
Đức Giê-su đáp: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng,
hết linh hồn và hết trí khôn ngươi”.
(Mt 22,37)
BÀI ĐỌC I: Xh 22, 21-27 (Hr 20-26)
“Nếu các ngươi hà hiếp các cô nhi quả phụ, Ta sẽ nổi giận các ngươi”.
Trích sách Xuất Hành.
Đây Chúa phán: “Ngươi chớ làm phiền lòng và ức hiếp khách ngoại kiều: vì các ngươi cũng là khách ngoại kiều ngụ trong đất Ai-cập. Các ngươi đừng làm hại cô nhi quả phụ. Nếu các ngươi hà hiếp những kẻ ấy, họ sẽ kêu thấu đến Ta, và chính Ta đã nghe tiếng họ kêu van. Ta sẽ nổi cơn thịnh nộ, sẽ dùng gươm giết các ngươi, vợ các ngươi sẽ phải goá bụa, và con cái các ngươi sẽ phải mồ côi.
“Nếu ngươi cho người nghèo khó nào trong dân cùng định cư với ngươi mượn tiền, thì ngươi chớ hối thúc nó như kẻ đặt nợ ăn lãi quen làm, và chớ bắt nó chịu lãi nặng. Nếu ngươi nhận áo sống của người láng giềng cầm cố, ngươi hãy trả lại cho kẻ ấy trước khi mặt trời lặn: vì nó chỉ có một áo ấy che thân, và không còn chiếc nào khác mặc để ngủ; nếu kẻ ấy kêu van đến Ta, Ta sẽ nhậm lời nó, vì Ta là Đấng thương xót”.
ĐÁP CA: Tv 17, 2-3a. 3bc-4. 47 và 51ab
Đáp: Lạy Chúa là dũng lực con, con yêu mến Chúa (c. 2).
1) Lạy Chúa là dũng lực con, con yêu mến Chúa, lạy Chúa là Đá Tảng, chiến luỹ, cứu tinh. – Đáp.
2) Lạy Chúa là Thiên Chúa, là sơn động chỗ con nương mình, là khiên thuẫn, là uy quyền cứu độ, là sức hộ phù con. Con xướng ca ngợi khen cầu cứu Chúa, và con sẽ được cứu thoát khỏi tay quân thù. – Đáp.
3) Chúa hằng sống, chúc tụng Đá Tảng của con, tán tụng Thiên Chúa là Đấng cứu độ con. Ngài đã ban cho vương nhi Ngài đại thắng, đã tỏ lòng từ bi với Đấng được xức dầu của Ngài. – Đáp.
BÀI ĐỌC II: 1 Tx 1, 5c-10
“Anh em đã bỏ tà thần trở về với Thiên Chúa để phụng sự Người và để trông đợi Con của Người”.
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Thêxalônica.
Anh em thân mến, khi chúng tôi còn ở giữa anh em, anh em biết chúng tôi sống thế nào vì anh em. Và anh em đã noi gương chúng tôi và noi gương Chúa, đã nhận lấy lời rao giảng giữa bao gian truân, với lòng hân hoan trong Thánh Thần, đến nỗi anh em đã nên mẫu mực cho mọi kẻ tin đạo trong xứ Macêđônia và Akaia.
Vì từ nơi anh em, Tin mừng vang dội không những trong xứ Macêđônia và Akaia, mà còn trong mọi nơi; lòng tin của anh em vào Thiên Chúa đã quá rõ rồi, đến nỗi chúng tôi không còn nói thêm làm gì nữa. Vì người ta thuật lại việc chúng tôi đã đến với anh em thế nào, và anh em đã bỏ tà thần trở về với Thiên Chúa làm sao để phụng thờ Thiên Chúa hằng sống và chân thật, để trông đợi Con của Người từ trời mà đến, “Đấng mà Người đã làm cho từ cõi chết sống lại”, là Đức Giêsu, Đấng đã giải thoát chúng ta khỏi cơn thịnh nộ sắp đến.
TIN MỪNG: Mt 22,34-40
34 Khi nghe tin Đức Giê-su đã làm cho nhóm Xa-đốc phải câm miệng, thì những người Pha-ri-sêu họp nhau lại. – 35 Rồi một người thông luật trong nhóm hỏi Đức Giê-su để thử Người rằng: 36 “Thưa Thầy, trong sách Luật Mô-sê, điều răn nào là điều răn trọng nhất ?” 37 Đức Giê-su đáp: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. 38 Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. 39 Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: “ Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. 40 Tất cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy.”
SUY NIỆM
A/ 5 phút với Lời Chúa
GIỚI RĂN TRỌNG NHẤT
“Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi.” (Mt 22,36)
Suy niệm: Yêu mến một Thiên Chúa duy nhất hết lòng hết dạ, hết sức lực, là lời kinh rất quen thuộc người Do Thái vẫn đọc sáng tối hằng ngày. Lời kinh này được dân Chúa lặp lại mỗi ngày không chỉ để cầu nguyện, hay chỉ để nhắc nhở nhau phải ghi tạc vào lòng, thực thi giới răn Thiên Chúa, nhưng còn giúp định hướng ngày sống, toàn bộ đời mình vào Thiên Chúa. Chỉ có một Thiên Chúa duy nhất, là Đấng con người phải đặt để trên tất cả mọi sự, và lòng yêu mến Thiên Chúa ấy sẽ giúp người ta nhận ra việc phải làm để sống đẹp lòng Ngài. Nói khác đi, khi yêu mến Thiên Chúa trên tất cả mọi sự thì con người sẽ lắng nghe, thi hành mọi điều Thiên Chúa truyền dạy để tôn vinh Ngài.
Mời Bạn: Thánh Gio-an đã xác quyết rằng: “Ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình”… “vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (Ga 4,20b-21). Bạn xét xem bạn đã yêu mến Thiên Chúa đủ để giúp bạn yêu thương người thân cận như Chúa muốn không? Nếu chưa, bạn làm gì để thêm lòng yêu mến Chúa hơn trong đời mình?
Sống Lời Chúa: Mỗi ngày bạn làm ít nhất một việc bác ái cho người thân cận để tỏ lòng yêu mến Chúa, chứ không vì một động lực nào khác.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, cảm tạ Chúa đã yêu thương chúng con đến cùng. Xin giúp chúng con ngày càng cảm nghiệm sâu hơn về tình yêu ấy. Nhờ đó, chúng con nỗ lực gắn kết với Chúa mỗi ngày, biết sống yêu thương, quảng đại với mọi người để làm vinh danh Chúa. Amen.
B/ Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
Qua Lời Tổng Nguyện của Chúa Nhật XXX Thường Niên, Năm A này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta xin cho mình: được thêm lòng Tin Cậy Mến, và biết yêu chuộng những điều Chúa truyền dạy, hầu chúng ta đáng được hưởng những gì Chúa hứa ban.
Tin, Cậy, Mến là ba nhân đức đối thần: càng tin tưởng, yêu mến, cậy trông vào Chúa, chúng ta sẽ càng yêu mến và mau mắn thi hành những gì Chúa truyền dạy. Bài đọc một của giờ Kinh Sách, được trích từ sách Khôn Ngoan cho thấy: Đức Chúa đã sáng tạo muôn loài, và Người cho chúng hiện hữu, mọi loài thụ tạo trên thế giới đều hữu ích cho sinh linh, chẳng loài nào mang độc chất hủy hoại. Bởi vì Thiên Chúa là Đấng sáng tạo ra muôn loài muôn vật, cho nên, những ai không ngừng tìm kiếm Chúa, và gắn kết với Người, thì được gọi là người khôn ngoan, và cái chết chẳng có quyền chi đối với họ, do bởi, đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hòa, khoan dung, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt.
Bài đọc hai của giờ Kinh Sách, được trích từ thư của thánh Cơlêmentê I, giáo hoàng, gửi tín hữu Côrintô cho thấy: Chúa thi ân cho mọi loài khi dựng nên trời đất trong trật tự hài hòa, và tất cả đều tuân theo lệnh của Chúa: mặt trời, mặt trăng và muôn ngàn tinh tú xoay chuyển trong trật tự hài hoà không chút sai lệch. Đấng Hoá Công vĩ đại và Chúa Tể muôn loài đã truyền cho tất cả những sự đó diễn ra trong bình an và hòa hợp. Do đó, với tư cách là người anh cả của vũ trụ này, chúng ta phải biết sống tương quan tốt đẹp với Thiên Chúa và với tất cả muôn loài Chúa đã dựng nên.
Bài đọc một của Thánh Lễ, được trích từ sách Xuất Hành cho thấy những lời cảnh báo, nhắc nhở Dân Chúa sống công bình và bác ái với nhau: Nếu các ngươi ức hiếp mẹ góa con côi, thì cơn giận Ta sẽ bốc lên chống lại các ngươi. Trong bài đọc hai, thánh Phaolô khen ngợi các tín hữu Thêxalônica đã từ bỏ ngẫu tượng, để phụng sự Thiên Chúa và chờ đợi Con của Người: Quả thế, từ nơi anh em, Lời Chúa đã vang ra, không những ở Makêđônia và Akhaia, mà đâu đâu người ta cũng nghe biết lòng tin anh em đặt vào Thiên Chúa, khiến chúng tôi không cần phải nói gì thêm nữa.
Để có thể sống theo những gì Chúa dạy, chúng ta không thể tìm kiếm sức mạnh ở đâu khác, ngoài Chúa. Do đó, trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 17, vịnh gia đã thân thưa cùng Chúa: Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là sức mạnh của con; lạy Chúa là núi đá, là thành lũy, là Đấng giải thoát con. Cũng vậy, câu Tung Hô Tin Mừng mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến với người ấy.
Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu đã trả lời cho nhà thông luật rằng: Tất cả Luật Môsê và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn: Mến Chúa và yêu người. Để sống được giới răn yêu thương của Chúa, chắc chắn, tự sức mình chúng ta không thể thực hiện được. Chúng ta được phát xuất từ tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa, và chúng ta sẽ quay về với Thiên Chúa nhờ tình yêu cứu độ của Người, cho nên, chúng ta phải quy hướng về Chúa: tìm nương ẩn nơi Chúa và cậy nhờ vào sức mạnh của Người.
Thiên Chúa sáng tạo muôn loài muôn vật là để tất cả cùng hiện hữu, và cùng tồn tại với nhau. Chúa mới là Chủ Tể, còn chúng ta là thụ tạo của Người, vì thế, chúng ta phải sống tâm tình Tin Cậy Mến đối với Chúa, và sống hòa hợp đối với nhau: yêu thương tha nhân và tôn trọng giữ gìn thiên nhiên vạn vật; yêu mến Chúa hết lòng, hết sức, trên hết mọi sự, và yêu thương tha nhân như chính mình, như chính Chúa đã yêu và thí mạng vì chúng ta.
Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của Người hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình, chúng ta là bạn hữu của Thiên Chúa, nếu chúng ta biết yêu mến Chúa, và tuân giữ Lời Chúa, cũng như, không ngừng tìm kiếm Chúa, và cậy dựa vào sức mạnh của Người. Nếu chúng ta được soi sáng bởi tình yêu tự hủy, và tự hiến của Chúa, thì lòng yêu mến của chúng ta sẽ được thanh luyện khỏi những ích kỷ, và những toan tính hẹp hòi, lúc bấy giờ, chúng ta sẽ dâng hiến cho Chúa cách quảng đại, và trao tặng cho tha nhân cách nhưng không. Chúng ta nguyện xin Chúa ban cho mình: biết đặt hết lòng Tin Cậy Mến vào Chúa, và biết yêu chuộng những điều Chúa truyền dạy, để chúng ta có thể sống giới luật yêu thương của Chúa cách tốt đẹp như lòng Chúa ước mong. Ước gì được như thế!
C/ Lm. Jos. Ph.D.Thạch, SVD
I. Bối cảnh
Mt 22,34-40 nằm trong loạt ba câu chuyện về thử thách mà nhóm lãnh đạo Do Thái liên tục đặt ra cho Đức Giêsu. Thử thách thứ nhất liên quan đến việc nộp thuế cho Kaisar (Mt 22,15-22). Thử thách thứ hai liên quan đến sự sống lại của nhóm những người Xađốc (Mt 22,23-33) và Mt 22,34-40 là thử thách thứ ba liên quan đến điều răn lớn nhất được một nhà thông luật đại diện cho nhóm Pharisêu thực hiện. Như vậy, thử thách cùng với thử thách thứ nhất đóng vai trò đóng khung cho bộ ba thử thách dựa trên tác nhân thử thách: Pharisêu – Xađốc – Pharisêu. Trong bối cảnh rộng hơn một chút, những câu chuyện này nằm trong hàng loạt những trannh luận giữa Đức Giêsu và nhóm lãnh đạo Do Thái đủ các phe phái và chức sắc trong kỳ giảng của Đức Giêsu tại Jêrusalem: Từ các thượng tế, kỳ mục đến các phái Pharisêu và Xađốc. Trong bối cảnh rộng hơn nữa, Mt 22,34-40 gợi nhớ đến hai bản văn quan trọng của sách Luật: Luật yêu Chúa (Đnl 6,5) và Luật yêu người (Lv 19,18).
II. Cấu trúc
Đoạn văn Mt 22,34-40 có cấu trúc đối xứng đồng tâm với trung tâm là hai thành phần “điều răn đứng đầu” và “điều răn thứ hai”, tượng trưng cho điều răn “yêu Thiên Chúa” và “yêu người thân cận”.
| Bối cảnh: Thử thách; nhân vật Pharisêu (34-35) Điều răn nào lớn hơn cả trong Luật (36) ‘phải yêu Thiên Chúa, bằng tất cả trái tim, linh hồn và sức lực ngươi’ (37) điều răn lớn và điều răn đứng đầu (38) điều răn thứ hai giống như điều răn ấy (39a) ‘phải yêu người thân cận như chính mình’ (39b) Toàn bộ Luật và Ngôn Sứ phụ thuộc vào hai điều răn đó (40) |
III. Một số điểm chú giải
- Nhóm Pharisêu và nhóm Xađốc: Về mặt bản chất hai nhóm này có niềm tin khác nhau. Việc kết hợp hai nhóm này lại với nhau là rất khó tin về mặt lịch sử vì hai nhóm này vốn có những niềm tin và truyền thống trái ngược nhau. Nhóm Pharisêu tin có các thiên thần, và linh hồn bất tử; Tin vào sự sống đời sau; Trong khi đó nhóm Xađốc không tin các thiên thần, linh hồn bất tử, hay sự sống đời sau (Mt 22,23; Mc 12,18; Lc 20,27). Thành viên của hai nhóm này có thể làm việc chung trong một Hội Đồng Do Thái (Cv 23,6), nhưng rất khó hòa hợp về mặt tôn giáo. Chỉ có tác giả Mátthêu gom hai nhóm này lại với nhau không những một lần mà đến hai lần. Lần thứ nhất, họ cùng đến với ông Gioan để được dìm trong sông Jorđan và bị gọi là rắn độc (Mt 3,4-12). Lần thứ hai, hai nhóm này lại cùng nhau đến thử Đức Giêsu bằng cách xin Người một dấu lạ từ trời (Mt 16,1). Hơn nữa, Đức Giêsu của Mátthêu cũng hay ghép hai nhóm này lại với nhau: “Phải coi chừng men Pharisêu và Xađốc” (Mt 16,6.11.12)[1]. Ơ đây họ không hợp lại với nhau, nhưng có chung một chiến tuyến. Họ thay phiên nhau thử thách, đánh bẫy Đức Giêsu. Mỗi nhóm tận dụng lợi thế riêng của mình. Nhóm Xađốc đặt ra câu hỏi hóc búa về sự sống lại; còn nhóm Pharisêu đặt câu hỏi liên quan đến cách thức đối xử với ngoại bang và dân tộc, và điều cốt lõi trong Luật. Cách nói “khi nghe Đức Giêsu đã làm cho phái Xađốc câm miệng, những người Pharisêu tụ họp lại với nhau” vừa cho thấy sự nối tiếp liên tục các cuộc thử thách nhóm lãnh đạo dành cho Đức Giêsu, vừa cho thấy nhóm này muốn chứng tỏ mình có khả năng hơn nhóm Xađốc.[2] Câu hỏi của người thông luật không phải ;là một câu hỏi xa lạ vì các rabbi cũng thường thảo luận với nhau về điều ran “nặng” và “nhẹ” và thỉnh thoảng họ cố gắng tóm tắt điểm chính yếu của Luật Môsê theo những bản văn của Cựu Ước.[3]
- Thử thách: Đây là động từ Đức Giêsu dùng để mô tả hành động của nhóm Pharisêu trong câu chuyện nộp thuế cho Kaisar. Họ là những người chuyên gia thử thách Đức Giêsu. “Thử thách” Đức Giêsu là làm cùng hành động với quỷ, Satan, kẻ cám dỗ trong trình thuật về “cám dỗ” trong Mt 4,1-11.[4] Cách nào đó, có thể nói họ đứng cùng chung chiến tuyến với quỷ để chống lại Đức Giêsu.
- Trong Luật … toàn bộ Luật và các Ngôn Sứ: Danh xưng “Luật” không có nghĩa như là luật pháp dân sự như người ta thường hiểu trong xã hội hiện đại. “Luật” được dịch từ tiếng Hy Lạp “ὁ νόμος”, thường có mạo từ xác định để chỉ một thực thể nhất định mà khi nói tới ai cũng biết. Thuật ngữ này có nguồn gốc trong tiếng Hípri là “Torah” [תּוֹרָה], nghĩa là những hướng dẫn, những lời dạy dỗ của Chúa dành cho dân, để họ sống xứng đáng căn tính của mình như là dân Chúa và được nhận phúc lành của Thiên Chúa. “Luật” là một ân huệ, một món quà của Thiên Chúa, hơn là những gì bó buộc, cấm đoán làm cho người ta thấy bất tiện, khó chịu. Chúng ta thấy nét đẹp của “Torah” được mô tả trong Tv 1: “Hạnh phúc thay người không bước đi theo lời khuyên của người xấu, cũng không đứng trong đường lối các tội nhân, cũng không ngồi chung với những người nhạo bang, nhưng Luật (torah) của Chúa là niềm vui của mình, và gẫm suy Luật Người ngày và đêm” (Tv 1,1-2). Cựu Ước thường gọi là “Sách Luật của ông Môsê” (בְּסֵ֙פֶר֙ תּוֹרַ֣ת מֹשֶׁ֔ה) (Gs 8,31.32), nói ngắn gọn là “Sách Luật” hoặc “Luật” (Gs 8,34). Sở dĩ nó được gọi là sách Luật của ông Môsê vì chính tay ông Môsê viết xuống (Đnl 31,9). Hơn nữa, đó chính là Luật Thiên Chúa ban cho dân qua ông Môsê (Ga 1,17; 7,19). Theo nghĩa rộng “Luật” (hoặc “Môsê” [Lc 16,29.31]; hoặc “Luật của Môsê”, [Cv 13,38 15,5], “truyền thống của Môsê” [Cv 15,1]) song song với “Các ngôn sứ” diễn tả toàn bộ Sách Thánh Hípri, trong đó “Các ngôn sứ” là phần thứ hai theo cách phân chia của Sách Thánh Hípri (I. Torah; II. Các Ngôn Sứ; và III. Các văn phẩm).[5] Tân Ước rất hay dùng cặp thuật ngữ này để ám chỉ toàn bộ Sách Thánh Hípri (Mt 5,17; 11,13; 7,12; 22,40; Lc 24,37; Ga 1,45; Cv 24,14; 26,22; 28,23; Rm 3,21). Trong các tác giả Tin Mừng, chỉ có Luca nhắc đến bộ ba “Môsê, các Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh”, như là tượng trưng cho toàn bộ Sách Thánh Hípri (Lc 24,24). Ngoài ra, Tân Ước cũng dùng cách nói “ông Môsê ra lệnh … Ông Môsê cho phép…” (Mt 19,7.8; Mc 10,3.4; Lc 5,14; Ga 8,5), “ông Môsê nói …” (Mt 22,24; Mc 7,10; Cv 3,22), “ông Môsê đã viết…” (Mc 12,19; Lc 20,28), “ông Môsê cho biết …” (Lc 20,37), “ông Môsê đã viết trong Luật” (Ga 1,45), để ám chỉ đến “Torah”, phần đầu tiên của Sách Thánh Hípri. Có vố số điều luật được quy định trong năm cuốn sách đầu tiên của bộ Sách Thánh Hípri. Chính vì thế, không dễ gì, người ta có thể nói điều nào là lớn hơn cả. Câu hỏi này đến từ một chuyên gia về Luật, một người đủ khả năng chứng thực rằng Đức Giêsu nói sai hay đúng. Ở đây, Mátthêu cho biết rằng, người thông luật này thuộc phái Pharisêu. Như thế, trong phái Pharisêu có thể có nhiều người thông luật.
- Chúa, Thiên Chúa: Cụm từ này là một danh xưng kép trong đó “θεός” (theos) là danh từ chung có nghĩa là “thần”, “Thiên Chúa”, và “κύριος” (kurios) là “ông chủ”, “chúa”. Nhóm dịch thuật CGKPV chọn thuật ngữ “Đức Chúa” để chuyển ngữ danh xưng “kurios”, phân biệt với “theos”, được chuyển ngữ là “Thiên Chúa” (Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi …). Dịch giả Nguyễn Thế Thuấn, chuyển ngữ danh từ “theos” thành “Thiên Chúa” tương tự như nhóm CGKPV, nhưng “kurios” được chuyển ngữ thành “Chúa” (ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa ngươi…”. Rõ ràng, các bản dịch tiếng Việt đều gây bối rối vì danh xưng “Chúa” cho cả hai thuật ngữ Hy Lạp. Các ngôn ngữ hiện đại khác dùng hai thuật ngữ hoàn toàn khác nhau để chuyển ngữ hai danh xưng này (Pháp: le Seigneur, ton Dieu; Ý: il Signore, tuo Dio; Anh: the Lord, your God), hay tiếng Latinh cũng vậy (Dominum, Deum). Hai danh xưng này có nguồn gốc trong tiếng Hípri. θεός là chuyển ngữ của “אֱלֹהִ֜ים” và “κύριος” là chuyển ngữ của “יְהוָ֙ה”.[6] Danh xưng “יְהוָ֙ה” chính là tên gọi đặc biệt mà Thiên Chúa đã mặc khải cho ông Môsê trong trình thuật về cuộc gặp gỡ của ông với Thiên Chúa nơi bụi gai rực cháy. Thiên Chúa tự xưng mình là “Thiên Chúa của cha ngươi, Thiên Chúa của Ápraham, Thiên Chúa của Isaác và Thiên Chúa của Giacóp” (Xh 3,6; Cf. 3,15.16). Ông Môsê đặt vấn đề nếu như dân Israel hỏi ông “tên của Người là gì?” thì ông phải trả lời họ thế nào. Thiên Chúa trả lời “Ta là Đấng Ta là” [אֶֽהְיֶ֖ה אֲשֶׁ֣ר אֶֽהְיֶ֑ה ] (Xh 3,14). Sau đó Thiên Chúa dặn ông Môsê nói cùng dân Israel rằng: “Chúa, Thiên Chúa [אֲלֵהֶם֙ יְהוָ֞ה] của tổ tiên anh chị em, Thiên Chúa của Ápraham, Thiên Chúa của Isaác, Thiên Chúa của Giacóp, đã gửi tôi đến với anh chị em. Đó là danh của Ta cho tất cả các thế hệ”. Người Do Thái không đọc danh xưng này, có lẽ vì tôn trọng danh của Thiên Chúa. Khi gặp danh xưng này, họ đọc thành “Adonai”, nghĩa là “ông chủ của tôi”. Một thời gian dài trong thế kỷ 20, người ta thấy trong các văn bản tiếng Việt bao gồm cả bản dịch Thánh Kinh và văn bản Giáo Hội gọi danh xưng này là Giavê hoặc Yavê, tương ứng các cách dùng Tiếng Anh: Yahweh, Yahwè, Jahweh, Jahwè, Jave, Yehovah. Tuy nhiên, ngày 29/06/2008, ĐHY Arinze, tổng trưởng bộ Phụng Tự và Kỷ Luật các Bí Tích đã ban huấn thị chỉ thỉ rằng, cách phiên âm tên riêng của danh thánh Thiên Chúa “יְהוָ֞ה” không được dùng nữa, vì tôn trọng thánh danh Chúa, như người Do Thái. Chính vì thế, các bài hát có chữ Giavê, Yavê thường không được dùng nữa.
- “Yêu bằng tất cả trái tim, và bằng tất cả linh hồn và bằng tất cả sức lực ngươi”: Đây là một câu trích dẫn từ bản văn nòng cốt của sách Đệ Nhị Luật, thường được xem là bản tuyên xưng đức tin của người Israel:[7]
“Hãy nghe, hỡi Ítrael! Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Chúa, Thiên Chúa của ngươi, bằng cả trái tim, với toàn thể linh hồn và với toàn thể sức lực ngươi. Hãy đưa những lời này, mà tôi truyền lệnh cho ngươi hôm nay vào trong lòng ngươi. Ngươi phải lặp lại những lời ấy cho con cái, phải nói lại cho chúng, lúc ngồi trong nhà cũng như lúc đi đường, khi đi ngủ cũng như khi thức dậy, phải buộc những lời ấy vào tay làm dấu, mang trên trán làm phù hiệu, phải viết lên khung cửa nhà ngươi, và lên cổng thành ngươi.” (Đnl 6,4-9)
Đây là mệnh lệnh mà dân Ítrael lặp đi lặp lại mỗi phútgiây và dạy rất kỹ. Tính từ “ὅλῃ” (tất cả/toàn thể, Hípri, כֹּל) được lặp lại ba lần như muốn nhấn mạnh. Ba cụm giới từ “bằng tất cả trái tim”, “bằng tất cả linh hồn”, “bằng tất cả thân xác” ngụ ý toàn thể con người trong ngoài không có phần nào không tham gia vào hành động “yêu thương” dành cho Thiên Chúa. Tác giả Luca còn thêm vào cụm giới từ “hết trí năng ngươi” (ἐν ὅλῃ τῇ διανοίᾳ σου). Xem ra, tác giả Luca cảm thấy cần phải thêm phần trí năng của con người nữa, phần rất được đề cao trong thế giới triết lý Hy Lạp, thế giới mà tác giả Luca thấm nhuần. Đức Giêsu nhấn mạnh đây là điều răn thứ nhất và là điều răn đứng đầu, nhằm trả lời cho phép so sánh “điều răn lớn hơn cả”. “Thứ nhất” cũng đối lại với “thứ hai” và Người sẽ giới thiệu tiếp tục.
- “Yêu người thân cận như chính mình”:[8] Người thông luật, đại diện cho nhóm Pharisêu hỏi “điều răn lớn nào” (số ít), Đức Giêsu giới thiệu hai điều răn. Người nhấn mạnh bằng tính từ so sánh “giống như nó”. Đó là: “Ngươi phải yêu người thân cận của ngươi như chính ngươi”. Mệnh lệnh này được trích lại từ sách Lêvi: “Ngươi không được báo thù và cũng không được nuôi lòng giận hờn con cái của dân ngươi và phải yêu người thân cận (bạn hữu) như chính mình, Ta là Chúa!” (Lv 19,18). “Yêu người thân cận” là chiều tích cực, đối lại với hai lệnh cấm “không được báo thù” và “không được nuôi lòng giận hờn”. “Con cái của dân ngươi”, đối lại với “người thân cận” (bạn hữu). Trạng từ “πλησίον” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là gần, sát bên. Khi dùng với chức năng danh từ có mạo từ đi kèm, nó thường được hiểu là “người thân cận”, “người hàng xóm”, “đồng bạn”, “bạn đồng hương”, “người đồng đạo”. Danh từ này xuất hiện 6 lần trong Lv 19,11-18. Trong 3 câu (16.17.18), danh xưng này đều đi song song với một danh từ mô tả những người đồng chủng tộc Israel. Cụ thể, “không được vu khống (người) trong dân ngươi” // cũng không được đứng yên khi mạng sống của người thân cận ngươi bị đe dọa” (Lv 19,16); “Không được ghét người anh em của ngươi bằng suy nghĩ của người // hãy sửa dạy người thân cận của ngươi công khai và ngươi không mắc tội vì anh ta” (Lc 19,17); “Ngươi không được báo thù và cũng không được nuôi lòng giận hờn con cái của dân ngươi nhưng phải yêu người thân cận (bạn hữu) như chính mình, Ta là Chúa!”. Như thế, khái niệm “người thân cận” ở đây dường như ngụ ý đến những người đồng chủng tộc Israel, hơn là khái niệm liên quan đến sự gần về mặt địa lý.
“Các ngươi không được trộm cắp, không được nói dối, không được lừa gạt người thân cận mình. Các ngươi không được lấy danh Ta mà thề gian: làm thế là ngươi xúc phạm đến danh Thiên Chúa của ngươi. Ta là Chúa. Ngươi không được bóc lột người thân cận, không được cướp của; tiền công người làm thuê, ngươi không được giữ lại qua đêm cho đến sáng. Ngươi không được rủa người điếc, đặt chướng ngại cho người mù vấp chân, nhưng phải kính sợ Thiên Chúa của ngươi, Ta là Chúa. Các ngươi không được làm điều bất công khi xét xử: không được thiên vị người yếu thế, cũng không được nể mặt người quyền quý, nhưng hãy xét xử công minh cho người thân cận. Ngươi không được vu khống những người trong dân tộc, không được ra tòa đòi người thân cận phải chết. Ta là Chúa. Ngươi không được để lòng ghét người anh em, nhưng phải mạnh dạn quở trách người thân cận, như thế, ngươi sẽ khỏi mang tội vì nó. Ngươi không được trả thù, không được oán hận những người thuộc về dân ngươi. Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Ta là Chúa.” (Lv 19,11-18).
Điều răn thứ hai được trích ra từ đoạn văn trên, không xa lạ gì đối với độc giả của Tin Mừng Mátthêu, vì trước đó, Đức Giêsu đã nhắc đến điều răn này: “Anh em đã nghe nói rằng: Phải yêu người thân cận và ghét kẻ thù. Nhưng tôi nói cùng anh em hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ anh em, để ngươi có thể là con cái của Cha anh em trên trời, Đấng cho mặt trời mọc lên trên kẻ xấu cũng như người tốt, cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,43-45). Đối tượng yêu thương được Đức Giêsu mở rộng ra ở mức độ vô tận. Bởi lẽ, khi người ta có thể yêu kẻ thù thì không còn ai mà họ không thể yêu nữa.
Trong trình thuật của tác giả Luca, người thông luật còn hỏi thêm: “Nhưng ai là người thân cận của tôi”. Để giải thích cho khái niệm “người thân cận”, Đức Giêsu kể cho ông ta nghe dụ ngôn “Người Samari nhân hậu” (Lc 10,29-37). Khi đưa ra những hình ảnh trái ngược giữa nhóm “người đi từ Jêruslem đến Jêrikhô, người tư tế, người Lêvi” với “người Samari”, Đức Giêsu dường như muốn nói rằng “người đồng hương, đồng chủng tộc Israel” chưa chắc đã là “người thân cận” (theo quan niệm của người Israel, đại diện là người thông luật”. Người thân cận được mở rộng ra cho bất kỳ một người nào, không giới hạn chủng tộc, màu da, sống gần bên. Một khi người ta biết tỏ lòng thương xót với những người hoạn nạn là tức khắc trở thành “người thân cận” của họ.
- “Như chính mình”: Đây là cách đối chiếu nhằm diễn tả mức độ cao nhất của tình yêu. Tác giả thư Giacôbê cũng nhắc lại quy chuẩn này móc nối với việc làm điều tốt: “Đã hẳn anh em làm điều tốt nếu anh em chu toàn Luật Thánh đưa lên hàng đầu: “Phải yêu mến người thân cận như chính mình” (Gc 2,8). Phaolô dùng quy chuẩn này cho tình yêu chồng vợ: “Mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình” (Ep 5,33). Khi trao ban “điều răn mới”, Đức Giêsu chuyển điểm quy chiếu vào tình yêu mà Người đã dành cho các môn đệ: “Hãy yêu nhau như chính Thầy đã yêu anh em” (Ga 13,34). Tình yêu của Đức Giêsu dành cho các môn đệ bây giờ là tình yêu cao nhất: Tình yêu của người hy sinh mạng sống vì người yêu của mình (Không ai có tình yêu lớn hơn tình yêu này, rằng một ai đó có thể chết tự nguyện vì người yêu của mình: μείζονα ταύτης ἀγάπην οὐδεὶς ἔχει, ἵνα τις τὴν ψυχὴν αὐτοῦ θῇ ὑπὲρ τῶν φίλων αὐτοῦ, Ga 15,13; Cf. Ga 10,11). Tác giả thư thứ nhất Gioan diễn giải lại điều rằn rằng: “Căn cứ vào điều này chúng ta biết được tình yêu là gì: ‘Đó là Đức Kitô thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em’” (1 Ga 3,16).
- “Đều phụ thuộc vào hai điều ấy”: Đức Giêsu khẳng định tính “lớn, quan trọng” của hai điều răn này bằng cách nói nhấn mạnh. Thứ nhất cụm giới từ “nơi hai điều răn này” (ἐν ταύταις ταῖς δυσὶν ἐντολαῖς) được đưa ra đầu câu. Thứ hai, tính từ “ὅλος” (tất cả) được đặt trước hai danh từ “Luật và Ngôn Sứ”. Người thông luật hỏi là “trong Luật”, Đức Giêsu cho thấy hai điều răn này không chỉ “lớn hơn cả” trong Luật và còn trong “Các ngôn sứ” nữa. Nghĩa là, toàn bộ Sách Thánh Cựu Ước đều phụ thuộc vào hai điều này.
IV. Bình luận tổng quát
Những người Pharisêu, sau thất bại trong cuộc thử thách về “nộp thuế cho Kaisar”, trở lại trong vụ thử thách về “điều răn lớn”. Đây là thử thách thứ ba trong bộ ba thử thách có cấu trúc inclusio (Pharisêu: Nộp thuế cho Kaisar – Xađốc: Sự sống lại đời sau – Pharisêu: Điều răn lớn nhất). Câu hỏi về “điều răn lớn trong Luật” có thể khiến cho Đức Giêsu phải bối rối vì có quá nhiều quy định trong toàn bộ Ngũ Thư, năm cuốn sách đầu tiên của bộ Sách Thánh Do Thái. Theo thính toán của truyền thống Rabbi, có đến 613 điều răn trong Luật.[9] Tuy nhiên, Đức Giêsu không những giới thiệu cho họ một điều mà hai điều. Trong khi điều thứ nhất dường như không còn xa lạ đối với tất cả những người Do Thái, nhất là các nhà thông luật, thì điều thứ hai có lẽ làm cho các ông bất ngờ. Trong Mt 23,23, Đức Giêsu đã chỉ trích các Kinh Sư và những người Pharisêu vì họ giữ những điều nhỏ như là đóng thuế thập phân mà làm ngơ những điều quan trọng hơn là “công bằng, thương xót, và đức tin”. Đức Giêsu còn khẳng định về tầm ảnh hưởng của các điều răn này: Không chỉ “trong Luật” mà còn “toàn thể Ngôn Sứ”. Trong khi “Phải yêu Chúa, Thiên Chúa” là đòi buộc thể hiện tương quan tình yêu theo chiều dọc (người – Chúa), thì “phải yêu người thân cận” là điều không thể thiếu của tương quan chiều ngang (người – người). Tình yêu chiều dọc không thể thiếu tình yêu theo chiều ngang và ngược lại, tình yêu theo chiều ngang không thể chuẩn chỉnh được nếu không có tình yêu theo chiều dọc. Tư tưởng của tác giả thư 1 Ga là một minh họa sắc nét cho sự tương hợp giữa hai khía cạnh này của tình yêu: “Nếu ai nói: ‘Tôi yêu Thiên Chúa mà lại ghét người anh em của mình, kẻ ấy là kẻ nói dối trá; Vì ai không yêu người anh em mà họ nhìn thấy, thì không thể yêu Thiên Chúa, Đấng mà họ không nhìn thấy. Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người: ‘Ai yêu Thiên Chúa thì cũng yêu người anh em của mình”’ (1 Ga 4,20-21). Nói theo ngôn từ của Bài Giảng trên núi, Tin Mừng Mátthêu: “Nếu khi anh đang dâng của lễ trên bàn thờ, mà ở đó anh nhớ rằng người anh em của anh đang có gì đó chống lại anh, thì hãy để của lễ của anh lại trước bàn thờ và hãy đi trước hết hòa giải với người anh em của anh, rồi đến đâng của lễ của mình” (Mt 5,23-24). Các câu này là minh họa sống động cho lời dạy “không được giận người anh em của mình”, “không được chê người anh em là raqa (đồ khờ)”, và không được gọi người anh em là “đồ ngu ngốc” (Mt 5,22). Tác giả Máccô còn thêm vào cụm từ bổ túc “là điều quý hơn mọi của lễ toàn thiêu và hy lễ”, sau khi liệt kê hai điều răn (Mc 12,33). Nghi Lễ phải phát xuất từ tình yêu bằng cả con người. Mặc dù cả hai điều Đức Giêsu trích dẫn không nằm trong bản Thập Điều (Mười điều răn), nhưng nó bao hàm hai phần nền tảng của Thập Điều: Phần đầu là những điều răn liên quan đến tình yêu dành cho Thiên Chúa và phần sau là những điều răn liên quan đến cách đối xử với tha nhân.[10] Tình yêu đối với Thiên Chúa, phải mang tính tuyệt đối và bao trùm tất cả mọi khía cạnh của con người thể lý và tâm linh. Nền tảng quy chuẩn cho tình yêu với tha nhân được mô tả nơi cụm “như chính mình”. Cụm từ này giả định một mức độ yêu lý tưởng nhất, vì không ai ghét chính mình, và họ yêu bản thân họ trước hết, và ưu tiên nhất. Dĩ nhiên, cũng nên nói thêm quy chuẩn của tình yêu đối với tha nhân theo thần học Tin Mừng thứ tư trong điều răn mới là: “Như chính Đức Giêsu đã yêu” (Ga 13,34: Hãy yêu nhau như chính Thầy đã yêu anh em). Toàn bộ mọi chỉ dẫn trong toàn bộ Sách Thánh Hípri đều tùy thuộc vào hai điều răn này. Đó là Tin Mừng mà Đức Giêsu muốn giới thiệu. Tình yêu dành cho Thiên Chúa vốn được thể hiện qua những nghi lễ phụng tự, kinh nguyện và dâng hy lễ, nhưng không thể thiếu thực tế trong đời sống hằng ngày qua những hành động cụ thể đối với những người chung quanh, vốn là hình ảnh của Thiên Chúa, và cũng là những người anh em chị em trong đại gia đình Thiên Chúa. Đức Giêsu gắn bó với Thiên Chúa Cha qua những giờ phút cầu nguyện thâu đêm suốt sáng, nhưng hằng ngày, Người rong ruổi khắp nơi để mang Tin Mừng cho người nghèo khổ, tội lỗi, chữa lành những người đau yếu, trao ban hồng ân của Thiên Chúa. Người muốn các người thông luật xác tín điều đó để sống và giải thích cho người khác.
D/ Lm. Giuse Đinh Lập Liễm
A.DẪN NHẬP
Tình yêu! Một từ rất quen thuộc, ai cũng biết nhưng người ta chưa hiểu hết nội dung phong phú của nó, hoặc hiểu tình yêu một cách lệch lạc hoặc hiểu một cách phiến diện. Do đó, nhiều khi người ta đã làm mất ý nghĩa cao quý của tình yêu, đồng hoá tình yêu với tình dục. Người ta chỉ biết dùng tình yêu để tìm đến những thú vui hạ đẳng mà không biết nâng cao tâm hồn lên.
Tình yêu mà phụng vụ đề cập đến hôm nay là một tình yêu hoàn hảo, tinh tuyền, cao thượng, phổ quát và phong phú nhất. Tình yêu trong phụng vụ chính là Bác ái công giáo (Caritas). Bác ái là yêu thương một cách rộng rãi như thánh Augustinô đã nói: “Giới hạn của tình yêu là không có giới hạn nào”. Đó là tình yêu đối với Thiên Chúa và đối với tha nhân. Hai tình yêu này khác nhau chăng? Thưa không. Chẳng những hai tình yêu này không tách rời nhau mà còn quyện lấy nhau: chỉ là một. Chính tình yêu này giúp chúng ta yêu mến Chúa và phục vụ tha nhân.
Người đời chê những người chỉ biết yêu trên lỗ miệng, mà không bao giờ đem ra thực hành bằng những việc làm cụ thể và coi đó chỉ là tình yêu giả dối:
Thương miệng thương môi
Thương miếng xôi miếng thịt.
Theo Đức cha Arthur Tonne thì yêu mến Chúa là “ao ước làm vui lòng Chúa” và yêu tha nhân là “làm điều thiện hảo cho họ”. Tình yêu đối với Chúa cũng như đối với tha nhân luôn phải kèm theo những đặc tính là hy sinh, phục vụ và dâng hiến. Bất cứ làm việc gì cũng phải được thực hiện trong tình yêu thì mới có giá trị: “Ama et fac quod vis” (Thánh Augustinô): yêu mến đi rồi làm gì thì làm.
B.TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1: Xh 22,21-27
So sánh Cựu ước và Tân ước, ta thấy Cựu ước còn thô sơ, Tân ước mới hoàn chỉnh. Chính vì thế mà Chúa Giêsu đã nói: “Ta đến không phải để hủy bỏ lề luật và các tiên tri, nhưng để kiện toàn”. Chính vì vậy mà Cựu ước có nhiều điều luật dạy người Do thái phải yêu thương đồng bào mình. Nhưng tình yêu này có tính cách cục bộ.
Bài đọc 1 này trích từ sách Xuất hành nói rõ về đức bác ái và công bình đối với người Do thái với nhau, nhất là đối với những người yếu và kém may mắn nhất: người goá bụa, mồ côi và nghèo khó.
Điểm đặc biệt trong bài đọc hôm nay nói đến tình yêu đối với những người ngoại kiều đang sống trên đất nước mình nữa. Họ là những người đáng thương thiếu sự nâng đỡ và bảo đảm. Chúa đứng ra bênh vực cho họ. Nếu họ là nạn nhân của bất công, họ cứ kêu Chúa và Chúa sẽ đến giúp họ, trừng trị những kẻ nào cư xử xấu đối với họ.
+ Bài đọc 2: 1Tx 1,5c-10
Trong thư gửi cho tín hữu Thessalonica, thánh Phaolô tỏ ra hết sức vui mừng và khen ngợi giáo đoàn vì họ đã mau mắn đón nhận Tin mừng Ngài rao giảng, và đã cố gắng sống Tin mừng ấy trong những hoàn cảnh thật khó khăn.
Thật vậy, dân Thessalonica đã trở nên gương mẫu cho thế giới Hy lạp: đức tin của họ sống động và sáng chói, đến nỗi họ trở thành gương mẫu cho nhiều nơi khác noi theo.
+ Bài Tin mừng: Mt 22,34-30
Trong bài Tin mừng tuần lễ trước, nhóm biệt phái và Hêrôđê đã thất bại trong việc gài bẫy Chúa Giêsu về vấn đề nộp thuế cho vua César. Họ chưa chịu thua, lần này họ cử một tiến sĩ luật để tranh luận với Chúa Giêsu về vấn đề: điều răn nào trọng nhất trong sách Luật.
Câu hỏi này không phải là dễ trả lời. Trong sách Luật Do thái có 613 điều luật, thật là một rừng luật vì còn nhiều điều luật phụ nữa. Mỗi nhóm thích giữ một điều luật và cho điều luật ấy là quan trọng hơn cả. Nếu Chúa Giêsu chọn một điều luật nào đó thì sẽ làm phật lòng các nhóm khác.
Nhưng Chúa Giêsu đã đưa ra một câu trả lời rất xuất sắc làm cho vị tiến sĩ luật không hỏi gì thêm nữa. Câu trả lời này vừa mới mẻ, lại vừa rộng rãi:
– Một là mến Chúa và yêu người rút ra từ các điều luật trong các sách Luật.
– Hai là liên kết hai luật ấy: điều luật đã mến Chúa thì phải yêu người, yêu người là yêu Chúa.
– Ba là có thể tóm gọn hai luật ấy bằng một luật duy nhất là luật yêu thương.
Như vậy, Yêu thương hay Bác ái là cốt lõi của mọi điều luật và nếu phải cần đến một từ để tóm tắt cả Phúc âm thì đó là yêu mến.
C.THỰC HÀNH LỜI CHÚA:
MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI
I.BỐI CẢNH CÂU TRUYỆN
Sau khi thất bại trong việc gài bẫy Chúa Giêsu trong việc nộp thuế cho vua César, nhóm biệt phái muốn tấn công Chúa Giêsu bằng một đòn khác: họ sai một tiến sĩ luật đến hỏi thử Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, trong lề luật điều răn nào trọng nhất?”
Chữ “Lề luật” ở đây có ý chỉ toàn thể lề luật trong Cựu ước. Câu hỏi này không nhằm một trường hợp đặc biệt nào, nhưng muốn tìm biết điểm cốt yếu trong lề luật. Luật Do thái gồm 613 điều luật, trong đó có 365 điều luật cấm và 248 điều luật truyền làm. Các điều đó chia làm trọng luật và khinh luật. Phạm khinh luật thì chịu phạt đền tội, nhưng phạm trọng luật như giết người, thờ tà thần, gian dâm… thì bị tử hình.
Sở dĩ đặt câu hỏi này là vì một đàng các phe nhóm không đồng ý với nhau về điều răn nào là quan trọng nhất, đàng khác họ muốn thử Chúa Giêsu để gài bẫy Ngài, vì nếu Ngài trả lời điều luật này trọng, điều luật kia không trọng thì thế nào Ngài cũng bị quy lỗi là về phe nhóm này, chống nhóm kia, và như vậy Ngài thiên vị và không còn được kính nể nữa.
Chúa Giêsu đã trả lời một cách rất rõ ràng, rất hợp và xác đáng: “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là giới răn thứ nhất và trọng nhất”. Câu luật này trích trong sách Đệ nhị luật 6,5 có đổi một chút, thay vì “hết sức” thì Chúa nói là “hết trí”. Song cốt yếu không có gì đổi.
Chúa Giêsu còn thêm: “Nhưng điều răn thứ hai cũng giống điều răn ấy là ngươi hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi”. Luật này trích ở sách Lêvi 19,18. Chúa đem điều luật yêu người này đặt ngang hàng với điều luật mến Thiên Chúa là một điểm đặc sắc của Chúa Giêsu, làm cho đạo của Chúa vô cùng cao quý và vô cùng hấp dẫn. Tất cả mọi điểm khác trong luật hoặc các điều luật khác chỉ là để chú giải cắt nghĩa hai điều luật đó thôi.
Kẻ khác hay cũng gọi là tha nhân, theo quan niệm của người Do thái đương thời, thì tha nhân chỉ là những người đồng chủng, đồng hương, đồng xứ (Lv 19,18). Nhưng ở đây chữ “kẻ khác” Chúa có ý dạy phải thương yêu mọi người, chứ không giới hạn trong những người đồng hương với nhau (Mt 25,40; Lc 5,43), không những thế mà lại còn phải yêu thương cả địch thù nữa (Mt 5,43). “Như chính mình”: Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh người được yêu đồng hoá với người yêu, vì vậy, phải yêu thương tha nhân cũng bằng chính tình yêu đối với bản thân mình.
II.NÓI VỀ CHỮ YÊU
1.Chưa có một định nghĩa thỏa đáng
Người ta đã định nghĩa rất nhiều về tình yêu, nhưng chưa có một câu định nghĩa nào thoả đáng khiến cho mọi người chấp nhận. Ví dụ Thần học định nghĩa yêu là “diffusivum sui boni”: yêu là thông ban ra sự tốt lành của mình. Câu định nghĩa ấy còn rất trừu tượng.
Thi sĩ Xuân Diệu cũng chịu, không định nghĩa nổi, khi ông nói:
Làm sao cắt nghĩa được tình yêu,
Nó đến với ta một buổi chiều.
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu.
Thi sĩ Hồ Dzếnh cũng chịu bó tay khi ông nói:
Yêu là khó nói cho xuôi,
Bởi ai hiểu được sao trời lại xanh.
Theo thánh Phaolô tông đồ thì “Yêu là cho tất cả, nhận tất cả và chịu đựng tất cả” (x. 1Cr 13,7).
Thánh Gioan tông đồ thì nói: “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết tình yêu là gì: đó là Đức Kitô đã phó mạng vì chúng ta”(1Ga 3,16).
Giới trẻ thì đưa ra nhiều định nghĩa tùy theo cái nhìn của mình. Đại khái:
* Yêu là chết trong lòng một ít (cf Xuân Diệu).
* Yêu là đau khổ.
* Yêu là hy sinh (x. Mt 16,24; Mc 10,52).
* Yêu là phục vụ (x. Ga 13,4-11).
* Yêu là dâng hiến (x. 1Cr 13,7).
* Yêu là quên mình.
Từ ngữ YÊU ở đây không hẳn là AMOR, một thứ tình yêu còn mang tính chất xác thịt mà người Hy lạp gọi là EROS (ái tình), mà đúng ra là CARITAS (Bác ái hay Đức mến). Khi nói đến Tình yêu thì Giáo hội Kitô giáo dùng chữ CARITAS. Từ ngữ Caritas mang một âm thanh vô cùng khả ái đối với hết mọi người – bất kể sắc tộc, tôn giáo hay chính kiến – mỗi khi nghe đến, vì nó là biểu tượng cho tình yêu tha nhân phổ quát của Kitô giáo, một tình yêu bắt nguồn và luôn dựa trên nền tảng tình yêu Thiên Chúa (x. 1Ga 4,6).
Thánh Phaolô, khi nói đến tình yêu thì ngài dùng chữ Caritas (Đức mến). Trong thư gửi cho tín hữu Côrintô, ngài nói: “Đức mến (caritas) thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả. Đức mến không bao giờ mất được… Hiện nay đức tin, cậy, mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1Cr 13,1-13).
2.Yêu trong thực hành
Chúng ta không muốn đưa ra những câu định nghĩa trừu tượng mà đi vào thực hành trong cuộc sống.
Chúng ta có thể nhận câu định nghĩa của Đức cha Arthur Tonne: “Yêu mến Chúa là gì? Yêu mến Chúa là ao ước làm vui lòng Chúa. Lệnh truyền của Chúa có thể đọc là: Con hãy ao ước làm vui lòng Chúa”.
Yêu mến tha nhân có nghĩa là ao ước làm điều thiện hảo cho họ. Chúng ta không thể “làm điều thiện hảo” cho Chúa, nhưng chúng ta có thể ao ước làm vui lòng Ngài. Chúng ta có thể và phải làm điều thiện hảo cho tha nhân. Một trong những cách tốt nhất để làm vui lòng Chúa là làm điều thiện hảo cho tha nhân. Đã có những lần Chúa Giêsu nói với chúng ta rằng: ai yêu mến Chúa thì tuân giữ giới răn của Ngài. Cách đây vài Chúa nhật, chúng ta đã thấy rằng giới răn của Chúa là bằng chứng tình yêu của Ngài đối với chúng ta. Tuân giữ điều răn Chúa là bằng chứng tình yêu của chúng ta đối với Ngài (GM Arthur Tonne, Bài giảng Tin mừng, năm A, tr 130).
III.ĐẶC TÍNH CỦA TÌNH YÊU
1.Tình yêu và hy sinh
Nhà đạo chúng ta sử dụng quen thuộc hai từ “hy tế” và “hy lễ”. Theo từ nguyên Hán thì HY là con trâu thui và SINH là con lợn luộc. Thời nhà Thanh bên Trung quốc, người ta dùng hai lễ vật này để tế Trời ban cho mưa thuận gió hoà. Nếu dùng chữ “hy lễ” và “hy tế” thì chỉ là tế con trâu thui. Nếu dùng từ HY SINH thì có nghĩa là “tế lễ hy sinh”.
Vậy tình yêu và hy sinh phải đi đôi với nhau. Đã yêu thì phải hy sinh: yêu Chúa thì phải dâng lễ hy sinh cho Chúa. Cho nên, khi dùng từ “hy sinh” thì nó gồm cả: chết trong lòng một ít, đau khổ, phục vụ, dâng hiến, quên mình…
Trên đường đời không có con đường nào bằng phẳng cả, nhất là con đường tình yêu. Tình yêu cũng có thử thách, gian nan, đau khổ. Nói chung nó đòi phải hy sinh. Mối tương quan sâu xa giữa tình yêu và hy sinh đau khổ đã là đề tài muôn thuở của thi ca và tiểu thuyết, cũng như nghệ thuật thứ bảy. Và người ta thường ví tình yêu và đau khổ cũng như hoa hồng với gai: không thể có hoa hồng mà không có gai. Mối tương quan có thể nói là “biện chứng” này được diễn tả gọn chỉ trong hai từ ghép lại thành một, đó là “yêu thương” hay là thương yêu: yêu thương cùng với đau thương một vần là thế (x. Thiện Cẩm, Suối nguồn tình yêu, tr 62).
2.Thánh giá là biểu tượng tình yêu
Theo Phúc âm chữ “Yêu” liền với chữ “Thập” nhưng vẫn là yêu. Đó là tình yêu Thập giá. Việc chịu đóng đinh thập giá là DẤU CHỈ gây ấn tượng sâu sắc về tình yêu vĩ đại Chúa Giêsu dành cho chúng ta. Chúa Giêsu đã nói:“Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hiến mạng sống vì bạn hữu mình” (Ga 15,13).
Tôi rất vui mừng vì Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta dấu chỉ vĩ đại ấy, chúng ta cần biết rằng mình đáng yêu vì nếu chúng ta không thấy mình đáng yêu, chúng ta không thể yêu mến kẻ khác được. Tại sao chúng ta không thể yêu nếu không thấy mình đáng yêu? Lý do đơn giản Tình yêu là một món quà tự hiến. Và nếu chúng ta không thấy mình là đáng yêu – và vì thế đáng giá – thì chúng ta sẽ không trao tặng chính mình cho kẻ khác được.
Nói tóm lại, chẳng ai đem cho đồ rác rưởi cho kẻ mình khâm phục sâu xa. Vì thế điều đầu tiên mà sự đóng đinh thập giá đem lại chính là dấu chỉ tình yêu mà Chúa Giêsu dành cho chúng ta. Chúng ta đáng giá và đáng yêu mến đến mức Đức Giêsu tự hiến mạng vì chúng ta (M. Link, Giảng lễ Chúa nhật, năm A, tr 307).
3.Tình yêu trong phục vụ
Cây Thánh giá là biểu tượng của hai mối tình chí thiết: thanh dọc là bàn tay dâng lên Thiên Chúa, thanh ngang là vòng tay ôm lấy anh em. Thiên Chúa và anh em chỉ là một mối tình duy nhất đi về hai hướng. Đây chính là cốt lõi của mạc khải vậy. Người hành khất ngồi bên vệ đường run lập cập vì lạnh giá, được thánh Martinô thành Tours chia cho một nửa chiếc áo choàng phủ thân, chính là Ngài: “Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc, Ta đau yếu các ngươi đã đến thăm, Ta bị tù đày các ngươi đã đến với Ta… Những gì các ngươi làm cho một trong các anh em bé mọn của Ta, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,36).
Tình yêu phải được thực hiện trong tinh thần phục vụ. Chính Chúa Giêsu đã làm gương trong tinh thần ấy khi Ngài nói: “Ta đến không phải được phục vụ, nhưng để phục vụ và đem giá máu của mình để cứu chuộc muôn người”. Có rất nhiều gương sáng chói trong công cuộc phục vụ những người nghèo và nhất là những người bệnh nạn, đau khổ.
Truyện: Chị nữ tu phục vụ
Mẹ Têrêsa Calcutta kể: “Hôm ấy, một người lạ mặt đến nhà dòng, ông thấy một Sơ vừa đem về một người hấp hối, nằm bên ống cống, mình mẩy giòi bọ rất hôi thối. Thế mà, Sơ rất nương nhẹ nhặt từng con bọ với vẻ mặt vui tươi, thanh thản đầy thương mến… Rồi người lạ đến gặp tôi nói: Thưa mẹ, khi con đến đây với lòng đầy căm hờn của một người vô tín ngưỡng. Nhưng bây giờ con ra về với một tâm hồn hoàn toàn đổi mới. Con bắt đầu tin Chúa, bởi vì con đã chứng kiến tình yêu của Chúa được diễn tả một cách cụ thể qua hành động và qua cách Sơ ấy đối xử với người hấp hối bẩn thỉu kia. Bây giờ con tin thật Chúa là tình yêu. Không có tình yêu Chúa trong tâm hồn, không khi nào có đủ nghị lực để yêu tha nhân được”.
Thật vậy, không mến Chúa, không thể yêu người vô vị lợi được. Vì thế Chúa Giêsu đã nhấn mạnh cho mọi người nhận biết hai điều răn quan trọng nhất là “Mến Chúa yêu người”. Chính tình yêu Chúa đã làm cho người ta bỏ tính vị kỷ mà biết xả kỷ, thay vì chỉ biết lo cho bản thân mình lại biết mở lòng ra để lo cho người khác.
Chúa Giêsu là kiểu mẫu tuyệt hảo về lòng mến Chúa yêu người. Ngài để lại chúc thư: “Hãy yêu mến nhau như Thầy yêu mến các con” (Ga 15,34). Và Ngài đã yêu mến chúng ta đến mức chịu chết vì chúng ta. Có thực hy sinh cho nhau mới chứng thực là đã yêu nhau thật. Hãy tập một vài điều trong “Bài ca đức ái” của thánh Phaolô (1Cr 13,4-7): khoan dung, nhân hậu, không ghen tuông, không ba hoa, không tự mãn, không khiếm nhã, không ích kỷ, không cáu kỉnh, không chấp nhất sự dữ, không mừng trước sự bất công.
Thánh Phaolô tông đồ nhắc nhở cho tín hữu Rôma về trách nhiệm phải thực hành đức ái đối với nhau, không yêu nhau là mắc nợ với nhau, vì đây là lệnh truyền của Chúa, Ngài nói: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái, vì ai yêu người thì đã chu toàn lề luật. Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy” (Rm 13,8-10).
Thánh Augustinô khuyên: “Ama et fac quod vis”: yêu mến đi rồi làm gì thì làm. Để kết thúc, chúng ta hãy cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin dạy chúng con yêu mến Ngài cho xứng đáng,
Xin dạy chúng con yêu tha nhân như Ngài yêu chúng con
Xin dạy chúng con yêu cho dù yêu là đau khổ,
Bởi vì qua tình yêu chúng con tôn vinh Chúa,
Qua tình yêu chúng con mang hạnh phúc đến cho tha nhân,
Và qua tình yêu chúng con tìm được ý nghĩa của cuộc sống mình.
Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen.
