới thiệu vào đầu dụ ngôn “Nước Trời giống như…”, trong dụ ngôn này, danh xưng Nước Thiên Chúa được dùng trong lời giải thích kết thúc dụ ngôn. Đây không phải là chuyện về “vườn nho” và “hoa trái” nhưng là chuyện “Nước Trời” và “quyền thừa kế Nước Trời”. Động từ “lấy đi” trong mệnh đề “Nước Thiên Chúa được lấy đi” được dùng ở thể bị động với tác nhân được hiểu ngầm là Thiên Chúa. Trong ba tác giả sách Tin Mừng, chỉ có tác giả Mátthêu thêm vào phần kết luận của Đức Giêsu: “Nước Thiên Chúa sẽ được lấy khỏi các ông và trao cho một dân làm ra hoa trái” (Mt 21,43). Các tác giả tranh luận về tính xác thực của câu thêm vào này. Nếu Mátthêu thêm vào câu này trong quá trình tái biên soạn, có thể ông muốn cộng đoàn của ông hiểu dụ ngôn theo hướng này. Câu này, không nhắm vào hành động “lấy đi” cho bằng “hành động trao ban”, mở ra cho dân ngoại một cơ hội sinh hoa trái. Dựa trên câu trả lời của thính giả, rất có thể là các thượng tế và những người Pharisêu (Mt 21,45), Đức Giêsu chỉ công bố điều hiển nhiên. Nếu các nông dân thuê đất trước xấu xa tệ hại, thì ông chủ phải lấy đất lại và cho người khác thuê.

7. Bắt … đánh … ném đá … ném ra khỏi vườn nho … giết: Đây là loạt những hành động các nông dân thuê đất đã đối xử với những người mà ông chủ vườn nho gửi đến. Động từ “nhận” (hay thu) hoa trái và “bắt lấy” là cùng một động từ (lambánồ – λαμβάνω). Có lẽ đây là một lối chơi chữ. Những người đầy tớ đến để thu hoa trái (λαβεῖν τοὺς καρποὺς αὐτοῦ) nhưng những người nông dân thuê đất “bắt lấy” những người đầy tớ (λαβόντες οἱ γεωργοὶ τοὺς δούλους αὐτοῦ). Khác với tác giả Máccô và Luca, tác giả Mátthêu gom nhóm nhân vật lại và liệt kê các hành động mà những người nông dân thuê vườn đã làm: Người thì họ đánh, người thì họ giết, người thì họ ném đá. Lần thứ hai, tác giả lại tóm gọn hơn “ông chủ lạ sai một nhóm đầy tớ khác đông hơn trước và họ cũng đối xử tương tự”, nghĩa là cũng “đánh, giết, và ném đá”. Những hành động mà những người nông dân làm cho hai nhóm đầy tớ rất giống với những hành động mà những người khách được mời đối xử với những đầy tớ đi mời trong dụ ngôn “tiệc cưới”: “Những người còn lại bắt các đầy tớ, sỉ nhục và giết chết” (Mt 22,6). Đối với “người con trai”, họ có âm mưu rõ ràng. Họ nói với nhau: “Người này là kẻ thừa kế, hãy đến, chúng ta hãy giết nó và chúng ta có thể sở hữu phần thừa kế của nó”. Họ giết chết “người con” là để đoạt phần thừa kế, tức là vườn nho. Nói là làm “họ bắt cậu, quăng ra khỏi vườn nho và giết chết”. Động từ “giết chết” được Đức Giêsu dùng để tiền báo về cuộc khổ nạn của Người: “Người phải đi Jêrusalem, phải chịu đau khổ nhiều bởi các kỳ lão, thượng tế và kinh sư, bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21; Cf. 17,23). Sau dụ ngôn này, người thuật chuyện cho biết là các Thượng Tế và những người Pharisêu tìm cách bắt Đức Giêsu (Mt 21,46). Sau đó, các Thượng Tế và các Kỳ Lão của dân lại âm mưu để có thể bắt Đức Giêsu bằng dối lừa và giết chết (Mt 26,3-4). Các “đám đông với gươm và gậy từ các Thượng Tế và Kỳ Lão” đã theo chỉ dẫn của Juđa mà bắt Đức Giêsu trong vườn Ghétsêmanê (Mt 26,34-35). Giới từ “ra khỏi” đi theo động từ “quăng” (quăng ra khỏi vườn nho và giết chết) gợi nhớ đến hình ảnh Đức Giêsu bị dẫn ra khỏi thành Jêrusalem và đóng đinh vào thập giá (Mt 27,31-32).

8. Xấu xa tệ hại … hủy diệt: Những người nông dân thuê vườn trong dụ ngôn được mô tả là “xấu xa tệ hại” và đáng bị ông chủ “tiêu diệt”. Động từ “tiêu diệt” được dùng cho nhóm người này khác với động từ “giết chết” được dùng cho đối tượng là các “đầy tớ” và “người con trai”. Đặc tính “xấu xa tệ hại” là đặc tính của nhóm thính giả dành cho nhóm người nông dân thuê vườn dựa trên cách thức họ đối xử với hai nhóm đầy tớ và con trai của ông chủ.

9. Câu trích dẫn Sách Thánh: Trong phần giải thích Đức Giêsu đã dùng câu Thánh Vịnh 118,22-23 (Tv 117 trong bản LXX): “Hòn đá những người thợ xây chối bỏ, hòn đá này đã trở thành đầu của góc;  đó là từ Chúa và tuyệt vời trong mắt chúng ta”. Thánh Vịnh 118 là một Thánh Vịnh tạ ơn của một nhóm người thoát khỏi sự chết. Tuy vậy, nó có thể cũng là hồi ức sâu xa về lời cầu nguyện của con người và sự can thiệp của Thiên Chúa. Thánh Vịnh mở ra và đóng lại bằng một lời mời gọi ca tụng Thiên Chúa vì “Chúa nhân lành, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”. Cc.22-23 có lẽ là một câu châm ngôn cổ, nhưng ở Thánh Vịnh này nó diễn tả một sự đảo ngược vận mệnh trong cơn khốn cùng được Thiên Chúa thực hiện. Trước đó là lời tạ ơn: “Tôi tạ ơn Người vì Người đã đáp lời tôi và đã trở nên ơn cứu độ của tôi” (Tv 118,21). Sau đó, họ tuyên xưng rằng “đây là ngày Thiên Chúa đã làm ra”, ngụ ý nói đến ngày Thiên Chúa ra tay cứu họ như là những lý do để vui mừng: “Chúng ta hãy mừng rỡ hân hoàn vì ngày đó” (Tv 118,24).[12]

“Tôi tạ ơn Người vì Người đã đáp lời tôi và đã trở nên ơn cứu độ của tôi”
Tảng đá mà những người thợ xây chối từ đã trở thành [tảng đá] đầu của góc
Đây là [công trình] từ Chúa; nó tuyệt vời trước mắt chúng ta
Đây là ngày Chúa đã làm ra; chúng ta hãy vui mừng và hân hoan trong nó” (Tv 118,21-24)

Đức Giêsu dùng câu Thánh Vịnh này để áp dụng cho trường hợp của Người. Người chính là hòn đá mà các lãnh đạo Do Thái sẽ chối từ và giết chết nhưng Người sẽ “được trỗi dậy”. Đó là thông điệp quan trọng trong ba lần tiền báo về cuộc khổ nạn “ngày thứ ba Người sẽ được trỗi dậy”. Trong bài giảng dành cho hội đồng Do Thài vì sự kiện “người què được chữa lành”, ông Phêrô dùng câu Thánh Vịnh Đức Giêsu dùng để áp dụng cho Đức Kitô chịu đóng đính: “Nhờ danh Đức Giêsu Nadarét, Đấng mà quý vị đã đóng đinh vào thập giá, và Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết … Đấng ấy là hòn đá góc mà quý vị là thợ xây đã loại bỏ, chính tảng đá ấy lại trở nên đầu của góc” (Cv 4,10-11). Tác giả thư Phêrô cũng chứng nhận điều này khi nói rằng Người là “tảng đả sống động bị loại bỏ nhưng trong mắt Thiên Chúa là hòn đá được chọn và quý giá” (1 Pr 2,4).

10. Hòn đá …đầu của góc: Đây là một trong những cụm từ gây nhiều tranh luận nhất. Nghĩa đen của nó là “cái đầu của cái góc” (לְרֹ֣אשׁ פִּנָּֽה = κεφαλὴν γωνίας). Các tác giả xưa nay chia ra thành hai khuynh hướng. Thứ nhất, nó là “tảng đá góc tường” và thứ hai là “tảng đá đỉnh vòm”. Nếu hiểu theo nghĩa trong tiếng Do Thái, nghĩa của cụm từ này trong Thánh Vịnh, thì nó có thể là “tảng đá” ở góc nền móng để nối kết các bức tường của ngôi nhà, vì các ngôi nhà của Do Thái không có cấu trúc mái bằng, không có vòm. Tác giả T. France nghĩ rằng “đầu của góc” có lẽ là hòn đá cao nhất trong một góc tường, giữ hai bên của toà nhà lại với nhau.[13] Nếu hiểu theo cấu trúc của Rôma, nó có thể là tảng đá có vai trò chốt lại các kết cấu hình vòm, để làm cho kết cấu được vững chắc.[14] Dù là cách hiểu nào đi nữa, nó cũng ngụ ý một hòn đá quan trọng, chính yếu, nền tảng, không thể thiếu cho cấu trúc của một công trình xây dựng. Đức Kitô là hòn đá quan trọng nhất trong toàn bộ kết cấu của Hội Thánh.[15] Trong thần học của Phaolô, Đức Giêsu được mô tả như là “đầu của Hội Thánh”: “Thiên Chúa đã đặt tất cả mọi sự dưới chân Đức Kitô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh” (Ep 1,22; Cf. 4,15; 5,23); “Người là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh” (Cl 1,18; Cf. 2,19). Kết cấu của Hội Thánh ăn khớp với nhau trong Người: “Trong Người toàn thể công trình xây dựng ăn khớp với nhau và vươn lên thành ngôi đền thánh trong Chúa” (Ep 2,21; Cf. 4,16).

CHÚ GIẢI TỔNG QUÁT

Dụ ngôn “những người nông dân xấu xa tệ hại” (Mt 21,33-43) nằm trong bối cảnh các dụ ngôn “người thợ làm vườn nho” với kết thúc là những người vào làm sau chót vào giờ thứ mười một cũng được nhận lương bằng người vào làm giờ đầu tiên (20,1-16); “Cây vả không sinh hoa trái” (Mt 21,18-22); “hai người con” (21,28-32) với sự đối chọi giữa người “nói không” nhưng lại làm với người “nói làm”, nhưng lại không làm; và dụ ngôn “khách mời dửng dưng” (Mt 22,1-14). Đức Giêsu đang nói với những người lãnh đạo Do Thái (các Thượng Tế, Kỳ Lão và Kinh Sư), trong bầu khí căng thẳng: Đức Giêsu “thanh tẩy Đền Thờ” (21,12-13) và Họ muốn chất vấn Người về quyền thanh tẩy đền thờ (Mt 21,23). Trong dụ ngôn “những người nông dân xấu xa tệ hại”, có bốn nhóm nhân vật chính: Thứ nhất là ông chủ vườn nho. Ông đã làm mọi sự tốt nhất cho vườn nho, tương tự như ông chủ vườn nho trong Is 5,1-7. Ông cho những người nông dân thuê và sai đầy tớ đến thu hoa trái. Nhóm thứ hai là những người nông dân thuê vườn. Họ được giả định là phải nộp hoa trái cho ông chủ vào “thời hoa trái”, nhưng họ đã không những không nộp mà còn bắt, giết, ném đá tất cả các đầy tớ (nhóm nhân vật thứ ba) ông chủ gửi đến. Sự gian ác lên đến đỉnh điểm khi họ âm mưu và giết chết người con trai (nhân vật thứ tư) của ông chủ, quăng ra khỏi vườn nho. Mưu toan của họ trở nên rõ ràng: Họ muốn chiếm tài sản thừa kế của cậu con trai. Vậy là, người thừa kế phải chịu chung số phận với các đầy tớ: Bị bắt, bị ném ra ngoài, giết chết. Ý nghĩa của dụ ngôn dần lộ rõ với phần đối đáp của Đức Giêsu liên quan đến số phận của nhóm “nông dân thuê vườn”. Trước câu hỏi “ông chủ sẽ làm gì khi ông đến”, các thính giả (nhóm Thượng Tế, Kỳ Lão, Pharisêu) đã mô tả căn tính của nhóm “những nông dân thuê vườn” là “xấu xa tệ hại” (κακοὺς κακῶς) và công bố bản án là: Ông chủ sẽ tiêu diệt họ và trao vườn nho cho những nông dân khác, những người nộp hoa trái cho ông vào thời điểm của nó. Các động từ “bắt, quăng ra ngoài, giết chết” gợi ý đến căn tính và số phận của “Người Con”, được mô tả trong các lời tiền báo về cuộc thương khó và chính cuộc thương khó sẽ diễn ra sau đó. Câu trích dẫn của Đức Giêsu (Tv 118) làm lộ rõ tính cách ngôn sứ của số phận và sứ mạng Đấng Mêsia. Người như một hòn đã bị những người thợ xây chối từ nhưng lại trở thành “viên đá đầu của góc”, tức là viên đá nền tảng cho sự kết nối vững chắc của toàn ngôi nhà. Câu bình luận của Đức Giêsu, một cách trực diện, cho thấy vườn nho chính là Nước Thiên Chúa, và ông chủ vườn nho là Thiên Chúa. Nước Thiên Chúa sẽ được lấy khỏi “các ông”, có thể được hiểu là hệ thống lãnh đạo Do Thái, và trao cho một dân khác, có thể được hiểu là công đoàn Kitô hữu (Do Thái và dân ngoại), hoặc hệ thống lãnh đạo của cộng đoàn này. Công bố của Đức Giêsu dựa trên bản án mà các lãnh đạo Do Thái đã công bố dành cho các “nông dân thuê vườn”.[16] Vườn nho bị lấy lại là vì họ quá xấu xa tệ hại. Dụ ngôn mô tả các thực tại cụ thể: (1) Nhóm lãnh đạo Do Thái không đón nhận các ngôn sứ, Người Con, và ở ngoài Nước Thiên Chúa; (2) Cộng đoàn Kitô hữu đã được phúc đón nhận Nước Thiên Chúa và đang sinh hoa trái theo cách của mình; (3) Người con đã bị bắt, bị dẫn ra ngoài thành, và bị giết chết. Đức Giêsu vẫn mời gọi tất cả mọi người đi vào làm “vườn nho của” Chúa. Người đến để cứu sống chứ không phải giết chết (Mt 18,11). Tuy nhiên, trên thực tế, có những người chối từ, loại trừ và giết chết Người. Dụ ngôn có thể nhắm đến các lãnh đạo Do Thái đang chất vấn Đức Giêsu nhưng cũng có thể dành cho bất cứ hệ thống lãnh đạo nào không mang lại hoa trái cho Chúa.[17]

E/ Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

VƯỜN NHO CỦA CHÚA

A.DẪN NHẬP

Ngày xưa Thiên Chúa đã chọn Israel là dân riêng của Ngài và coi dân Ngài như “vườn nho” được Ngài săn sóc cẩn thận. Ngài chỉ mong cho vườn nho đem lại nhiều hoa quả tốt tươi, nhưng vườn nho chỉ đem lại những trái nho dại đắng đót. Cả những người trồng nho cũng phản loạn, bất trung trong việc canh tác ,  nên Thiên Chúa đã trao vườn nho cho người khác.

Ngày nay, chúng ta cũng được coi là vườn nho mới của Chúa. Tất cả những gì Chúa ân cần săn sóc ban cho đều là hồng ân của Chúa. Chúng ta được tự do hành động, sắp xếp công việc theo ý ta, nhưng ta phải chịu trách nhiệm về những việc làm ấy.  Bổn phận của chúng ta là phải cố gắng làm việc cho tốt để đáp lại tình thương của Chúa đối với chúng ta.

Sách có chữ rằng:”Tiền xa ký phúc, hậu xa khả giới”: Xe trước đổ, xe sau phải coi chừng. Dân Do thái ngày xưa đã bất trung nên đã bị Thiên Chúa ruồng bỏ. Ngày nay chúng ta là dân Do thái mới được Thiên Chúa săn sóc giữ gìn, chúng ta phải tránh xa vết xe cũ kẻo phải hư đi, nhưng phải trung thành với những hồng ân Chúa ban, bằng cách làm cho ơn Chúa được sinh hoa kết quả dồi dào trong đời sống; đồng thời cũng phải biết chia sẻ cho người khác nữa.

B.TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+ Bài đọc 1: Is 5,1-7.

Tiên tri Isaia đã dùng “bài ca cây nho” để nói lên tình yêu của Thiên Chúa đã yêu dân Chúa như thế nào và dân Chúa đã đáp lại ra sao.  Trong dụ ngôn này, “vườn nho” tượng trưng cho dân Israel. Thiên Chúa đã yêu thương và săn sóc dân Chúa như thế nào, Ngài chỉ muốn cho nó sinh ra  những hoa trái ngon ngọt. Nhưng than ôi ! trước sự yêu thương và săn sóc của Thiên Chúa, dân Chúa vẫn bất trung, bạc tình bạc nghĩa giống như vườn nho  chỉ sinh ra những trái nho đắng đót.

Trước sự bất trung ấy, Thiên Chúa định bỏ mặc dân Israel cho quân thù giấy xéo, phải làm tôi ngoại bang. bị đi lưu đầy.  Thực tế đã chứng minh: những sự việc này đã xẩy ra trong lịch sử dân Israel.

+ Bài đọc 2: Pl 4, 6-9.

Gặp những hoàn cảnh khó khăn, nhiều người tỏ ra xao xuyến ngã lòng, thánh Phaolô khuyên nhủ tín hữu Philipphê hãy trút bỏ mọi lo âu và hãy tin tưởng vào Chúa để được bình an trong tâm hồn. Ngài đưa ra cho tín hữu bí quyết để đón nhận được sự bình an ấy:

a) Hãy cầu nguyện trong mọi hoàn cảnh:”Anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn mà giãi bầy trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện”.

b) Hãy sống với lương tâm trong sáng và hãy đem ra thực hành những điều đã được học hỏi nơi thánh Phaolô.

+ Bài Tin mừng: Mt 21, 33-43.

Chúa Giêsu muốn dùng dụ ngôn này để cảnh giác các nhà lãnh đạo Do thái: vua chúa, luật sĩ, biệt phái và những tư  tế. Thiên Chúa đã giao dân Chúa – là cây nho qúi – cho những nhà lãnh đạo Do thái, nhưng những người này lại khai thác cây nho để hưởng lợi riêng, bách hại những tiên tri, những sứ giả của Thiên Chúa và giết cả Con  của Người.

Đồng thời Chúa Giêsu cũng cảnh cáo dân Do thái: đáng lẽ dân Do thái phải biết ơn Chúa khi gọi họ vào Nước Trời, và đáp lại họ phải có một đời sống tốt, như một phần hoa lợi nộp cho Thiên Chúa là chủ vườn nho.  Nhưng chẳng những họ không làm thế mà còn giết luôn cả Chúa Giêsu, Con duy nhất của Thiên Chúa.

Do đó, Chúa Giêsu kết luận:”Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi”.

C.THỰC HÀNH LỜI CHÚA

HÃY SINH HOA TRÁI TỐT

I.TÌM HIỂU DỤ NGÔN.

1.Tục lệ trồng nho ở Palestine

Palestine là một vùng đồi núi thích hợp cho việc trồng nho, nên trồng nho  là một nghề rất quen thuộc.  Chúa Giêsu muốn dùng vườn nho để làm dụ ngôn. Vườn nho thường có hàng rào làm bằng hàng rào gai dầy để ngăn chặn heo rừng vào phá và kẻ trộm có thể vào ăn trộm nho.  Mỗi vườn nho đều có hầm ép rượu gồm hai cái chậu đục từ đá hay xây bằng gạch, cái này đặt cao hơn cái kia và nối với nhau bằng hai cái rãnh.  Nho được ép từ chậu cao  sẽ chảy xuống chậu thấp.  Cái tháp trong vườn được dùng cho hai mục đích. Nó dùng làm chòi canh kẻ trộm khi mùa nho chín và làm chỗ  ở cho người làm việc trong vườn nho.

Những người có nhiều đất thì thường đem đất đai cho mướn, giống như ở Việt Nam xưa cho tá điền phát canh thu tô.  Tiền cho mướn phải trả bằng ba cách: bằng tiền, bằng số trái cây nhất định hoặc bằng số bách phân của hoa mầu.

Hành động của những người trồng nho mướn cũng không phải là việc bất thường. Trong thời Chúa Giêsu, xứ Palestine ở vào thời kinh tế bất ổn, người làm công bất mãn và làm loạn . Hành động của những tá điền tìm giết con chủ vườn không phải là chuyện không xẩy ra.

2.Ý nghĩa dụ ngôn

Bài Tin mừng hôm nay thuật lại dụ ngôn  những người làm vườn nho giết người, để trình bầy về sự tương phản giữa tình yêu của Thiên Chúa với sự độc ác của những kẻ bất trung vô ơn bội nghĩa với tình thương yêu ấy.

Theo từng chi tiết, vườn nho ám chỉ Nước Thiên Chúa hay là Nước Trời được trao cho dân Do thái. Ông chủ vườn nho là Thiên Chúa. Những người thợ làm vườn  nho là giới lãnh đạo, là những người đứng đầu trong dân. Các đầy tớ là các tiên tri, những sứ giả được Thiên Chúa sai đến đều bị ngược đãi hoặc bị giết chết. Trước thái độ bất nhân bất nghĩa đó, Nước Thiên Chúa được chuyển sang cho một dân tộc khác là Hội thánh, một dân phổ quát và Công giáo,  sẽ lan tràn trên khắp thế giới.

Ý nghĩa câu chuyện thật rõ ràng đối với thính giả Do thái thời Chúa Giêsu.  Thiên Chúa đã chọn người Do thái làm dân riêng của Ngài, đã ban cho họ mọi sự có thể, nhưng họ bác bỏ và giết chết các tiên tri của Thiên Chúa và đóng đinh chính Con của Ngài chết trên thập giá.

Rồi Thiên Chúa kêu mời những người Do thái, là chúng ta đây, làm những tá điền mới trong vườn nho của Ngài, làm công dân mới trong Nước Thiên Chúa. Cũng vậy, chúng ta phải làm sinh hoa lợi, phải nộp một loại “tiền thuế”, một loại “dịch vụ”, một loại “nợ” về ân huệ gia nhập dân Chúa.

II.NHỮNG BÀI HỌC CHO CHÚNG TA

Đọc dụ ngôn này, chúng ta có thể rút ra được mấy bài học để thực hành trong đời sống hằng ngày:

– Lòng yêu thương và kiên nhẫn của Thiên Chúa.
– Sự tự do của con người trong cuộc sống.
– Phải sinh hoa trái tốt trong đời sống.

1.Lòng yêu thương và kiên nhẫn của Thiên Chúa

Suy nghĩ về thái độ của ông chủ vườn nho đối với các tá điền,  ta thấy chủ vườn nho đã cố gắng tới ba lần để giúp các tá điền thay đổi đường lối. Ông sai hết người đại diện này đến người đại diện khác đến với họ.  Ông không đến báo thù ngay khi người đại diện ban đầu bị ngược đãi, ông cho những người tá điền hết cơ hội này đến cơ hội khác để đáp ứng đòi hỏi của ông.  Khi ông thấy rằng có kiên nhẫn hơn nữa cũng vô ích, ông ta mới ra tay xét xử  đám này và bắt họ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Cuối cùng, ông chủ lấy lại vườn nho và trao lại cho người khác.

Thiên Chúa cũng cư xử với chúng ta y như thế.  Cha chúng ta trên trời vô cùng kiên nhẫn.  Nhưng rồi sẽ đến lúc sự kiên nhẫn của Chúa sẽ nhường bước cho sự xét xử.  Và chúng ta cũng sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

2.Sự tự do của con người

Ông chủ vườn nho đã sắp xếp mọi thứ: có hàng rào, có hầm ép rượu và tháp canh để giúp cho công việc được dễ dàng. Ông chủ không những giao công việc để làm, mà còn giao phương tiện để làm nữa.  Ông chủ vườn để những người tá điền làm công việc theo sở thích của mình và chỉ đòi họ canh tác để đến mùa thu hoa lợi, chứ không phải là người độc đoán, ông như một vị chỉ huy khôn ngoan trao công tác rồi để cho họ làm.

Điều này nói lên ông chủ tín nhiệm các tá điền. Nhưng có những tá điền không làm đúng công việc của mình, họ đã lạm dụng tự do ông chủ ban cho để tìm lợi lộc riêng. Họ đã phụ lòng tin của ông chủ. Những người tá điền cố tình thực hiện kế hoạch chống lại và không vâng phục chủ mình.

Mỗi người chúng ta là một tá điền mà Thiên Chúa trao phó cho một vườn nho, là những ơn phúc và chúng ta có bổn phận đem hoa lợi về cho Chúa. Ngài để cho chúng ta hoàn toàn tự do sắp xếp công việc theo sáng kiến riêng và chịu trách nhiệm về những việc chúng ta làm.

3.Phải làm nảy sinh ra hoa trái tốt

a)Những ơn lành đã nhận

Tất cả mọi cái chúng ta có là do Chúa mà có, ngay cả con người chúng ta, mạng sống chúng ta. Chúng ta phải nói như thánh Phaolô:”Tất cả là hồng ân”.  Trong thư gửi cho tín hữu Côrintô, thánh Phaolô đặt một câu hỏi khiến mọi người chúng ta phải suy nghĩ:”Bạn có gì mà bạn đã không lãnh nhận” (1Cr 4,7).

Thật vậy, những ân phúc Chúa ban như những tài năng tinh thần, những của cải vật chất, chúng ta phải biết xử dụng để sinh lợi tối đa, tức là chúng ta phải làm việc và làm lợi cho Chúa. Mỗi người Chúa ban cho một vốn liếng khác nhau không ai giống ai: người mười nén, người năm nén, người một nén… nhưng tất cả đều giống nhau ở chỗ là phải cố gắng làm sinh lời tùy theo sức của mình. Chúa chỉ đòi chúng ta cố gắng chứ không đòi kết quả.

Tóm lại, tất cả đều do Chúa ban. Chúng ta đúng là một vườn nho được Chúa chăm sóc ân cần.

b)Chúa chờ đợi gì nơi ta?

Chúa muốn chúng ta nhận biết tất cả là bởi Chúa. Thế mà chúng ta vô tình coi những thứ đó là của riêng ta. Như thế, chúng ta cũng giống như những tá điền muốn chiếm đoạt vườn nho của chủ.  Nhiều khi chúng ta chỉ biết dùng những thứ ấy cho riêng mình mà không nghĩ tới tha nhân, Giáo hội và xã hội.

Ngoài ra, trong việc làm sinh hoa kết quả trong đời sống, tâm lý thông thường con người ta là muốn làm việc lớn, được nhiều lợi nhuận, được nhiều người biết đến. Nhưng trước mặt Chúa, mọi việc dù lớn dù nhỏ không quan hệ, miễn là chúng ta làm việc cho Chúa, vì Chúa và làm hết khả năng của mình.

Trong cuộc sống của chúng ta, chẳng mấy khi có việc lớn mà chỉ là những việc nhỏ, nhưng trung thành  chu toàn được những việc nhỏ lại là việc khó như ngạn ngữ La tinh có câu:”Communia, non communiter”: làm công việc tầm thường nhưng bằng một cách phi thường.  Thánh Têrêsa Hài đồng đã làm gương cho chúng ta về vấn đề này.

Không ai có thể làm việc lớn cho Chúa nếu trước hết không làm những việc nhỏ cho Ngài. Nếu không trung thành trong những việc nhỏ thì không ai tin tưởng mà trao cho chúng ta việc lớn hơn.  Kinh thánh nói:”Ai trung thành trong việc nhỏ mọn cũng sẽ trung thành trong việc lớn” (Mt 25,21; Lc 19,17)

Truyện: Vị thiên thần dễ tính.

Ngày kia, có hai người xin vị thiên thần cho họ được tham dự vào quyền năng của Thiên Chúa.  Vị thiên thần đồng ý.  Người thứ nhất xin cho có khả năng làm được những công việc vĩ đại. Vị thiên thần gật đầu ưng thuận, nhưng lại ra điều kiện:”Ngươi sẽ được quyền lực để hoàn thành những kỳ công. Nhưng ngươi lại không có sức làm những việc thông thường”.  Chàng ta đọc được ý nghĩ của kẻ khác, và không ngừng chế tạo ra những phát minh vĩ đại. Ít lâu sau chàng đã trở thành tỉ phú nhờ kinh doanh những phát minh của chàng.  Chàng ta rất hài lòng với những thành công đã đạt được.  Nhưng chẳng bao lâu, từng người một, các bạn bè lần lượt xa lánh chàng mà chàng lại không làm gì được để giữ họ lại. Sau đó cả người vợ cũng thầm giũ áo ra đi. Chàng cũng không làm gì được để nối lại mối tình xưa. Rồi sau cùng sức khỏe cũng giã biệt chàng, thân thể trở nên bạc nhược, đến nỗi chàng không còn đi đứng được nữa, chàng bất lực, chẳng làm gì được để phục hồi sức khỏe ngoài việc ngồi trên xe lăn để đếm từng ngày cô đơn.

Ngược lại, người thứ hai chỉ xin được có khả năng làm tốt những việc bình thường. Vị thiên thần cũng đồng ý và nhắn thêm:”Thiên Chúa sẽ không cho ngươi quyền lực nào đặc biệt để hoàn thành  những việc phi thường đâu”. Chàng bình thản tiếp tục sống cuộc đời mình, hằng ngày chàng vui vẻ chu toàn nghĩa vụ của một công dân lương thiện, một người chồng chung thủy, một người cha hiền tận tụy với con cái, một người bạn, một người láng giềng quảng đại, hào hiệp, vị tha. Chàng cảm thấy đời mình thật ý nghĩa, thật vui tươi và hạnh phúc. Chàng không còn ước muốn gì hơn là được tiếp tục sống trọn cuộc đời mình cho Thiên Chúa và tha nhân trong những gì bình thường nhất với một niềm tri ân sâu thẳm.

Biết nhìn ra những giá trị của những điều bình thường trong cuộc sống, con người mới có khả năng khám phá được sự cao cả phi thường mà Thiên Chúa cất giấu trong đời họ. Từ đó con người cũng sẽ kín múc được sức mạnh dồi dào để phát huy những giá trị của bản thân, của cuộc sống để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân (Phạm văn Phượng, Chia sẻ Tin mừng CN, năm A, tr 212-213).

c)Lãnh nhận và cho đi

Ta nhắc lại một lần nữa lời thánh Phaolô:”Bạn có gì mà bạn đã không lãnh nhận”(1Cr 4,7). Phải, tất cả những gì ta đang có là do ta lãnh nhận từ tay Chúa, một cách trực tiếp hay gián tiếp. Nhưng không chỉ nhận, ta còn phải biết cho, bởi vì, trên căn bản, ta nhận không phải chỉ cho riêng mình mà còn cho người khác nữa.

Con sông chỉ nhận nước vào mà không cho nước thoát ra thì không thể nhận thêm nước được, nó sẽ trở thành cái ao tù.  Nó phải phân phối nước đi thì nó mới trở nên trong sạch được bằng cách nhận thêm nước khác. Nước Biển Chết là một thứ nước mặn chát, hôi thối vì chỉ nhận nước tư các sông chảy vào mà không có lối thoát ra, không phân phát cho cho các nhánh khác.

Có một mối tương quan biện chứng giữa nhậncho: đã nhận thì phải cho đi, cho đi thì mới nhận vào được,  nếu chỉ nhận mà không cho đi thì bị tắc nghẽn.  Con người cũng thế, nếu chỉ biết nhận lãnh cho mình mà không biết chia sẻ cho nguời khác thì người đó chỉ biết co cụm lại, thay vì làm giầu thì chỉ làm cho mình nghèo đi. Những người chỉ biết co cụm lại không thông ra cho người khác thì không bao giờ có niềm vui vì người ta chỉ có thể có niềm vui khi mở lòng ra với người khác.

Truyện: Không biết chia sẻ.

Một người nghèo nọ được thần tài gõ cửa, nên không mấy chốc căn nhà của anh bỗng rộn lên tiếng cười của vợ con, họ hàng và láng giềng. Một cuộc sống xứng với nhân phẩm hơn đó là điều mà con người may mắm này đã cảm nhận được.

Tuy nhiên, may mắn nào cũng kéo theo những đòi hỏi, đòi hỏi thách thức nhất của người nghèo  bỗng nhiên trở thành giầu có là: hãy chia sẻ với người khác. Không mấy chốc, bà con họ hàng từ các nơi đổ xô về căn nhà nghèo nàn của anh để xin giúp đỡ, trước là nhận họ sau là nhận hàng, đó là thói thường của người đời.

Kẻ trúng số hiểu được các tâm lý thông thường ấy, lúc đầu được thúc đẩy bởi lòng quảng đại, ông không ngần ngại chia sớt cho mọi người. Nhưng dần dà con số người đến xin giúp đỡ ngày càng gia tăng, cho đến một lúc cuộc sống riêng tư và êm ấm của gia đình hầu như bị xáo trộn triền miên. Người đàn ông không còn đủ kiên nhẫn nữa.

Một hôm, ông đề nghị với vợ:

– Hay là ta dọn đi một nơi khác.

Người vợ lắc đầu bảo:

– Mình có đi đâu thì thiên hạ cũng tìm tới.

Nhưng người chồng giải thích:

– Mình sẽ đi đến một chỗ không ai biết, mình sẽ đổi tên đổi họ, cũng không cho ai biết mình sẽ đi đâu, và sẽ cố gắng sống một cách đơn giản để không ai để ý đến mình nữa, ngay cả mấy đứa nhỏ cũng không cho biết mình đã trúng số.

Người vợ thắc mắc:

– Còn tiền bạc thì mình để ở đâu?

Chồng trả lời dứt khoát:

– Mình sẽ đem chôn giấu, mình sẽ sống như thể không hề trúng số, chỉ đem ra dùng  khi nào cần thiết mà thôi.

Thế là cả gia đình đã dọn đến một nơi khác như dự kiến: họ lén lút ra đi nên không ai biết, tiền bạc đem chôn cất, con cái còn quá nhỏ nên không biết việc gì đã xẩy ra, họ sống nghèo nàn trong một khu ổ chuột.  Ngày qua ngày, chính họ cũng quên rằng mình đã có lần trúng số, và khi họ chết thì tất cả mọi tài sản đều mất hết. Họ quên cả việc viết chúc thư cho con cái để trao lại tài sản cho chúng.

Câu chuyện ngụ ngôn trên đây nhắc cho chúng ta lời khuyên của Chúa Giêsu :”Các con đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho đi nhưng không”.  Tất cả những gì Chúa ban cho ta, không phải chỉ dành cho riêng mình nhưng còn phải cho kẻ khác nữa.  Chúng ta chỉ có được niềm vui khi chúng ta biết mở lòng ra với người khác. Còn niềm vui nào lớn hơn khi niềm tin được sinh lợi bằng những hoa trái của yêu thương, của phục vụ. Còn niềm vui nào lớn hơn khi chúng ta cảm nhận được Chúa đang đến qua từng cố gắng sống niềm yêu thương chia sẻ của chúng ta mỗi ngày trong cuộc sống.