
“Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống;
Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước”.
(Mt 25,35)
BÀI ĐỌC I: Ed 34, 11-12. 15-17
“Phần các ngươi là những đoàn chiên của Ta, Ta xét xử giữa chiên với chiên”.
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Đây Chúa là Thiên Chúa phán: “Này chính Ta săn sóc đoàn chiên của Ta và Ta sẽ kiểm soát chúng. Như một mục tử kiểm điểm đoàn chiên trong ngày chúng bị tản mát, thì Ta cũng kiểm điểm đoàn chiên Ta như vậy. Ta sẽ giải thoát chúng khỏi mọi nơi mà chúng đã bị phân tán, và trong ngày mây mù đen tối.
“Chính Ta sẽ chăn dắt các chiên Ta, chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ, Chúa là Thiên Chúa phán như thế. Ta sẽ tìm con chiên đã mất, sẽ đem con chiên lạc về, sẽ băng bó con chiên bị thương tích, sẽ lo chữa con chiên bị ốm đau, con nào mập béo, Ta sẽ chăm sóc, và sẽ chăn dắt nó trong sự công chính.
“Còn các ngươi, hỡi chiên của Ta, Chúa là Thiên Chúa phán thế này: Này Ta sẽ phân xử giữa con này với con khác, giữa cừu đực với dê đực”.
ĐÁP CA: Tv 22, 1-2a. 2b-3. 5. 6
Đáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi (c. 1).
1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi. Trên đồng cỏ xanh rì Người thả tôi nằm nghỉ. – Đáp.
2) Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi, tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng. Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. – Đáp.
3) Chúa dọn ra cho tôi mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương: đầu tôi thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu tôi đầy tràn chan chứa. – Đáp.
4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài. – Đáp.
BÀI ĐỌC II: 1 Cr 15, 20-26. 28
“Người đã trao vương quốc lại cho Thiên Chúa Cha, để Thiên Chúa nên mọi sự trong mọi sự”.
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, Đức Kitô đã từ cõi chết sống lại, là hoa quả đầu mùa của những kẻ yên giấc. Vậy sự chết bởi một người, thì sự kẻ chết sống lại cũng bởi một người. Cũng như mọi người đều phải chết nơi Ađam thế nào, thì mọi người cũng sẽ được tác sinh trong Đức Kitô như vậy. Nhưng ai nấy đều theo thứ tự của mình, hoa quả đầu mùa là Đức Kitô, đoạn đến những kẻ thuộc về Đức Kitô, những kẻ đã tin Người xuống thế: rồi đến tận cùng khi Người đã trao vương quốc lại cho Thiên Chúa Cha, và đã tiêu diệt mọi đầu mục, quyền năng và thế lực.
Nhưng Người còn phải cai trị cho đến khi Người đặt mọi quân thù dưới chân Người. Kẻ thù cuối cùng sẽ bị tiêu diệt là sự chết. Khi mọi sự đã suy phục Người, bấy giờ chính Con cũng sẽ suy phục Đấng đã bắt mọi sự suy phục mình, để Thiên Chúa nên mọi sự trong mọi sự.
TIN MỪNG: Mt 25, 31-46
31 “Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người.
32 Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê. 33 Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái.
34 Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa.
35 Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; 36 Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han.”
37 Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; 38 có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà cho mặc ? 39 Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han đâu ?”
40 Đức Vua sẽ đáp lại rằng: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.”
41 Rồi Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên trái rằng: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. 42 Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; 43 Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng.”
44 Bấy giờ những người ấy cũng sẽ thưa rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu ?”
45 Bấy giờ Người sẽ đáp lại họ rằng: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy.”
46 Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời.”
SUY NIỆM
A/ 5 phút với Lời Chúa
VUA HOÀ BÌNH
“Khi Con Người đến trong vinh quang, có hết thảy mọi thiên thần hầu cận, Người sẽ ngự trên ngai uy linh của Người.” (Mt 25,31)
Suy niệm: “Sự nổi loạn của các cá nhân và quốc gia chống lại quyền bính của Đức Ki-tô đã tạo ra những hậu quả đáng trách… những thù hận cay đắng và sự kình địch giữa các quốc gia, vẫn luôn gây nhiều cản trở đến sự nghiệp hòa bình” (Thông điệp Quas Primas, 24). Mừng lễ Chúa Ki-tô Vua hôm nay, trong bối cảnh đau thương của chiến tranh, thế lực sự dữ tung hoành khắp nơi, chúng ta được mời gọi giữ vững niềm trông cậy, vì chỉ duy có Chúa Giê-su là Vua vũ trụ. Ngài không thiết lập Vương quốc bằng vũ khí, bạo lực, nhưng bằng cái chết tự hiến trên thập giá; không cai trị bằng vũ lực, nhưng bằng tình yêu thương, phục vụ; cũng chẳng có lãnh thổ trên bản đồ thế giới, nhưng nơi trái tim con người. Chính Người mới có thể giúp cho con người tìm ra ý nghĩa, lẽ sống của đời mình, đem lại bình an, tự do, hạnh phúc, giúp ta hoàn tất hành trình dương thế đạt đến Vương quốc vĩnh cửu. Hãy để cho Đức Giê-su luôn có chỗ đứng quan trọng nhất trong đời mình.
Mời Bạn: Con người thời nay, nhất là giới trẻ, hay đi tìm một thần tượng nào đó để học đòi, bắt chước. Bạn đang chọn ai làm khuôn mẫu cho cuộc đời mình. Phải chăng đó chính là Thầy Giê-su? Được vậy thì hay biết mấy.
Sống Lời Chúa: Tâm niệm mọi chia rẽ, hận thù, ghen ghét… là những điều không thuộc về Nước Thiên Chúa.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, Chúa luôn muốn nhân loại được bình an. Xin cho chúng con yêu Chúa trên hết mọi sự, mến anh chị em như chính mình, để chúng con góp phần xây dựng Nước Chúa ngay giữa thế trần này. Amen.
B/ Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
SUY NIỆM LỄ ĐỨC KITÔ – VUA VŨ TRỤ
Qua Lời Tổng Nguyện của ngày Lễ Đức Kitô Vua Vũ Trụ, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Thiên Chúa đã muốn quy tụ muôn loài dưới quyền lãnh đạo của Đức Kitô, là người Con Chúa hằng ưu ái, và là Vua toàn thể vũ trụ. Xin cho chúng ta biết phụng thờ Chúa là Đấng cao cả uy linh, và không ngớt lời ngợi khen chúc tụng Người.
Bài đọc một của giờ Kinh Sách, được trích từ sách Khải Huyền cho thấy Đức Vua Kitô với vẻ huy hoàng khi Người ngự đến. Tất cả mọi hình ảnh được sử dụng để giúp chúng ta hiểu rằng: Đấng đã chết trên thập giá là Đấng đang sống. Chính Người đã nói: Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống, Ta đã chết, nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời, Ta giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ.
Bài đọc hai của giờ Kinh Sách, được trích từ khảo luận của linh mục Origiênê về cầu nguyện, ngài nói: Ai cầu cho triều đại Thiên Chúa mau đến, thì cũng cầu cho vương quyền của Thiên Chúa nơi mình được tăng triển, đem lại hoa trái và đạt tới tột đỉnh. Vương quyền trên thế gian nay đã thuộc về Chúa chúng ta và Đức Kitô của Người; Người sẽ hiển trị đến muôn thuở muôn đời. Do đó, chúng ta phải phụng thờ và không ngớt lời ngợi khen chúc tụng Đức Vua của chúng ta.
Thiên Chúa muốn quy tụ muôn loài dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô, Người là Con Chiên đã bị giết, nay xứng đáng lãnh nhận: phú quý và uy quyền, khôn ngoan cùng sức mạnh, danh dự với vinh quang. Người là Vua ngự trị muôn đời, Người tuôn đổ phúc lành, cho dân hưởng bình an, như lời Ca Nhập Lễ và Ca Hiệp Lễ mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ Đức Kitô Vua Vũ Trụ hôm nay.
Qua bài Đáp Ca, với Thánh Vịnh 22, các nhà phụng vụ muốn chúng ta nhìn ngắm Vua Kitô, như một mục tử nhân lành: chăn dắt, và bảo vệ chúng ta. Qua câu Tung Hô Tin Mừng, các nhà phụng vụ muốn chúng ta chúc tụng ngợi khen Vua Kitô của chúng ta: Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Chúc tụng triều đại đang tới, triều đại vua Đavít tổ phụ chúng ta.
Trong bài đọc một của Thánh Lễ, ngôn sứ Êdêkien cho biết: Đức Chúa là Chúa Thượng phán: này Ta sẽ xét xử giữa chiên với chiên, giữa cừu với dê. Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta. Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng. Ta sẽ theo lẽ chính trực mà chăn dắt chúng.
Trong bài đọc hai, thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, thánh Phaolô đã cho thấy: Như mọi người vì liên đới với Ađam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Kitô, cũng được Thiên Chúa cho sống. Đức Kitô phải nắm vương quyền cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Người. Thù địch cuối cùng bị tiêu diệt là sự chết.
Bài Tin Mừng cho thấy Đức Kitô chính là Vua Tình Yêu. Người đến xét xử thế gian: Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người, và Người sẽ tách biệt chiên với dê. Vua Tình Yêu xét xử thế gian theo tiêu chuẩn tình yêu: Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han… Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.
Thiên Chúa là tình yêu, Vương Quốc của Người là Vương Quốc tình yêu, công dân của Người là những ai biết sống yêu thương. Vua Kitô đã rời bỏ trời cao, để đến ở với con người: đến không phải để được hầu hạ, nhưng, để hầu hạ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người. Do đó, yêu thương phải là căn tính của những ai muốn quy phục Vương Quyền của Vua Kitô; phục vụ phải là kim chỉ nam hành động cho những ai muốn thuộc về Vương Quốc của Vua Kitô. Vua Kitô đã hành động vì yêu thương, thì chúng ta là thần dân của Người, chúng ta cũng phải làm như Người đã làm. Tuy nhiên, nếu chúng ta muốn những việc làm yêu thương và phục vụ của chúng ta trở thành lời ngợi khen chúc tụng, và thành những của lễ phụng thờ dâng lên Đức Vua của chúng ta, thì những việc làm yêu thương và phục vụ đó: cũng phải mang những thương tích tình yêu, của Đức Vua Tình Yêu, Đấng đã yêu thương và thí mạng vì chúng ta, và để rồi, vào ngày phán xét, chúng ta sẽ được nghe từng chính miệng Người: Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa.
C/ Lm. Joseph Phạm Duy Thạch, SVD
I. BỐI CẢNH
1. Bối cảnh phụng vụ:
Chúa Nhật cuối năm phụng vụ được dành để mừng kính trọng thể Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ. Ngài là vị vua hết sức đặc biệt về phạm vi lãnh thổ, về số lượng công dân thuộc quyền Ngài và về phương cách cai trị. Phạm vi lãnh thổ của Ngài không giới hạn bởi quốc gia châu lục nào, nhưng là trên toàn thế giới. Quốc gia của Ngài không chỉ giới hạn ở dưới mặt đất nhưng còn là trên cõi trời cao. Dân chúng trong vương quốc của Ngài không bị giới hạn bởi màu da, ngôn ngữ, chủng tộc, giai cấp, địa vị xã hội, giàu hay nghèo, nhưng là tất cả mọi người. Ngài có quyền không những trên tất cả mọi người, nhưng còn trên các thiên sứ, sinh vật và cây cỏ dưới đất và trên cõi trời cao. Phương cách điều hành đất nước của ngài cũng rất khác. Tất cả đều được dựa trên tình yêu và mục đích là làm cho quốc gia đầy ắp tiếng cười và sự bình an chứ không phải giàu có sung túc về mặt vật chất. Để trở thành một vị vua như thế, chính Ngài đã phải chứng tỏ rằng Ngài đích thực là một vị vua yêu thương và đáng được yêu. Ngài đã chọn đi con đường thập giá cho đến chết chỉ vì yêu nhân loại. Chỉ bằng con đường ấy Ngài mới đích thực là vị vua mang nhãn hiệu yêu thương. Dụ ngôn này diễn tả Đức Giêsu như là một Đấng đến xét xử nhưng liền ngay sau đó 26,1-2, Đức Giêsu lại thông tin rằng Ngài sẽ bị nộp để chịu đóng đinh. Nghịch lý, nhưng lại hợp lý bởi đó chính là con đường mà vị vua yêu thương đã chọn đi cho trọn tình yêu với nhân loại.
2. Bối cảnh bản văn:
Đây là dụ ngôn cuối cùng trong trình thuật của Tin Mừng Mátthêu và là dụ ngôn cuối trong loạt 4 dụ ngôn bàn về thời cánh chung trong Tin Mừng Mátthêu (Dụ ngôn hai người đầy tớ: 24, 45-51; Dụ ngôn mười trinh nữ đi đón chàng rể: 25,1-13; Dụ ngôn những talanton: 25,14-30). Đây cũng là trình thuật cuối cùng trước trình thuật về cuộc thương khó của Đức Giêsu. Chương 26 bắt đầu bằng âm mưu chống lại Đức Giêsu (26,1-5), và tiếp sau đó là trình thuật về việc Đức Giêsu được xức dầu (26, 6-13) và cứ như thế trình thuật về thương khó được tiếp diễn. Vị trí của dụ ngôn: Cuối trình thuật về giảng dạy của Đức Giêsu và cuối trong loạt dụ ngôn nói về cánh chung, nói lên tầm quan trọng của thông điệp của dụ ngôn này đối với Tin Mừng Mátthêu. Nó có thể xem như đỉnh cao về mặc khải về cánh chung cũng như chứa đựng thông điệp Tin Mừng quan trọng của Đức Giêsu. Danh xưng “những người công chính” liên hệ đến giáo huấn trong Bài Giảng Trên Núi, nơi mà các môn đệ được mời gọi phải có sự công chính vượt trội hơn sự công chính của các Kinh Sư và những người Pharisêu” (Mt 5,20) và trước hết họ phải tìm kiếm “Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người” (Mt 6,33).
3. Tên gọi dụ ngôn:
Dụ ngôn này thường được gọi là dụ ngôn “chiên và dê”. Tuy nhiên, dụ ngôn này hẳn không hề nói gì về chiên và dê cả. Chiên và dê chỉ được nhắc đến như là bối cảnh của một buổi tập trung, và phân chia của một người mục tử. Dụ ngôn này hoàn toàn nói về những con người với những biểu hiện cụ thể trong suốt cuộc đời họ. Mỗi người có thể gọi dụ ngôn này bằng một cái tên đẹp và hay như mình muốn. Thế nhưng, nên nhớ rằng nguyên gốc bản văn của Mátthêu, dụ ngôn này không có tên gì cả, và dù có đặt tên hay đến mấy thì cũng chỉ phản ánh được một khía cạnh nào đó của dụ ngôn này mà thôi.
II. CẤU TRÚC
| Bối cảnh (31-32a): Con của Loài Người đến trong Vinh Quang – Tất cả các dân được triệu tập Tách biệt hai nhóm (32b-33): Chiên bên phải dê bên trái Những người bên phải (34-40) Lời của nhà vua (34 -36) – Hãy đến, những người được chúc lành của Cha Tôi – Hãy thừa hưởng vương quốc đã được chuẩn bị cho anh em – Lý do: Tôi đói – đã cho tôi ăn; khát – đã cho tôi uống; là người lạ – đã chào đón; trần truồng – đã mặc cho; bệnh – đã chăm sóc; ở trong tù – đã đến với Tôi. Đáp trả của những người công chính (37-39) – “Chúa ơi! – Có khi nào thấy Ngài đói – cho ăn; khát – cho uống; là người lạ – đón tiếp; trần truồng – cho mặc; bệnh hạy ở trong tù – đến cùng Người đâu? Đáp trả của nhà vua (40) – Làm cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Tôi – làm cho chính tôi. Những người bên trái (41-45) Lời của nhà vua (41-43) – Hãy đi khỏi Tôi, những người bị nguyền rủa, – Vào lửa vĩnh cửu, đã được chuẩn bị cho quỷ và các sứ giả của nó – Lý do: Vì khi Tôi đói – không cho ăn; khát – không cho uống; Trần truồng – không mặc cho; người lạ – không tiếp đón; bệnh và ở trong tù – không chăm sóc. Đáp trả của người bên trái (44) – “Chúa ơi! – Có khi nào chúng tôi thấy Ngài đói hoặc khát, hoặc người lạ, hoặc trần truồng, hoặc bệnh, hoặc ở trong tù mà không phục vụ Ngài đâu? Đáp trả của nhà vua (45): Không làm cho một trong những người bẻ nhỏ nhất này – không làm cho Tôi. Kết luận chung (46): Những người bên trái ra đi vào sự trừng phạt vĩnh cửu Những người công chính vào sự sống vĩnh cửu |
III. MỘT VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
(1) Con của loài người (the Son of Man)[1]… vua (ὁ βασιλεὺς) … Chúa (κύριε): Ba danh xưng được dùng cho cùng một nhân vật. Con của loài người “đến trong vinh quang”, “ngồi trên ngai tòa của Người” trong 25,31, được gọi “nhà vua” trong 25,34 và 25,40, và những người chịu xét xử đều gọi Người là “Chúa” (25,37.44). Cách dùng hoán chuyển này cho thấy Con của loài người cũng là Đức Vua và cũng là Chúa. Đây là ba danh xưng Kitô học quan trọng mô tả Đức Giêsu trong ngày cánh chung. Đây là danh xưng xuất hiện trong văn chương khải huyền của sách Đaniel. Cụ thể, Đn 7,13 nói rằng “trong thị kiến ban đêm ông thấy có ai như Con của loài người, người đến với mây trời”. Thị kiến này cho thấy Con của loài người đến trong vinh quang với tất cả các thiên sứ theo hầu. Con của loài người cũng nói với Đaniel rằng “hãy hiểu rằng thị kiến đề cập đến thời gian cuối cùng” (Đn 8,17). Như vậy, hình “như Con của loài người đến trong vinh quang” trong dụ ngôn này có liên quan đến Con của loài người mà Đaniel đã nói đến. Cả hai đều đến trong vinh quang và vào thời cuối cùng. Danh hiệu Con của loài người trong tiếng Hy Lạp là “ὁ υἱὸς τοῦ ἀνθρώπου” dịch sang Tiếng Việt là “con trai của loài người”. Trong tiếng Do Thái, đó là một lối diễn đạt cá nhân hóa một danh từ chung chỉ nhân loại nói chung bằng cách thêm vào cụm từ “con trai của”, diễn tả một con trai của loài người cụ thể, một thành viên của loài người. Nghĩa của nó có thể như là “ai đó” hay “một người bất kỳ”. Cách dùng của Đaniel 7,13-14 diễn tả một Con của loài người đến trong đám mây, đã trở thành một vài dạng suy đoán của Do Thái giáo và Kitô giáo sơ khai, đoán trước một tác nhân siêu nghiệm thời cánh chung của cuộc phán xét và giải thoát mang tính thần linh. Trong Tân Ước, tác nhân ấy gần như được đồng hóa với Đức Giêsu Phục Sinh. Thuật ngữ này xuất hiện trong cả bốn Tin Mừng và luôn luôn phát xuất từ miệng của Đức Giêsu. Với một ngoại lệ (Ga 5,27: υἱὸς ἀνθρώπου ἐστίν), các sách Tin Mừng luôn luôn dùng mạo từ xác định (ὁ υἱὸς τοῦ ἀνθρώπο). Các tác giả có lẽ muốn giới thiệu thuật ngữ này như là một nhân vật đã được biết rồi, thậm chí trong bối cảnh, trong đó, nó chưa được đề cập trước đó. Thuật ngữ này có thể có ám chỉ về Mêsia được nói đến trong Đaniel 7. Trong bối cảnh này, Con của loài người có một vị thế hết sức quan trọng. Thậm chí, Ngài còn được gọi là Đức Vua trong 25,34. Và được những người bên hữu, bên tả gọi là Chúa (25, 37.44). Ngài ở trong một tư thế phán xét tất cả những người khác.
(2) Trong vinh quang của Người (ἐν τῇ δόξῃ αὐτου): Trong Sách Thánh Cựu Ước, thuộc tính “vinh quang” là thuộc tính gắn liền với Đức Chúa. Nhiều lần Đức Chúa tự gọi rằng “vinh quang của ta” khi nói với dân Israel. Khi Phaolô cầu xin Thiên Chúa tỏ vinh quang của Chúa cho ông, Đức Chúa đã trả lời: “Ta sẽ khiến vinh quang của Ta đi ngang qua trước mặt ngươi và Ta sẽ tỏ cho ngươi biết danh Ta là Đức Chúa” (Xh 33,18-19). Dân chúng nhìn thấy vinh quang của Đức Chúa trong đám mây khi Aharon nói với họ (Xh 16,10). Đức Chúa cũng nói với Phaolô rằng “anh em sẽ thấy vinh quang của Đức Chúa” khi Đức Chúa ban Manna cho dân (Xh 16,7). “Vinh quang của Đức Chúa” ngự trên núi Sinai và “sự xuất hiện của vinh quang của Đức Chúa như lửa cháy bừng trên đỉnh núi” (Xh 25, 16-17). Và nhiều lần tác giả nhắc đến vinh quang của Thiên Chúa như thế. Trong Tân Ước, tác giả Luca cũng có cùng lối diễn tả “vinh quang Đức Chúa chiếu tỏa xung quanh” những người chăn chiên khi thiên sứ loan báo cho họ một tin mừng trọng đại: “Một Đấng cứu độ đã sinh ra cho các ngươi hôm nay” (Lc 2,9-11). Thánh Phaolô trong thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô đã diễn tả rằng: “Chúng ta, mặt không che màn, phản chiếu vinh quang Đức Chúa như qua một chiếc gương, chúng ta sẽ được biến đổi ngày càng giống hình ảnh ấy, ngày càng rực rỡ hơn, nhờ tác động của Chúa là Thần Khí” (2 Cr 3,18). Trong Tin Mừng Mátthêu, Đức Giêsu nói đến vinh quang của Con của loài người một lần khác nữa. Cuối chương 19, trong bối cảnh ông Phêrô hỏi Đức Giêsu về phần thưởng mà các ông sẽ hưởng khi bỏ mọi sự để theo Chúa, Đức Giêsu cho biết rằng, các ông cũng được ngồi trên mười hai tòa, xét xử mười hai chi tộc của Israel, “khi Con của loài người ngồi trên ngai vinh quang của Người” (Mt 19,27-30). Đoạn này cũng nói đến vinh quang của Con của loài người trong bối cảnh xét xử. Trong dụ ngôn này, tác giả Mátthêu nhắc đến hai lần “vinh quang của Người”: Con của loài người đến “trong vinh quang của Người” và “ngồi trên ngai vinh quang của Người” (Mt 25,31). Cách nói “ngồi trên ngai vinh quang” rõ ràng diễn tả vị thế của một vị vua trong ngày thượng triều hoặc đăng quang. Ngoài ra, vào cuối chương 16, Đức Giêsu cũng nói đến Con của loài người “sẽ đến cùng với các thiên sứ của Người trong “vinh quang của Cha Ngài” (Mt 16,27). Vinh quang ở đây là vinh quang của Cha Ngài, nghĩa là của Chúa Cha. Đây cũng là bối cảnh Đức Giêsu nói đến cuộc phán xét: “Người sẽ trả lại cho mọi người theo điều họ đã làm.” Con của loài người cũng đến với các thiên sứ của Người như trong dụ ngôn này. Hơn nữa, trong chương 24, Đức Giêsu lại một lần nữa nhắc đến việc Con của loài người đến trong mây trời. “Họ sẽ thấy Con của loài người đến với quyền năng và vinh quang vĩ đại” (Mt 24,30). Tính từ “πολλοῦ” (nhiều) được đặt sau danh từ vinh quang để làm tăng mức độ của vinh quang này. Đây cũng là lần hiếm thấy tác giả Mátthêu dùng tính từ này đi kèm với danh từ vinh quang. Trình thuật này được đặt trong bối cảnh của bài giảng những biến cố của thời cuối cùng, thời cánh chung (Mt 24,1-44).
(3) “Sẽ được triệu tập” (συναχθήσονται). Động từ triệu tập được dùng ở thì tương lai, và thể bị động. Đây rất có thể là thể bị động thần linh, rất thường thấy, với tác nhân là chính Thiên Chúa. Thiên Chúa chính là người đã triệu tập, hoặc qua trung gian các thiên sứ, hoặc là chính Người triệu tập. Mt 24,31 diễn tả rằng: Con của loài người “gửi các thiên sứ với chiếc kèn lớn, và họ sẽ quy tụ những người được chọn từ bốn hướng, từ chân trời này đến tận chân trời kia”. Cách dùng của động từ này cho thấy bàn tay chủ động của Thiên Chúa trong buổi triệu tập này. Đó không phải là một buổi triệu tập ngẫu nhiên của bất kỳ ai, nhưng là buổi triệu tập của Thiên Chúa trong bối cảnh xét xử. Tính từ “πάντα: tất cả” được đặt trước danh từ quốc gia, hay dân tộc cho thấy rằng thành phần được triệu tập không giới hạn trong một không gian lãnh thổ nào nhưng là tất cả, không trừ ai, và quốc gia nào (x. Is 66,18). Trong đó, chắc chắn bao gồm tất cả các ông hoàng bà chúa, các vương giả, phú hào, nhà quý tộc, các nguyên thủ quốc gia và hàng lê dân vô danh tiểu tốt. Tất cả đều phải hiện diện. Không những tất cả các dân các nước, nhưng còn là tất cả các thiên sứ trên trời đều được quy tụ theo hầu Con của loài người này. Thật khó để mà tưởng tượng một khung cảnh như thế trên trần gian này. Ở đâu ra một không gian như thế để chứa toàn dân trên thế giới như thế, và Đức Vua sẽ dùng hệ thống khuếch đại âm thanh như thế nào để người ta có thể nghe Ngài nói, và Ngài sẽ ngồi ở đâu để họ thấy. Nói chung là một cảnh tượng còn hơn trong phim nữa. Đó là cảnh tượng của ngày cánh chung.
(4) “Người sẽ bố trí cho những con chiên đứng bên phải Người còn những con dê đứng bên trái Người”. Đây là kiểu phân chia mang tính sóng đôi rất thường được sử dụng trong các trình thuật của Mátthêu. Có lẽ, độc giả cũng chưa quên dụ ngôn “hai người đầy tớ” (một người trung thành, một người xấu, Mt 24,45-51); Dụ ngôn “mười cô trinh nữ đi đón chàng rể” (năm cô khờ dại – năm cô khôn ngoan, Mt 25,1-13); Dụ ngôn những talanton (hai người sinh lời – một người chôn giấu, Mt 25,14-30). Sự phân chia này rõ ràng báo trước cho độc giả về một viễn cảnh thông thường: sẽ có một nhóm người tốt và một nhóm người xấu. Hậu quả là sẽ có một nhóm người được trọng thưởng và một nhóm người bị trừng phạt. Sự phân xử này, cũng giống như cuộc phân xử trong các dụ ngôn trước, là sự phân xử mang tính chung cuộc. Không có một sự khoan nhượng nào và hiệu lực của bản án, thưởng – phạt là vĩnh viễn.
(5) Chiên – dê – phải – trái. Theo như nhà chú giải Jerimias (Parables, 206) một đàn súc vật trộn lẫn được thả trên đồng theo thói quen của người Palestine. Vào cuối ngày, mục tử sẽ tách chiên khỏi dê vì lẽ rằng những con dê cần được giữ ấm vào ban đêm, còn những con chiên thì thích ở ngoài trời vào ban đêm. Người ta đoán rằng bởi vì những con chiên thì có giá trị cao hơn nên chúng được đặt ở vị trí tích cực hơn trong dụ ngôn này.[2] Tác giả A.J. Hultgren cho rằng người ta tách những con dê ra để lấy sữa trong khi những con chiên, họ tách ra để xén lông.[3] Dĩ nhiên, những con chiên và những con dê tự chúng không phải là biểu trưng cho người tốt và người xấu. K. Snodgrass cho rằng trong thời Do Thái cổ, giá trị con chiên và con dê như nhau. Phép loại suy được xây dựng dựa trên sự phân chia bên trái, bên phải chứ không phải dựa trên cá tính hay giá trị của những con dê, dù cho giá trị những con chiên có phần nhỉnh hơn.[4] Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, con chiên thường được dùng để phác họa hình ảnh dân Israel như là dân Chúa trong Cựu Ước và văn chương Do Thái (Ez 34; 1 En 89-90) nhưng con dê thì không.[5] Trong Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu gọi chính Ngài là mục tử và những kẻ theo Ngài là chiên của Ngài (Ga 10,14). So sánh với tác phẩm của Plato, một triết gia Hy Lạp thời Cổ Đại, chúng ta thấy được điều tương tự về trái và phải: Rep.10,614c nói rằng trong cuộc sống đời sau, có những quan tòa, những người gửi người công chính đến bên phải và đến thiên đàng trong khi kẻ bất chính họ gửi xuống bên trái; Virgil, một nhà thơ Roma Cổ, cho rằng đường dẫn đến cuộc sống đời sau phân đôi và ngã đường bên phải là đại lộ của chúng ta đi đến Elysium (thiên đàng, nơi hạnh phúc hoàn hảo) trong khi ngã bên trái dẫn xuống Tartarus vô thần.[6] Theo kinh nghiệm thường ngày, những bộ phận bên phải của cơ thể thường mạnh hơn bên trái. Ví dụ như tay phải hoặc chân phải (trừ một số trường hợp ngoại lệ). Đa số quốc gia lái xe bên phải (trừ một số ngoại lệ). Ngày nay, người ta thường nói đến báo chí lề phải và lề trái, để diễn tả hai luồng thông tin trái ngược nhau. Bên phải dự báo một số phận tốt lành còn bên trái là dấu hiệu của một số phận bi đát. Con của loài người, đấng tách hai nhóm người thành hai phía, được ví như một mục tử. Đức Giêsu được ví như một mục tử. Trong trình thuật về Giáng Sinh, các thượng tế và các kinh sư đã đọc lại sách Mica 5,2 để tìm ra nơi sinh của đấng Mêsia (Mt 2,6). Mica nói đến Bếthlehem như là nơi thủ lãnh, đấng chăn dắt Israel sẽ ra đời. Micah rõ ràng nói đến vai trò mục tử của Đức Giêsu.
(6) “Vương quốc đã dọn sẵn cho các ngươi ngay từ lúc tạo thiên lập địa” (thành lập thế giới, khởi đầu của thế giới). Động từ đã được chuẩn bị được dùng ở thì vị hoàn và thể bị động. Đây rất có thể là bị động thần linh. Thiên Chúa chính là tác nhân của sự chuẩn bị này. Lời nói này của Đức Vua làm cho một số nhà chú giải suy đoán rằng: Việc thừa kế (thừa hưởng) vương quốc mang tính tiền định. Nghĩa là Thiên Chúa đã định trước cho ai thì người ấy đương nhiên được hưởng. Và dường như sự tiền định này đã có ngay từ khi tạo thiên lập địa. Nếu như thế thì sự phấn đấu, dấn thân của mỗi cá nhân cả cuộc đời không thay đổi được gì. Tuy nhiên, sự tiền định của Thiên Chúa ở đây đúng hơn nên hiểu là sự tiền định về vương quốc Thiên Đàng. Nghĩa là vương quốc thiên đàng vốn đã được dọn sẵn ngay từ khi tạo thiên lập địa cho những con người có những phẩm chất được thể hiện bằng những hành vi mà Đức Giêsu đã liệt kê, chứ không phải cho những cá nhân cố định nào. Nó được chuẩn bị cho nhóm người phù hợp, xứng đáng được hưởng vì những hành vi tốt lành của họ chứ không phải tiền định cho một nhóm người đặc biệt nào từ thuở mới sinh. Công bố này của Đức Vua cũng cho thấy việc thừa hưởng vương quốc là hồng ân của Đức Vua. Đức Vua chính là chủ thể của việc trao ban quyền thừa hưởng vương quốc này. Động từ “thừa hưởng/ thừa kế” (κληρονομέω) tương tự như động từ dùng trong mối phúc thứ năm (Phúc cho những tử tế/ hiền lành vì họ sẽ được thừa kế/ thừa hưởng miền đất”. Động từ này ẩn chứa một mối tương quan cha-con giữa Thiên Chúa và người thừa hưởng vương quốc. Nó có gốc tích từ ý tưởng thừa kế/ chiếm hữu miền đất hứa của dân Israel, con Thiên Chúa, trong Cựu Ước.
(7) “Đói…cho ăn; khát…cho uống; người lạ… tiếp rước; trần truồng… cho mặc; bệnh… chăm sóc; ở trong tù… thăm nom”. Có sáu cặp hành động được liệt kê theo loại song song đối xứng, với hai hành động trong ba nhóm (1) Cho thức ăn và thức uống cho người đói và người khát; (2) Cung cấp chổ ở cho người lạ và quần áo cho người trần truồng; (3) Thăm viếng người bệnh và người bị tù”. Cho người đói ăn là hành động cơ bản nhất của lòng tốt. Nó thường được nằm đầu bản liệt kê những hành động tốt trong Thánh Kinh 9Is 58,7; G 22,7; Cn 25,21; Ed 18,7.16; Tb 1.17; 4,16).[7] Và việc sáu cặp hành động này được đặt sau liên từ chỉ lý do (γὰρ: bởi vì) cho thấy rõ ràng những hành động này chính là nguyên do dẫn đưa những người bên hữu được vào Thiên Quốc. Nếu nói như thế thì chẳng phải những người này được thừa hưởng vương quốc là do công lao của mình đó sao? Điều này xem ra ngược lại với thần học của thánh Phaolô về ơn công chính: “Một người được công chính không do làm những gì Lề Luật dạy nhưng nhờ tin vào Đức Kitô Giêsu” (Gl 2,16). Tuy nhiên, thánh Phaolô nói điều này trong bối cảnh nhiều người hiểu lầm là ơn công chính có được là do công lao làm “những điều Luật dạy” của mình hơn là một hồng ân Chúa ban. Rõ ràng, ơn công chính là hồng ân đức tin. Tuy nhiên, không vì thế mà các tín hữu được miễn trừ thi hành những hành động tử tế với tha nhân mỗi ngày. Chúng ta cần nối kết với thần học của thư Giacôbê để hiểu đầy đủ hơn về chủ đề này: “Đức tin không có hành động là đức tin chết (Gc 2,17.26)… Bạn thử thử cho tôi thấy thế nào là tin mà không hành động, còn tôi, tôi sẽ hành động để cho bạn thấy thế nào là tin (Gc 2,18)… đức tin không có hành động là vô dụng (Gc 2,20) … Sáu cặp hành động này được hiểu như là biểu trưng cho tất cả những hành động tử tế mà những người bên hữu dành cho người khác trong suốt cuộc đời họ. Đó là những nhu cầu hết sức căn bản của Con của loài người: Đói, khát, trần truồng, người lạ, tù đày…Chúng biểu trưng cho tất cả nghịch cảnh của Con của loài người. Những người bên hữu làm những điều này, nghĩa là họ đã làm hầu như tất cả những hành động tử tế mà họ có thể làm cho tha nhân. Sáu cặp hành động này được kết với lời mời gọi phía trước: “Thừa hưởng vương quốc đã được chuẩn bị trước ngay từ khi tạo thiên lập địa” để làm thành một mô thức hoàn hảo của ơn cứu độ. Đó là vương quốc do Chúa chuẩn bị. Ngài chính là chủ thể của hồng ân này. Tuy nhiên, một người không được thừa hưởng nếu người đó không muốn thừa hưởng, bằng những biểu hiện tử tế của mình trong suốt cuộc đời họ. Văn chương Do Thái thời sơ khai khuyên dạy rất nhiều về những hành vi bác ái. Sách Huấn Ca dạy rằng “hãy dang tay ra với người nghèo, để những chúc lành của người có thể được hoàn thành” (Hc 7,32). Sách Tôbia 1,16-17 liệt kê các hành động bác ái Tôbít đã làm: Cho người đói ăn và cho người trần truồng mặc và chôn những xác chết bị bỏ rơi. Ông Tôbít cũng khuyên con mình là phải cho người nghèo thức ăn và cho những người trần truồng áo mặc (Tb 4,16). Văn chương Kitô giáo sơ khai cũng nói nhiều về hành động bác ái. Sách Étra thứ tư dạy rằng: “Hãy cho người túng thiếu, bảo vệ cô nhi, mặc cho người trần truồng, chăm sóc người mang thương tích và yếu đuối” (4 Ezra 2,20-21). Những câu nói của Sextus 378 nói rằng: “Nếu ngươi không cho người túng thiếu khi ngươi có thể thì ngươi cũng không thể nhận từ Đức Chúa khi ngươi túng thiếu”.[8] Tin Mừng Mátthêu nhấn mạnh đến điều răn yêu thương (5,43-48; 19,19; 22,34-40) và lòng thương xót (5,7; 6,2-4; 9,13; 12,7; 18,33; 23,23). Đức Giêsu cũng khuyên người thanh niên bán của cải mình đi để cho người nghèo (Mt 19,21; Mc 10,21; Lc 18,22). Những người có những hành vi tốt lành với “những người nhỏ nhất”, được gọi là những “người công chính”. Trong bài giảng trên núi (Mat 5 – 7), điều kiện để được vào Nước Trời là “có sự công chính vượt trội hơn sự công chính của các Kinh Sư và những người Pharisêu” (Mt 5,20). Những hành động tự tế cách vô vị lợi trong đời sống thường ngày được liệt kê trong dụ ngôn cánh chung này như là một kiểm chứng cho sự công chính được loan báo trong bài giảng trên núi.
(8) Khi nào vậy? (πότε). Trạng từ nghi vấn về thời gian được “những người công chính” lặp lại ba lần (25,37.38.39) dẫn đầu ba loạt hành động, trước những tuyên dương lạ lùng của “Chúa”. Sự ngây thơ của những người bên hữu càng tô điểm thêm vẻ đẹp của những hành vi tử tế của họ. Nghĩa là, họ đã thể hiện những hành vi tử tế ấy một cách tự nhiên, vô vị lợi. Họ không làm bởi vì một áp lực hay ảnh hưởng nào từ người khác. Họ đã không làm vì biết rằng đó là những kẻ bé nhỏ nhất của Đức Vua. Họ cũng không làm chỉ bởi vì họ trông chờ vào phần thưởng vương quốc. Những hành vi ấy chỉ xuất phát từ con tim tình yêu, thánh thiện của họ, sự đồng cảm và lòng thương xót của họ dành cho người khác là vô vị lợi. Chính vì thế mà họ tỏ ra ngơ ngác trước những ghi nhận của Đức Vua.
(9) “Những anh em bé mọn nhất của Ta” và “tất cả các nước”. Trong những bản văn trước của Mátthêu, “những anh em bé nhỏ nhất” dường như là những Kitô hữu (x. Mt 10,40-42; 18,6.14).[9] Tác giả A. Hultgren đề xuất ba nghĩa: (1) Bất cứ ai cần sự trợ giúp, những người kém may mắn trong thế gian; (2) các môn đệ của Đức Giêsu hay (3) Các người làm sứ vụ kitô giáo.[10] Tuy nhiên, trong bối cảnh này, những người bên phải không chỉ là những Kitô hữu, hay là những môn đệ của Chúa Kitô, nhưng là tất cả mọi người, bởi họ được chọn ra từ tất cả các quốc gia trên thế gian chứ không riêng gì quốc gia Kitô giáo. Danh từ “ἔθνος” không có tính từ “tất cả” thường được Mátthêu dùng để chỉ “dân ngoại” (4,15; 6,32; 10,5.18; 21,18.21; 20,19), nhưng ở đây nó có thể có nghĩa là các quốc gia. Nhiều học giả hiểu danh xưng này là “các nước” (bao gồm người Do Thái), nhưng một số chuyên gia vẫn nghĩ là “dân ngoại” hay các “quốc gia dân ngoại”[11] Giáo Hội, như Mátthêu biết nó, được tạo nên từ những người Do Thái và dân ngoại cùng với nhau.[12] Nó có thể đề cập đến các Kitô hữu hoặc không Kitô hữu. Trong Bản Bảy Mươi (bản dịch Thánh Kinh Do Thái qua tiếng Hy Lạp), danh từ này rất thường xuyên được dùng để nói về các dân khác hơn là dân Israel (Xh 33,16; Đnl 7,7), nhưng thỉnh thoảng nó cũng bao hàm dân Israel (Tv 48,2; Is 25,6-7).[13] Đức Vua là vua của vũ hoàn chứ không phải chỉ là vua của Kitô giáo. “Những anh em bé mọn” là tất cả những người túng thiếu.
Đức vua đồng hóa chính mình với những người bé mọn nhất. Và tất cả những người bên hữu này đều gọi Ngài là “Đức Chúa” (Lord). Danh từ “người anh em” mà Đức Vua sử dụng cũng rất đáng chú ý. Nó làm thay đổi tương quan giữa những kẻ bé mọn và Đức Vua cao cả. Ngài xem họ như là người nhà của mình. Ngôn ngữ gia đình được Đức Giêsu sử dụng rất nhiều lần trong Tin Mừng Mátthêu. Danh từ “người anh em” (ἀδελφός) được Mátthêu sử dụng 38 lần trong đó 20 lần nói đến những anh em theo nghĩa đen. Tối thiểu 8 trong số 18 cách sử dụng ẩn dụ không có nghĩa “môn đệ” nhưng được sử dụng khái quát theo nghĩa là người thân cận của một ai đó (Mt 5,22: Ai giận ghét người anh em mình…; 5,47: Nếu anh chỉ chào hỏi những người anh em của anh…; 12,48, bất kỳ ai thi hành thánh ý của Cha Ta trên trời người ấy là anh em và chị em và mẹ tôi; 18,35: nếu anh không tha thứ cho người anh em hoặc chị em của anh …). Đức Giêsu dạy các môn đệ gọi Thiên Chúa là cha (cha chúng con ở trên trời). Điều đó cũng đồng nghĩa với việc Ngài muốn họ nhìn nhận tất cả mọi người trên trái đất này đều là anh em vì họ có cùng một cha.
Danh xưng của vị thẩm phán trong trình thuật về cuộc xét xử này được thay đổi liên tục: Con của loài người – Đức Vua – Chúa. Ngài là Con của loài người đến trong vinh quang với các thiên sứ theo hầu và tập họp dân cư trên toàn cõi đất lại. Ngài là Đức Vua khi phân chia hai nhóm người bên tả bên hữu như mục tử tách chiên với dê. Ngài cũng là Đức Vua xét xử, công bố bản án cho những kẻ bên tả và ban thưởng cho những kẻ bên hữu. Ngài cũng là Đức vua khi đồng hóa với những người bé mọn, Ngài xem họ như người nhà. Ngài là Chúa trong cái nhìn của những người bên hữu và những kẻ bên tả.
(10) “Những con chiên” = “những người bên phải” = “Những kẻ được chúc phúc”= “những người công chính” >< “Những con dê” = “những người bên trái” = “những kẻ bị nguyền rủa”. Những người bên hữu được gọi bằng hai danh xưng trong khi đó những kẻ bên tả chỉ có một danh xưng mà thôi. Đối lại với danh xưng “những người được chúc phúc” là danh xưng “những kẻ bị nguyền rủa”. Trong khi danh động từ thể bị động, “những kẻ được chúc phúc” (οἱ εὐλογημένοι), ngụ ý tác nhân thần linh là Thiên Chúa, cụm giới từ “của Cha Tôi” (τοῦ πατρός μου) định hình tương quan giữa “những người bên phải” với “Cha”. Họ là của “Cha” hay họ thuộc về Cha. Tương tự, danh động từ ở thể bị động “những người bị nguyền rủa” (οἱ κατηραμένοι) cũng ngụ ý tác nhân thần linh là Thiên Chúa. Những người này không có tương quan với “Cha”, nhưng có tương quan với “quỷ” vì nơi chốn mà họ đi vào là “nơi được chuẩn bị cho quỷ và các sứ giả của nó” (τὸ ἡτοιμασμένον τῷ διαβόλῳ καὶ τοῖς ἀγγέλοις αὐτοῦ). Những người bên trái có thể được hiểu là “các sứ giả của quỷ”. Đức Vua chắc chắn không muốn chúc dữ cho ai. Danh xưng “những người công chính” được lặp lại 2 lần trong dụ ngôn này, trong khi nhóm người bên tả chỉ được nhắc đến bằng đại từ ngôi thứ ba. Những quan sát về mặt từ ngữ và cách dùng từ cho thấy sự vượt trội, ưu thế của những người bên hữu. Tính từ “công chính” được dùng như danh từ với mạo từ xác định, số nhiều đứng trước được Mátthêu sử dụng năm lần, hai trong năm lần đó được dùng trong dụ ngôn này. Những người công chính trong dụ ngôn này xem ra được định nghĩa bởi hai đặc tính nổi bật. Đặc tính thứ nhất là “được Cha chúc phúc”. Đặc tính thứ hai là có tình yêu và lòng trắc ẩn với “những người anh em bé mọn.” Những hành vi bác ái của họ, thể hiện một cách tự nhiên, được chuẩn nhận từ Đức Vua. Trong Mt 13,17, những người công chính được đặt cạnh những ngôn sứ với ước muốn được nghe lời giảng của Đức Giêsu mà không được nghe. Cũng trong chương 13, những người công chính được cho là sẽ chiếu sáng như mặt trời trong vương quốc của Cha của họ (Mt 13:43). Cũng trong bối cảnh những lời giảng về cánh chung, qua dụ ngôn cỏ lùng, Đức Giêsu nhắc đến ân thưởng này của những người công chính.
(11) “Hình phạt vô tận” và “sự sống đời đời”. Hai hình ảnh trái ngược mô tả hai tình trạng đời đời của “họ” (những người nguyền rủa) và “những người được chúc phúc”. Đó là phần đóng lại cho phần khởi đầu của bản án dành cho cả hai nhóm người. Khởi đầu dành cho “những người bên phải”: “Hãy lại đây, những người được chúc phúc của Cha Tôi! Hãy thừa hưởng vương quốc đã được chuẩn bị cho anh em (25,34) … Kết cục: những người công chính ra đi vào sự sống vĩnh cửu” (25,46); Khởi đầu dành cho “những người bên trái”: “Hãy đi khỏi Tôi, những kẻ bị nguyền rủa, vào lửa đời đời đã được chuẩn bị cho quỷ và các sứ giả của nó (25,41)… Kết cục: Họ ra đi vào sự trừng phạt muôn đời” (25,46). Tính từ thời gian “αἰώνιος” (muôn đời, vô tận, muôn kiếp) được sử dụng kèm với bản án. Phần thưởng sự sống đời đời đối lại với hình phạt muôn kiếp. Đây là lối diễn tả của thời cánh chung. Một khi Đức Vua đã kết án thì bản án này vĩnh viễn không thể thay đổi. Nó giống như hoàn cảnh của mười cô trinh nữ trong dụ ngôn trước đó (Mt 25,1-13). Năm cô khờ dại có gõ cửa bao nhiều lần thì cửa vẫn không mở. Số phận của ba người đầy tớ trong dụ ngôn những talanton cũng tương tự như thế (Mt 25,14-30). Người đầy tớ biếng nhác và xấu xa thì trở thành “kẻ khóc lóc và nghiến răng”. Những bản án ấy là vĩnh viễn không thay đổi được. Điều đó vừa cho thấy tính cách khắc nghiệt của bản án nếu ai đó bị trừng phạt vừa diễn tả niềm vui khôn cùng, vô tận của những người được thừa hưởng vương quốc.
| “Những người bên phải”: Khởi đầu: “Hãy lại đây, những người được chúc phúc của Cha Tôi! Hãy thừa hưởng vương quốc đã được chuẩn bị cho anh em (25,34) Kết cục: Những người công chính ra đi vào sự sống vĩnh cửu” (25,46) “Những người bên trái”: Khởi đầu: “Hỡi những kẻ bị nguyền rủa! Hãy đi vào lửa đời đời đã được chuẩn bị cho quỷ và các sứ giả của nó (25,41) Kết cục: Họ ra đi vào sự trừng phạt muôn đời (25,46) |
IV. BÌNH LUẬN TỔNG QUÁT
Dụ ngôn “những con chiên và và những con dê” hay là “trình thuật về cuộc phán xét” một lần nữa cho thấy kiểu hành văn song đôi trong Tin Mừng Mátthêu. Theo mô thức của kiểu hành văn này, sẽ có một nhóm bên phải, bên của những con chiên, và sẽ có một nhóm bên trái, bên của những con dê. Sự phân chia này đã bộc lộ ngay từ đầu hai tính cách và dẫn đến hai số phận khác biệt, đối lập giữa hai nhóm người. Khung cảnh của buổi triệu tập cuối cùng thật hùng tráng. Tất cả các dân, các nước, mọi thành phần dân chúng không phân biệt màu da, chủng tộc, ngôn ngữ, giai cấp, giàu nghèo đều được mời gọi tham dự. Không chỉ là tất cả các thần dân dưới đất nhưng còn là toàn bộ các thiên sứ trên cõi trời cao. Chủ trì của buổi phân xử này là Con của loài người, Đức Vua, là Đức Chúa. Không ai khác chính là Đức Kitô Phục Sinh, Đấng đã được ban toàn quyền trên trời dưới đất. Ngài đến, dĩ nhiên không phải để trừng phạt, hay nói đúng hơn Ngài chắc hẳn không muốn trừng phạt ai. Ngài đến để tìm và cứu những gì đã mất (Mt 15,24; 18,14; Lc 15,1-32). Trong buổi cánh chung, chắc hẳn rằng nhà vua muốn tất cả, hoặc ít ra đa số thần dân ấy thuộc về nhóm bên hữu. Vương quốc đã được chuẩn bị ngay từ khởi đầu cho tất cả mọi thần dân, tất cả đều được mời gọi. Tuy vậy, tiếc thay không phải tất cả mọi người đều muốn vào, muốn thừa hưởng. Không phải tất cả đều nỗ lực hết sức để qua cửa hẹp mà vào. Chính vì thế mới có những người bên tả và những kẻ bên hữu; có những người được Cha chúc phúc, và những kẻ bị nguyền rủa. Hồng ân chúc phúc dĩ nhiên là thuộc thẩm quyền của Đức Vua. Tài sản thừa kế vương quốc là món quà nhưng không của Người. Vậy nhưng, điều đó không loại trừ trách nhiệm, thiện chí muốn vào của các thần dân. Đức Vua quan sát và ghi nhận tất cả những hành động tử tế mà từng người dân của Ngài dành cho những anh em bé mọn. Nhờ vậy mà Ngài có thể điểm mặt chỉ tên từng người từng việc một cách rành mạch chính xác. Có những việc lành, đôi khi chính đương sự không còn nhớ đến nữa, nhưng Đức Vua thì không. Ngài ghi nhớ tất cả. Những người bên hữu đã bày tỏ tình yêu và lòng thương xót dành cho những người lâm cảnh cơ hàn, nghịch cảnh. Đó là những kẻ đói cơm, thiếu nước, không mảnh vải che thân, không cửa không nhà, bệnh tật, tù đày… những hành vi này tượng trưng và bao quát hết tất cả những hành động tử tế cho tất cả những mảnh đời bất hạnh mà Đức Vua không muốn kể hết vì chúng quá nhiều. Đó là những người “anh em” của Chúa, người nhà của Chúa. Họ, những người bên hữu làm những điều ấy với tất cả tình yêu và vô vị lợi. Thậm chí họ quên đi, và ngây thơ, ngỡ ngàng trước sự nhắc nhớ của Đức Vua. Ngược lại với những người bên hữu, những người bên tả đã dửng dưng với những mảnh đời bất hạnh đi qua cuộc đời họ. Họ đã chẳng mảy may nghĩ đến và ra tay cứu giúp. Họ đã không thấy Đức Vua đói, không thấy Đức Vua khát, không thấy Đức Vua trần truồng, không gặp Đức Vua là người lạ, là đau bệnh, và không biết Đức Vua ở tù, vì nếu thế thì họ đã lập tức ra tay cứu giúp vì họ mong mỏi Đức Vua sẽ đáp trả họ, sẽ mang ơn họ. Nếu như sự giải thích, vẻ ngây ngô của những người bên hữu càng tô đẹp tính cách vô vị lợi trong những việc lành của họ thì sự giải thích của những người bên tả càng tô đậm tính vị lợi trong suy nghĩ của họ. Làm cho “một trong những anh em bé mọn này” chính là làm cho Đức Vua và không làm cho “một trong những người bé mọn này” là không làm cho Đức Vua.
Dụ ngôn chiên và dê hay là trình thuật về buổi phân xử là trình thuật cuối cùng trong loạt bài giảng nói về thời cánh chung. Nó vừa đúc kết, vừa giải thích và hoàn trọn những thông điệp gợi mở trong những dụ ngôn phía trước. Nếu như trong dụ ngôn mười trinh nữ đi đón chàng rể (Mt 25,1-13), người ta vẫn thắc mắc về chất dầu mà năm cô trinh nữ khôn ngoan đã mang theo là gì? Và trong dụ ngôn những talanton (Mt 25,14-30) người ta cũng lại thắc mắc những talanton mà hai người đầy tớ đầu tiên đã sinh lời (một người sinh lời được năm talanton và một người sinh lời được hai talanton khác) là gì? Thì trong dụ ngôn chiên và dê người ta có thể tìm thấy câu trả lời. Chất dầu và những talanton lời ấy chính là tình yêu và lòng thương xót được thể hiện mỗi ngày trong cuộc đời mỗi người. Đó là chất dầu giúp đèn của những trinh nữ khôn ngoan luôn cháy sáng để đón chàng rể và theo chàng vào phòng tiệc cưới. Đó cũng là những talanton lời giúp cho hai người đầy tớ đầu tiên được trao phó nhiều hơn và được mời đi vào trong niềm vui của ông chủ. Trình thuật cuối cùng không còn nói đến những ẩn dụ sự vật như dầu, đèn hay talanton (nén bạc) nhưng nói đến những mối tương quan của những con người bằng xương bằng thịt. Những đối tượng của lòng thương xót không phải ai xa lạ mà chính là “những người anh em bé nhỏ của” Chúa. Phần thưởng của những người được chúc phúc không chỉ là chung vui tiệc cưới nhưng là sự sống vĩnh cửu. Hình phạt dành cho những kẻ bị chúc dữ là hình phạt vĩnh cửu. Nó bao hàm cả việc trở thành những kẻ “khóc lóc và nghiến răng” vĩnh cửu, không thay đổi được. Cần lưu ý rằng, tuy tình yêu và lòng thương xót dành cho những người cùng khổ được xem như là những tiêu chí trọng yếu trong cuộc phân xử cánh chung, nhưng đó không phải là tất cả. Nó không thể bao trùm và miễn trừ cho việc thực thi tất cả các giáo huấn khác của Đức Giêsu trong toàn bộ Tin Mừng Mátthêu, cũng như các Tin Mừng khác. Còn đó những giá trị Tin Mừng như là Bát Phúc, Hiến Chương Nước Trời, đức tin, sự hoán cải, sự bao dung, tha thứ, lối sống khó nghèo…. mà những kẻ muốn hoàn thiện như Cha trên trời phải theo đuổi mỗi ngày. Những giá trị Tin Mừng các tín hữu phải theo đuổi mỗi ngày là cả cuốn Thánh Kinh chứ không chỉ là đoạn Tin Mừng về cuộc phán xét ở Mt 25,31-46.
Những lời nhắc nhở của Đức Giêsu về thời cánh chung là rất rõ ràng và quyết liệt. Chủ ý của Phụng Vụ Giáo Hội trong ngày cuối cùng của năm Phụng Vụ cũng rất rành mạch. Vấn đề còn lại là sự chọn lựa và đáp trả của mỗi cá nhân. Sẽ đến lúc mỗi người phải đối diện với Chúa và phải trả lời về tất cả những hành vi lớn nhỏ trong cuộc đời mình. Hình phạt muôn kiếp hay sự sống vĩnh cửu phụ thuộc vào chọn lựa và dấn thân của mỗi người ngày hôm nay.
D/ Lm. Giuse Đinh Lập Liễm
A.DẪN NHẬP
Hôm nay là ngày Chúa nhật cuối năm phụng vụ, Giáo hội hướng lòng chúng ta về ngày chung thẩm, ngày mà mọi người sẽ qua đi và vũ trụ sẽ ra tro. Ngày đó không ai biết được nhưng chỉ biết một điều là ngày ấy Chúa Giêsu sẽ xuất hiện lần thứ hai với dáng vẻ uy nghi của một vị Vua Thẩm phán, có các thiên thần hầu cận, để phán xét kẻ sống và kẻ chết như chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin kính.
Ngài sẽ phán xét thế nào ? Ngài sẽ phán xét theo tiêu chuẩn Ngài đã đề ra trong bài Tin mừng hôm nay: Tình yêu đối với tha nhân. Ngài đã đồng hoá Ngài với tha nhân trong nhiều dụ ngôn. Những ai thể hiện tình yêu ấy đối với Ngài qua tha nhân thì sẽ được thưởng, còn ai không yêu thương Ngài qua tha nhân thì sẽ bị phạt, đúng như quan niệm của dân gian: “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo”: việc lành việc dữ sau cùng đều có thưởng phạt.
B.TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1: Ez 34,11-12.15-17
Lịch sử đen tối của dân Israel đã cho thấy Thiên Chúa đã đặt một số người làm mục tử để chăm sóc Israel là đoàn chiên của Chúa. Nhưng những người này chểnh mảng với nhiệm vụ chăn dắt mà chỉ lo tìm lợi riêng, do đó, họ đã dẫn chiên đến một tai hoạ lớn: dân Israel bị bắt cầm tù rải rác khắp đế quốc Babylon. Họ đã bị xa cách nhau, phải tiếp xúc với dân ngoại đạo, họ đã thấy cô đơn và bị bỏ rơi.
Vì thế, qua miệng tiên tri Ezéchiel, Thiên Chúa cho họ biết rằng chính Thiên Chúa sẽ đi tìm họ, tập họp họ lại và lấy lại đoàn chiên khỏi tay những mục tử xấu ấy và chính Ngài sẽ chăm sóc họ như mục tử chăm sóc đoàn chiên mình.
+ Bài đọc 2: 1Cr 15,20.26a-28
Thánh Phaolô đưa ra cho tín hữu một so sánh: Adong cũ đã làm hỏng con người và làm cho con người phải chết. Chúa Kitô là Adong mới đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, giải thoát con người và ban cho con người sự sống mới. Do đó, Chúa Giêsu trở nên thủ lãnh nhân loại để đưa con người vào Nước trời.
Và đến ngày cách chung, Chúa Giêsu Kitô Vua đã chiến thắng mọi kẻ thù và nắm quyền trên mọi loài mọi vật, sẽ trao lại cho Thiên Chúa Cha tất cả vương quyền và Ngài sẽ cho tất cả những ai tin Ngài được sống lại và cùng hưởng vinh quang với Ngài.
+ Bài Tin mừng: Mt 25,31-46
Dụ ngôn mà thánh Mátthêu mô tả bằng hình ảnh có tính cách khải huyền về ngày phán xét sẽ diễn ra trong ngày sau cùng. Khi đó, Đức Giêsu sẽ xuất hiện như một vị Vua thẩm phán đầy uy quyền, có các thiên thần hầu cận. Ngài sẽ tách biệt người lành kẻ dữ ra hai bên, như người mục tử tách chiên ra khỏi dê để xét xử công minh.
Tiêu chuẩn của cuộc xét xử là luật yêu thương. Ngài đã đồng hoá Ngài với tha nhân: những ai thể hiện tình yêu cụ thể với những người khốn khổ bé mọn tức là thể hiện tình yêu đối với Ngài và sẽ được trọng thưởng. Ngược lại, những ai không thể hiện tình yêu đó đối với tha nhân tức là không yêu thương Ngài thì sẽ bị trừng phạt.
C.THỰC HÀNH LỜI CHÚA:
ĐỨC KITÔ VUA THẨM PHÁN
I.BỐI CẢNH NGÀY LỄ
Hôm nay là Chúa nhật cuối năm Phụng vụ, Giáo hội mừng lễ Chúa Giêsu Vua để nhắc nhở cho mọi người hãy suy tôn, phục vụ và theo Ngài, đồng thời phải chuẩn bị tâm hồn chờ đợi Chúa đến trong ngày tận thế với tư cách là vị Vua Thẩm phán để xét xử kẻ sống và kẻ chết.
Đức Giáo hoàng Piô XI đã thiết lập lễ này vào ngày 11.12.1925 trong bầu khí tạ ơn và hân hoan của Năm thánh 1925. Ngài thiết lập lễ này vì vào những thập niên đầu thế kỷ 20, thế giới phải đối diện với trào lưu tục hoá và các chủ thuyết khác. Về phía Giáo hội, qua việc mừng kính tước hiệu là Vua của Chúa Kitô, Giáo hội khẳng định niềm tin trước sau như một của mình là tuyên xưng vương quyền của Chúa Kitô trên mọi con người, mọi gia đình, mọi xã hội và trật tự nhân loại.
Ngoài ra, để điều chỉnh một số lệch lạc trong đời sống đạo nơi một số con cái, Giáo hội là Mẹ nhắc nhở cho mọi người rằng: Chúa Kitô không chỉ là người Anh hay người Bạn đồng hành mà Ngài còn là “Vua trên các vua, Chúa trên các chúa. Ngài là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời”.
II.MỘT NƯỚC CẦN CÓ VUA
Người ta thường nói: “Kim chỉ phải có đầu”, trong một tập thể không thể có cảnh “cá mè một lứa” được, nhất là trong một nước. Hầu hết các dân tộc thời xưa đều mơ ước và tin rằng vua của họ là con Trời, vì chỉ có con Trời mới là toàn năng công minh, thấu suốt mọi sự, mới giúp dân, ban ơn cho dân muôn phần tốt đẹp. Họ thường gọi Vua là Thiên tử, Trời có mắt, đèn Trời soi sáng, xin Trời phù hộ.
Bên phương Đông, Đức Khổng Tử đã thấy rõ vua Nghiêu, vua Thuấn, vua Vũ, vua Văn làm vua theo mệnh Trời, cho nên vương quốc thời cổ đại của các ngài thật là tốt đẹp và lý tưởng.
Kinh thư viết: “Thiên hựu hạ dân, tác chi quân, tác chi sư”: Trời giúp dân, đặt vua cai trị, đặt thầy dạy dỗ (Thái hệ thượng 7). Nhận biết Trời đặt mình làm vua, các ông hết lòng hết sức vâng theo mệnh Trời để giúp dân. Vua Vũ Vương viết: “Duy kỳ khắc tướng Thượng Đế, sủng tuy tứ phương”: Chỉ vì phục vụ Thượng Đế, giúp nhân dân bốn phương.
Bên Tây phương, Ba tư, Ai cập, Hy lạp hay La mã đều coi vua là con Thần Trời. Dân Do thái khi chưa có vua, họ đòi tiên tri Samuel: “Thế nào cũng phải có vua cho chúng tôi” (1Sm 8,19). Và ai được chọn làm vua đều được thánh hiến bằng xức dầu tấn phong, trở nên nghĩa tử của Thiên Chúa. Thiên Chúa nói với tiên tri Nathanael: “Hãy đi nói với Đavít: Ta là cha nó, nó sẽ là con Ta”(2Sm 7,5.14 và Tv 2,7). Nếu vua trung thành thực hiện sự công chính trong vương quốc và bảo đảm thịnh vượng cho toàn dân, Thiên Chúa sẽ bảo vệ vua khỏi tay quân thù” (Tv 20,21 và 45,4-8), (Lm. Vũ Khắc Nghiêm, Xây nhà trên đá, năm A, tr 192).
Truyện: Nữ hoàng Elizabeth lên ngôi
Năm 1952, lễ đăng quang của nữ hoàng Anh Elizabeth là một nghi thức long trọng nhất của thế kỷ 20. Ba triệu người đứng chật các đường phố Luân Đôn. Từ các thuộc địa Anh, các đoàn đại biểu trong sắc phục địa phương cũng có mặt. Nữ hoàng ngự giá trên chiếc xe ngựa bằng vàng. Hơn 10 sư đoàn trong quân đội hoàng gia diễn hành. Năm trăm chiếc khu trục cơ nhào lộn trên không.
Vua chúa và các nhà lãnh đạo hầu hết đều có mặt mang theo tặng vật cho vị tân nữ hoàng. Nhưng có lẽ quà tặng cao quý nhất mà thế giới tặng cho nữ hoàng là ngọn cờ nước Anh lần đầu tiên được một người Tân Tây Lan cắm trên đỉnh Everest ở độ cao 8.846 mét vào chính ngày áp lễ đăng quang.
III.ĐỨC GIÊSU XƯNG MÌNH LÀ VUA
1.Nơi Đức Giêsu xưng vương
Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, dân chúng hồ hởi muốn tôn Ngài làm vua, nhưng Ngài đã lẩn tránh, vì Ngài không muốn cho dân chúng hiểu Ngài làm vua theo kiểu thế gian. Ngài chỉ nhận mình là Vua khi đứng trước toà án Philatô, với dáng vẻ tang thương tiều tuỵ, Ngài khẳng định Ngài là Vua: “Ông nói phải, Tôi là Vua”. Chính Philatô cho Ngài ngồi ở Gabata, ghế dành cho quan tòa. Như vậy, vô tình Philatô công nhận Ngài là Vua và Ngài sẽ xét xử dân Do thái.
Ngoài ra, ông còn truyền viết tấm bảng treo trên đầu Chúa Giêsu với hàng chữ I.N.R.I (Jesus Nazareth Rex Judaeorum) có nghĩa là Giêsu Nazareth vua dân Do thái, tức là công nhận Đức Giêsu là Vua. Ngai vàng của Ngài là cây thập giá. Từ trên cao, Chúa nhìn xuống thần dân, giang hai tay ra để ôm lấy dân Ngài. Và diễn từ nhận chức của Ngài là: “Xin tha cho họ” và cao điểm là: “Mọi sự đã hoàn tất”.
2.Vương quốc của Ngài
Vương quốc của Ngài không có tính cách chính trị. Vương quốc của Ngài không thuộc về thế gian như các vua chúa ở trần gian. Vương quốc mà Ngài lập ra không có lãnh thổ hay tài nguyên, vì vương quốc ngài là vương quốc thiêng liêng nên vô biên giới và vĩnh cửu, nước không thuộc thời gian nhưng thuộc thời cánh chung: “Nước Người sẽ không bao giờ cùng” (Kinh Tin Kính).
IV.ĐỨC GIÊSU LÀ VUA MỤC TỬ
Đức Giêsu là Vua không theo nghĩa như các vua trần gian, nhưng Ngài xưng mình là Vua Mục tử nhân lành. Ngài tụ họp những con chiên bị phân tán, tìm con chiên lạc, băng bó chiên bị thương tích, chữa lành chiên bị đau ốm, chăn dắt chăm sóc đoàn chiên theo đường công chính (Bài đọc I). Chính Đức Giêsu đã tuyên bố: “Ta là mục tử nhân lành, Ta biết chiên Ta và chiên Ta biết Ta” (Ga 10,10). Ngài còn nói thêm: “Ta đến để cho chiên Ta được sống và được sống dồi dào. Chính Ta là mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình vì chiên”.
Ở Nước trời, Đức Giêsu là Vua đích thực muôn đời, vì Ngài đã hạ mình xuống làm tôi trung vâng lời Chúa Cha hiến mình chịu chết trên thập giá để cứu chuộc muôn dân, đưa muôn dân về với Thiên Chúa Cha trong nước vĩnh phúc hằng sống. Thánh Phaolô đã phải ca tụng: “Chính vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài, và ban cho cho Ngài một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu, để trên trời dưới đất và hỏa ngục phải bái quỳ khi nghe danh thánh Giêsu” (Pl 2,6).
Nếu Đức Kitô là Vua Mục tử thì vương quốc của Ngài là vương quốc tình thương. Đặc điểm của công dân trong nước này là những con người bất hạnh, khổ đau. Chính Đức Kitô, vị Vua Mục tử, đã tự đồng hoá mình với những kẻ bé mọn nghèo khổ: “Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). Tiêu chuẩn để xác định một người thuộc vương quốc của Ngài là chính những hành động của tình thương.
V.ĐỨC GIÊSU LÀ VUA THẨM PHÁN
1.Ngài đã khẳng định vậy
Trong kinh Tin kính chúng ta vẫn tuyên xưng: “Và Người sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết”. Lòng tin của Hội thánh đã được xây dựng trên lời Chúa: “Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ được tập họp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê. Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái”(Mt 25,31).
Ngai uy linh có nghĩa là ngai vinh quang, người Do thái quan niệm ngai vinh quang chỉ dành cho Thiên Chúa, các ngai khác dành cho các Tông đồ (Mt 19,28). Khi nói Chúa ngự lên ngai uy linh là một cách mạc khải Chúa Giêsu là Thiên Chúa.
2.Ngài phán xét như thế nào ?
a)Dựa trên tình thương
Sự phán xét của Ngài không tuỳ thuộc vào kiến thức của chúng ta có, sự may mắn hay tiếng tăm của chúng ta đạt được, nhưng tuỳ theo vào sự giúp đỡ mà chúng ta đã làm cho người khác. Cha Mark Link nói: “Khi Chúa đến, Ngài không cân đo trí khôn chúng ta thông minh thế nào. Nhưng Ngài sẽ cân đo trái tim của chúng ta yêu thương ra sao”.
Những điều Chúa nêu ra là cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, tiếp đón khách lạ, an ủi người bệnh, thăm viếng kẻ bị tù… Đó là những việc mà ai cũng có thể làm, đó là những sự giúp đỡ đơn giản cho mọi người cần đến mà chúng ta vẫn gặp hằng ngày. Không có ví dụ nào mở ra con đường đi tới vinh quang cho những người tầm thường nhất bằng ví dụ này.
Người Á đông chúng ta tuy không biết Thiên Chúa, nhưng có một quan niệm rất chính xác và cao sâu về Ông Trời: Ông Trời là chủ tể của mọi loài, không ai sống ngoài tầm kiểm soát của Ông Trời, sống theo ý Trời thì có phúc, làm ngược ý Trời thì bị phạt. Hai câu phản ảnh rõ nhất quan niệm trên là “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu”: Lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt được. Và còn một câu khác nữa cũng nói lên quan niệm ấy: “Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong: Người sống theo Trời thì còn, người nghịch với Trời thì mất.
Dù là dân đen hay vua chúa, dù nghèo hay giàu, dù trẻ hay già… cuối cùng rồi thì ai cũng chết và trình diện trước mặt Chúa, Vua Trời. Khi đó Vua Trời sẽ xét xử cuộc sống mỗi người dựa trên Luật Yêu thương. Người nào sống yêu thương là “thuận thiên” và sẽ được “tồn” trong hạnh phúc vĩnh hằng. Kẻ sống mà không yêu thương là kẻ “nghịch thiên” và sẽ bị “vong” vĩnh viễn trong cõi trầm luân. (Lm. Carôlô, Sợi chỉ đỏ, năm A, tr 564)
b)Giúp đỡ không tính toán
Tất cả những người giúp đỡ không nghĩ rằng: họ đã giúp đỡ Chúa Giêsu và tích trữ công đức đời đời cho mình. Họ giúp vì không thể không giúp, đó là bản chất tự nhiên không tính toán, phát xuất từ lòng yêu thương thật. Trái lại những người không muốn giúp đỡ người khác thường tỏ ra: “Nếu chúng tôi biết là anh thì chúng tôi đã sẵn lòng giúp”. Cũng có những người ra tay giúp đỡ nếu họ được người ta khen ngợi, cám ơn và công bố ra cho nhiều người biết, như thế không phải là họ giúp đỡ ai, mà chỉ để chiều theo lòng tự ái tự tôn của họ. Giúp đỡ như vậy không phải là rộng lượng, nhưng là ích kỷ trá hình. Sự giúp đỡ đẹp lòng Chúa phải là sự giúp đỡ không vì mục đích nào ngoài sự giúp đỡ vì tình thương.
Truyện: Thánh Martinô thành Tours
Ông là một quân nhân La mã và một Kitô hữu. Một ngày mùa đông lạnh lẽo, khi ông đi vào một thành phố, có người hành khất chặn ông lại xin bố thí, Martinô không có tiền, nhưng ông thấy người hành khất xanh xao và run rẩy vì lạnh, Martinô đã cho những gì ông có: ông cởi chiếc áo nhà binh đã sờn rách và xé một nửa cho người hành khất. Tối hôm ấy ông nằm mơ thấy thiên đàng có các thiên sứ đang bao quanh Chúa Giêsu và Ngài đang mặc nửa chiếc áo lạnh nhà binh của ông. Một thiên sứ hỏi Chúa Giêsu: “Tại sao Ngài mặc chiếc áo sờn rách đó ? Ai đã cho Ngài áo đó ?” Chúa Giêsu trả lời: “Martinô, tôi tớ của Ta đã cho Ta”.
c)Cho đi thì sẽ được
Tất cả những gì chúng ta làm cho tha nhân là làm cho Chúa, mà những gì chúng ta làm cho Chúa thì không thể mất được. Những gì chúng ta làm cho tha nhân, dù nhỏ mọn như một chén nước lã thì cũng có phúc trước mặt Chúa. Trái lại, những gì chúng ta không làm cho tha nhân tức là không làm cho Chúa, mà đã không làm cho Chúa là một điều có lỗi. Do đó, Chúa sẽ xét xử chúng ta theo nguyên tắc: “Hữu công tắc thưởng, hữu tội tắc trừng”: có công thì được thưởng, có tội thì phải phạt. Được thưởng hay bị phạt là do chúng ta định đoạt lấy, không ai có thể làm thay cho chúng ta được…
Truyện: Cho đi thì sẽ được lại
Một ngày mùa đông lạnh giá, Lady Grey, một phụ nữ quí tộc người Anh, rất giàu có, đã cải trang làm một người hành khất đi ăn xin từng nhà trong thành phố Luân Đôn. Đến một số nhà, bà bị xua đuổi một cách tàn nhẫn. Một vài nơi khác, bà chỉ được bố thí cho những thứ thừa thãi vất đi. Điều lạ là tất cả những người ấy là những gia đình giàu có. Thế rồi bà tìm đến một căn nhà lụp xụp nghèo nàn. Tại một túp lều xiêu vẹo, bà được một ông lão tàn tật ân cần mời vào sưởi ấm bên bếp lửa và cùng chia nhau một khúc bánh mì đen.
Hôm sau chính người nữ quý tộc ấy sai các gia nhân đến tận nhà mời những người mà bà đã đến ăn xin tối hôm trước tới dự một bữa tiệc tại dinh thự của bà. Tất cả khách được hướng dẫn vào một phòng chiêu đãi sang trọng và mỗi người được đặt chỗ ngồi riêng dọn sẵn. Bấy giờ ai nấy thấy trước mặt mình là những món ăn y như những thứ mà họ đã đem bố thí cho “bà ăn mày”: chỗ thì củ khoai thối, chỗ thì miếng bánh mốc không ăn được, có nơi là một cốc nước lã bẩn thỉu, lại có nơi chỉ là chiếc đĩa trống không. Duy chỉ có chiếc đĩa trước mặt ông lão tàn tật đầy ắp những món ăn ngon lành sang trọng. Mọi người chưa hết ngạc nhiên thì bà quý tộc xuất hiện và tuyên bố: “Hôm qua tôi đích thân đi ăn xin từng nhà để hiểu biết hơn về lòng nhân ái của quý vị. Hôm nay tôi chỉ đáp lễ bằng cách dọn ra mời quý vị những thứ mà quý vị đã cho tôi. Tôi tin rằng quý vị cũng sẽ được tiếp đãi như vậy trong bữa tiệc mai sau trước mặt Thiên Chúa là Đấng bây giờ đang đứng trước nhà quý vị, để trông chờ tấm lòng nhân ái của quí vị” (Quê Ngọc, Dấu ấn tình yêu, năm A, tr 139).
Nghe xong câu truyện trên đây, nhất là qua bài Tin mừng của Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ, chúng ta thấy cả hai đều quy về một mục đích là nêu cao và làm sáng tỏ một vấn đề hết sức hệ trọng trong đời sống đạo đức: đó là yêu thương giúp đỡ tha nhân, đặc biệt với những kẻ hẩm hiu cùng khốn là yêu thương chính Chúa và Chúa chỉ căn cứ vào đó mà đối đãi lại với chúng ta.
Nếu Thiên Chúa là Tình yêu và yêu thương là chính bản tính của Ngài, thì đạo của Ngài hẳn phải là đạo yêu thương. Vì thế, Chúa dạy chúng ta phải sống yêu thương và Chúa coi những việc chúng ta làm cho người khác là chúng ta làm cho chính Ngài.
Rồi trước khi chấm dứt cuộc đời rao giảng Tin mừng ở trần gian, Chúa còn quả quyết: “Ta bảo thật, những gì các ngươi làm cho một trong những người bé nhỏ của Ta, là các ngươi đã làm cho chính Ta”. Như vậy, Chúa Giêsu tiếp tục nhập thể nơi người anh chị em, và Ngài tiếp tục nhập thể nơi mỗi người Kitô hữu hôm nay. Ngài cần đến đôi tay chúng ta để phục vụ. Ngài cần đến môi miệng chúng ta để nói lời an ủi khuyến khích. Ngài cần đến trí hiểu và con tim chúng ta để sống tình liên đới yêu thương. Ngài cần đến đôi chân chúng ta để đến với mọi người.
Laudetur Christus Rex in saecula saeculorum.
Ngợi khen Chúa Kitô Vua đến muôn thuở muôn đời.
