8. NHỮNG ĐẶC SỦNG
“Mỗi người chúng ta đã nhận được ân sủng tùy theo mức độ Đức Kitô ban cho. Vì thế có lời Kinh Thánh nói: Người đã lên cao, dẫn theo đám tù; Người đã ban ân huệ cho loài người” (Ep 4,7-8).
Những lời này của thánh Tông Đồ đặt chúng ta đối diện với biến cố nền tảng mà mọi suy tư về đặc sủng phải dựa vào đó: Đức Kitô, đã sống lại và lên trời, đã gửi Chúa Thánh Thần đến. Ngài đã ban ân huệ cho loài người. Ngài là cội nguồn phải nhìn đến, là “tảng đá thiêng liêng” từ đó vọt ra “một dòng sông chảy ra bao nhánh đem niềm vui cho thành của Chúa Trời” (Tv 46,5).
Cách an toàn nhất để nói về những đặc sủng là bình giải một số bản văn Tân Ước, những bản văn chủ yếu giúp hiểu biết chủ đề này. Bản văn đầu tiên là chương 4 thư Ephêsô, mà chúng ta vừa nghe một số câu: “Chỉ có một thân thể, một Thần Khí […] một Thiên Chúa Cha của mọi người […] Chính Người đã ban cho kẻ này làm tông đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng” (Ep 4,4.6.11).
Bản văn này cho chúng ta biết trong Giáo Hội có hai bình diện: bình diện duy nhất, hoặc hiệp thông (koinonia) và bình diện đa dạng, hoặc phục vụ (diakonia). Bản văn cũng cho chúng ta biết những đặc sủng thuộc về hạng thứ hai này. Nói cách khác, Giáo Hội bao gồm một số thực tại nhất định chung cho mọi người và đồng nhất cho mọi người (nhất là: một Thiên Chúa duy nhất là Cha, một Chúa duy nhất là Đức Giêsu Kitô, một Thần Khí duy nhất, một đức tin duy nhất, một đức cậy duy nhất, một phép rửa duy nhất) và những thực tại khác, ngược lại, khác nhau cho mỗi người (các thừa tác vụ và các đặc sủng). Các thừa tác vụ và các đặc sủng là biểu hiện của sự phong phú, năng động và đa dạng của Giáo Hội. Chính nhờ chúng mà Giáo Hội là một thân thể, không chỉ “lắp ghép và kết nối tốt” mà còn “ăn khớp theo năng lực riêng cho mỗi thành viên”.
Đặc sủng và bí tích
Như thánh Phaolô nói, phép rửa có mặt trong số những yếu tố chung cho mọi người, giống như tất cả các bí tích. Sự khác biệt giữa duy nhất và đa dạng xuất hiện trong sự khác biệt giữa các bí tích và các đặc sủng.
Trong thư thứ nhất gửi cho tín hữu Côrintô, Phaolô viết: “Có nhiều đặc sủng khác nhau nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người” (1Cr 12,4-6). Trong bản văn này, chúng ta nhắc lại một lần nữa sự phân biệt thấy rõ giữa những gì khác nhau trong Giáo Hội (các đặc sủng, thừa tác vụ, hoạt động) và những gì là “duy nhất và đồng nhất” cho mọi người. Thánh Tông Đồ đặt các bí tích trong số các yếu tố giống nhau cho tất cả mọi người, vì sau đó ngài viết: “Tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí, để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” (1Cr 12,13).
Kiểu nói “được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” có thể ám chỉ về Thánh Thể được lãnh nhận lần đầu tiên cùng lúc với phép rửa, trong việc khai tâm Kitô giáo về cội nguồn. Dầu sao, điều chắc chắn là Thánh Thể cũng nằm trên bình diện hiệp thông này, bởi vì ngay trước đó thánh Tông Đồ đã nói về Thánh Thể bằng những lời sau đây: “Bởi vì chỉ có một tấm bánh […] chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1Cr 10,17).
Vậy đâu là mối liên hệ giữa đặc sủng và bí tích? Các bí tích thuộc lãnh vực chung, nơi không có sự khu biệt giữa các tín hữu: tất cả đều lãnh nhận theo cùng một cách thức, và nếu có sự khu biệt, thì điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào đức tin và mức độ thánh thiện của mỗi người, chứ không tùy thuộc vào chỗ đứng của họ trong Giáo Hội. Thánh Thể luôn luôn là một, cho dù là người lãnh nhận là Giáo Hoàng, giám mục, linh mục hay giáo dân. Phép rửa luôn luôn là một, cho dù người ban là Giáo Hoàng, linh mục hoặc, nếu cần thiết, một giáo dân thuần túy. Khi đó, các bí tích là những thực tại chung, nhờ đó Giáo Hội trước hết là sự hiệp thông và hiệp nhất. Ngược lại, các đặc sủng là “một sự tỏ mình ra cách đặc biệt của Thần Khí cho mỗi người” (x. 1Cr 12,7). Do đó, chúng không giống hệt nhau; trái lại, tất cả chúng đều khác nhau.
Bằng sự khôn ngoan vô biên của mình, Thiên Chúa đã thiết lập cách nào đó hai kênh riêng biệt để thánh hóa Giáo Hội, hai hướng khác nhau của hơi thở Thần Khí. Người ta có thể nói rằng một mặt, có Thần Khí thổi từ trên cao xuống và được truyền qua Đức Giáo Hoàng, các giám mục, các linh mục, và hành động trong Huấn quyền của Giáo Hội, trong phẩm trật, trong quyền bính và đặc biệt trong các bí tích. Ở đây, Thần Khí, hay ân sủng, đến với chúng ta qua các kênh do Đức Kitô thiết lập và được ủy thác cho Giáo Hội thể chế. Không ai có thể thay đổi các kênh này, ngay cả phẩm trật của Giáo Hội.
Có thể so sánh các bí tích với các ổ cắm điện, đặt ở những nơi nhất định của ngôi nhà. Trên núi, có một trung tâm điện lực lớn; với dây cáp lớn, nó vượt qua núi đồi và thung lũng, đến với thành phố, phân nhánh và nối với các ổ cắm điện của mỗi nhà; bất cứ khi nào người ta cắm phích vào một ổ cắm, nó sẽ tỏa nhiệt, năng lượng, ánh sáng, tùy theo nhu cầu. Cũng như vậy là trên bình diện ân sủng: chỉ có một trung tâm ân sủng duy nhất, hy tế cứu chuộc của Đức Kitô hoàn tất trên thập giá; từ đó, qua các kênh Đức Kitô thiết lập, ân sủng không ngừng chảy đến với chúng ta trong các bí tích khi chúng ta lãnh nhận.
Tất cả những điều đó liên hệ tới hướng mà tôi đã xác định là “từ trên cao”. Nhưng Thần Khí cũng thổi theo hướng ngược lại: “từ bên dưới”, từ nền tảng, từ các tế bào của thân thể Giáo Hội. Chính đó là vấn đề khi Đức Giêsu nói: “Gió muốn thổi đâu thì thổi” (x. Ga 3,8). Thánh Phaolô dường như lặp lai ý tưởng này của Đức Giêsu khi ngài khẳng định: “Chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách tùy theo ý định của Người” (1Cr 12,11). “Tùy theo ý định của Người”: sự tự do của Thiên Chúa là tối cao, nó không gắn chặt với những lựa chọn được thực hiện một lần mãi mãi thời Giáo Hội sơ khai, nhưng luôn mới mẻ và không thể đoán trước được. Đặc sủng là những cách bày tỏ cụ thể của Thần Khí, Đấng muốn thổi đâu thì thổi, và không ai có thể tiên liệu hoặc xác lập trước. Nếu các bí tích là các “phích cắm (prise)” của ân sủng, thì các đặc sủng là những “phích cắm bất ngờ (surprise)” của ân sủng và của Chúa Thánh Thần.
Toàn bộ Giáo Hội, cơ quan sống động, được Chúa Thánh Thần tưới tắm và làm cho linh hoạt, được cấu tạo bởi toàn bộ hai kênh hoặc là kết quả của hai hướng ân sủng. Các bí tích là ân huệ được ban cho mọi người vì thiện ích của từng người, còn đặc sủng là ân huệ được ban cho từng người vì thiện ích của mọi người. Các bí tích là những ân huệ ban cho toàn bộ Giáo Hội để thánh hóa các cá nhân; còn các đặc sủng là những ân huệ ban cho các cá nhân để thánh hóa toàn bộ Giáo Hội.
Chúng ta hiểu rất rõ Giáo Hội sẽ mất mát gì nếu một ngày kia người ta nghĩ có thể bỏ qua kênh này hoặc kênh kia, các bí tích hoặc các đặc sủng, hoặc Thần Khí xuống “từ trên cao” hoặc Thần Khí lan tỏa tại nền tảng của Giáo Hội. Thế mà, rất tiếc phải nói rằng Giáo Hội đã có kinh nghiệm mất mát này, ít nhất trên bình diện cụ thể, nếu không phải trên bình diện các nguyên tắc. Kể từ Công đồng Vaticanô II, mọi người đều nhận ra rằng trong quá khứ đã có sự giảm bớt cơ quan thánh hóa của Giáo Hội, gây thiệt hại cho các đặc sủng. Tất cả đều đi qua những kênh gọi là kênh “dọc”, được phẩm trật tạo ra hoặc được ủy thác cho phậm trật; chính qua các kênh này mà dân Kitô giáo đã nhận được lời Chúa, các bí tích, lời tiên tri (nói chung, người ta hiểu lời tiên tri là đặc sủng giảng dạy không thể sai lầm chân lý, điều thuộc Huấn quyền của Giáo Hội!). Đó là Giáo Hội hình “kim tự tháp” nổi tiếng, nơi mọi sự được cho là đi theo một trình tự rất chính xác và một chiều: từ Thiên Chúa đến Giáo Hoàng, từ Giáo Hoàng đến giám mục, từ giám mục đến linh mục, từ linh mục đến tín hữu. Một tình trạng như vậy gây nên sức ỳ của giáo dân là điều không thể tránh.
Nguồn gốc của sự nghèo nàn giáo thuyết này là một quan niệm về Giáo Hội đã được hình thành trong thời cận đại và được chỉ định theo cách loại suy là “quan niệm tự nhiên thần giáo (conception déiste)” về Giáo Hội (H. Muhlen). Với Descartes, đã có một quan niệm tự nhiên thần giáo về thế giới. Theo quan niệm này, lúc đầu Thiên Chúa đã tạo ra thế giới và rút lui sau khi đã làm cho nó vận hành; như vậy thế giới bước đi một mình, theo những quy luật đã được ghi một lần vĩnh viễn. Quan niệm này về thế giới còn được gọi là “máy móc”. Một cách cụ thể, người ta đã phủ nhận sự Quan phòng, phủ nhận sự kiện là Thiên Chúa vẫn tiếp tục cai quản thế giới mọi lúc.
Bằng cách loại suy, người ta gọi là “tự nhiên thần giáo” quan niệm về Giáo Hội mà đã biến Giáo Hội thành một tổ chức hoàn hảo do Đức Giêsu lập ra và ngay từ đầu được trang bị bằng tất cả các quyền hành và phương tiện (bí tích, phẩm trật, Huấn quyền) để độc hành cho tới ngày quang lâm. Do đó, người ta cũng từ chối quyền làm chúa hiện nay và không ngừng của Đức Kitô đối với Giáo Hội của Ngài; một quyền làm chúa được thể hiện bằng quyền tự do của Đức Kitô can thiệp bất cứ lúc nào vào Giáo Hội bằng Thánh Thần của Ngài và luôn chuẩn bị những điều ngạc nhiên luôn mới mẻ cho Hiền Thê của Ngài. Trên thực tế, người ta giới hạn phạm vi của các đặc sủng. Ngay trong thần học, người ta hầu như không nói về các đặc sủng nữa hoặc, nói cách khác, người ta nói về chúng để chỉ những ân sủng và những hiện tượng khác thường đã được ghi nhận trong cuộc đời của một vài vị thánh.
Với Công đồng Vaticanô II, hình ảnh có phần tĩnh và “máy móc” này của Giáo Hội đã thay đổi. Người ta đã tái ý thức rằng Giáo Hội không thể bỏ qua nguồn phong phú bao la của ân sủng lan tỏa tỉ mỉ trong thân thể Giáo Hội, nơi tất cả các chi thể của Giáo Hội, và được biểu lộ trong các ân huệ, hay các đặc sủng, của mỗi người.
Đây là những gì Công đồng đã viết về chủ đề này trong một bản văn rất nổi tiếng: “Hơn nữa cũng chính Thánh Thần ấy không chỉ thánh hóa và hướng dẫn dân Thiên Chúa bằng các bí tích, các thừa tác vụ, và trang điểm họ bằng các nhân đức, nhưng Ngài còn ban phát các an6 sủng đặc biệt cho mọi cấp bậc các tín hữu “phân chia ân huệ cho mỗi người theo ý Ngài” (1Cr 12,11), khiến người lãnh nhận các ân sủng ấy có đủ khả năng và sẵn lòng đảm nhận các công việc và nhiệm vụ khác nhau mưu ích cho việc canh tân, xây dựng và phát triển Giáo Hội như lời chép: “Thánh Thần hiển hiện trong mỗi người hầu mang lại lợi ích” (1Cr 12,7). Phải lãnh nhận những đặc sủng này, từ các ơn chói lọi nhất đến các ơn thường mà nhiều người lãnh được, với lòng tri ân và yên ủi vì các ơn đó mang ích lợi và phù hợp với nhu cầu của Giáo Hội” (GH 12).
Trong bản văn này, chuyển động kép của Thần Khí được phục hồi; người ta nói rằng vấn đề không chỉ qua các bí tích, nghĩa là từ trên cao, mà còn từ bên dưới, qua mạng lưới ân sủng dày đặc này, vốn là những đặc sủng của tất cả những người đã lãnh nhận phép rửa. Hơn nữa, trong cả hai trường hợp, đây là một hành động có mục đích thánh hóa dân Thiên Chúa, vậy là một điều gì đó chủ yếu, cấu tạo nên Giáo Hội, chứ không thuần túy là một sự tô điểm hay làm phong phú ngẫu nhiên.
Đặc sủng và phục vụ
Bản văn Công đồng cho thấy rõ mục đích của những đặc sủng này là gì: làm cho tín hữu “có khả năng và sẵn lòng” đảm nhận những trách nhiệm đổi mới bên trong và mở rộng bên ngoài Giáo Hội. Giáo Hội không làm gì hơn là hoàn toàn lặp lại giáo huấn Tân Ước về đặc sủng. Thánh Phaolô viết rằng chính Thiên Chúa “ban ơn cho kẻ này làm tông đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ. Nhờ đó dân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Đức Kitô” (Ep 4,11-12). Về phần mình, thánh Phêrô khuyên: “Ơn riêng (charisma) Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ (diakonía) kẻ khác” (1Pr 4,10).
Vậy mục đích của các đặc sủng là diakonía, phục vụ, thừa tác vụ. Thuật ngữ cuối cùng này, thừa tác vụ (ministère), là thuật ngữ phổ biến nhất trong các bản dịch Kinh Thánh của chúng ta; nhưng theo cách nói thông thường của chúng ta, nó đã trở nên mơ hồ và hàm hồ đến mức cần phải hiểu rõ, để không gây hiểu lầm (cũng có những “bộ” (ministères) của chính quyền, không phải lúc nào cũng là những cơ quan phục vụ hoặc những cơ quan không được dân chúng coi là như vậy). Trong Tân Ước, từ này chỉ đơn giản có nghĩa là “phục vụ” (ministrare, có nghĩa là phục vụ). Do đó, mục đích của các đặc sủng không phải là để tạo ánh hào quang, uy tín hay danh tiếng về sự thánh thiện cho người nhận được chúng; không phải là để giúp cho người đó có được sự tự tin hoặc quyền hành đối với người khác. Tuyệt đối không! Như thế là làm cho các đặc sủng bị biến chất. Khi Đức Giêsu lên trời, đổ các ân huệ của Ngài xuống người ta như mưa, Ngài nghĩ đến thân thể Ngài, nghĩ đến Giáo Hội, một Giáo Hội mà Ngài yêu thương và muốn “xây dựng”. Bình giải về chương 4, câu 8, của thư Êphêsô, thánh Augustinô nhận xét rằng thánh Tông Đồ nói: “[…] Người đã ban ân huệ cho loài người”, trong khi câu thánh vịnh mà ngài trích dẫn nói: “Người đã nhận đám người này làm lễ vật triều cống” (x. Tv 68,19), và ngài giải thích rằng trong Đức Giêsu Kitô cả hai điều đều đúng: với tư cách là Đầu, Ngài đã ban các đặc sủng cho loài người, với tư cách thân thể, Ngài đã lãnh nhận những đặc sủng ấy (vì Đức Kitô toàn thể là Đầu và thân thể cùng với nhau, Đức Kitô và Giáo Hội cùng với nhau). Điều mỗi người nhận được như một ân huệ của Chúa Thánh Thần, cũng chính là toàn thể Giáo Hội nhận được nó.[46]
Vậy các đặc sủng là dành cho Giáo Hội: cho vẻ đẹp, sức sống và sự đa dạng của Giáo Hội. Điều này giúp chúng ta khám phá lý do tại sao thánh Phaolô gọi bác ái là “con đường trổi vượt hơn cả”, là đặc sủng của các đặc sủng. Hãy để thánh Augustinô dẫn dắt chúng ta. Sau khi nhắc lại những đặc sủng khác nhau được thánh Tông Đồ liệt kê trong 1Cr 12,8-10, thánh Augustinô nói: “Nhưng có lẽ bạn không có ân huệ nào trong số những ân huệ mà tôi đã đề cập. Nếu bạn yêu, bạn không phải là không có gì, vì nếu bạn yêu mến Giáo Hội, thì ai có gì trong Giáo Hội cũng là có cái đó cho bạn. Bạn hãy dập tắt lòng ghen tỵ và những gì tôi có là của bạn; chớ gì tôi dập tắt lòng ghen tỵ và những gì bạn có là cho tôi. Ghen tị chia lìa, sức khỏe liên kết. Trong thân thể, chỉ mình mắt là thấy, nhưng phải chăng mắt nhìn cho mình nó? Nó cũng nhìn cho bàn tay, nó cũng nhìn cho bàn chân, nó cũng nhìn cho mọi chi thể khác, vì nếu người ta dọa đánh bàn chân, mắt không quay đi để tránh khỏi cảnh báo cho chân. Cũng vậy, trong thân thể, chỉ có bàn tay hành động, nhưng phải chăng nó hành động cho mình nó? Nó cũng hành động cho mắt nữa; vì nếu người ta đánh thẳng, không phải vào tay, nhưng vào mặt, phải chăng bàn tay sẽ nói: Tôi mặc kệ, vì người ta không nhắm vào tôi? Cũng vậy, khi đi bộ, bàn chân chống đỡ cho tất cả các chi; tất cả các chi thể khác giữ im lặng và cái lưỡi nói cho tất cả. Vậy, chúng ta có Chúa Thánh Thần, nếu chúng ta yêu mến Giáo Hội; chúng ta yêu mến Giáo Hội, nếu chúng ta ở trong sự hiệp nhất và bác ái của Giáo Hội. Là vì, sau khi đã liệt kê những ân huệ khác nhau được ban cho những người khác nhau, như là chức năng của từng chi thể, cũng thánh Tông Đồ nói thêm: “Tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả” (1Cr 12,31) và ngài bắt đầu nói đến lòng bác ái. Ngài xếp nó trên ơn nói tiếng lạ của loài người và thiên thần, xếp nó trên những phép lạ của đức tin, xếp nó trên khoa học và lời tiên tri. Ngài thậm chí còn xếp nó trên công trình lớn lao của lòng thương xót, bao gồm việc phân phát cho người nghèo những của cải người ta có, và cuối cùng, ngài còn đi xa đến mức xếp nó trên sự tử đạo của thân xác; ngài xếp bác ái trên tất cả những ân huệ tuyệt vời này. Hãy có bác ái và bạn sẽ có mọi sự, vì không có nó, tất cả những gì bạn có thể có sẽ chẳng có ích gì cho bạn”[47].
Bí mật được tiết lộ: bác ái là “con đường trổi vượt hơn cả” bởi vì nó làm cho tôi yêu mến sự hiệp nhất (nghĩa là Giáo Hội, và cụ thể hơn là cộng đồng nơi tôi sống), và trong sự hiệp nhất, tất cả các đặc sủng đều trở thành “của tôi”. Nhưng đó không phải là tất cả. Nếu bạn thực sự yêu thích sự hiệp nhất, đặc sủng mà tôi có, thuộc về bạn hơn thuộc về tôi. Giả sử tôi có đặc sủng rao giảng Phúc Âm, tức là loan báo lời Chúa, tôi có thể vui mừng về điều đó và khoe khoang về điều đó: khi ấy tôi trở thành “thanh la phèng phèng” và đặc sủng “chẳng ích gì cho tôi” như thánh Tông Đồ đã nói với tôi, trong khi nó luôn làm điều tốt cho bạn, là người lắng nghe lời đã loan báo, bất chấp tội lỗi của tôi. Nhờ bác ái, bạn sở hữu mà không gặp nguy hiểm những gì người khác sở hữu mà gặp rủi ro nào đó. Quả là một phát minh phi thường của Thiên Chúa thượng trí. Ngài làm cho đặc sủng của một người thành đặc sủng của mọi người.
Nhưng để phép lạ này xảy ra, thì, như thánh Augustinô nói, phải loại bỏ sự ghen tỵ, nghĩa là phải chết cho cái “tôi” cá nhân và vị kỷ của mình, tìm kiếm vinh quang cho riêng mình, và mặc lấy cái “Tôi” vĩ đại, bao la của Đức Kitô và của Giáo Hội. Và điều đó giả thiết một tình trạng hoán cải sâu xa. Các đặc sủng giả thiết rằng người ta sống trong tình trạng hoán cải liên tục; chỉ với điều kiện này chúng mới khỏe mạnh và toàn vẹn.
Khi thánh Phaolô quả quyết rằng nếu không có bác ái, thì ngay cả đặc sủng cao cả nhất cũng “chẳng ích gì cho tôi”, thì giờ đây rõ ràng là điều đó không có nghĩa là, nếu không có bác ái, đặc sủng chẳng ích gì cho ai và chúng bị hư mất; nó chỉ có nghĩa là đặc sủng không ích gì “cho tôi” nhưng luôn hữu ích cho Giáo Hội, ngay cả khi chúng không phục vụ người sở hữu và thực hành chúng.
Thực hành đặc sủng
Điều này đưa chúng ta đến điểm cuối cùng: thực hành cụ thể các đặc sủng. Thánh Phaolô nói: “Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách là vì ích chung” (1Cr 12,7). Tôi muốn nhấn mạnh những chữ: “Thần Khí tỏ mình ra”. Vậy đặc sủng là một sự bày tỏ, hoặc thần hiện, của Thần Khí; là sự bày tỏ một phần, nhưng rất xác thực, của Thần Khí (thuật ngữ Hy lạp sử dụng ở đây là thuật ngữ chỉ sự bày tỏ của Đức Kitô trong Tân Ước: phanérosis). Điều vừa nói là rất nghiêm túc: chúng ta vừa quả quyết rằng những đặc sủng, hoặc sẽ hoàn toàn vắng bóng nơi một người, hoặc sẽ tiêu ma nhanh chóng, dĩ nhiên giả thiết là chúng đã hiện diện ngày nào đó, nếu chúng không phải là sự bày tỏ tự ý và gần như phản ánh tự nhiên của Thần Khí, Đấng lấp đầy trái tim và cuộc sống của người đó, nói cách khác, nếu chúng tách biệt và giả tạo trong cuộc đời của người thực hành chúng. Đức Giêsu nói với chúng ta rằng, với các đặc sủng, chúng ta có thể thậm chí bị sa hỏa ngục: “Không phải bất cứ ai thưa với Thày: ‘Lạy Chúa, lạy Chúa’ là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thày là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy nhiều người sẽ thưa với Thày rằng: ‘Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri [đặc sủng thứ nhất], nhân danh Chúa mà trừ quỷ [đặc sủng thứ hai], nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ [đặc sủng thứ ba] đó sao? Và bấy giờ Thày sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác” (Mt 7,21-23).
Làm sao những người nói tiên tri, trừ quỷ, làm được nhiều phép lạ, mà Đức Giêsu lại bảo “xéo đi cho khuất mắt Ta” trong ngày phán xét? Bởi vì những đặc sủng này không phải là sự “bày tỏ” đích thực của một đời sống được Thần Khí Đức Giêsu hướng dẫn; đúng hơn, đó là một sự phô trương Thần Khí, chứ chắc chắn không phải là một sự bày tỏ của Thần Khí. Đây là trường hợp khi người ta lạm dụng các ân huệ của Thiên Chúa vì vinh quang hay lợi ích riêng của mình, mà không chấp nhận những đòi hỏi khắc khổ do chính Thần Khí đặt ra và do Tin Mừng trình bày, được tóm gọn trong từ “thập giá”.
Thế nên, chúng ta phải đi vào viễn tượng hoán cải thực sự, không còn nghĩ về các đặc sủng như những ân huệ đẹp đẽ mà một ngày nào đó sẽ xuất hiện trên cây đời sống chúng ta, nhờ sự tuôn đổ Thần Khí. Trong trường hợp này, cây này sẽ là một cây thông Noel hơn là một cây thật. Tôi đã minh họa trong một dịp khác về sự khác biệt giữa cây thông Noel và cây thật. Nói chung, cây thông Noel là một cây nhỏ bằng nhựa trên đó người ta treo những món quà Giáng sinh và được ném vào thùng rác ngay sau khi món quà được lấy ra và ngày lễ kết thúc. Người Kitô hữu nào có các đặc sủng, nhưng cuộc đời của người đó về cơ bản không ghi dấu Phúc Âm, thì giống như cây nhỏ bằng nhựa không còn hữu dụng ngay khi người ta lấy những món quà đi, sau đó nó bị ném vào thùng rác. Không giống như vậy, người Kitô hữu nào có đời sống như cây mọc bên bờ suối: luôn sinh hoa kết trái đúng mùa và lá cây không bao giờ khô héo (x. Tv 1,3). Chắc chắn, nó sẽ trải qua mùa đông, nghĩa là qua thời gian dường như sẽ không sinh trái nào, và bị tước bỏ mọi sự, nhưng khi mùa xuân đến, nó sẽ bắt đầu đâm chồi trở lại; chính khi người ta không thấy trái của nó, thì nó lại mang nhiều trái nhất.
Thánh Phaolô đã diễn tả đúng tất cả điều đó khi ngài quả quyết rằng các đặc sủng phải là sự thể hiện của một đời sống “theo Thần Khí”; Các đặc sủng chỉ được bảo đảm nơi những ai “nhờ Thần Khí, mà tiêu diệt những công việc của xác thịt” (x. Rm 8,13). Chúng ta hiểu vì sao có nhiều người đã dừng bước trên đường, hoặc thậm chí thụt lùi, sau một khởi đầu rực rỡ trong cuộc Canh tân.
Điều xảy ra trong cuộc Canh tân giống như những gì xảy ra khi người ta nhóm lửa; trước hết, nhóm lửa bằng những vật liệu dễ cháy, chẳng hạn như giấy, rơm hoặc các cành khô. Một khi ngọn lửa đầu tiên đã tàn, thì, hoặc lửa bén vào những mảnh gỗ lớn và sẽ kéo dài đến sáng hôm sau và sưởi toàn bộ ngôi nhà, hoặc nó đã không bén, và khi đó không có gì xảy ra cả. Đó đúng là một thứ “lửa rơm”. Trên bình diện đổi mới thiêng liêng, hoặc ngọn lửa bén tới trái tim và biến trái tim đá thành trái tim thịt, hoặc nó không bén tới trái tim và vẫn ở ngoại vi; trong trường hợp này, nó tàn tạ nhanh chóng, không để lại dấu vết nào.
Nếu trong các nhóm của chúng ta có rất ít “than hồng”, rất ít cuộc đời thực sự được lửa của Thần Khí thâm nhập và cháy lên cho Giáo Hội, thì chính xác là vì điều này: chúng ta đã không để lửa tiếp cận với trái tim. Chúng ta không trải qua cái mà thánh Phaolô gọi là “cắt bì trong tâm hồn” (x Rm 2,29).
Chúng ta phải coi là quan trọng một số quy tắc cơ bản của sự thánh thiện đã được tuân giữ trong cuộc đời các vị thánh đã được Giáo Hội công nhận. Tôi ngạc nhiên, đau khổ và đôi khi run lên vì phẫn nộ, khi nghe thấy anh chị em của cuộc Canh tân nói rằng phải công bố niềm vui phục sinh, không được nói quá đáng về thập giá, từ bỏ mình, để không trở lại với linh đạo cũ quá tập trung vào đau khổ. Tất nhiên, phải thúc đẩy đến tột độ niềm tin và niềm vui phục sinh, nhưng sự cân bằng không hệ tại ở chỗ định mức độ một chút phục sinh và một chút thập giá, là cách nghĩ rất nhân bản. Cân bằng là ở chỗ đưa cả hai đến tột độ: chấp nhận thập giá đến cùng, để trải nghiệm sự phục sinh đến cùng.
Giáo Hội không phủ nhận chính mình, Đức Giêsu không phủ nhận chính mình: trong hai mươi thế kỷ, chính như thế mà các thánh đã nên thánh. Lúc bắt đầu tiến trình thiêng liêng của các ngài, ân sủng được bày tỏ bằng những an ủi và những ân huệ quan trọng, để tách các ngài ra khỏi thế gian, giúp các ngài quyết định dâng mình cho Thiên Chúa. Nhưng sau đó, khi các ngài đã tách khỏi thế gian, Thần Khí đưa các ngài vào “con đường hẹp” của Phúc Âm, con đường hãm mình, vâng phục và khiêm nhường. Chúng ta không hiểu tại sao Chúa lại thay đổi tận căn phương pháp, khi chọn cách thánh hóa con người bằng một con đường khác, con đường đầy lạc thú và kinh nghiệm kích động từ đầu đến cuối. Chúng ta không hiểu tại sao và bằng cách nào Ngài sẽ đưa mọi người đi từ vinh quang này đến vinh quang khác, mà không dẫn dắt họ từ thập giá này đến thập giá khác.
Đức Giêsu đã cứu chúng ta bằng cách vượt từ thập giá này sang thập giá khác và làm nên các thánh bằng cách cũng làm cho họ vượt từ thập giá này sang thập giá khác, cho dù Ngài đã cho các ngài nếm trước niềm vui Phục sinh. Các đặc sủng phải đi kèm với những hoa trái của Thần Khí; và nếu không có những hoa trái này, mọi sự đều nguy hiểm và phải dừng lại để suy nghĩ. Đức Giêsu nói: “Xem quả biết cây”. Hoa quả mà Ngài nói đến là hoa quả của Thần Khí: bác ái, niềm vui, bình an, nhịn nhục, nhẫn nại, khiêm nhường, vâng phục…
Tôi muốn nói thêm một chút về vâng phục. Các đặc sủng phải được thực hiện trong sự vâng phục. Thánh Phaolô nói với chúng ta rằng các đặc sủng thuộc về những người, nhờ Thần Khí, làm cho các công việc của xác thịt chết đi; vậy là thuộc về những người biết chết đi cho sự tự ái, kiêu căng, nhãn quan về sự việc, thông qua sự vâng phục. Tất cả đều lâm nguy, tất cả đều hàm hồ trong nhóm nào không sống trong bầu không khí vâng phục và phục tùng (đối với người chủ trì cuộc gặp gỡ, hoặc đơn giản là đối với nhau). Tình trạng bè phái và thất vọng xẩy ra ngay sau đó. Vâng phục là dấu hiệu giúp ta nhận ra xem một người anh em có được một đặc sủng đích thực hay không; chỉ cần xem người anh em này, trước lời yêu cầu của người có trọng trách, có sẵn sàng rút lui và trình đặc sủng của mình cho cộng đồng hay không.
Làm sao có thể có người trong chúng ta nói: “Người ta hạ nhục tôi, kềm hãm tôi, trong khi tôi cảm thấy Chúa kêu gọi tôi làm việc này việc nọ.” Hỡi người anh em yêu quý, bạn cảm thấy, nhưng bạn không thấy rằng “tình cảm” này làm bạn đi trệch đường. Quan trọng không phải là điều bạn cảm thấy. Những quan trọng là điều Giáo Hội “cảm thấy”. Nếu bạn muốn có những tình cảm này bằng mọi giá, thì giữa anh em với nhau, hãy có những tâm tình như chính Đức Giêsu Kitô, đặc biệt sự vâng phục và khiêm nhường, như thánh Phaolô nói (x. Pl 2,5 tt).
Tôi nói thêm một nhận xét cuối cùng về việc thực hành các đặc sủng: những đặc sủng này không thể đi đôi với tội lỗi. Trước hôm có sự tuôn đổ Thần Khí, đây là điều Chúa yêu cầu nơi bạn: đừng chọn đặc sủng mà bạn định xin (trái lại, tốt hơn là đừng đòi hỏi gì và để cho Thần Khí tự do phân phát các ân huệ của mình “như Ngài muốn”). Điều thực sự quan trọng là dâng lên Chúa một trái tim thống hối và khiêm nhường, một trái tim không còn dính bén với tội lỗi. Hạnh phúc cho bạn, nếu ngày đó, trong một lúc tĩnh tâm, bạn có thể nói với Đức Giêsu: “Lạy Chúa, con đã hiểu đâu là gốc rễ thật sự của tội lỗi con, dây ràng buộc còn ngăn cản con hoàn toàn tự do đến với Chúa; chính vì vậy, dù rất run sợ vì sự yếu đuối của mình, nhưng tin tưởng vào ơn Chúa, con xin thưa: không có điểm chung nào giữa con và tội lỗi đó. Con nói: đủ rồi! Con dứt khoát cắt đứt với tội lỗi của con!”
Nhân nói về tội, cho phép tôi kêu lên một tiếng thiết tha chưa được nói ra, đã từ lâu âm ỉ trong lòng tôi. Trong các nhóm, nơi một số anh em, có những điều dối trá; có những tình huống mà người ta có vẻ đang đùa cợt với Thiên Chúa. Thánh Phaolô nói: “Thiên Chúa không để cho người ta nhạo báng đâu” (Gl 6,7). Thế mà, có những người dường như đã không hiểu rõ Thiên Chúa coi tội lỗi nghiêm trọng đến mức nào. Tôi không nói về những tội lỗi mà tất cả chúng ta đều phạm, xẩy ra bất ngờ với chúng ta và cuối cùng chúng ta đã ăn năn và xưng thú; tôi nói về “tình trạng tội lỗi”, về những tình huống đã được định nghĩa là những tình huống đoạn giao nghiêm trọng với Thiên Chúa và với Giáo Hội, tuy nhiên lại không ngăn cản anh em sống yên hàn và tham gia vào buổi gặp gỡ cầu nguyện hàng tuần. Thật khủng khiếp: thư Do thái khẳng định ai sống trong loại tội lỗi này “là đã tự tay đóng đinh Con Thiên Chúa vào thập giá một lần nữa, và đã công khai sỉ nhục Người” (x. Dt 6,6). Người nào cư xử như vậy và tham gia nhóm cầu nguyện mà không chút ăn năn, là người sẽ vỗ tay và ca ngợi Đức Kitô là Chúa, trong khi trong lòng người đó đang đóng đinh Ngài một lần nữa. Nếu trong chúng ta có những trường hợp như vậy, tôi hết sức khuyên những anh em này hãy ăn năn và xưng tội! Cư xử như một kẻ giả hình che giấu tội mình, như vậy quá đủ rồi! “Hôm nay, nếu anh em nghe tiếng Người, anh em đừng cứng lòng!”
Lạy Chúa, xin ban cho chúng con một tâm hồn thống hối và khiêm nhường, giúp chúng con cắt đứt mọi liên hệ với tội lỗi cố ý, để Chúa có thể đổ xuống trên chúng con Thần Khí của Chúa và cho chúng con được phong phú bằng những ân huệ của Ngài, vì sự vinh quang của Chúa Cha và để gây dựng Hội Thánh Chúa. Amen.
