7. SỰ TUÔN ĐỔ THẦN KHÍ HAY PHÉP RỬA TRONG THẦN KHÍ

Trước khi nói về phép rửa hoặc sự tuôn đổ Thần Khí, dường như tôi thấy việc cố gắng hiểu cuộc Canh tân trong Thần Khí là quan trọng, vì kinh nghiệm tuôn đổ Thần Khí được định vị trong khuôn khổ cuộc Canh tân và tạo nên thời điểm mạnh nhất. Khi đó, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn rằng sự tuôn đổ không phải là mục đích tự thân, nhưng đúng hơn là sự khởi đầu của một con đường nhắm đổi mới đời sống sâu xa trong Giáo Hội.

Để mình được đổi mới trong Thần Khí

“Đổi mới trong Thần Khí” là một cách diễn tả Kinh Thánh bắt gặp hai lần trong Tân Ước, dưới các hình thức tương đương. Để hiểu linh hồn của phong trào đặc sủng, cảm hứng sâu sắc của nó, trước tiên chúng ta phải tra vấn Kinh Thánh.

Bản văn đầu tiên trong hai bản văn là thư Êphêsô, chương 4,23-24: “Anh em phải để mình được hướng dẫn bên trong bởi một thần khí đổi mới và phải mặc lấy con người mới”. Trong đoạn này, từ “thần khí” được viết thường, điều này là chính xác, vì nói tới thần trí (tâm trí) “của chúng ta” và thậm chí đến phần thâm sâu của thần trí chúng ta (sự phán xét), phần mà Kinh Thánh thường gọi là “trái tim”. Ở đây từ “thần trí” có nghĩa là nơi người ta phải để bản thân được đổi mới hầu nên giống Đức Kitô, Con Người mới tuyệt hảo. “Để bản thân được đổi mới” có nghĩa là cố gắng để có được trong lòng những tình cảm giống như Đức Giêsu Kitô (x. Pl 2,5), đấu tranh để có được một “trái tim mới”.

Bản văn này đã soi sáng ý nghĩa, mục đích và kinh nghiệm của chúng ta: cho chúng ta biết rằng cuộc Canh tân trước hết phải là đổi mới nội tâm, đổi mới con tim. Kể từ Công Đồng Vaticanô II, nhiều mặt đã được đổi mới trong Giáo Hội: phụng vụ, mục vụ, giờ đây là Bộ Giáo Luật, các hiến pháp và tu phục nam nữ. Tất cả những mặt này đều có tầm quan trọng của chúng, nhưng chúng chỉ là sơ bộ của việc đổi mới thực sự; không được dừng lại ở đó, vì tin là đã hoàn thành công việc này đến cùng. Thiên Chúa không quan tâm đến cơ cấu, nhưng đến các linh hồn. Chính nơi các tâm hồn mà Giáo Hội đẹp đẽ, nên chính nơi các tâm hồn mà Giáo Hội phải “làm cho mình đẹp đẽ”. Thiên Chúa quan tâm đến tấm lòng của dân Người, đến tình yêu của dân Người; mọi sự khác phát xuất từ đó.

Tuy nhiên, bản văn đầu tiên này không đủ để biện minh cho kiểu nói “Canh tân trong Thần Khí”. Nó nêu bật nghĩa vụ đổi mới chính mình (“anh em phải đổi mới chính mình!”) và đối tượng của việc đổi mới này (trái tim), nhưng không giải thích phải đổi mới chính mình như thế nào. Nói với chúng ta là chúng ta “phải” đổi mới chính mình thì có ích gì, nếu không cắt nghĩa cho chúng ta biết chúng ta được coi như làm việc đó nhờ sức mạnh nào? Tóm lại, còn thiếu chủ thể đổi mới, người ta vẫn chưa biết được tác giả thực và vai chính của cuộc đổi mới. Đây chính là điều mà bản văn Kinh Thánh thứ hai mà tôi trích dẫn, tiết lộ cho chúng ta; bản văn nói rằng: “Không phải vì tự sức mình chúng ta đã làm nên những việc công chính, nhưng vì Người thương xót, nên Người đã cứu chúng ta nhờ phép rửa tái sinh và đổi mới trong Thần Khí” (Tt 3,5).

Trong bản văn này, “Thần Khí” được viết hoa vì nó không chỉ thần trí “của chúng ta”, nhưng là Thần Khí của Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần. Ở đây giới từ “trong” không chỉ nơi diễn ra sự đổi mới, nhưng đúng hơn, chỉ dụng cụ, tác nhân. Do đó, danh xưng mà chúng ta gán cho kinh nghiệm của mình biểu thị một điều gì đó khá chính xác: một sự đổi mới là công việc của Chúa Thánh Thần; một sự đổi mới mà Thiên Chúa, chứ không phải con người, là tác giả chính, nhân vật chính. “Này đây, Ta (không phải ngươi) đổi mới mọi sự” (x. Kh 21,5); “Thần Khí của Ta, chỉ mình Ngài, có thể đổi mới mặt đất” (x. Tv 104,30).

Điều này có vẻ không có ý nghĩa, chỉ là xác định rõ hơn thôi, có lẽ, nhưng thực ra đây là một cuộc cách mạng Copernicus thực sự, một sự đảo lộn mà con người, thể chế, các cộng đồng và toàn thể Giáo Hội, trong nhân tính của mình, phải trải qua, để trải nghiệm một cuộc đổi mới tâm linh đích thực.

Trên bình diện đức tin, chúng ta thường lập luận theo “hệ thống Ptolémée”: tự nền tảng có nỗ lực, tổ chức, hiệu quả, những cải cách, thiện chí của chúng ta; ở đó, “trái đất” là trung tâm; Thiên Chúa đến thúc đẩy chúng ta, Ngài đến khen thưởng cho nỗ lực của chúng ta bằng ân sủng của Ngài. “Mặt trời” xoay quanh và hoạt động như một vệ tinh của trái đất; Thiên Chúa là vệ tinh của con người chứ không phải ngược lại.

Lúc đó lời Chúa kêu to: “Hãy trả lại sức uy hùng cho Thiên Chúa” (x. Tv 68,35), vì “sức mạnh thuộc về Thiên Chúa” (Tv 62,12). Đây là một tiếng kèn báo động! Trong suốt một thời gian quá lâu chúng ta tiếm quyền của Thiên Chúa, sử dụng nó như thể của chúng ta, như thể chính chúng ta “điều khiển” quyền năng của Thiên Chúa. Chính chúng ta phải xoay quanh “mặt trời”; đó là cuộc cách mạng Copernicus như đã nói.

Nhờ nó, chúng ta nhận ra một cách khá đơn giản là, không có Chúa Thánh Thần, chúng ta không thể làm được gì, thậm chí không thể nói “Đức Giêsu là Chúa” (x. 1Cr 12,3); ngay cả nỗ lực bền bỉ nhất cũng luôn là kết quả của sự cứu rỗi, hơn là nguyên nhân. Khi đó, chúng ta hãy thực sự bắt đầu “ngước mắt lên”, “nhìn lên cao”, như nhà tiên tri khuyên giục chúng ta (x. Hs 11,7), và bắt đầu nói: “Tôi ngước mắt nhìn lên rặng núi, ơn phù hộ tôi đến tự nơi nao? Ơn phù hộ tôi đến tự Đức Chúa, là Đấng dựng nên cả đất trời” (Tv 121,1tt).

Nhiều lần trong Kinh Thánh, lệnh truyền của Thiên Chúa vang lên: “Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ta là Đấng thánh” (Lv 19,2; x. Lv 11,44; 1Pr 1,15tt); trong sách Lêvi, chúng ta tìm thấy lời giải thích tất cả những đoạn này: “Các ngươi phải giữ các quy tắc của Ta và đem ra thực hành. Ta là Đức Chúa, Đấng thánh hiến các ngươi” (Lv 20,8). Ta là Đức Chúa, Đấng muốn đổi mới các ngươi bằng Thần Khí của mình! Hãy để ngươi được đổi mới bằng Thần Khí của Ta!

 Phép rửa, một bí tích “bị ngăn trở”

Giờ đây chúng ta có thể tiếp cận trực tiếp chủ đề liên hệ đến chúng ta: sự tuôn đổ Thần Khí.

Sự tuôn đổ Thần Khí không phải là một bí tích, nhưng gắn liền với một bí tích, thậm chí với nhiều bí tích: những bí tích khai tâm Kitô giáo. Sự tuôn đổ hiện tại hóa và, theo một cách nào đó, đổi mới sự khai tâm Kitô giáo. Nhưng mối dây cơ bản liên quan đến bí tích rửa tội. Kiểu nói “phép rửa trong Thần Khí” gần đây còn chỉ định sự tuôn đổ, và vẫn luôn chỉ định như thế nơi những người anh em Hoa Kỳ của chúng ta, đơn giản có nghĩa là sự tuôn đổ dựa trực tiếp trên bí tích rửa tội. Chúng ta nói rằng sự tuôn đổ Thần Khí hiện tại hóa và làm sống lại phép rửa của chúng ta. Để hiểu làm thế nào một bí tích mà một người đã lãnh nhận nhiều năm trước, ngay cả vừa lúc chào đời, lại có thể đột nhiên được hồi sinh và tạo ra năng lượng mà người ta nhận thấy lúc tuôn đổ, phải nhớ lại một vài yếu tố của thần học bí tích.

Thần học Công giáo biết đến ý niệm bí tích hữu hiệu và hợp pháp, nhưng “bị ngăn trở”. Một bí tích được coi là “bị ngăn trở” nếu không mang lại kết quả, vì không hội đủ mọi điều kiện để hoàn toàn bày tỏ hiệu lực của nó. Một ví dụ: bí tích hôn phối hay truyền chức thánh được lãnh nhận trong tình trạng tội trọng. Trong một tình huống như vậy, các bí tích này không thể chuyển đạt ân sủng cho con người; nhưng ngay khi chướng ngại vật tội lỗi được loại bỏ bằng sự thống hối, thì bí tích được cho là sống lại (reviviscit) nhờ sự trung thành và không thể hủy bỏ của hồng ân Thiên Chúa. Thiên Chúa vẫn trung thành ngay cả khi chúng ta bất trung, vì Người không thể chối bỏ chính mình (x. 2Tm 2,13).

Trường hợp của hôn nhân hoặc truyền chức thánh lãnh nhận trong tình trạng tội lỗi là, như tôi đã nói, một trường hợp hãn hữu, nhưng các trường hợp khác có thể xảy ra khi bí tích, mặc dù không hoàn toàn bị ngăn trở, cũng không hoàn toàn tự do, nghĩa là tự do tiến hành các hiệu quả của nó. Trong trường hợp phép rửa, điều gì khiến cho kết quả của bí tích vẫn bị ngăn trở? Ở đây phải nhắc lại học lý cổ điển về các bí tích. Các bí tích không phải là những nghi thức ma thuật tự động hành động mà con người không biết, hoặc không phụ thuộc vào bất cứ sự cộng tác nào của họ. Hiệu năng của chúng là kết quả của một sự hiệp lực (synergie) hay sự cộng tác, giữa sự toàn năng của Thiên Chúa (đặc biệt là ân sủng của Đức Kitô hoặc Chúa Thánh Thần) và sự tự do của con người. Như thánh Augustinô đã nói: “Đấng đã dựng nên bạn mà không cần bạn cộng tác, nhưng không cứu bạn nếu không có sự cộng tác của bạn”.[38]

Chính xác hơn, hoa trái của bí tích hoàn toàn tùy thuộc vào ân sủng của Thiên Chúa; nhưng ân sủng này chỉ hành động khi có lời “xin vâng”, nghĩa là với sự đồng ý và tham gia của thụ tạo, đó là một điều kiện sine qua non (không thể không có) hơn là một nguyên nhân. Thiên Chúa cư xử giống như người chồng không áp đặt tình yêu của mình bằng vũ lực, nhưng chờ đợi tiếng “vâng” mà người vợ tự do nói lên.

Công trình của Thiên Chúa và công trình của con người trong phép rửa

Tất cả những gì tùy thuộc vào ân sủng của Thiên Chúa và ý muốn của Đức Kitô trong bí tích được gọi là opus operatum (do sự), có thể dịch là: công việc đã hoàn tất, kết quả khách quan và không thể thiếu của bí tích, khi nó đã được ban cách hiệu quả; ngược lại, tất cả những gì tùy thuộc vào sự tự do và tâm thái của chủ thể được gọi là opus operantis (do nhân), nghĩa là công việc phải làm, sự góp phần của con người.

Opus operatum của phép rửa, nghĩa là sự góp phần của Thiên Chúa hay ân sủng, rất nhiều và vô cùng phong phú: tha thứ tội lỗi, ban các nhân đức đối thần tin, cậy, mến (trong hạt mầm), tình nghĩa tử; tất cả được tiến hành bởi tác động hữu hiệu của Chúa Thánh Thần. “Một khi được rửa tội, chúng ta được chiếu sáng; một khi được chiếu sáng, chúng ta được nhận làm nghĩa tử; một khi được nhận làm nghĩa tử, chúng ta được nên hoàn hảo; một khi trở nên hoàn hảo, chúng ta nhận được sự bất tử… Sự tiến hành này của phép rửa mang nhiều tên gọi: ân sủng, chiếu sáng, hoàn hảo, tắm rửa. Tắm rửa, nhờ đó chúng ta được thanh tẩy khỏi tội lỗi của chúng ta; ân sủng, nhờ đó mà những hình phạt xứng đáng với tội lỗi của chúng ta được xóa bỏ; chiếu sáng, trong đó chúng ta chiêm ngưỡng ánh sáng đẹp đẽ và thánh thiện của ơn cứu độ, nghĩa là trong đó chúng ta thâm nhập vào thiêng thánh bằng cái nhìn; hoàn hảo, vì không thiếu gì”.[39]

Phép rửa là một ân huệ vô cùng quý giá mà chúng ta lãnh nhận khi được sinh ra trong Thiên Chúa. Nhưng đó là một món quà vẫn còn được niêm phong: chúng ta giàu có vì chúng ta sở hữu món quà này (do đó chúng ta có thể thực hiện mọi hành vi cần thiết cho đời sống Kitô hữu), nhưng chúng ta không biết mình đang sở hữu những gì; để diễn giải một lời của Gioan, người ta có thể nói: hiên giờ chúng ta là con Thiên Chúa, nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ (x. 1Ga 3,2). Đó là lý do tại sao người ta nói rằng, nơi phần đông các Kitô hữu, phép rửa là một bí tích “bị trói buộc”.

Tất cả những điều đó là về opus operatum. Nhưng opus operantis, nghĩa là sự góp phần của con người, hệ tại ở điều gì trong phép rửa? Hệ tại ở đức tin! “Ai tin và chịu phép rửa, thì sẽ được cứu” (Mc 16,16). Vì thế, trong phép rửa có một yếu tố khác: đức tin của con người. “Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1,12). Chúng ta cũng có thể nhớ lại đoạn văn đẹp trong sách Công vụ tường thuật phép rửa của quan thái giám nữ hoàng Canđakê. Đến chỗ có nước, ông này nói: “Sẵn nước đây, có gì ngăn trở tôi chịu phép rửa không? Ông Philipphê đáp: “Nếu ngài tin hết lòng thì được” (Cv 8,36-37, câu 37 là câu bổ sung của cộng đồng Kitô hữu tiên khởi minh chứng cho sự xác tín chung của Giáo Hội lúc ấy). Phép rửa là một loại ấn của Thiên Chúa đóng trên đức tin của con người: “[…] anh em đã được nghe lời chân lý, là Tin Mừng cứu độ anh em, một khi đã tin, anh em được đóng ấn Thánh Thần, Đấng Thiên Chúa đã hứa” (Ep 1,13).

Thánh Basiliô viết: “Quả thực, đức tin và phép rửa là hai phương thức cứu rỗi, được liên kết với nhau và không thể phân chia. Đức tin được hoàn tất nhờ phép rửa, phép rửa dựa trên đức tin”.[40] Và ngài gọi phép rửa là “dấu ấn đức tin”.[41]

Công việc của con người, tức đức tin, không có cùng một tầm quan trọng và sự tự trị như công việc của Thiên Chúa, vì trong chính hành vi tin có sự góp phần của Thiên Chúa; chính hành vi tin này là công việc của ân sủng khơi dậy nó; tuy nhiên, hành vi tin coi việc đáp trả, “Credo” (kinh Tin Kính) của con người, như yếu tố chủ chốt, và theo nghĩa này, nó là opus operantis, nghĩa là công việc của con người.

Giờ đây, chúng ta đã hiểu tại sao thời Giáo Hội sơ khai, phép rửa đã là một biến cố thật quan trọng và đầy ân sủng, và tại sao sự tuôn đổ mới Thần Khí, như sự tuôn đổ chúng ta thấy ngày nay, nói chung là không cần thiết. Phép rửa được ban cho những người lớn, từ ngoại giáo trở lại, và là những người, khi được dạy dỗ thích hợp, có thể thực hiện một hành vi tin và một sự lựa chọn hiện sinh tự do và chín chắn lúc chịu phép rửa (chỉ cần đọc những bài nhiệm huấn về Phép rửa, được gán cho Cyrillô Giêrusalem, để nhận ra chiều sâu đức tin của những người sắp lãnh nhận phép rửa.

Người ta đến với phép rửa sau khi trải qua một cuộc hoán cải thực sự; phép rửa không chỉ là sự tắm rửa tái sinh trong Chúa Thánh Thần, mà còn là sự đổi mới cá nhân (x. Tt 3,5). Tôi cảm thấy ấn tượng về một bản văn của thánh Basiliô. Một hôm thánh Basiliô trả lời cho một người xin ngài viết một khảo luận về phép rửa, rằng ngài không thể giải thích ý nghĩa của phép rửa mà tiên vàn không giải thích ý nghĩa của việc làm môn đệ Đức Giêsu, vì lệnh truyền của Chúa nói: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28, 19-20).

Để phép rửa phát huy hết tác dụng, người đến với phép rửa phải là một môn đệ, hoặc có ý định nghiêm túc trở thành một môn đệ: “Được! Anh ta là một môn đệ, chúng ta học được điều đó từ chính Chúa, bất cứ ai đến gần Chúa để theo Ngài, nghĩa là nghe lời Ngài, tin vào Ngài và vâng lời Ngài như vâng lời một đấng tối cao, một ông vua, một thầy thuốc, một bậc thầy dạy chân lý […] Người tin nơi Chúa và trình diện với những điều kiện cần thiết để trở thành môn đệ, thì như chúng ta biết, trước hết phải tránh xa mọi tội, rồi cũng phải tránh xa mọi đối tượng khiến anh ta không vâng phục mà, vì nhiều lý do, anh ta mắc nợ Chúa, và anh ta làm như vậy, khi coi những lý do này hoàn toàn hợp lý.[42]

Điều kiện thuận lợi mà, vào thời kỳ đầu của Giáo Hội, cho phép phép rửa hành động với quyền năng như vậy, chính là sự gặp gỡ giữa công việc của Thiên Chúa và công việc của con người trong cùng một lúc: giữa chúng có một sự đồng bộ hoàn hảo; điều đó xảy ra khi hai cực, cực dương và cực âm, chạm vào nhau tạo ra ánh sáng.

Giờ đây, sự đồng bộ này đã bị phá vỡ, vì chúng ta lãnh nhận phép rửa khi còn bé, dần dần, chúng ta đã không còn thực hiện một hành vi tin tự do và cá nhân. Hành vi này được thực hiện, một cách nào đó, do một người trung gian (cha mẹ, cha đỡ đầu hoặc mẹ đỡ đầu). Trước đây, khi đứa trẻ lớn lên trong môi trường Kitô giáo thấm nhuần đức tin, đức tin này có thể triển nở, dù có triển nở chậm hơn. Giờ đây mọi sự đã thay đổi; tình hình thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn so với thời Trung cổ. Một môi trường như vậy nơi đứa trẻ đang sống không giúp nó phát triển đức tin: điều này thường đúng trong những gì liên hệ tới gia đình, còn đúng hơn trong những gì liên hệ tới trường học và còn đúng hơn nữa trong những gì liên hệ tới xã hội và văn hóa. Điều đó không có nghĩa là không thể có một đời sống Kitô hữu bình thường trong những điều kiện này, hoặc sự thánh thiện và đặc sủng đi kèm với đời sống Kitô hữu là hoàn toàn không có; nhưng thay vì là một sự kiện bình thường, đối với các các Kitô hữu, điều đó ngày càng trở thành một ngoại lệ.

Trong hoàn cảnh này, người được rửa tội hiếm khi, đôi khi thậm chí không bao giờ, có thể tuyên bố “trong Chúa Thánh Thần” rằng: “Đức Giêsu là Chúa”. Và cho đến lúc công bố được như vậy, đời sống Kitô hữu là không chắc chắn và chưa trưởng thành. Phép lạ không tồn tại. Người ta thấy mình ở trong hoàn cảnh của cư dân Nadaret: “Người không làm nhiều phép lạ tại đó, vì họ không tin” (x. Mt 13,58).

Ý nghĩa của phép rửa trong Thần Khí hoặc sự tuôn đổ Thần Khí

Phép rửa trong Thần Khí là một sự đáp lại của Thiên Chúa trước “sự trục trặc” trong đó đời sống Kitô hữu đã sa sút. Trong những năm gần đây, người ta biết rằng Giáo Hội, chính các giám mục, đã bắt đầu lo lắng về thực tế là các bí tích, đặc biệt là phép rửa, được ban cho những người sau đó không bao giờ để tâm đến nó, và các ngài đã tính đến khả năng từ chối phép rửa nếu không có sự chắc chắn tối thiểu là đứa trẻ sẽ gìn giữ và phát huy những ân sủng nhận được khi chịu phép rửa. Là vì người ta không thể “vứt ngọc trai cho heo”, như Đức Giêsu đã nói, và phép rửa là một hạt ngọc trai vì nó là kết quả của máu Đức Kitô. Nhưng có vẻ như Thiên Chúa, từ rất lâu trước Giáo Hội, đã quan tâm tới sự “trục trặc” này và đã khơi dậy, ở chỗ này chỗ khác trong Giáo Hội, các phong trào có xu hướng đổi mới việc khai tâm Kitô giáo cho người lớn.

Cuộc Canh tân trong Thần Khí là một trong những phong trào này, và ân sủng chính của nó chắc chắn gắn liền với sự tuôn đổ Thần Khí và những gì đi trước nó. Hiệu quả của nó trong việc hiện tại hóa phép rửa bao gồm việc giúp con người góp phần của mình, nghĩa là lựa chọn đức tin, chuẩn bị cho sự lựa chọn này bằng cách ăn năn và cho phép công việc của Thiên Chúa “tự do” và phát huy tất cả sức mạnh của nó. Như thể bàn tay của Thiên Chúa, hướng về phía con người, cuối cùng đã bắt gặp bàn tay của con người và, bằng cách siết chặt nó, cho phép chuyển qua tất cả sức mạnh sáng tạo của mình, tức là Chúa Thánh Thần; như thể, dùng một hình ảnh được rút ra từ lãnh vực vật lý, cắm phích vào ổ cắm và đèn bật sáng. Quà tặng của Thiên Chúa cuối cùng “được cởi dây buộc” và Thần Khí lan tỏa như một loại nước hoa trong đời sống người Kitô hữu.

Đối với người lớn, người đã lâu ngày sống đời sống Kitô giáo, sự lựa chọn đức tin này nhất thiết phải có đặc tính của một sự hoán cải; sự tuôn đổ Thần Khí là một sự đổi mới phép rửa và như một sự hoán cải lần thứ hai.

Để hiểu rõ hơn sự tuôn đổ Thần Khí, người ta có thể liên kết nó với phép thêm sức, ít nhất trong cách thực hành hiện nay, khi mà bí tích này tách biệt với phép rửa, và được ban muộn hơn. Như chúng ta vừa nói, sự tuôn đổ Thần Khí là một sự đổi mới ân sủng của phép rửa, nhưng nó cũng là một sự “xác nhận” phép rửa, một tiếng “xin vâng” có ý thức liên quan đến bí tích này, với các hoa trái và các cam kết của nó, và như vậy, nó được liên kết (ít nhất trên bình diện chủ quan) với điều phép thêm sức thực hiện trên bình diện khách quan và bí tích: phép này được xem như một bí tích phát huy, củng cố và hoàn tất công việc của phép rửa; sự tuôn đổ là một sự xác nhận chủ quan và tự phát (không phải là bí tích), trong đó Thần Khí  hành động không phải do thể chế, nhưng do sáng kiến ​​tự do riêng của Ngài và do tâm thái sẵn sàng của con người.

Từ việc tham chiếu này đến phép thêm sức cũng nảy sinh cảm giác về tầm quan trọng của một sự dấn thân nhiều hơn vào chiều kích tông đồ và truyền giáo của Giáo Hội. Nói chung, đây là một hoa trái của phép rửa trong Thần Khí: ước muốn cộng tác nhiều hơn vào việc xây dựng Giáo Hội, phục vụ Giáo Hội trong các thừa tác vụ khác nhau nơi người có chức thánh và nơi giáo dân, làm chứng cho Đức Kitô; đây là những điều nhắc nhớ biến cố lễ Ngũ Tuần và được hiện tại hóa trong bí tích thêm sức.

Đức Giêsu, Đấng rửa trong Chúa Thánh Thần

Việc tuôn đổ Thần Khí không phải là phương tiện duy nhất mà Giáo Hội có, để canh tân các bí tích khai tâm và, cách riêng, những ân sủng của Chúa Thánh Thần đã lãnh nhận khi chịu phép rửa. Cũng có, chẳng hạn, việc canh tân các lời hứa lúc chịu phép rửa, trong Đêm Vọng Phục Sinh, các buổi linh thao, khấn dòng, được coi như “phép rửa lần thứ hai” và, trên bình diện các bí tích, cả phép thêm sức nữa, như chúng ta vừa nhấn mạnh.

Không khó để khám phá ra trong cuộc đời của các thánh một sự “tuôn đổ tự phát”, đặc biệt trong quá trình hoán cải của các ngài. Chẳng hạn những gì chúng ta đọc về thánh Phanxicô, vào lúc ngài hoán cải: “Tiệc tan, họ ra khỏi nhà. Bạn bè của ngài đi trước ngài; còn ngài thì tay cầm một loại cây trượng, đi sau cùng, nhưng thay vì hát, ngài chìm đắm trong những suy nghĩ của mình. Thình lình, Chúa đến thăm ngài và trái tim ngài tràn ngập sự êm dịu của Chúa, đến nỗi ngài không thể cử động cũng không nói được, chỉ thấy sự êm dịu này đã cách ly ngài khỏi mọi cảm giác khác […] Bạn bè của ngài, khi quay lại và nhìn thấy ngài từ xa, đã chạy đến với ngài và sửng sốt khi thấy ngài gần như biến đổi thành một con người khác. Họ hỏi ngài: “Anh nghĩ gì vậy, thay vì đi theo chúng tôi? Anh nghĩ đến việc lấy vợ sao? Ngài trả lời không do dự: “Đúng vậy. Tôi nghĩ sẽ lấy cô gái cao quý, giàu có và xinh đẹp nhất mà anh em chưa từng thấy”. Các bạn đồng hành của ngài bắt đầu cười. Phanxicô đã nói thế không phải do sáng kiến riêng của mình, nhưng do Thiên Chúa linh hứng.”[43]

Tôi đã nói sự tuôn đổ Thần Khí không phải là cách duy nhất để đổi mới các ân sủng của phép rửa. Dầu vậy, nó có một chỗ đứng rất đặc biệt vì dành cho tất cả dân Chúa, từ già đến trẻ, chứ không chỉ dành cho một số người được ưu đãi có cơ hội thực hành linh thao của thánh Ignatiô, hoặc khấn dòng. Sức mạnh phi thường này đến từ đâu mà chúng ta cảm nghiệm được khi có sự tuôn đổ Thần Khí? Chúng ta không nói về lý thuyết, nhưng nói về những gì chính mình đã cảm nghiệm, khiến chúng ta nói được như thánh Gioan: “Điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến… chúng tôi loan báo cho anh em… để chính anh em cùng hiệp thông với chúng tôi” (x. 1Ga, 1-3). Nếu sức mạnh này tồn tại, đơn giản là vì Thiên Chúa đã muốn nó, vì Ngài hoàn toàn hài lòng đổi mới Giáo Hội theo cách đó.

Chắc chắn có những tiền lệ trong Kinh Thánh như trình thuật của sách Công vụ 8,14-17: nghe tin người Samari đã đón nhận lời Chúa, Phêrô và Gioan đã đến gặp họ, cầu nguyện cho họ và đặt tay trên họ, để họ lãnh nhận Thánh Thần. Nhưng bản văn Kinh Thánh căn bản, giúp chúng ta hiểu phép rửa trong Thần Khí, là Gioan 1,32-33: “Ông Gioan làm chứng: Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng đã sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần”

“Đức Giêsu là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần”, điều đó có nghĩa gì? Kiểu nói này không chỉ nhằm mục đích phân biệt phép rửa của Đức Giêsu với phép rửa của Gioan (người chỉ làm phép rửa “trong nước”), nhưng còn làm nên sự khác biệt giữa con người Đức Kitô và công việc của Ngài với con người của vị Tiền Hô và công việc của ông. Nói khác đi, trong toàn bộ công việc của mình, Đức Giêsu là Đấng làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần. “Làm phép rửa” ở đây có ý nghĩa ẩn dụ làm ngập, tắm rửa hoàn toàn, dìm mình, giống như nước vây kín toàn thân. Đức Giêsu “làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần” theo nghĩa là Ngài “ban đầy tràn Thần Khí” (x. Ga 3,34), Ngài “tuôn đổ” Thần Khí của Ngài (x. Cv 2,33) trên toàn thể nhân loại được cứu chuộc. Kiểu nói này nhắc đến biến cố lễ Ngũ Tuần hơn là nhắc đến bí tích rửa tội, như người ta cũng thấy trong đoạn sách Công vụ sau đây: “Ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần” (Cv 1,5).

Như vậy kiểu nói “làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần” xác định công việc thiết yếu của Đức Kitô, mà trong các lời tiên tri của Cựu Ước về đấng Thiên Sai dường như là tái sinh nhân loại bằng một sự tuôn đổ dồi dào Chúa Thánh Thần (Ge 3,1tt). Áp dụng tất cả những điều này vào đời sống và thời kỳ của Giáo Hội, người ta kết luận rằng Đức Giêsu phục sinh không chỉ làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần trong bí tích rửa tội, mà còn trong những lúc khác, theo một cách khác: trong phép Thánh Thể, trong việc lắng nghe lời Chúa, và nói chung, trong tất cả các “phương tiện của ân sủng”.

Phép rửa trong Thần Khí là một trong những phương tiện nhờ đó Đức Giêsu phục sinh tiếp tục công việc thiết yếu của mình là “làm phép rửa trong Thần Khí”. Chính vì vậy, nếu một đàng, thật chính đáng khi cắt nghĩa ân sủng này liên hệ tới phép rửa và việc khai tâm Kitô giáo, như tôi vừa mới làm, thì đàng khác, phải hết sức tránh khư khư với nhãn quan này về sự việc. Sự tuôn đổ Thần Khí không chỉ đổi mới những ân sủng của phép rửa, nhưng cả những ân sủng của phép thêm sức, của việc rước lễ lần đầu, của việc truyền chức linh mục hay giám mục, của việc khấn dòng, của hôn nhân, tất cả những ân sủng và đặc sủng mà chúng ta đã lãnh nhận. Đó thực sự là ân sủng của một lễ Hiện Xuống mới. Và có nơi, đó là một sáng kiến ​​mới mẻ và cao cả của ơn Thiên Chúa, mà, cũng như mọi cái khác, dựa trên phép rửa, nhưng không dừng lại ở đó. Sáng kiến này không chỉ nhắm vào việc “khai tâm” Kitô giáo, mà còn nhắm vào sự “hoàn hảo” của đời sống Kitô giáo.

Chính như thế mà chúng ta hiểu sự hiện diện của phép rửa trong Thần Khí nơi những người anh em thuộc phái Ngũ Tuần của chúng ta. Theo những người anh em này việc khai tâm là một ý niệm xa lạ, và phép rửa bằng nước không phải lúc nào cũng có cùng một tầm quan trọng như đối với những người công giáo và các Giáo Hội khác. Khởi thủy, phép rửa trong Thần Khí có một thành phần đại kết phải được bảo tồn bằng mọi giá, như một lời hứa và dụng cụ hiệp nhất các Kitô hữu, tránh một sự “công giáo hóa” quá mức của kinh nghiệm chung này về phép rửa  trong Thần Khí.

 Bác ái huynh đệ, kinh nguyện và đặt tay

Trong sự tuôn đổ có một vai trò bí mật, mầu nhiệm thuộc về Thiên Chúa và khác nhau cho mỗi người. Chỉ mình Ngài biết những sự sâu thẳm của chúng ta và có thể hành động bằng cách làm nổi bật nhân cách độc đáo của chúng ta. Vai trò thứ hai, hữu hình, là của cộng đồng và giống nhau cho mọi người. Đây là một loại dấu chỉ, sử dụng cách loại suy với các bí tích. Phần hữu hình, hay thuộc cộng đồng, bao gồm ba yếu tố thiết yếu: bác ái huynh đệ, đặt tay và cầu nguyện. Đây không phải là những yếu tố bí tích, nhưng là những yếu tố thuộc Kinh Thánh và Giáo Hội.

Việc đặt tay có thể có hai ý nghĩa: một nghĩa kêu cầu và một nghĩa thánh hiến (truyền phép). Hai loại đặt tay này đều thấy có, chẳng hạn, trong Thánh Thể: một lúc đặt tay kêu cầu, ít nhất nơi người Latinh chúng ta (linh mục đặt tay trên lễ vật và đọc kinh epiclesis: “Nguyện xin Chúa Thánh Thần thánh hóa những lễ vật này để trở thành Mình và Máu Đức Giêsu Kitô”); và một lúc đặt tay truyền phép (các vị đồng tế đặt tay trên lễ vật lúc truyền phép). Trong nghi thức thêm sức, như thấy hiện nay, có hai lúc đặt tay: đặt tay lần đầu để thánh hiến và đặt tay kèm với cử chỉ xức dầu thánh trên trán, trong đó bí tích đích danh được thực hiện.

Trong sự tuôn đổ Thần Khí, việc đặt tay chỉ có tính chất kêu cầu (x. St 48,14; Lv 9,22 ; Mc 10,13-16; Mt 19,13-15). Nó cũng có một giá trị biểu trưng cao: gợi lên hình ảnh Chúa Thánh Thần rợp bóng (x. 1,35); cũng nhắc lại Chúa Thánh Thần đã “bay là là” trên nước (x. St 1,2). Trong bản văn gốc, thuật ngữ được dịch là “bay là là” có nghĩa là “che phủ bằng đôi cánh của mình” hoặc “ấp ủ”, như gà mẹ ấp ủ gà con”. Tertullianô giải thích ý nghĩa biểu trưng của cử chỉ đặt tay, khi ông nói về việc đặt tay trên người chịu phép rửa: “Thân xác được việc đặt tay phủ bóng, để linh hồn được Thần Khí chiếu sáng”.[44] Ở đó có một nghịch lý, như trường hợp đối với tất cả những sự việc của Thiên Chúa: Việc đặt tay chiếu sáng bằng cách phủ bóng, như đám mây đi theo dân tuyển chọn trong cuộc Xuất hành và như đám mây bao phủ các môn đệ trên núi Tabor (x. Mt 17,5).

Như đã nói, hai yếu tố khác là cầu nguyện và bác ái huynh đệ; Hẳn người ta có thể nói: bác ái huynh đệ được diễn tả trong kinh nguyện. Tình yêu huynh đệ là dấu chỉ và chiếc xe chuyên chở Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần, Đấng là Tình Yêu, tìm lại được trong bác ái huynh đệ môi trường tự nhiên của nó, dấu chỉ tuyệt vời của nó (chúng ta cũng có thể nói ở đây, như chúng ta nói nhân bàn về dấu chỉ bí tích, mặc dù theo một ý nghĩa khác, significando causa). Chúng ta không bao giờ gán tầm quan trọng quá mức đối với sự hiện diện của một bầu không khí bác ái đích thực xung quanh người anh em sắp được tuôn đổ.

Trong Tân Ước, kinh nguyện cũng liên kết chặt chẽ với sự tuôn đổ Thần Khí. Về việc Đức Giêsu chịu phép rửa, Phúc Âm cho biết: “Đang khi Người cầu nguyện thì trời mở ra và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu” (x. Lc 3.21). Có vẻ như chính lời cầu nguyện của Đức Giêsu khiến cho trời mở ra và Chúa Thánh Thần xuống trên Ngài. Giống như vậy là sự tuôn đổ ngày lễ Ngũ Tuần: trong khi tất cả cùng nhau kiên trì cầu nguyện, thì từ trời bỗng phát ra một tiếng động như tiếng gió mạnh ùa vào căn nhà và họ thấy những hình lưỡi như lưỡi lửa (x. Cv 1,14–2,1tt). Vả lại chính Đức Giêsu đã nói: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác” (Ga 14,16). Lần nào cũng xẩy ra sự tuôn đổ Thần Khí trong bầu khí cầu nguyện.

Những dấu chỉ này (đặt tay, cầu nguyện và bác ái huynh đệ) nói lên sự đơn giản: đó là những dụng cụ đơn giản. Sự đơn giản này chính xác là dấu Thiên Chúa hành động. Tertullianô viết về phép rửa: “Không gì làm cho tâm trí con người thấy chướng giống như sự tương phản giữa sự đơn giản rõ ràng của các công việc của Thiên Chúa và sự to lớn của những hiệu quả đã hứa […] Bạn không thừa nhận Thiên Chúa có những gì là của riêng Ngài: sự đơn giản và quyền năng”[45]. Chính là điều trái ngược với những gì thế giới làm: trên thế giới, các mục tiêu cần đạt được càng lớn thì bộ máy phương tiện càng phức tạp; và nếu người ta muốn lên mặt trăng, thì bộ máy này sẽ trở nên khổng lồ.

Nếu sự đơn giản là dấu ấn hành động của Thiên Chúa, thì tuyệt đối cần phải gìn giữ dấu ấn này lúc ban phép rửa Thần Khí. Chính vì thế sự đơn giản phải tỏa sáng trong mọi sự: trong kinh nguyện và trong cử chỉ; không có những thái độ kịch tuồng, những cử chỉ kích thích, quá nhiều lời. Về hy lễ trên núi Carmel, Kinh Thánh chỉ ra sự tương phản mạnh mẽ giữa cách hành động của các tư tế thần Baal, đang kêu to, nhảy múa như những người điên và rạch mình đến chảy máu, và cách hành động của Elia, người chỉ cầu nguyện đơn giản thế này: “Lạy Đức Chúa, Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacop […] xin đáp lời con, để dân này nhận biết Ngài là Đức Chúa, Thiên Chúa thật, và Ngài đã khiến họ thay lòng đổi dạ” (1V 18,36-37).

Lửa của Đức Chúa ập xuống trên lễ vật của Elia và không ập xuống trên lễ vật của các tư tế thần Baal (x. 1V 18,25-38). Không lâu sau đó, Elia phát hiện ra Thiên Chúa không ở trong cơn bão, trong cơn động đất, hoặc trong lửa; Ngài ở trong tiếng động của cơn gió hiu hiu (x. 1V 19,11-12).

Ân sủng người ta nghiệm thấy trong sự tuôn đổ từ đâu mả đến? Từ sự giúp đỡ chăng? Không! Từ người nhận được sự tuôn đổ chăng? Cũng không nữa! Nó đến từ Thiên Chúa! Việc tự hỏi xem nó đến từ bên trong con người hay từ bên ngoài không có ý nghĩa gì cả. Người ta chỉ có thể nói ân sủng này liên quan đến phép rửa, vì Thiên Chúa luôn hành động trong sự gắn bó và trung thành, Ngài không làm để rồi phá. Ngài tôn vinh sự cam kết và thiết lập của Đức Kitô. Một điều chắc chắn: không phải là các anh em ban Chúa Thánh Thần; họ không ban Chúa Thánh Thần cho người anh em mình, nhưng họ kêu cầu Chúa Thánh Thần xuống trên người anh em này. Thần Khí, không ai có thể ban, ngay cả Đức Giáo Hoàng hay một giám mục cũng không, vì không người nào chính mình làm chủ Chúa Thánh Thần. Chỉ mình Đức Giêsu có thể ban Chúa Thánh Thần theo nghĩa riêng; những người khác không làm chủ Chúa Thánh Thần, nhưng ngược lại họ bị Ngài làm chủ.

Về cách thức của ân sủng này, người ta có thể nói về một lần đến mới của Chúa Thánh Thần, một sứ mệnh mới của Chúa Cha qua Đức Giêsu Kitô hoặc một sự xức dầu mới tương ứng với mức độ mới của ân sủng. Theo nghĩa này, sự tuôn đổ, ngay cả khi không phải là một bí tích, vẫn là một biến cố, một biến cố thiêng liêng: định nghĩa này có lẽ là gần nhất với thực tại. Một biến cố, như vậy là một điều gì đó xảy ra, để lại dấu ấn của nó, kéo theo một sự mới mẻ trong đời sống; Nhưng đó là một biến cố thiêng liêng (không phải biến cố lịch sử): thiêng liêng, vì nó xảy ra trong tâm trí, nghĩa là ở bên trong con người, và những người khác rất có thể không nhìn thấy gì về tất cả điều đó; thiêng liêng, đặc biệt vì đó là công việc của Chúa Thánh Thần.

Để kết thúc, chúng ta hãy lắng nghe Phaolô, người nói về sự đổi mới ân huệ của Thiên Chúa như một lời kêu gọi mỗi người trong chúng ta: “Tôi nhắc anh phải khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa, đặc sủng anh đã nhận được khi tôi đặt tay trên anh. Vì Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ” (2Tm 1,6-7).

Trang Trước Trang Sau