“Vì danh Thầy, các con sẽ bị mọi người ghen ghét,
nhưng ai bền đỗ đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu độ”.
(Mt 10,22)

BÀI ĐỌC I: Kn 3, 1-9
“Chúa chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu”.

Trích sách Khôn Ngoan.

Linh hồn những người công chính ở trong tay Chúa, và đau khổ sự chết không làm gì được các ngài. Đối với con mắt của người không hiểu biết, thì hình như các ngài đã chết và việc các ngài từ biệt chúng ta, là như đi vào cõi tiêu diệt. Nhưng thật ra các ngài sống trong bình an. Và trước mặt người đời, dầu các ngài có chịu khổ hình, lòng trông cậy của các ngài cũng không chết. Sau một giây lát chịu khổ nhục, các ngài sẽ được vinh dự lớn lao; vì Chúa đã thử thách các ngài như thử vàng trong lửa, và chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu.

Khi đến giờ Chúa ghé mắt nhìn các ngài, các người công chính sẽ sáng chói và chiếu toả ra như ánh lửa chiếu qua bụi lau. Các ngài sẽ xét sử các dân tộc, sẽ thống trị các quốc gia, và Thiên Chúa sẽ ngự trị trong các ngài muôn đời. Các ngài đã tin tưởng ở Chúa, thì sẽ hiểu biết chân lý, và trung thành với Chúa trong tình yêu, vì ơn Chúa và bình an sẽ dành cho những người Chúa chọn.

ĐÁP CA: Tv 30, 3cd-4. 6ab và 8a. 17 và 21ab
Đáp: Lạy Chúa, con phó thác tâm hồn trong tay Chúa (c. 6a).

1) Xin Chúa trở thành núi đá cho con trú ẩn, thành chiến luỹ kiên cố để cứu độ con. Bởi Chúa là Đá Tảng, là chiến luỹ của con, vì uy danh Ngài, Ngài sẽ dìu dắt và hướng dẫn con. – Đáp.

2) Con phó thác tâm hồn trong tay Chúa, lạy Chúa. Lạy Thiên Chúa trung thành, xin cứu chữa con. Con sẽ hân hoan mừng rỡ vì đức từ bi của Chúa. – Đáp.

3) Xin cho tôi tớ Chúa được thấy long nhan dịu hiền, xin cứu sống con theo lượng từ bi của Chúa. Chúa che chở họ dưới bóng long nhan Ngài cho khỏi người ta âm mưu làm hại. – Đáp.

4) Xin Chúa tỏ mặt nhân lành với tôi tớ Chúa, và lấy lòng thương xót Chúa cứu thoát con. Chúa che chở những ai nấp dưới nhan thánh Chúa khỏi mưu chước của loài người. Chúa giấu họ trong nhà Chúa, khỏi miệng lưỡi gian ngoa. – Đáp.

BÀI ĐỌC II: Cv 7, 55-60
“Kìa, tôi thấy trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa.”

Bài trích sách Công vụ Tông đồ.

Được đầy ơn Thánh Thần, ông đăm đăm nhìn trời, thấy vinh quang Thiên Chúa, và thấy Đức Giê-su đứng bên hữu Thiên Chúa.

Ông nói: “Kìa, tôi thấy trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa.”

Họ liền kêu lớn tiếng, bịt tai lại và nhất tề xông vào ông rồi lôi ra ngoài thành mà ném đá. Các nhân chứng để áo mình dưới chân một thanh niên tên là Sao-lô.

Họ ném đá ông Tê-pha-nô, đang lúc ông cầu xin rằng: “Lạy Chúa Giê-su, xin nhận lấy hồn con.”

Rồi ông quỳ gối xuống, kêu lớn tiếng: “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này.” Nói thế rồi, ông an nghỉ.

TIN MỪNG: Mt 10,17-22
17 Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các Tông đồ rằng: “Các con hãy coi chừng người đời, vì họ sẽ nộp các con cho công nghị, và sẽ đánh đập các con nơi hội đường của họ. 18 Các con sẽ bị điệu đến nhà cầm quyền và vua chúa vì Thầy, để làm chứng cho họ và cho dân ngoại được biết. 19 Nhưng khi người ta bắt nộp các con, thì các con đừng lo nghĩ phải nói thế nào và nói gì.
Vì trong giờ ấy sẽ cho các con biết phải nói gì: 20 vì chưng, không phải chính các con nói, nhưng là Thánh Thần của Cha các con nói trong các con. 21 Anh sẽ nộp em, cha sẽ nộp con, con cái sẽ chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết.
22 Vì danh Thầy, các con sẽ bị mọi người ghen ghét, nhưng ai bền đỗ đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu độ”.

SUY NIỆM
A/ 5 phút với Lời Chúa

TƯỞNG MẤT ĐI NHƯNG LẠI ĐƯỢC

“Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.” (Lc 9,24)

Suy niệm: Những lời Chúa trên đây vẫn vang vọng và hiện thực qua bao thế hệ cho đến hôm nay. Đã có bao nhiêu người sẵn sàng đánh đổi mạng sống để thực thi lời ấy? Ngày ấy ai đã dám bước lên pháp trường trong ánh mắt và linh hồn hướng về trời; ngày ấy ai đã dám ‘bất khẳng quá khoá’ (không chịu chối đạo bằng cách bước qua thập giá), để rồi phải chịu chết rũ tù, chịu phanh thây, trảm quyết, bá đao và biết bao khổ hình khủng khiếp khác? Đó là hàng trăm ngàn tín hữu đã chấp nhận vong thân để làm chứng cho niềm tin bất khuất, mà trong số đó, 118 vị được nêu danh và tuyên hiển thánh và chân phước. Lời Chúa trên đây đã thành hiện thực: “Ai dám liều mất mạng sống mình vì Chúa thì sẽ cứu được mạng sống ấy.”

Mời Bạn: Chúng ta không chết vì đạo như các vị thuở xưa nhưng có thể chết vì đạo từng giây phút trong cuộc sống hằng ngày, khi chúng ta hy sinh, đón nhận những điều trái ý, những bất công, khinh miệt, thù ghét chỉ vì chúng ta dám trung thành sống theo Lời Chúa truyền dạy. Bạn đã có kinh nghiệm tử vì đạo trong những tình huống tương tự như vậy chưa?

Sống Lời Chúa: Bạn chọn một điều trong Tám Mối Phúc Thật để trung thành thực hiện trong cuộc sống.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, lời Chúa là sức mạnh để các thánh tử đạo trung kiên trong niềm tin vào Chúa. Xin cho chúng con cũng biết lấy Lời Chúa làm kim chỉ nam cho cuộc sống để chúng con luôn trung thành với Chúa trong mọi hoàn cảnh, dù gặp bất cứ khó khăn, thiệt thòi nào. Amen.

B/ Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM DẠY TA NHỮNG GÌ?

Chúa đã ban cho Hội Thánh Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng ta. Nhờ lời chuyển cầu của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, xin cho chúng ta biết luôn can đảm làm chứng cho Chúa và trung kiên mãi đến cùng như gương của ngài để lại.

Trước mặt Chúa thật là quý giá, cái chết của những ai trung hiếu với Người. Quý giá là bởi vì hạt “Lúa Mì Giêsu” đã chấp nhận chịu mục nát, để sinh nhiều bông hạt khác. Trên Thánh Giá, Người đã thực hiện một cuộc trao đổi lớn lao: kho tàng chứa đựng giá cứu chuộc đã tuôn trào ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Người.

Chúng ta đã được cứu chuộc, nhưng, đức tin của chúng ta phải chịu thử thách. Các Thánh Tử Đạo đã đổ máu mình ra để làm chứng cho điều đó. Thiên Chúa đã ban cho chúng ta trước, để chúng ta có cái gì đó, mà dâng lại cho Người.

Mừng Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta nhận thấy biết bao ơn lành Chúa đã ban cho chúng ta: Chúa đã sáng tạo nên chúng ta, đã tìm kiếm chúng ta khi chúng ta lầm lạc, tìm thấy rồi, Chúa lại ban ơn tha thứ; Chúa trợ lực cho chúng ta khi chúng ta chiến đấu với Ba Thù; Chúa không bỏ mặc chúng ta, khi chúng ta lâm nguy; Khi chúng ta chiến thắng, Chúa đã đội mũ triều thiên, và tặng ban chính mình làm phần thưởng cho chúng ta.

Khi nhận thấy tất cả những điều ấy, chúng ta hãy kêu lên: Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ, vì mọi ơn lành Người đã ban cho, tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ. Chén cứu độ Chúa đã uống cạn, các thánh ngôn sứ, các thánh Tông Đồ, các thánh tử đạo cũng đã nâng chén, và đến lượt chúng ta, Chúa cũng mời gọi chúng ta: Can đảm lên, vì Thầy đã thắng thế gian. Ước gì chúng ta cũng biết can đảm làm chứng cho Chúa và trung kiên mãi đến cùng, như các bậc cha anh của chúng ta. Ước gì được như thế!

C/ Lm. Giuse Đinh Lập Liễm

CHỨNG NHÂN ANH DŨNG

I.LỄ KÍNH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM.

 Hôm nay toàn thể Giáo hội Công giáo Việt Nam long trọng mừng kính các Thánh Tử đạo Việt Nam, một ngày lễ đem lại niềm vui và một hào khí thúc đẩy người tín hữu Việt Nam theo gương các thánh mà làm chứng cho Chúa trong cuộc sống hằng ngày.

 Theo sử liệu, hạt giống đức tin đã được gieo rắc trên quê hương đất nước chúng ta với sự hiện diện của một thừa sai là giáo sĩ Inikhu vào năm 1533. Công cuộc truyền giáo mới ở trong giai đoạn khởi đầu mà đã bị thử thách nặng nề với cái chết vì đạo của Chân phước Anrê Phú Yên vào năm 1544. Từ đây Giáo hội Việt Nam phải trải qua nhiều thời kỳ chịu bách hại, có lúc đẫm máu, qua các thời đại các vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, đặc biệt với nhóm Văn Thân.

 Nhà cầm quyền thời đó đã dùng mọi hình phạt dã man để khủng bố tinh thần các thánh Tử đạo Việt Nam, nhưng các Ngài đã anh dũng chịu đựng vì Chúa. Không có hình phạt nào có thể tách rời các Ngài ra khỏi tình yêu của Chúa. Chúng ta hãy xem một số hình phạt man rợ và bất công đó:

 – Bá đao: bị lý hình dùng dao cắt xẻo từng miếng thịt trên thân thể cho dù 100 miếng. Cách chết này có 1 vị.

 – Lăng trì: chặt chân chặt tay trước khi bị chém đầu. Cách chết này có 4 vị.

 – Thiêu sinh: bị thiêu sống. Chết cách này có 6 vị.

 – Xử trảm: bị chém đầu. Chết cách này có 75 vị.

 – Xử giảo: bị tròng dây vào cổ và bị lý hình kéo hai đầu dây cho đến chết. Cách chết này có 22 vị.

 – Chết rũ tù: bị tra tấn, hành hạ đủ cách đủ kiểu, rồi bị bỏ đói cho tới khi kiệt sức và chết gục trong tù. Chết cách này có 9 vị.

 Cũng nên biết qua về kế hoạch Phân sáp của vua Tự Đức, một kế hoạch quá sâu độc! Nhưng cũng để cho chúng ta biết rằng trong mọi biến cố lúc nào cũng có bàn tay quan phòng của Chúa, sự khôn ngoan của loài người chỉ là sự điên rồ trước mặt Thiên Chúa. Kế hoạch Phân sáp được vua Tự Đức cho thi hành vào năm 1851 và 1856. Do sự thi hành kế hoạch Phân sáp này mà gần 400.000 giáo dân phải bị đi phân sáp, trong đó có từ 50.000 đến 60.000 giáo dân phải chết nơi phân sáp, 100 làng công giáo bị tàn phá bình địa, 2000 họ đạo bị tịch thu tài sản ruộng đất, 115 Linh mục Việt Nam và 10 giáo sĩ ngoại quốc bị giết, 80 Dòng Mến Thánh Giá bị phá tan, 2000 nữ tu Mến Thánh giá phải tan tác,100 nữ tu Mến Thánh giá chết vì đạo.

 Kế hoạch phân sáp gồm bốn mặt:

– Mặt thứ nhất, không cho người công giáo ở trong làng công giáo của mình, nhưng phải đến ở trong các làng bên lương.

– Mặt thứ hai, mỗi người công giáo phải bị năm người lương canh giữ cẩn mật.

– Mặt thứ ba, các làng công giáo bị phá huỷ, của cải ruộng đất của người công giáo bị tịch thu và giao vào tay những người bên lương, những người này sử dụng và nộp thuế lại cho Nhà nước.

– Mặt thứ bốn, không cho người đàn ông công giáo ở một nơi với người đàn bà công giáo, không cho vợ chồng công giáo ở với nhau, mỗi người phải đi ở một nơi xa nhau, con cái của người công giáo thì phải để cho gia đình người lương nuôi.

 Đây là một kế hoạch rất sâu độc, nhằm tiêu diệt Giáo hội VN tận gốc rễ. Nhưng bàn tay Chúa dẫn đưa lạ lùng: các triều đại nhà Nguyễn không còn nữa, mà Giáo hội Việt Nam, hiện nay, vẫn mạnh và vươn lên.

 Có nhiều lý do dẫn đến cảnh bách hại: vì ghen tương đố kỵ, hiểu lầm hay do những nguyên nhân chính trị. Trong vòng 300 năm, Hội thánh Việt Nam đã dâng cho Chúa một số chứng nhân anh dũng, đã nhận lấy cái chết để làm chứng và tỏ lòng trung thành với Chúa Kitô. Con số thực sự của các tử đạo tại Việt Nam cũng không có được thống kê chính xác, chỉ biết rằng con số này rất đông, từ 100.000 đến 130.000 người. Các tử đạo tại Việt Nam cũng rất đa dạng, gồm đủ mọi thành phần trong dân Chúa và ngành nghề xã hội: các Giám mục, Linh mục, Linh mục thừa sai Pháp và Tây Ban Nha, bên cạnh các Linh mục là chủng sinh, thầy giảng và giáo dân, có những cụ già và thanh niên, binh lính, thầy thuốc, quan chức….

 Giáo hội tuy còn non nớt, còn đang trên đà truyền giáo, nhưng ngày 19.06.1988 Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong lên bậc hiển thánh 117 chứng nhân anh dũng và đưa vào niên lịch chung để mừng kính trong toàn thể Giáo hội vào ngày 24 tháng 11 hằng năm là ngày kỷ niệm thành lập hàng giáo phẩm tại Việt Nam vào năm 1960.

II.Ý NGHĨA VIỆC TỬ ĐẠO

 Xưa nay có lẽ chúng ta đã quen đi với cách thức phân biệt các thánh tử đạo với các thánh giáo phụ, hiển tu, đồng trinh vv… Nhưng chúng ta quên rằng thánh nào cũng là thánh, và thánh nhân Kitô giáo nào cũng trước tiên phải là chứng nhân của Tin mừng, hay nói cách khác, chứng nhân của Chúa Kitô, chỉ khác nhau cách thức làm chứng mà thôi.

 Sự thực là buổi sơ khai của Giáo hội Công giáo trước tiên những tín hữu chết vì đạo được tôn vinh là thánh và Giáo hội dùng một từ Hy lạp là Martus, Marturos (rồi La tinh Martyr, Martyris và từ Pháp là Martyr) để chỉ những tín hữu được tôn vinh này. Martus, Martyr có nghĩa là người chứng, người làm chứng. Vì vậy, đối với Giáo hội công giáo, thì từ Martys này nguyên thủy được áp dụng cho tất cả các thánh, do đó mà sổ các thánh được gọi là Martyrologie.

 Vậy thì vị tử đạo, trước tiên phải là chứng nhân của Chúa Kitô, như mọi chứng nhân khác, trên bình diện đời sống. Cái chết “vì đạo” của người tử đạo chỉ là một cách thức làm chứng mà thôi, chứ không phải làm thay đổi bản chất người chứng của Chúa Kitô. (Lm. Thiện Cẩm, Cg và Dt, Giáng sinh 1997, tr 310-311)

 Nếu tử đạo do tiếng Martyr là nhân chứng thì ngay cộng đồng Do thái đã có những vị tử đạo nhất là thời Maccabê. Sách Maccabê, đặc biệt bài đọc I hôm nay, đã kể lại nhiều vị anh hùng can trường làm chứng cho đức tin mặc dù phải chịu nhiều cực hình và có khi phải chết. Còn cách sử dụng thông thường của Cựu truyền Công giáo thì danh từ Tử đạo áp dụng cho nhân chứng nào đã lấy máu mình, đã hiến mạng sống mình để trung thành làm chứng cho sứ mạng, cho chân lý.

 Theo nghĩa này thì Đức Kitô chính là một vị tử đạo đích thực. Và chỉ duy có Ngài mới xứng đáng danh hiệu đáng kính này. Trong cuộc sống của Ngài tại trần thế và nhất là trong cái chết đẫm máu của Ngài trên thập giá, Ngài đã làm chứng hùng hồn về lòng trung thành của Ngài đối với sứ mạng Cha Ngài giao phó. Ngài không những đã biết trước cái chết, mà Ngài còn tự ý chấp nhận như một tác động tôn kính hoàn hảo nhất mà Ngài đã thực hiện để tôn kính Cha Ngài. Và khi Ngài bị kết án, Ngài đã tuyên bố: “Ta đến trong trần gian này để làm chứng cho sự thật”. Như thế chúng ta đủ hiểu cuộc sống Ngài tại thế và cái chết của Ngài chính là những tác động mang ý nghĩa tử đạo: đó là hiến mạng sống, để trung thành làm chứng cho sứ mạng Cha Ngài trao phó và làm chứng cho sự thật.

 Kinh nghiệm cho biết Giáo hội của Chúa bao giờ cũng được khai sinh và phát triển bằng đau khổ và tử đạo. Thật vậy, chính Chúa Kitô là vị tử đạo đầu tiên, đã khai sinh Giáo hội bằng cái chết đau thương trên thập giá. Chúa phán: “Khi nào Ta bị treo lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi sự về với Ta” (Ga 12,22). Từ ngày đó, Giáo hội nhiệm thể Chúa Kitô cũng phải đổ máu làm chứng về Chúa, để mọi người được ơn cứu chuộc. Giáo hội sở khai với cuộc tử đạo của thánh Stêphanô. Giáo hội Rôma với bao thánh tử đạo dưới thời hoàng đế Néron nay vẫn còn di tích lưu truyền.

 Hoàng đế Julius, người ngược đãi Kitô giáo vào thế kỷ thứ 4, đã phải thốt lên: “Các ngươi đắp xác của nhiều người mới chết lên một cái xác đã chết (Chúa Giêsu), các ngươi làm đầy thế giới này bằng quan tài và mồ mả”.

 Cuối cùng, nhiều Giáo hội đã được dựng nên trên mồ của các thánh Tử đạo, đền thờ thánh Phêrô ở Vatican là một thí dụ, và các nghĩa địa đã biến thành các thành phố bởi vì “Máu các thánh tử đạo là hạt giống sinh ra các tín hữu” (Tertullianô).

 Tại sao người ta dám tử đạo, dám làm chứng cho Tin mừng, dám làm chứng cho Chúa ? Thưa vì người ta quí sự sống đời đời. Người ta cho phần rỗi linh hồn là quí hoá và không gì có thể đổi lầy được vì: “Được lợi cả thế gian mà mất linh hồn thì ích lợi gì” (Mc 8,36).

Truyện: Xin mua được một linh hồn

 Thế kỷ 19, khi cơn cấm đạo nổi mạnh trên tỉnh Thanh Hoá. Một hôm, người ta dẫn đến trước mặt quan án một thiếu niên 17 tuổi – tên là Mới – Thấy mặt mũi khôi ngô tuấn tú, quan động lòng thương.

 – Mới – quan nói – con cứ đạp thánh giá đi, rồi ta sẽ ban thưởng một nén bạc.

 – Bẩm quan lớn, một nén bạc chưa là gì.

 – Được, ta sẽ ban một nén vàng. Con hãy đạp thánh giá đi.

 – Ồ, bẩm quan lớn, một nén vàng cũng vẫn còn ít quá.

 – Sao ? Quan sửng sốt, quát: Thế còn chưa đủ ư ? Vậy mày muốn bao nhiêu ?

 – Bẩm, nếu quan lớn muốn tôi đạp thánh giá, thì xin quan lớn hãy cho tôi cái gì có thể mua được một linh hồn khác đã…

 Và người thiếu niên bình tĩnh bước vào pháp trường, vẻ anh dũng tươi cười.

III.VIỆC TỬ ĐẠO NGÀY NAY

1.Theo công đồng Vatican II

 Trong hiến chế Lumen Gentium, Công đồng chỉ dùng chữ Tử đạo 6 lần và theo một ý nghĩa riêng biệt, với chiều kích rộng lớn phổ quát, tuy vẫn qui chiếu vào ý niệm tử đạo có từ trước. Theo công đồng, tử đạo là được đồng hoá với Thầy mình, sẵn sàng chết để cứu độ trần gian, và cũng như Thầy, đổ máu đào ra để làm chứng cho việc đó. Hội thánh coi tử đạo là ơn cao cả, là bằng chứng tột đỉnh về đức tin. Chẳng mấy ai được phúc này, nhưng ai ai cũng phải sẵn sàng tuyên xưng Đức Kitô trước mặt thế gian, và theo Người trên con đường thập giá, giữa những cơn bắt bớ thường xảy ra cho Hột thánh (LG. số 42).

 Một số nhà thần học ngày nay cũng có những suy nghĩ và gợi ý như cha Karl Rahner trong cuốn Excursus sur le martyr: “Tử đạo đơn thuần là cái chết của người Kitô hữu. Tử đạo là một phần cốt yếu của Hội thánh. Thật ra, Hội thánh không nguyên làm chứng cho Đức Kitô bị đóng đinh, mà còn làm chứng cho Lời mình sống thành hiện thực nữa. Hội thánh sống cái chết của Chúa Kitô trong hết mọi người, mang thập giá của Đức Kitô ở giữa bóng tối của thế gian và mang dấu thánh của Đức Kitô, những dấu ấn bí ẩn trong đời thường mỗi ngày. Hội thánh phải là dấu hiệu thiêng thánh về thực tại thầm kín này, trong thế giới ngày nay. Hội thánh ở trong tình trạng tử đạo. Ở đây, Hội thánh tự tạo cho mình một hình thức rõ ràng nhất, trong sáng nhất, một mạc khải tồn tại cho đến cùng”.

 Nhà thần học Urs von Balthasar cũng nói giống như vậy, khi nhấn mạnh rằng tình trạng bách hại là tình trạng thông thường của Hội thánh trong thế gian và tử đạo là trạng thái bình thường của lời chứng Kitô giáo.

 Étienne Barbarin cũng theo một dòng tư tưởng, khi trình bày việc tử đạo là cách thế thực hiện hoàn hảo nhất lời chứng, vì cái chết tuy được chuẩn bị bằng cả đời sống, nhưng đã bắt đầu và thực hiện trong mỗi lựa chọn hằng ngày.

2.Tư tưởng chung thời nay

 Nếu như các nhà thần học nói: “Hội thánh luôn ở trong tình trạng tử đạo”. Ta phải hiểu như thế nào ? Phải chăng Hội thánh lúc nào cũng phải chịu bắt bớ, bị đoạ đầy ? Chắc không phải thế. Cần phải hiểu chữ “Tử đạo” theo nghĩa rộng hơn. Ta đặt câu hỏi: bậc đồng trinh và đời đan tu có thể thay thế cho tử đạo không ?

 Ngay từ xưa người ta đã tìm những cách thế biểu hiện việc tử đạo. Những cách thế này xoay quanh những việc đời có thể diễn tả sự hy sinh chính mình, và đức tin hoàn hảo, do đấy có thể được coi như một sự sửa soạn chịu tử đạo hay có liên quan đến tử đạo. Vì thế bậc đồng trinh và đời đan tu vẫn được coi là những con đường gần nhất với tử đạo. Các trinh nữ và các đan nữ xuất hiện vào thời cấm đạo hồi xưa, dưới mắt mọi người, vẫn là những vị kế thừa các anh hùng tử đạo. Từ đó nảy sinh ra ba mẫu tử đạo:

 * Tử đạo đỏ: là đổ máu ra chịu chết vì Chúa.

 * Tử đạo trắng: sống đời hãm mình trinh tiết.

 * Tử đạo xanh: chịu đọa đầy, để làm chứng cho đạo ở một nơi không phải là quê hương xứ sở mình.

 Chính thánh nữ Têrêsa Hài đồng đã nói thẳng thắn rằng: “Tôi cảm thấy tôi có ơn gọi làm chiến binh, tông đồ, tiến sĩ và tử đạo. Tử đạo là giấc mơ trong tuổi trẻ của tôi. Và giấc mơ ấy đã trở thành mãnh liệt, khi tôi ở trong bốn bức tường của Nhà kín. Nhưng tôi cảm thấy rằng giấc mơ đó là một sự điên rồ và vì thế tôi đã hiểu tình yêu qui tụ mọi ơn gọi của tôi. Vâng, cuối cùng tôi đã khám phá ra ơn gọi của tôi: ơn gọi của tôi là yêu mến” (Tự thuật).

 Mọi người đều quí trọng sự sống, dù chỉ là cuộc sống vắn vỏi phù du. Các tử đạo không những coi cái chết “nhẹ tựa lông hồng”, mà còn lấy cái chết như ngưỡng cửa phải bước qua, để tiến vào cõi sống vĩnh hằng. Các ngài cho ta cái cảm giác như là các ngài “chạm vào cõi vô hình”. Các ngài đã thể hiện và chứng minh câu nói của Chúa: “Ai bám vào sự sống đời này, sẽ mất cuộc sống mai sau…” (x. Mc 8,35). Và như thánh Phaolô nói: “Bị coi là sắp chết, nhưng kỳ thực vẫn sống; coi như bị trừng phạt, nhưng kỳ thực không bị giết chết; coi như phải ưu phiền, nhưng kỳ thực luôn vui vẻ” (2 Cr 6,9-10).

Truyện: Chết theo lệnh vua

 Trên bước đường viễn chinh, đại đế Alexandre đã cho quân vây hãm kinh đô của một vương quốc vùng Tiểu Á. Thay vì cho quân tấn công hạ thành, đại đế đã thúc ngựa đến ngay trước cổng thành và đòi gặp mặt vua đối phương. Nhà vua leo lên lũy thành, nhìn xuống đoàn quân đang vây hãm và hỏi Alexandre:

 – Nhà ngươi muốn gì ?

 – Ta muốn nhà vua đầu hàng.

 – Đầu hàng ? Tường ta cao, hào ta sâu, quân ta đông hơn, tại sao ta lại phải đầu hàng nhà ngươi ?

 – Nhà ngươi hãy xem cho rõ.

 Thế rồi Alexandre ra lệnh binh sĩ dàn trận. Thay vì tấn công hạ thành, ông ra lệnh cho họ tiến bước về hướng vực thẳm ngoài thành.

 Tò mò, quân sĩ trong thành cũng leo cả lên tường thành để xem cuộc “diễn binh” của Alexandre.

 Đoàn quân của Alexandre cứ từ từ tiến bước đến bờ vực thẳm. Hiên ngang, anh dũng, họ tiến tới bờ vực thẳm. Một người bước vào khoảng không, rơi xuống vực thẳm, thịt nát xương tan. Người thứ hai vẫn can đảm tiếp bước, rơi xuống vực sâu, chết theo. Từng người, từng người theo nhau đi vào cái chết một cách bình thản, anh hùng. Sau cái chết anh hùng của binh sĩ thứ mười, Alexandre hạ lệnh dừng bước.

 Sững sờ kinh ngạc trước tinh thần của binh sĩ Alexandre, lòng trung tín họ dành cho Alexandre, biết coi nhẹ cái chết tựa lông hồng, nhà vua và toàn quân trong thành mở cửa qui hàng.

 Chúng ta cũng đang thừa hưởng chiến công của những người lính anh hùng như thế của Đức Kitô, Vua vũ trụ. Chính các thánh Tử đạo Việt Nam đã góp phần xây dựng Giáo hội Việt nam bằng lòng trung tín các Ngài đã dành cho Chúa Kitô, bằng gương anh dũng xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Chúng ta nghĩ thế nào về những cái chết anh hùng của cha ông chúng ta đã dâng hiến mạng sống mình cho Chúa ? Và chúng ta sẽ phải sống thế nào để theo gương các ngài ?

 Là con cháu các Thánh Tử đạo Việt Nam, chúng ta hôm nay cũng phải đương đầu với những khó khăn thử thách, có lẽ không đồng loại với những khó khăn thử thách của các Ngài, bởi vì ngày nay hầu như chẳng còn ai cấm đạo theo lối vua chúa quan quyền nước ta thời trước. Trong thế giới chúng ta ngày nay, không chỉ có Kitô giáo, mà hầu hết các tôn giáo khác, kể cả những người không tín ngưỡng cũng đang phải đối diện với một thứ “Tôn giáo kinh tế”, trong đó người ta thờ thần Mammon, Thần tài. Nhiều người chỉ biết cắm đầu chạy theo tiền tài, không còn biết ý nghĩa của cuộc sống nữa. Họ chỉ biết vùi đầu trong những thú vui thấp hèn, chỉ biết sống để hưởng thụ, sống vội sống vàng để rồi ngày mai chết sẽ ra cõi tha ma.

 Lễ kính các thánh Tử đạo Việt Nam hôm nay khiến chúng ta kính phục các thánh, vì các Ngài đã mở trí mở lòng cho ta để chúng ta hiểu rằng đời này không phải là tất cả.

 Năm 1980 tại câu lạc bộ của những nhân vật vị vọng trong xã hội, câu lạc bộ Philadelphia Phillies, người ta đã tổ chức một cuộc nói chuyện và người được mời nói chuyện một nhân vật đặc biệt tên là Cordell. Cordell có tật nơi chân nên đi đứng rất khó khăn. Anh lại ngọng nên ăn nói cũng khó. Mặt mày anh dị hợm nên nhiều người thấy anh phải quay mặt đi hướng khác.

 Một người như thế có gì để nói với những nhân vật giàu sang danh vọng trong xã hội ? Anh mở đầu như sau: “Tôi biết rằng tôi rất là khác biệt với các bạn”, rồi anh kể về cuộc đời mình, một cuộc đời nhiều thất bại, nhiều đau khổ. Sau cùng anh kết luận: “Các bạn có thể thành công suốt cả cuộc đời và lãnh hàng triệu đôla mỗi năm. Nhưng khi ngày giờ đến, ngày mà người ta đóng nắp quan tài bạn lại, thì các bạn sẽ chẳng khác tôi chút nào. Đó là lúc chúng ta đều y như nhau”.

 Không biết cử tọa của cuộc nói chuyện hôm đó nghĩ gì, nhưng tôi thì nghĩ đến các thánh tử đạo: các ngài khôn hơn nhiều người ở chỗ nhiều người đã dùng cả cuộc đời để kiếm tìm những điều họ sẽ phải bỏ lại, khi quan tài của họ bị đóng lại, còn các ngài thì dám bỏ tất cả những gì quí nhất ở trần gian để đổi lấy cuộc sống vĩnh cửu.

 Giáo hội Việt Nam là một gia sản quí báu mà cha ông đã để lại cho chúng ta bằng giá máu của các ngài, để ngày nay chúng ta có ba Giáo tỉnh gồm 26 giáo phận, với hàng giáo phẩm được thiết lập chính thức vào năm 1960 để coi sóc hơn 6 triệu tín hữu. Chúng ta phải bảo vệ và xây dựng di sản ấy như các em thiếu nhi thường hát khi sinh hoạt:

Cái nhà là nhà của ta,
Công khó ông cha làm ra
Cháu con hãy gìn giữ lấy
Muôn năm với nước non nhà.

 Nếu chúng ta biết bảo vệ và xây dựng Giáo hội Việt Nam cho tốt thì chúng ta được các ngài khen là: “Con cái khôn ngoan, vẻ vang cha mẹ”. Nếu chúng ta không cố gắng và làm phát huy ra vẻ đẹp mà cha ông chúng ta đã xây dựng bằng xương máu thì các ngài sẽ phải phàn nàn về thế hệ con cháu: “Đời cha vo tròn, đời con bóp méo”.

 Ngày lễ các Thánh Tử đạo Việt Nam hôm nay thôi thúc chúng ta hãy theo gương các ngài để biết tử đạo trong đời sống hằng ngày. Nếu ngày nay chúng ta không phải trải qua “tử đạo đỏ” thì chúng ta có thể chấp nhận “tử đạo trắng hoặc xanh”. Hãy thực hiện lời Chúa dạy chúng ta trong bài Tin mừng hôm nay: “Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23).

 Theo Chúa là phải từ bỏ mình, chấp nhận mọi gian nan khốn khó, vâng theo thánh ý Chúa, sống trọn cuộc sống Kitô hữu để làm chứng cho Chúa. Đó là chúng ta đang trải qua cuộc tử đạo tuy âm thầm nhưng đòi hỏi nhiều hy sinh, nhiều cố gắng trường kỳ. Nếu không phải đổ máu ra mà làm chứng cho Chúa thì chúng ta có thể làm chứng theo lời nói của thánh nữ Têrêsa Hài đồng: “Ơn gọi tôi ở trong Giáo hội là yêu mến”.

D/ Lm. Joseph Phạm Duy Thạch SVD 

CHÚA NHẬT XXXIII TN A

I. BỐI CẢNH

Đoạn Tin Mừng hôm nay nằm trong bối cảnh của Chúa Nhật áp cuối của năm Phụng Vụ A. Tuần sau là Chúa Nhật cuối cùng của năm phụng vụ A, lễ Chúa Giêsu Kitô, vua vũ hoàn. Trong bối cảnh ấy chủ đề phụng vụ dĩ nhiên là liên quan đến khoảnh khắc cuối cùng của mỗi con người. Hơn ai hết, mỗi Kitô hữu ý thức rõ rằng mình là môn đệ của Chúa Giêsu và mình là con Chúa và sẽ trở về với Chúa một khi chết đi. Chính Chúa Giêsu đã nhiều lần thông báo rằng Ngài sẽ trở lại (Mt 16,27; 25,31; Mc 8,31; Lc 9,26). Mỗi Chúa Nhật, các tín hữu cũng tuyên xưng trong Kinh Tin Kính rằng: “Ngài sẽ trở lại trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết”. Tuyên xưng không ngừng như thế, nhưng lời tuyên xưng ấy đôi khi trở thành thói quen hơn là một niềm xác tín. Cho nên, tuyên xưng như thế nhưng các tín hữu đôi khi lại thiếu sức sống, thiếu những hành động cụ thể hay những chuẩn bị cần thiết cho xác tín ấy. Đôi khi gánh nặng cuộc sống thể lý, cơm áo gạo tiền, làm cho họ quên đi việc hiện thực hóa cách sống động niềm tin này. Chính vì thế, phụng vụ Giáo Hội trong những tuần cuối năm và đầu năm, khởi đầu bằng Chúa Nhật Mùa Vọng, luôn nhắc nhở con cái đức tin, con cái ánh sáng về niềm xác tín về ngày trở lại của Chúa Giêsu trong vinh quang.

Trong bối cảnh của Tin Mừng Mátthêu, Mt 25,14-30 tiếp theo dụ ngôn “mười cô trinh nữ đi đón chàng rể” (Mt 25,1-13), và dụ ngôn “người tôi tớ” (24, 45-51), là loạt 3 dụ ngôn nói về thời cánh chung, thời sau cùng của thế giới, khi Đức Giêsu trở lại lần thứ hai, và cũng là lần cuối. Chủ đề của đoạn dụ ngôn dĩ nhiên cũng như chủ đề Phụng Vụ, cũng nói về những vấn đề của thời sau hết của nhân loại. Trong các tác giả sách Tin Mừng, chỉ có Luca chia sẻ dụ ngôn này giống như Mátthêu, với nhiều chi tiết khác biệt sẽ nói sau.

II. CẤU TRÚC

Bối Cảnh (4): Người đi xa giao phó tài sản cho các đầy tớ

Cách giao (15): Tùy theo khả năng: Năm nén – hai nén – một nén

Cách sử dụng các nén bạc (16-19):

Người lãnh năm nén bạc, đầu tư và đạt được năm nén khác

Người đã lãnh hai nén, đạt được hai nén khác

Người đã lãnh một nén, đi khỏi, đào đất và chôn giấu số bạc

Nghiệm thu giao phó (19-30): Ông chủ các đầy tớ ấy đến và tính chuyện với họ

Người đã lãnh năm nén: ‘Thưa ông chủ, … năm nén khác, tôi đã đạt được’

‘Làm tốt lắm! Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, …hãy đi vào trong niềm vui của ông chủ ngươi’

Người đã lãnh hai nén: ‘Thưa ông chủ, … hai nén khác, tôi đã đạt được’

‘Làm tốt lắm! Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, …hãy đi vào trong niềm vui của ông chủ ngươi’

Người đã lãnh một nén:

‘Thưa ông chủ, ngài là một người hà khắc, …tôi khiếp sợ, đi chôn giấu nén bạc của ngài trong đất’.

‘Hỡi đầy tớ xấu xa và lười biếng, …ngươi phải giao bạc của ta cho các chủ ngân hàng, … nhận số lời

Hãy lấy nén bạc khỏi nó và trao cho người có mười nén.

Người đầy tớ vô dụng, … ném vào chỗ tối tăm bên ngoài, … sẽ là kẻ khóc và kẻ nghiến răng’

III. SO SÁNH Mt 25,14-30 và Lc 19,12-27)

Có khác nhiều điểm khác biệt giữa hai bản văn của cả hai tác giả tường thuật cùng một dụ ngôn.

Thứ nhất, Mátthêu bắt đầu bằng liên từ “γὰρ” (bởi vì) và liên từ “Ωσπερ” (hệt như) cho thấy sự liên tục của dụ ngôn này với dụ ngôn “mười cô trinh nữ đi đón chàng rể” ngay phía trước, với câu kết là: “Vì vậy, hãy coi chừng vì các ngươi không biết ngày và giờ” (Mt 25,13). Câu kết này được Mátthêu viết tiếp: “Vì hệt như (Ωσπερ γὰρ), có người kia sắp đi xa liền gọi các đầy tớ của mình lại…”. Câu khởi đầu này của Mátthêu cho thấy sự nối kết rất gần gũi giữa dụ ngôn này với dụ ngôn “mười trinh nữ đi đón chàng rể” (Mt 25,1-13). Nó hoặc là minh họa cho dụ ngôn, làm rõ thêm dụ ngôn trước đó, hoặc củng cố cho dụ ngôn trước đó.[1] Bản dịch Anh ngữ ESV còn dịch liên từ (γὰρ) như là một liên từ chỉ sự kết quả (for): “vì thế” trong khi bản dịch Pháp Ngữ (TOB), bản dịch Ý ngữ (CEI) và bản dịch Việt ngữ (CGKPV) đều dịch là “quả thế” (infatti, En effet). Khác với Matthêu, Luca đặt dụ ngôn này (Lc 19,11-27) ngay sau tường thuật về việc Chúa Giêsu viếng thăm nhà ông Dakêu. Và lý do mà Luca đưa ra, bối cảnh cụ thể mà Chúa Giêsu kể dụ ngôn này là vì Chúa Giêsu lúc đó đang tiến gần đến Jêrusalem và nhiều người nghĩ rằng Vương quốc Thiên Chúa sẽ đến ngay lập tức, nên “Chúa Giêsu mới kể cho họ nghe dụ ngôn này” (Lc 19,11). Cũng nên nhắc lại rằng Tin Mừng Luca, tường thuật về chặng đường đức Giêsu lên Jêrusalem dài nhất trong tất cả các sách Tin Mừng. Thánh Luca dành đến mười chương để tường thuật hành trình này (9,51 – 19, 44). Dụ ngôn mười nén bạc của Luca được đặt ở giao điểm giữa đoạn cuối của cuộc hành trình này và tường thuật về sự kiện Chúa Giêsu tiến vào Jêrusalem. Mátthêu đặt dụ ngôn này vào trong loạt những bài giảng về thời cánh chung sau khi Ngài đã vào Jêrusalem vinh quang.

Thứ hai, tác giả Mátthêu chỉ nói là “một người kia sắp đi xa, liền gọi đầy tớ mình lại chia…”, không cụ thể là ai và đi đâu để làm gì. Trong khi đó Luca xác định khá rõ địa vị của người này. Ông ta là một người đàn ông quý tộc (εὐγενὴς). Và lý do cũng rất cụ thể là ông này đi xa để lãnh nhận vương quyền và sẽ trở về (Lc 19,12).

Thứ ba, trong Luca, số người mà ông ta gọi đến để trao nén bạc là mười đầy tớ và số tiền mà ông đưa cho họ chung chung là mười người lãnh nhận mười mna (μνᾶ).[2] Nhưng sau đó, tác giả Luca lại chỉ đề cập đến ba người báo cáo về số tiền mà chủ giao mà thôi. Người thứ nhất đạt được mười minas và người thứ hai năm minas. Người thứ nhất được khen là “làm tốt lắm, đầy tớ tốt lành, vì ngươi đã trung thành trong việc nhỏ, hãy cai trị mười thành”. Người thứ hai chỉ được bảo là “ngươi sẽ cai trị trên năm thành (Lc 19,15-19). Mátthêu xem ra chặt chẽ hơn khi nói rằng ông chủ trao cho ba người đầy tớ mỗi người một số lượng khác nhau. Người lãnh năm talanton[3] người lãnh hai talanton và người khác nữa lãnh một talenton. Mátthêu còn nói rõ là mỗi người tùy theo khả năng của họ, chứ không phải ai cũng như ai.

Thứ tư, theo tác giả Luca, ông này ra lệnh cho mười đầy tớ của mình là “hãy lấy số tiền này đầu tư cho đến khi tôi trở về” (Lc 19,13). Tác giả Mátthêu không ghi lại mệnh lệnh này. Thay vào đó, ông cho thấy hành động cụ thể của ba người đầy tớ. Trong đó, người thứ nhất đã lấy năm talanton đi làm ăn kinh doanh ngay lập tức và đã sinh lời được năm talenton khác. Người đã lãnh hai talanton cũng sinh lời được hai talanton khác. Còn người thứ ba, người nhận một talanton thì đem đi đào đất và chôn giấu.

Thứ năm, phần thưởng mà ông chủ dành cho các đầy tớ biết sinh lời cũng khác nhau giữa hai phiên bản của Luca và Mátthêu. Trong khi, các đầy tớ của Luca được trao quyền lãnh đạo trên số thành tương ứng mới số mnas mà họ sinh lời. Các đầy tớ của Mátthêu được lời hứa là sẽ được trao nhiều (vốn) hơn và được mời gọi là hãy vào hưởng niềm vui của ông chủ.

Thứ sáu, tác giả Luca tường thuật chi tiết những người công dân của ông ghét ông nên sai một phái đoàn đến sau ông để nói rằng “chúng tôi không muốn rằng ông này làm vua chúng tôi.” (Lc 19,14). Đây là chi tiết không hề tồn tại trong tường thuật của Mátthêu. Chi tiết này cùng với chi tiết “người đàn ông quý phái đi xa để lãnh nhận vương quyền” (Lc 19,11) và chi tiết “giết chết những người dân” (Lc 19,27) theo trình thuật của thánh Luca được sử gia Josephus liên tưởng đến sự kiện lịch sử liên quan đến Archelaus. Số là, sau khi vua Hêrôđê Cả băng hà, Archelaus cùng đoàn tùy tùng của mình đã đến Roma để thuyết phục hoàng đế Kaisar chấp nhận cho ông ta làm kế thừa vua cha. Trong khi đó một phái đoàn năm mươi người Do thái từ Israel, hợp với tám ngàn người Do Thái tại Rôma, đã đến trước Kaisar để tranh luận nguy cơ làm vua của Archelaus. Theo những bản văn của Josephus, Archelaus đã giết chết 3000 người Do Thái gây rối trước khi đến Roma (Josephus, J.W. 2.1-38, 80-111; Ant. 17.208-49, 299-320).

Thứ bảy, Luca kết thúc dụ ngôn của mình với việc ông chủ ra lệnh giết chết  những kẻ không muốn ông làm vua (Lc 19,27). Mátthêu kết thúc một cách hợp lý hơn: Người đầy tớ vô dụng đã bị tống ra ngoài nơi tối tăm, và ở đó anh sẽ là người khóc lóc và nghiến răng (Mt 25,30). Đây là kết luận mang tính cánh chung trong các câu chuyện của Mátthêu.

IV. MỘT VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

  1. Người kia đi xa (ἄνθρωπος ἀποδημῶν): Ý tưởng một người kia (một ông chủ vắng mặt) trong dụ ngôn này nhằm làm nổi bật cốt truyện trong đó trách nhiệm của người đầy tớ được đặt nặng. Rõ ràng Mátthêu không muốn nói gì đến mục đích đi xa của ông này và thậm chí danh tánh, địa vị của ông cũng không được đề cập đến. Chi tiết cần thiết nhất mà độc giả cần biết đến là ông ta “đi xa” (apodemeo). Ông chủ đi xa có nghĩa là trách nhiệm trông nhà, trông cửa thuộc về các đầy tớ. Và ông chủ vắng bóng càng cho thấy mức độ trưởng thành và trung tín của một người đầy tớ. Có những người đầy tớ chỉ trung thành giả tạo khi có mặt ông chủ. Còn những người đầy tớ đích thực, thì họ tôn trọng chính bản thân và nhân phẩm đầy tớ của mình. Họ có lòng tự trọng, và luôn có tinh thần trách nhiệm cao nhất dù có ông chủ ở đó hay không. Người Việt nam có câu: “Chủ vắng nhà gà vọc niêu tôm/ gà mọc đuôi tôm”. Một khi chủ vắng mặt thì những cái xấu xa, tính vô trách nhiệm của một đầy tớ rất dễ phơi bày. Mc 14,34-36 cũng nói đến một ông chủ đi xa và giao nhà, giao việc cho các đầy tớ, mỗi người mỗi việc và ra lệnh cho người giữ cửa phải canh thức. Rõ ràng, chi tiết một người kia đi xa rất quan trọng trong dụ ngôn này. Nó để lại không gian hành động và trách nhiệm của các đầy tớ. Ông chủ của Mátthêu tín thác tài sản mình trong tay các đầy tớ và chờ đợi một kết quả tích cực. Ý tưởng “một người đi xa” xuất hiện trong câu chuyện cánh chung với nhiều hình ảnh khác nhau:  Ông chủ vắng mặt trong dụ ngôn “người đầy tớ trung tín hay thất tín” (Mt 24,45-51; Lc 12,42-46); Chàng rể trì hoãn đến (Mt 25,1-13); “Con Người đến trong vinh quang” (Mt 2531-46). Mátthêu nhấn mạnh đến việc không ai biết ngày đến của Con Người (24,36.42.44.50; 25,13) và tác giả cũng làm nổi bật chủ đề “canh chừng, khôn ngoan và trung thành”.
  2. Trao cho họ tài sản của mình (τὰ ὑπάρχοντα). Danh từ được dịch là tài sản trong dụ ngôn này cũng rất đáng chú ý. Trong ngôn ngữ gốc Hy Lạp, đây là một động từ dạng phân từ (participle), được dùng như một danh từ có mạo từ xác định đi trước. Nó phát xuất từ động từ “ὑπάρχω” có nghĩa là tồn tại, hiện diện, là…giống như động từ eimi. Như vậy, cái mà ông chủ trao cho đầy tớ có thể là một tài sản bình thường như tiền bạc, đất đai, nhà cửa, nhưng cũng có thế quý giá hơn nữa, là chính bản thân ông, chính sự hiện hữu, sự tồn tại của ông. Danh từ tài sản này gợi nhớ đến Mt 24,7, nơi mà ông chủ cũng hứa trao toàn bộ tài sản của mình cho đầy tớ thông minh và trung thành coi sóc. Trong câu chuyện của Tôbia, ông Tôbít để lại những nén bạc cho Gabael ở Media và hai mươi năm sau, ông nói cùng con trai là Tôbia về số tiền trao phó. Phần còn lại của cuốn sách là về hành trình của Tôbia để lấy lại số tiền (Tb 1,14; 4,20-21; 5,3). Số tiền được trả lại với dấu đóng chứng tỏ sự nguyên vẹn (Tb 9,5). Rõ ràng trong trường hợp này, đây là số tiền được trao phó với mục đích giữ gìn chứ không phải đầu tư.[4]
  3. Trao talenton… mỗi người theo khả năng của mình. Không biết ngẫu nhiên hay hữu ý, trong ngôn ngữ hiện đại đơn vị tiền tệ này được dịch là talent (tiếng Anh, tiếng Pháp), “talenta” (Latin), “talent” (Ý), cũng có nghĩa là tài năng tự nhiên.[5] Có thể diễn giải là ông chủ trao tài năng cho các đầy tớ… tùy theo khả năng của mỗi người. Món quà tài năng này được trao không phải như nhau cho tất cả mọi người nhưng mỗi người tùy theo khả năng sử dụng nó để sinh lời. Thật hợp lý, khả năng mỗi con người không giống nhau. Ông chủ chắc chắn biết rõ điều ấy và trao số lượng talanton đúng với khả năng của mỗi người.[6] Nếu trao thiếu thì người đầy tớ ấy không phát huy hết khả năng của mình. Còn nếu trao dư thì người đầy tớ sẽ không dùng hết đâm ra uổng phí. Thánh Phaolô có những ý tưởng tương tự như thế. Thư Rm 12,3-8 “nói về mức độ đức tin mà Chúa trao gửi cho anh ta” và “món quà khác nhau theo ân sủng đã được ban cho chúng ta”. Ep 4,7-8 và 1 Pt 4,10 đề cập đến việc khi mỗi người đã lãnh nhận một món quà, hãy tận dụng nó vì nhau, như là những người phục vụ ân sủng muôn hình vạn trạng của Chúa”.
  4. Lập tức… ra đi… làm việc… và đạt được (kiếm được)Ba động từ liên tục được sử dụng cùng với trạng từ chỉ mức độ nhanh chóng, gấp rút, dồn dập của người đầy tớ thứ nhất, người được trao năm nén, cho thấy sự nhiệt thành, trách nhiệm và chịu thương chịu khó của người đầy tớ này.[7] Trạng từ “tương tự như thế” (ὡσαύτως) đặt ngay trước biểu hiện của người đầy tớ thứ hai, người nhận được hai talanton. Tuy tác giả không lặp lại những động từ dày đặc và trạng từ chỉ tính gấp rút trong hành động của người thứ nhất nhưng trạng từ “tương tự như thế” đã thay thế cho tất cả các cách diễn tả ấy. Nghĩa là cả hai người đầy tớ này đều trung thành, trách nhiệm, nhiệt thành cách gấp rút, nhanh nhất có thể để làm cho những talanton mà chủ ban cho mình được sinh lời gấp đôi. Và họ đã thành công.
  5. Hành động của người thứ ba, người đã nhận được một talenton. Liên từ “nhưng” (δὲ) được đặt đầu câu báo hiệu một sự trái ngược giữa hành động của người thứ ba so với hai người trước. Anh đi khỏi, đào đất, chôn số bạc của chủ anh ta. Anh cũng có ba hành động nhưng không được bắt đầu bằng trạng từ vội vã. Giả định rằng anh ta cứ bình chân, không lấy gì làm vội vã trong các hành động của mình. Và những hành động của anh ta đều mang tính tiêu cực. Đào đất và chôn bạc. Trong Luca, người đầy tớ này giấu mina trong vải. Động từ “đi khỏi, rời khỏi” (ἀπελθὼν), khởi đầu cho loạt hành động của anh khác so với hành động “lên đường, đi tới” (πορευθεὶς) của hai người trước đó. Chôn giấu bạc dưới đất là một thói quen của người thời xưa. Nếu anh ta đào đất và chôn giấu số bạc của mình thì đó là chuyện bình thường. Ngạn ngữ xưa có câu: “Tiền bạc chỉ được canh giữ bằng cách chôn dưới đất”. Theo như Jeremias (Parables, 61), chôn tiền được xem như bảo đảm tốt nhất để chống trộm. Ai chốn giấu tiền thì thoát khỏi trách nhiệm pháp lý, trong khi đó ai gói tiền ký thác trong vải thì chịu trách nhiệm cho việc mất.[8] Trong Mt 13,44, Đức Giêsu đề cập đến một kho tàng được chôn trong ruộng, diễn tả một truyền thống cất giấu tài sản của người xưa. Tuy nhiên, đây không phải số bạc được trao để cất giữ.[9] Rõ ràng là anh này không hiểu rõ ý chủ của mình. Nếu chủ đưa bạc cho anh chỉ để cất giấu thì không cần chia talanton từng người tùy theo khả năng của mình. Ông chủ chắc chắn cũng có kho để cất giấu tài sản của mình, không cần trao cho từng người đầy tớ mỗi người một số lượng khác nhau như thế.
  6. Sau một thời gian dài (πολὺν χρόνον). Đây là kiểu nói thể hiện sự trì hoãn, tương tự như chúng ta đã gặp trong những dụ ngôn trước Mt 24,48 và 25,5. Đây rất có thể là thời gian giữa lúc Chúa Giêsu lên trời và trở lại trong vinh quang.[10] Nó kết hợp với hình ảnh “người đàn ông đi xa” trong phần đầu tiên của dụ ngôn để làm thành một hành trình của người chủ: Ra đi và trở lại sau một thời gian dài. Đây là thời gian có đủ để các đầy tớ sinh lời theo đúng khả năng và số vốn mà Chúa trao phó.
  7. Đầy tớ tốt lành và trung thành: Cả hai người đầy tớ đầu tiên cùng được ông chủ khen với cùng những loại phẩm tính: “Tốt lành và trung thành” (ἀγαθὲ καὶ πιστέ). Cả hai đều được khen là “làm tốt lắm” (εὖ). Cả hai anh tốt lành và trung thành trong cách thức sinh lời gấp đôi, kịp lúc trước khi chủ trở về. “Trung tín” là một phẩm tính của Thiên Chúa (1 Cr 10,13; 2 Tx 3,3; 2 Tm 2,13; Hr 10,23; 11,11). Một mình Thiên Chúa là Đấng “tốt lành” (Mt 19,17).
  8. Trên những việc nhỏ, ngươi trung tín, trên những việc lớn, Ta sẽ trao trách nhiệm: Cả hai người đầy tớ “người đạt được 5 nén khác” và “người đạt được hai nén khác” đều được hứa hẹn về một trách nhiệm lớn hơn. Trách nhiệm này được dựa trên sự “trung tín” (πιστός). Sự trung tín/ trung thành được nhấn mạnh. Đức Giêsu đã từng nhận định rằng: “Ai trung tín trong việc nhỏ hơn, thì trong việc lớn cũng trung tín; ai trong việc nhỏ hơn bất chính thì trong việc lớn cũng bất chính” (Lc 16,10). Nhận định này được đặt trong bối cảnh cách thức sử dụng tiền của bất chính. Người đạt được năm nén còn được trao thêm cho một nén được lấy từ người “chôn giấu số bạc” của ông chủ (25,28). Trước đó, Đức Giêsu cũng đề cập đến hình ảnh người “đầy tớ trung tín và khôn ngoan” (Mt 24,45). Đó là người “cấp phát lương thực đúng thời cho các tôi tớ” và được ông chủ trao trách nhiệm trên tất cả tài sản của ông (24,47).
  9. Hãy vào trong niềm vui của chủ anh. Cùng với lời khen và lời hứa được giao nhiều hơn là một đối đãi hết sức hậu hỷ: “Hãy vào trong niềm vui của ông chủ ngươi”. Đó có thể là lời mời gọi vào dự tiệc Mêsia trong thời cánh chung. Nên nhớ thân phận của họ là những đầy tớ. Được đi vào trong niềm vui của ông chủ là một thay đổi về tình trạng, thân phận của họ.[11] Cũng như năm cô trinh nữ khôn ngoan, nhờ đã sẵn đèn dầu, được vào dự tiệc cưới với chàng rể, hai người đầy tớ tốt lành và trung thành cũng được vào hưởng niềm vui của chủ các anh. Lời mời gọi này không có trong bản dụ ngôn của Luca. Bản tiếng Việt (CGKPV), bản tiếng Pháp (TOB) và bản tiếng Ý (CEI) đều dịch có ý rằng “hãy vào và hưởng niềm vui của chủ anh”. Trong khi đó bản nguyên ngữ tiếng Hy Lạp thì chỉ nói là “hãy vào bên trong (εἰς, vào trong) niềm vui của chủ anh”. “Vào bên trong” có thể ngụ ý là chia sẻ chung niềm vui với chủ của anh. Anh được hòa vào trong niềm vui của chủ anh, được chung phần với chủ. Đó là niềm vinh dự của người tôi tớ vì tôi tớ thường dù có làm gì thì cũng là việc bổn phận. Từ đi vào (εἰσέρχομαι) cộng với giới từ bên trong (εἰς) được dùng ở đây giống y chang như động từ và giới từ được dùng trong dụ ngôn mười người trinh nữ cầm đèn đi đón chàng rể. Năm cô trinh nữ khôn ngoan, những người đã sẵn sàng di vào bên trong phòng tiệc cùng với chàng rể (Mt 25,10). Đây là lối diễn tả chung cuộc của buổi tiệc cánh chung. Thuật ngữ “niềm vui” torng tiếng Aram là thường có nghĩa là “bữa tiệc” hay “tiệc cưới”, trong thế giới Hy Lạp “niềm vui” diễn tả “ăn tiệc” với ông chủ.[12] Sự đi vào bên trong niềm vui của chủ không phải là trong chốc lát nhưng là kéo dài vĩnh viễn. Có người bên trong được chung vui thì chắc chắn cũng có những kẻ bên ngoài buồn bã. Đó là năm cô trinh nữ khờ dại hay là người tôi tớ thứ ba trong dụ ngôn này.
  10. Người đầy tớ lười biếng… xấu xa… và vô dụng. Anh đầy tớ này có một lý giải khá suôn sẻ và hợp lý và không làm hao hụt số vốn mà chủ giao. Tuy vậy, lối lý giải ấy không thuyết phục được ông chủ. Như đã nói trên, trong khi hai người đầy tớ trước đã hiểu được ý chủ và dấn thân sinh lời gấp đôi ngay lập tức, người đầy tớ này lừng khừng, không hiểu, và chỉ làm theo suy nghĩ của anh. Đầy tớ thì phải làm theo ý chủ, đoán ý chủ mà làm. Đầy tớ này được chủ kết luận là lười biếng[13], bởi anh ta đã không làm gì trong suốt thời gian dài chủ đi vắng. Đối nghịch lại với hai phẩm tính tốt mà ông chủ dành cho hai người tôi tớ trước (tốt lành và trung thành) là hai tật xấu dành cho người đầy tớ thứ ba: Xấu xa và biếng nhác. Anh bị cho là xấu xa có thể là do anh đã nghĩ sai về chủ của anh, hoặc anh đã lấy ý anh làm ý chủ. Còn có ý trách vì ông chủ như thế nên anh ta làm như vậy. Vì ông chủ hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi nên anh ta mới đâm sợ và đi chôn giấu số bạc. Nói cách khác anh quy trách nhiệm cho lỗi lầm của anh là vì tính cách của chủ anh, chứ không phải do anh lười biếng. Rõ ràng một đầy tớ không biết ý chủ, lấy ý mình làm ý chủ, lười biếng, không làm gì trong suốt thời gian dài, là một đầy tớ vô dụng, hết xài. Nếu sự tốt lành và trung thành của hai đầy tớ trước được đánh giá dựa trên số bạc mà họ đã đạt được, thì sự xấu xa và lười biếng của người thứ ba được đánh giá dựa trên sự không “đạt được” của anh.[14] Người đầy tớ thứ ba không được ông chủ trao cho trách nhiệm trên “việc lớn hơn” như hai đầy tớ trước, Hơn nữa, anh còn bị lấy đi số bạc được trao phó và nhất là bị trừng phạt nghiêm khắc.
  11.  “Hãy ném tên đầy tớ vô dụng ra bên ngoài vào trong nơi tối tăm.”[15] Trái ngược với số phận dành cho những đầy tớ tài giỏi và trung thành: Được mời vào bên trong niềm vui của ông chủ, ngưới đầy tớ biếng nhác, xấu xa và vô dụng bị quăng vào nơi tối tăm bên ngoài. Như đã nói trên, có người bên trong thì sẽ có kẻ bên ngoài.[16] Đó là cấu trúc dụ ngôn của Mátthêu. Có năm cô trinh nữ khôn ngoan, thì có năm cô khờ dại. Những người vào bên trong được mời “hãy vào”, trong khi những người ra bên ngoài thì bị “quăng”. Quăng, ném là động từ dành cho một sự vật chứ không dành cho một con người. Quăng, ném giả định một sự túm lấy, trói lại rồi mới quăng đi. Anh ta vô dụng nên bị quăng đi như một đồ vật phế thải. Những người tốt và trung thành thì đi vào niềm vui của chủ, còn tên đầy tớ vô dụng thì đi vào nơi tối tăm. “Vào nơi tối tăm bên ngoài” diễn tả sự phán xét chung cuộc.[17] Hình phạt của tên đầy tớ vô dụng còn được diễn tả một cách chi tiết rùng rợn hơn: Kẻ khóc lóc và kẻ nghiến răng. Bản dịch Việt Ngữ (CGKPV) là: “Ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng”. Cách dịch này diễn tả hành động nhưng không gột tả hết được ý nghĩa của bản văn. Bản văn gốc Hy Lạp không dùng động từ khóc lóc và nghiến răng mà dùng hẳn động từ eimi (là) cùng với hai danh từ với mạo từ xác định: kẻ khóc lóc và kẻ nghiến răng (ὁ κλαυθμὸς καὶ ὁ βρυγμὸς τῶν ὀδόντων). Anh ta sẽ biến thành kẻ khóc lóc và kẻ nghiến răng. Từ nay anh ta được gọi là “kẻ khóc lóc” và “kẻ nghiến răng”. Cùng lúc anh ta làm hai hành động và không phải một khoảng thời gian nhất định, nhưng suốt đời. Nó bao trùm cả số phận, tình trạng, cho suốt phần đời còn lại của anh. Cũng như thế, những đầy tớ chung vui với chủ là vui suốt cả phần đời còn lại của họ. Đó là cách thức diễn tả một tình trạng chung cuộc của thời cánh chung. Lối diễn tả hình phạt khóc lóc và nghiến răng được Mátthêu sử dụng nhiều lần khác. Trong Mt 8,12 Đức Giêsu cảnh báo rằng thiên hạ sẽ từ đông tây đến dự tiệc với Abraham, Isaac và Giacóp trong Nước Trời, còn con cái vương quốc thì bị quăng ra ngoài nơi tối tăm và sẽ trở thành kẻ khóc lóc và kẻ nghiến răng. Luca không đề cập đến hình phạt dành cho người thứ ba nhưng chỉ có lệnh “giết” dành cho các công dân nổi loạn (19,27).
  12.  “Người đã có tất cả thì sẽ được cho thêm và sẽ có dư tràn, còn kẻ không có thì ngay cái nó đang có cũng sẽ bị lấy đi.”[18] Đây là câu giải thích cho bối cảnh cụ thể, khi người đã có mười talanton đã được cho thêm một talanton nữa. Điều này hiện thực hóa lời hứa của ông chủ ở 25,21 dành cho người đầy tớ tài giỏi và trung thành vì anh đã trung thành trên số ít được giao. Nó cũng lý giải cho việc người đầy tớ biếng nhác có ít nhất (chỉ có một đồng), thì đã bị lấy đi. Tiếng Việt rất lợi thế trong việc truyền tải hai động từ bị động trong câu này. Trong khi động từ cho thêm được dịch ở thể bị động là “được cho thêm” với một ý nghĩa tích cực, động từ lấy đi, tước đi ở thể bị động được dịch là “bị lấy mất” với ngụ ý rất tiêu cực. Cách dịch này trong tiêng Anh, tiếng Ý hay tiếng Pháp, không hề thấy rõ. Thể bị động trong các động từ này được gọi là bị động thần linh. Có nghĩa là Chúa chính là tác nhân của các hành động này. Chúa sẽ “ban thêm” cho kẻ đã có nhiều và Chúa sẽ “lấy đi” cái đang có của kẻ có ít. Đó cũng là hình phạt dành cho những kẻ làm gương mù, gương xấu và phá luật (Mt 13,12), rồi hình phạt dành cho kẻ đầy tớ xấu xa, chè chén say sưa đánh đập tôi trai tớ gái (Mt 24,51). Luca cũng nói đến cùng hình phạt dành cho quân làm điều bất chính (Lc 13,28).

V. BÌNH LUẬN TỔNG QUÁT

Dụ ngôn “những talanton” nằm trong loạt ba dụ ngôn nói về thời cánh chung của Mátthêu: dụ ngôn “hai đầy tớ” (Mt 24,45-51); Dụ ngôn “mười người trinh nữ đi đón chàng rể” (Mt 25,1-13); và dụ ngôn “những talanton” (Mt 25,14-30). Dụ ngôn “những talanton” của Mátthêu có cấu kết chặt chẽ và mạch lạc hơn dụ ngôn có cùng chủ đề của Lc 19,11-27. Dụ ngôn gồm có 3 phần. (1) Ông chủ đi xa và trao talanton (Mt 25,14-15); (2) Hành động của ba người đầy tớ (25,16-18); (3) Báo cáo của ba đầy tớ, kéo theo phần thưởng và hình phạt (25,19-30). Việc ông chủ đi xa diễn tả một khoảng thời gian vắng bóng của ông chủ, đồng nghĩa với việc ông trao lại cho các đầy tớ không gian và thời gian tự do thể hiện trách nhiệm của mình. Và khoảng thời gian ông chủ đi vắng được diễn tả là rất lâu. Các đầy tớ được giả định có đủ thời gian phát huy tài năng của mình. Hơn thế nữa, ông còn trao cho họ những talanton phù hợp theo khả năng của mình. Ông biết rõ khả năng từng người và trao đúng số lượng cần thiết, không hơn không kém. Người tôi tớ khôn ngoan, nhiệt thành và trách nhiệm sẽ tận dụng thời gian ngay lập tức, nhanh nhất có thể để đầu tư sinh lời. Quả thật, hai đầy tớ đầu tiên đã làm như thế và đã làm rất hiệu quả. Mỗi người đều sinh lời được gấp đôi. Còn người đầy tớ thứ ba thì lười biếng, lừng khừng, không muốn đầu tư, không muốn làm việc. Anh ta đã chôn dấu talanton của chủ và dự định sẵn một phương án để đối phó với ông chủ. Mọi chuyện xảy ra đúng như logic của nó. Những người nhiệt tâm và siêng năng đã được ông chủ khen thưởng như những đầy tớ tài năng và trung thành. Ngoài những mỹ từ ca tụng đức hạnh này, ông chủ còn hứa là sẽ trao thêm vốn liếng và cơ hội cho những đầy tớ này nữa. Bằng chứng cụ thể là ông đã trao thêm cho người có mười talanton một nén nữa. Hơn nữa họ còn được mời gọi cách long trọng là “vào niềm vui của chủ anh”. Đó là một phần thưởng được đồng bàn, được chia sẻ được đồng hưởng niềm vui và sự sung túc của chủ. Người tôi tớ thiếu nhiệt thành, lừng khừng bị mắng nhiếc bằng những từ thậm tệ: xấu xa và biếng nhác. Anh bị tước lấy talenton mà anh đang có, bị công bố là kẻ vô dụng, hết xài. Ngoài ra, anh còn bị tống ra ngoài nơi tối tăm. Hơn nữa, anh phải trở thành người khóc lóc và nghiến răng trọn kiếp. Đức Giêsu sẽ trở lại trong ngày tận thế. Khoảng thời gian trước khi Ngài trở lại được ví như khoảng thời gian ông chủ vắng bóng, đi xa. Ngài trao cho mỗi tín hữu thời gian và cơ hội để họ hoàn thiện đời mình. Cái mà Thiên Chúa trao cho mỗi người tín hữu, những talanton mà người trao gửi vào tay từng người là chính sự sống, sự hiện hữu của người. Ngài trao cho họ hình ảnh của Ngài, hơi thở của Ngài, cùng với những ân sủng cần thiết để con người có thể trở nên hoàn thiện như chính chính Chúa là Đấng hoàn thiện. Lời mời gọi nên hoàn thiện phải luôn được thể hiện ngay lập tức, gấp rút và từng phút giây. Mỗi người không những phải tự sửa đổi nhưng thói hư tật xấu nơi mình mà còn phải hướng đến kẻ khác với con tim yêu thương, thể hiện bằng những hành động tử tế đối với đồng loại, đặc biệt là với những người yếu đuối, nghèo hèn. Sự hoàn thiện bản thân của con người còn phải được thể hiện qua thái độ sống trách nhiệm với vũ trụ, với thế giới, với tài nguyên thiên nhiên và môi trường mà Thiên Chúa, Tạo Hóa đã ban tặng và trao cho mỗi người trách nhiệm trông nom giữ gìn ngay từ khởi thủy. Lời mời gọi “hãy nên hoàn hảo như Cha anh em trên trời là đấng hoàn hảo” được thánh Mátthêu đặt vào cuối chương 5 (5,48). Đây là chương đầu tiên của Bài Giảng Trên Núi (Mt 5 – 7). Và chương 5 được khởi đầu bằng tám mối phúc thật, trong đó những lời chúc phúc được đảo ngược dành cho những kẻ khó nghèo về tinh thần; những người hiền lành; những người sầu khổ; những người khao khát sống cuộc đời công chính; những người thương xót người khác; những người có trái tim tinh tuyền;  những người xây dựng hòa bình; những người bị bách hại vì lẽ công chính. Và lời mời gọi khó khăn nhất cuối chương 5, cũng là điều kiện để mỗi tín hữu chứng tỏ mình là con của Cha trên trời, là “hãy yêu mến kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ anh em” (Mt 5,44-45). Đời người được ví như thời gian ông chủ đi xa, như Thiên Chúa vắng bóng. Ngài nhường lại không gian, thời gian và trao cho mỗi người những tài năng theo đúng khả năng của mỗi người. Thời điểm ông chủ trở về, lúc Chúa đến, là giờ chết của mỗi người, hay là ngày tận thế. Sự phán xét vào lúc ấy là chung cục không thể thay đổi gì nữa. Người được mời gọi vào hưởng niềm vui của chủ và kẻ bị quăng ra ngoài nơi tối tăm và trở thành kẻ khóc lóc và nghiến răng. Tất cả ranh giới này là vĩnh viễn. Phụng vụ Lời Chúa vào cuối năm phụng vụ mời gọi mỗi người rà soát lại túi của mình xem mình đã sinh lời được những gì và đánh mất những gì và cần phải làm thêm gì nữa để hoàn thiện mỗi ngày. Chắc chắn rằng, lời mời gọi này, Chúa Giêsu đã mời gọi hơn 2000 năm và còn mời gọi, nhắc nhở chúng ta mỗi ngày chứ không chỉ là cuối năm phụng vụ. Vấn đề là các tín hữu của Ngài có để tâm và nhiệt tâm hay không mà thôi.