6. TẤT CẢ CHÚNG TA ĐÃ ĐƯỢC ĐẦY TRÀN MỘT THẦN KHÍ DUY NHẤT

Nước từ tảng đá

Trong Giáo Hội, sách Xuất hành được dùng để hỗ trợ cho việc dạy giáo lý mẫu, và tạo ra một chìa khóa để đọc theo Kitô học và Giáo Hội học. Như vậy, Phaolô, sau khi đã xem xét các yếu tố chính của cuộc xuất hành – đi qua Biển Đỏ, đám mây, manna, nước từ tảng đá –, kết luận bằng cách nói rằng tất cả những sự kiện này đã xảy ra “để làm bài học (typoi) cho chúng ta” và được chép ra “để răn dạy chúng ta” (1Cr 10,6.11).

Thánh Gioan nhấn mạnh hình bóng Đức Kitô. Trong Phúc Âm thứ tư, Đức Kitô xuất hiện cho chúng ta như Môsê đích thực ban nước hằng sống (Ga 4), ban manna đích thực từ trời (Ga 6) và là Đấng, cuối cùng trên thập giá, là tế vật được tiên trưng bằng chiên vượt qua chịu sát tế ở Ai Cập (Ga 19,36). Thánh Phaolô ưu tiên khai triển cách đọc theo hướng Giáo Hội học, qua lịch sử cuộc xuất hành mà thấy những hình bóng các bí tích của Giáo Hội và tất cả đời sống Kitô giáo. Thư Do thái tập hợp hai cách áp dụng, cho thấy Đức Kitô “vượt trên Môsê” và đối chiếu chặt chẽ giữa hành vi của những người Do Thái được giải thoát khỏi Ai Cập và hành vi của các Kitô hữu được giải thoát khỏi tội lỗi.

Nhưng ngoài giá trị kiểu mẫu song đối này, hình bóng của các thực tại Kitô giáo, cuộc Xuất hành còn có một ý nghĩa hiện sinh và nói với con người trong chiều kích cá nhân nhất của họ. Chính thuật ngữ “xuất hành” còn có những âm hưởng tượng trưng và sử thi được tìm thấy nhiều trong văn chương. Cuộc xuất hành của dân tuyển chọn giống như một biểu tượng và một dụ ngôn về thân phận chúng ta là “những người lữ hành”, “những khách hành hương và khách lạ” trong thế giới này, trên đường đi đến một quê hương khác.

Cuộc xuất hành có một giá trị tôn giáo lớn lao. Nhưng để có thể hiểu được nó, chúng ta phải đồng hóa với dân này là dân đã sống nó, phải ý thức rằng đây là việc của chúng ta, rằng trên bình diện thiêng liêng và hiện sinh, chúng ta là dân bị áp bức đang rên siết và làm cho tiếng kêu than của mình vang tới  Thiên Chúa (Xh 3,7) Chúng ta dùng một lời kinh phụng vụ mà xin: “Bị áp bức từ lâu dưới ách tội lỗi, chúng con chờ đợi ơn cứu chuộc chúng tôi.” Một bản văn người Do Thái đọc trong bữa ăn vượt qua cho biết: “Qua mỗi thế hệ, mỗi người phải coi mình như thể chính mình đã ra khỏi Ai cập.”[31] Sự xác tín mà Giáo Hội đã coi là của mình.

Chính trong tinh thần này, chúng ta suy niệm về một trong những biến cố và một hình ảnh của cuộc xuất hành: hình ảnh nước vọt ra từ tảng đá (Xh 17,1-7). Trong sách Xuất hành, có hai thời điểm mà nước đóng một vai trò quan trọng: lúc qua Biển Đỏ và lúc nước vọt ra từ tảng đá. Trong cả hai trường hợp, nước có vai trò khác nhau. Trong biến cố đầu tiên, con người đi vào trong nước; trong khi ở biến cố thứ hai, nước đi vào trong con người. Nước Biển Đỏ cứu sống những người này và giết chết những người kia. Nó là dụng cụ phán xét của Thiên Chúa. Còn nước từ tảng đá thực hiện một nhiệm vụ khác: nó làm dịu cơn khát, phục hồi sức lực, cho phép tiếp tục con đường đã khởi sự. Nước đó không phải chỉ dùng một lần, nhưng dùng hàng ngày. Thật vậy, theo truyền thống giáo sĩ do thái, được thánh Phaolô lặp lại, tảng đá làm vọt ra nước, kể từ ngày đó, tiếp tục “đi theo” hoặc “đồng hành” với dân chúng trên đường đi trong sa mạc (1Cr 10, 4).

Huấn giáo Kitô giáo lập tức liên kết hai chức năng này của nước với phép rửa và phép Thánh Thể. “Tất cả cùng được chịu phép rửa dưới đám mây và trong lòng biển” và “tất cả cùng uống một thức uống linh thiêng” (1Cr 10,2.4). Và chính xác hơn nữa, liên quan tới hành động của Chúa Thánh Thần trong phép rửa và trong phép Thánh Thể: “Tất cả chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí… tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” (1Cr 12,13).

Vậy có hai hành động căn bản của Thần Khí trong đời sống Kitô giáo: một hành động là độc nhất, khởi đầu, cấu tạo và đáp ứng với phép rửa, hành động kia là hàng ngày, như ăn uống, và có đỉnh điểm trong phép Thánh Thể, cho dù nó không phải là hành động duy nhất. Tương quan giữa chúng cũng giống như sinh ra và lớn lên trong đời sống, giống như “sinh bởi Thần Khí”và “sống bởi Thần Khí”.

Cơn say và sự từ tốn

Trong truyền thống Kitô giáo, chủ đề cơn say từ tốn Thần Khí gắn liền với Chúa Thánh Thần, “sự đầy tràn Thần Khí”. Điều khiến các Giáo Phụ lấy lại chủ đề “cơn say từ tốn”, vốn đã được Philon người Do Thái mô tả, và tạo cho nó một chỗ đứng trong Giáo Hội, là bản văn mà thánh Tông Đồ mời gọi các Kitô hữu Êphêsô: “Chớ say sưa rượu chè, vì rượu chè đưa tới trụy lạc, nhưng hãy thấm nhuần, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa” (Ep 5,18-19). Cách mà thánh Tông Đồ, trong phần thứ hai của bản văn, minh họa hành vi của những người được “đầy tràn Thần Khí” (“bằng cách ca hát và chúc tụng…”) có thể ám chỉ chủ đề về cơn say từ tốn.

Khởi đầu từ Origen, có vô số bản văn của các Giáo Phụ về chủ đề này, khi thì về sự loại suy, khi thì về sự tương phản giữa cơn say vật chất và cơn say thiêng liêng. Như người ta nói, cả hai đều là nguồn vui, khiến chúng ta quên đi những lo lắng, làm cho chúng ta ra khỏi chính mình. Trong khi cơn say vật chất khiến bạn lảo đảo và thiếu quyết đoán, thì cơn say thiêng liêng lại làm cho bạn trở nên vững chắc trong điều thiện; trong khi cơn say trước khiến bản thân thoát ra khỏi chính mình để sống dưới mức lý trí, thì cơn say thứ hai khiến bản thân thoát ra khỏi chính mình để sống trên lý trí, thực hiện sự “xuất thần” thiêng liêng thực sự. Cơn say trước là một “cơn say tội lỗi”, cơn say sau là một “cơn say ân sủng”.

Lấy cảm hứng chính xác từ câu chuyện nước chảy ra từ tảng đá, thánh Ambrôsiô viết: “Đức Giêsu đã làm cho nước vọt ra từ tảng đá và mọi người đều uống nước ấy. Tất cả những ai uống theo nghĩa ẩn giấu của Cựu Ước đều được đã khát; những ai uống theo nghĩa được mạc khải của Tân Ước thậm chí còn say nữa. Cơn say đem lại niềm vui sướng thực tốt biết bao […] Cơn say làm vững bước người từ tốn thực tốt biết bao […] Hãy uống Đức Kitô là cây nho; hãy uống Đức Kitô là tảng đá làm vọt ra nước […] hãy uống Đức Kitô để uống lời giảng dạy của Ngài […]. Kinh Thánh được uống,  được ngấu nghiến khi nhựa sống của lời hằng sống đi vào huyết quản của tâm trí và vào năng lực của linh hồn”.[32] Đây không phải là một bài giảng về cơn say từ tốn, nhưng chính là cơn say từ tốn!” Các Giáo Phụ đã sống lý tưởng này, các ngài không hài lòng với việc nói về nó.

Chủ đề gợi mở này về cơn say từ tốn Thần Khí có ý nghĩa gì đối với chúng ta? Có hai cách hành động khác nhau đối với một Kitô hữu: một cách của con người và một cách của Thiên Chúa, một cách tự nhiên và một cách siêu nhiên. Một cách mà tác nhân chính là con người, với lý trí của anh ta, ngay cả khi nó được đức tin soi sáng, và một cách mà diễn viên chính hay “tác nhân chính”, như Đức Phaolô VI nói trong Evangelii nuntiandi (Loan báo Tin Mừng), là Chúa Thánh Thần. Đây là điều mà thánh Phaolô gọi là “được Thần Khí hướng dẫn” (Gl 5,18), hay hành động “theo Thần Khí”. Ngay cả các thành quả cũng khác nhau, tùy thuộc vào việc người ta hành động “cách khôn ngoan”, dựa trên sự thận trọng, lương tri, kinh nghiệm, tổ chức, ngoại giao, hoặc khi “dựa vào bằng chứng xác thực của Thần Khí và quyền năng Thiên Chúa” (1Cr 2,4).

Sức mạnh và sức sống của Giáo Hội luôn thể hiện khi Giáo Hội hành động theo cách đặc sủng hoặc nhờ Thánh Thần, khi Giáo Hội thực hiện những hành động có dấu ấn minh nhiên của Thần Khí.

Nhưng làm thế nào chúng ta có thể tìm lại được lý tưởng cơn say từ tốn này và thể hiện nó trong hoàn cảnh lịch sử và Giáo Hội của chúng ta? Có lời chép là cách sống Phúc Âm và cảm nghiệm về Thần Khí rất “mạnh mẽ” này là đặc quyền riêng của các Giáo Phụ thời sơ khai, lời chép đó ở đâu? Thánh Tông Đồ thốt lên: “Tất cả là của anh em”. Tất cả thuộc về mọi người trong Giáo Hội, nhờ sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô. Ân huệ của Đức Giêsu không có giới hạn lịch sử và kho tàng ơn cứu chuộc là dành cho mọi người. Chưa kể chúng ta cần cơn say từ tốn Thần Khí, hơn nhiều so với các Giáo Phụ. Thế giới đã trở nên trơ ỳ với Phúc Âm, vững tin vào mình, kiêu căng đến mức chỉ có “rượu mạnh” của Thần Khí mới có thể thắng được sự vô tín của nó và đưa nó ra khỏi sự dè dặt duy lý được gọi là “tính khách quan khoa học”.

Trong quá khứ, người ta đã đi từ sự từ tốn đến cơn say. Quả thực, “từ tốn” không chỉ cho thấy một phẩm chất của cơn say thiêng liêng, phân biệt nó với bất cứ loại say nào khác (rượu, ma túy, thành công, v.v.), mà còn cho thấy cách thức, phương tiện để đạt tới cơn say thiêng liêng, khía cạnh khổ hạnh của nó, vai trò thuộc về con người. Cách thức đạt tới cơn say thiêng liêng, hay nhiệt tình, đó là sự từ tốn, nghĩa là tiết chế những gì thuộc xác thịt, chay tịnh những sự thế gian, sự điều độ.

Theo nghĩa này, sự thanh luyện thông qua sự từ tốn đã được phát triển do linh đạo đan tu Chính thống giáo, đặc biệt là do Hesychius de Batos, mà theo ông, sự từ tốn là đức tính mấu chốt của trí khôn, không chỉ ngăn cấm bản thân bất cứ gánh nặng tư tưởng xấu nào, mà còn hoán cải (metanoia, ăn năn) để chỉ chú ý đến sự trong sạch trong tâm hồn, hầu đạt tới sự trong suốt nguyên thủy. Liên kết với sự từ tốn (nepsis, cũng có nghĩa là tỉnh thức) là hesychia – sự nghỉ ngơi của tâm hồn, sự thinh lặng an bình, với lời cầu nguyện hướng về Đức Giêsu.[33]

Với những tên gọi khác nhau (trút bỏ, thanh tẩy, hãm mình), học thuyết khổ hạnh này cũng gặp thấy nơi các tiến sĩ Latinh. Thánh Gioan Thánh Giá nói về việc “vì Chúa mà trút bỏ tất cả những gì không thuộc về Chúa”.[34] Chúng ta đang trong giai đoạn thứ hai của đời sống thiêng liêng, giai đoạn được gọi là thanh tẩy. Ở giai đoạn này, linh hồn giải thoát mình khỏi những thói quen tự nhiên, để chuẩn bị cho sự kết hợp với Thiên Chúa, và đón nhận ân sủng của Ngài trong giai đoạn thứ ba, gọi là “con đường kết hiệp”.

Chúng ta thừa kế linh đạo này, vốn đã quan niệm con đường hoàn thiện của giai đoạn thanh tẩy, nơi mà chúng ta phải ở lại lâu trong giai đoạn kết hiệp. Phải thực hành lâu trong sự từ tốn, trước khi có thể thưởng thức cơn say. Mọi sự nhiệt thành nào thể hiện trước đó đều đáng ngờ. Cơn say thiêng liêng là mục tiêu dành cho những người “hoàn hảo”. Những người khác, những “người mới bắt đầu”, phải quan tâm đặc biệt đến việc hãm mình, trong khi còn đang đấu tranh với lỗi lầm của mình thì không được cho rằng mình đang có một kinh nghiệm trực tiếp và mạnh mẽ về Thiên Chúa trong Thần Khí.

Có một sự khôn ngoan và kinh nghiệm tuyệt vời ở đó. Nhưng lược đồ này nhấn mạnh nỗ lực của con người liên quan tới ân sủng với một chút xê xích: Tân Ước chỉ ra một sự đồng thời: sự từ tốn là cần thiết để đạt tới cơn say Thần Khí, nhưng cơn say Thần Khí giúp thực hành sự từ tốn.

Thực hành khổ chế mà không có sự thúc đẩy ban đầu của Chúa Thánh Thần là một sự mệt nhọc vô ích, và hẳn sẽ chỉ tạo ra “sự kiêu căng của xác thịt”. Đối với thánh Phaolô, chính “nhờ Thần Khí” mà chúng ta phải “diệt trừ những công việc của xác thịt” (Rm 8,13). Thần Khí được ban cho ta để giúp ta hãm mình, hơn là như một phần thưởng cho việc hãm mình.

Một Giáo Phụ xưa có nói: một đời sống Kitô hữu khổ hạnh và hãm mình mà không có dấu ấn sống động của Thần Khí sẽ giống như một Thánh lễ có nhiều bài đọc, nhiều nghi thức và lễ vật, nhưng không có việc truyền phép bánh rượu. Chẳng có gì thay đổi cả. Giáo Phụ đó kết luận: “Cũng như vậy đối với người Kitô hữu: cho dù người đó đã giữ chay hoàn hảo, canh thức, cầu nguyện, khổ hạnh và mọi nhân đức, nhưng nếu Thần Khi không hoạt động trong tâm hồn người đó, thì tất cả các loại khổ hạnh này vẫn chưa hoàn thành và gần như vô ích, vì không mang niềm vui của Thần Khí, là niềm vui hoạt động cách thần bí trong tâm hồn”.[35]

Con đường thứ hai này – con đường đi từ cơn say đến sự từ tốn – là con đường Đức Giêsu đã bắt các Tông Đồ đi theo. Trước lễ Ngũ Tuần, họ không có khả năng thực hành các lệnh truyền Phúc Âm. Nhưng ngày lễ Ngũ Tuần, khi được rửa trong Chúa Thánh Thần, họ được biến đổi, và có thể vì danh Đức Giêsu mà chịu mọi khó khăn cho đến chỗ tử đạo. Chúa Thánh Thần là nguồn gốc lòng nhiệt thành của họ, còn hơn cả tác dụng của Ngài.

Có một lý do khác thúc đẩy chúng ta tìm lại con đường đi từ cơn say đến sự từ tốn. Đời sống Kitô giáo không chỉ là vấn đề tăng trưởng cá nhân về đường thiêng liêng; nó còn là một thừa tác vụ, một sự phục vụ, một sự loan báo: và để hoàn thành sứ vụ này, chúng ta cần “quyền năng đến từ trên”, cần những đặc sủng, một kinh nghiệm mạnh mẽ, trong ngày lễ Ngũ Tuần, của Chúa Thánh Thần. Phải mở lòng đón nhận Thần Khí để có thể quảng đại, nhiệt thành, “với tinh thần sốt sắng” (Rm 12,11), để hoàn thành các công việc của Thiên Chúa “với lòng nhiệt thành, kiên trì và vui mừng”, theo định nghĩa của thánh Basiliô về sự nhiệt thành.

Cơn mưa thấm sâu của Thần Khí

Những nơi mà Thần Khí hành động ngày hôm nay theo cách của ngày lễ Ngũ Tuần là những nơi nào? Thánh Ambrôsiô đã mời chúng ta như đã nói trên: “Uống đi, uống đi, uống đi.” Nhưng nước này ở đâu? Một hôm, nói về Chúa Thánh Thần mà những kẻ tin vào Ngài sắp lãnh nhận, Đức Giêsu hô lên: “Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống” (Ga 7,37). Nhưng Ngài ở đâu, người ta có thể tìm thấy Ngài ở đâu lúc này là lúc Ngài đã sống lại và đã rời bỏ trái đất?

Chúng ta sẽ tìm thấy nơi thánh Ambrôsiô, một trong những ca viên tuyệt vời về cơn say từ tốn Thần Khí, những yếu tố để trả lời. Sau khi nhắc lại hai nơi “kinh điển” để kín múc Thánh Thần là Thánh Thể và Sách Thánh (“say sưa chén cứu độ và say sưa sự dồi dào của Sách Thánh”), ngài gợi lên một khả năng thứ ba: “Còn có một cơn say khác hoạt động như cơn mưa thấm sâu của Chúa Thánh Thần. Chẳng hạn, trong sách Công vụ, những ai nghe các Tông Đồ nói các thứ tiếng khác nhau đều nghĩ rằng họ đã bứ rượu.”[36] Sau khi đã nhắc lại những phương tiện “bình thường”, thánh Ambrôsiô ám chỉ tới một phương tiện khác, “bất thường” (nghĩa là không được thiết lập) hệ tại ở chỗ làm sống lại kinh nghiệm của các Tông Đồ vào ngày lễ Ngũ Tuần.

Thánh Ambrôsiô không nghĩ rằng kinh nghiệm này được dành cho thế hệ Kitô hữu đầu tiên. Ngược lại, ngài muốn khuyến khích các tín hữu của mình trải nghiệm “cơn mưa thấm sâu Thần Khí” đã xẩy ra ngày lễ Ngũ Tuần. Công đồng Vaticanô II đã làm sáng tỏ viễn tượng này, khi tuyên bố rằng “Chúa Thánh Thần không chỉ thánh hóa và hướng dẫn dân Thiên Chúa bằng các bí tích và các thừa tác vụ […], Ngài còn ban phát các ân sủng đặc biệt cho mỗi người theo ý Ngài” (GH 12).

Khả năng kín múc Thần Khí theo cách mới mẻ, cá nhân này được mở ra cho chúng ta, và chỉ tùy thuộc vào sáng kiến ​​tự do và tối cao của Thiên Chúa. Hãy cẩn thận để đừng rơi vào chủ trương vụ luật của người Pharisêu và các kinh sư thời Đức Giêsu. Họ phản đối Đức Giêsu: “Có sáu ngày để làm việc, vậy tại sao lại chữa bệnh và làm phép lạ trong ngày Sabát?” Phần chúng ta, chúng ta có lẽ bị cám dỗ nói: “Có bảy bí tích để thánh hóa và ban Thánh Thần rồi, sao lại hành động bên ngoài chúng, theo cách mới này?”

Đôi khi tôi tự hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu một ngày kia có tin đồn là sẽ xẩy ra cùng một điều như ngày lễ Ngũ Tuần đầu tiên, cùng một hiện tượng, tin đồn là nhà Tiệc ly lại mở cửa, “cơn gió mạnh” lại thổi và làm rung chuyển ngôi nhà; một nơi mà từ đó người ta trở về mà được biến đổi, với lòng nhiệt thành mới và tình yêu mới đối với Giáo Hội. Phải chăng sẽ không có một đoàn người vô tận tiến về nơi này? Quả thực, từ hai mươi lăm năm nay, tin tức này lan truyền trong Giáo Hội, và chính là điều đang xảy ra. Có hàng triệu triệu người nói rằng mình biết nơi này, và đã sống lễ Ngũ Tuần này. Và đây không chỉ là tiếng nói của những người cuồng nhiệt, của những người dễ bị kích động và tin vào phép lạ. Khi nói về thực tại này vào năm 1975, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã nói rằng đó là cơ may cho Giáo Hội, và trích dẫn một câu trong bài thánh thi của thánh Ambrôsiô, ngài đã nhắc lại một cách đúng đắn lý tưởng về “cơn say từ tốn Thần khí”, coi nó như là một chương trình sống cho cuộc Canh tân Đặc sủng Công giáo. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II hiện nay, trong lễ kỷ niệm mười năm cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa cuộc Canh tân và người đứng đầu Giáo Hội, đã nói rằng mười năm vừa trôi qua đã xác nhận tính chính xác của những lời vị tiền nhiệm phát biểu.

Trong báo cáo của mình trước Đại hội Quốc tế về Thánh Thần học, nhà thần học Yves Congar, khi bàn về những dấu chỉ thức tỉnh của Chúa Thánh Thần trong thời đại chúng ta, đã nói: “Làm sao không xác định được ở đây dòng chảy đặc sủng, còn được gọi là cuộc Canh tân trong Thần Khí?” “Nó đã được bày tỏ và lan rộng như ngọn lửa rừng trong các Giáo Hội truyền thống […]. Người ta không thể phủ nhận Thiên Chúa hành động ở đó: Ngài biến đổi cuộc sống ở đó và đôi khi dùng quyền năng mà hành động ở đó. Ngài đề ra cho Giáo Hội một con đường trẻ hóa và đầy sức sống.

“Điều đáng chú ý là ngay từ đầu nó đã nằm trong khuôn khổ của đức tin Kitô giáo […] Nó không chống lại thể chế, nhưng đúng hơn, muốn hồi sinh thể chế.

“Chấp nhận kế hoạch của Ngài, theo cách của Ngài và không phải là không biết những gì nảy mầm, mọc lên và nở hoa khắp nơi, cuộc Canh tân là một cách đáp lại sự mong đợi Ngũ Tuần được Đức Gioan XXIII bày tỏ […], chúng tôi nghĩ rằng cuộc Canh tân là một ân sủng mà Thiên Chúa đã làm cho thời đại của chúng ta”.[37]

Đúng là thực tại này, cũng như các thực tại mới khác của Giáo Hội hôm nay, đôi khi có những khía cạnh khó khăn, thái quá, chia rẽ và tội lỗi. Nhưng không phải như vậy với tất cả các ân huệ của Thiên Chúa, ngay khi chúng rơi vào tay loài người sao? Phải chăng quyền bính đã được hay đang được thực thi trong Giáo Hội mà không do lỗi của con người là độc đoán và tìm kiếm quyền lực? Tuy nhiên, không ai muốn loại bỏ đặc sủng này ra khỏi đời sống của Giáo Hội. Ngay cả những cộng đồng đặc sủng Kitô giáo đầu tiên cũng không tránh khỏi những rối loạn và khiếm khuyết, như cộng đồng Côrintô. Thần Khí không phải bỗng đâu làm cho nên thánh. Ngài hoạt động theo từng giai đoạn. Hơn nữa, phải phân biệt hành động thánh hóa đích danh của Thần Khí (gratia gratum faciens) với hành động đặc sủng (gratia gratis data) là ơn được ban để phục vụ và vì lợi ích chung, hơn là cho chính con người.

Phép rửa trong Thần Khí

Phương tiện chính yếu giúp cho cuộc Canh tân trong Thần Khí “thay đổi đời sống con người” là phép rửa trong Thần Khí. Đó là một nghi thức rất đơn giản về cử chỉ, bình thản và vui vẻ, trong một thái độ khiêm nhường, ăn năn, sẵn sàng trở thành con cái để được vào Nước Trời. Đó là một loại kinh epiclesis, nghĩa là lời khẩn cầu Chúa Thánh Thần, xuống trên một chi thể của thân thể Đức Giêsu Kitô, là kinh nhắc lại kinh trong Thánh lễ, sau truyền phép, xuống trên cộng đoàn các tín hữu, để Chúa Thánh Thần biến họ thành “một hy tế sống động đẹp lòng Thiên Chúa”. Đó là một sự đổi mới và hiện tại hóa tất cả việc khai tâm Kitô giáo, chứ không chỉ phép rửa. Người ta chuẩn bị cho việc đó bằng cách tham dự các buổi gặp gỡ huấn giáo để lại tiếp xúc sống động và vui vẻ với những chân lý chính yếu và những thực tại đức tin, đó là: tình yêu của Thiên Chúa, tội lỗi, ơn cứu độ, sự sống mới, sự biến đổi trong Đức Kitô, các đặc sủng, hoa trái của Thần Khí.

Nhưng phải chăng mọi người cần có kinh nghiệm này? Đây có phải là cách duy nhất trải nghiệm về ân sủng của lễ Ngũ Tuần không? Nếu qua phép rửa trong Thần Khí, chúng ta muốn nói đến một nghi thức nào đó, được thực hiện cách nào đó, trong một bối cảnh nhất định, thì chúng ta phải trả lời là không; đó không phải là cách duy nhất để có một kinh nghiệm mạnh mẽ trong Thần Khí. Đã có và có nhiều Kitô hữu có kinh nghiệm kiểu này, mà không biết gì về phép rửa trong Thần Khí, hoặc bằng cách nhận được một “sự tuôn đổ tự nhiên Thần Khí”, như người ta có thể thấy trong cuộc đời của nhiều vị thánh. Tuy nhiên, tôi thấy rằng đó là một phương tiện đơn giản và mạnh mẽ để đổi mới đời sống của hàng triệu tín hữu trong hầu hết các Giáo Hội Kitô. Vì vậy chúng ta phải suy nghĩ trước khi nói rằng cái đó không được tạo ra cho chúng ta và bỏ qua một bên, nếu Chúa cho chúng ta cơ hội.

Tôi đã sắp trở thành một trong số họ và, ngay cả khi tôi phải trả giá đắt, tôi muốn kể cho các bạn nghe một chút về kinh nghiệm cá nhân của tôi, bởi vì tôi nghĩ rằng những khó khăn của tôi có thể giống như những khó khăn của nhiều linh mục và nhà thần học, và rằng kinh nghiệm của tôi có thể hữu ích cho những người khác. Hẳn là thiếu lòng biết ơn Thiên Chúa và thiếu tin tưởng nơi các bạn, nếu giữ im lặng về trải nghiệm này vốn đã thay đổi cuộc đời của tôi. Mặt khác, tôi luôn nghĩ rằng Thiên Chúa quan phòng đã cho tôi thừa tác vụ này để tôi khiêm nhường làm chứng, ở giữa lòng Giáo Hội, sự run sợ của lễ Ngũ Tuần trải qua thân thể Đức Giêsu Kitô, dưới các hình thức khác nhau, và là một dấu hiệu hy vọng lớn lao giữa tất cả những thử thách mà Giáo Hội phải trải qua, điều vẫn còn thấy ngày nay.

Một khó khăn đầu tiên tôi gặp là thế này. Tôi nghĩ: nhưng tôi, tôi có thánh Phanxicô, với tư cách một người cha; tôi có một linh đạo tuyệt vời đàng sau tôi, rất nhiều vị thánh… Tôi còn tìm kiếm điều gì nữa? Những người anh em này có thể mang lại cho tôi điều gì? Trong khi tôi đang suy nghĩ về tất cả những điều đó, trong một nhóm cầu nguyện, ở cuối căn phòng, một nữ tu mở Kinh Thánh và bắt đầu đọc. Đó là đoạn Gioan Tẩy Giả nói với những người Pharisêu: “Đừng tưởng có thể bảo mình rằng: chúng ta đã có tổ phụ Abraham” (Mt 3,9) (Thường là như thế khi Thần Khí nói, hành động, cho thấy là tội, trong một buổi cầu nguyện đặc sủng). Tôi hiểu rằng lời này là dành cho tôi.

Ý kiến ​​phản đối khác là: Nhưng tôi, tôi là một linh mục, được giám mục truyền chức; tôi đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần; tôi còn phải nhận điều gì, hơn nữa lại từ giáo dân? Lần này thần học của tôi đã trả lời cho tôi. Tôi tưởng tượng Đức Giêsu sẽ trả lời tôi như thế này: “Thế Ta thì sao? Ta đã không được Chúa Cha thánh hóa và sai đến thế gian sao? Ta đã không được đầy Thánh Thần từ khi sinh ra trong lòng mẹ Maria của Ta sao? Vậy mà Ta đã đi đến sông Giođan để được Gioan Tẩy Giả, cũng chỉ là một giáo dân, làm phép rửa đó sao! “

Chính như thế mà tôi đồng ý lãnh nhận lời cầu nguyện “để được đổ tràn Thần Khí mới mẻ”. Tôi đã trải nghiệm nó như một sự đổi mới có ý thức về phép rửa của tôi, như thể cuối cùng chính tôi nói những lời thưa “vâng” và “tôi tin”! mà những người khác đã nói thay cho tôi, lúc tôi được chịu phép rửa. Một cách để trao dây cương cho Đức Giêsu dẫn dắt cuộc đời tôi. Trong khi tôi được mời gọi lại chọn Đức Giêsu làm Chúa duy nhất của cuộc đời tôi, tôi ngước mắt lên và nhìn vào thập giá trên bàn thờ của nhà nguyện. Như thể Ngài đã chờ đợi tôi để làm cho tôi hiểu: “Đây là Đức Giêsu mà ngươi đã chọn làm Chúa, không phải một Đức Giêsu dễ dãi, tô hồng.” Điều đó là đủ để khiến tôi thừa nhận rằng dòng chảy ân sủng này được gọi là cuộc Canh tân Đặc sủng không phải là một cảm xúc hời hợt; nó đi thẳng vào tâm điểm của Phúc Âm và Khởi giảng, là thập giá Đức Kitô.

Thánh Ambrôsiô nói: “Chúng ta hãy vui mừng uống sự dồi dào từ tốn Thần Khí”. Vâng, lạy Chúa, chúng con thực sự cần cơn say thiêng liêng này. Chúng con cần nó để thi hành lệnh truyền của Chúa, để cho thế gian phải nhận ra tội lỗi vì đã khước từ Chúa; nhất là chúng con cần nó để thánh hóa bản thân. Và khi đó, lạy Chúa, chúng con thưa với Chúa như Phêrô: “Thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân mà cả tay cùng đầu con nữa” (Ga 13,9). Xin Chúa rửa chúng tôi hoàn toàn bằng Thần Khí Chúa!

Trang Trước Trang Sau