5. NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC THÁNH HIẾN
Trong những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, tuần sau lễ Phục sinh là giai đoạn mà giám mục dạy nhiệm huấn (catéchèse mystagogique), gọi như vậy vì nó giúp đưa người ta đến chỗ hiểu biết các mầu nhiệm.
Các người tân tòng, được rửa tội trong đêm Phục Sinh, trong suốt bảy ngày, mặc áo trắng, trở lại dưới chân giám mục, người đã lần đầu tiên giúp họ hiểu biết ý nghĩa sâu xa của các nghi thức và các mầu nhiệm mà họ mới lãnh nhận. Cứ như thể họ bước vào căn phòng kho báu của Giáo Hội. Do “luật bảo mật”, những nghi thức thánh nhất của đức tin, vào thời đó, được giấu kín không cho người dự tòng biết, cho đến khi có lời huấn dụ trọng thể của giám mục. Đó là lúc được chờ đợi từ lâu và không thể nào quên. Tertullianô nói về điều đó trong một bản chép tay, trong đó ông cho biết những người từ ngoại giáo trở lại đã “kinh ngạc trước ánh sáng của sự thật”.[21] Có lẽ, chính trong một hoàn cảnh thuộc loại này mà những lời sau đây được công bố, những lời chúng ta đọc thấy trong thư đầu tiên của thánh Phêrô, có thể được viết ra như một nhiệm huấn cho các người tân tòng: “Như trẻ sơ sinh, anh em hãy khao khát sữa tinh tuyền là lời Chúa, nhờ đó anh em sẽ lớn lên để hưởng ơn cứu độ” (1Pr 2,2).
Một trong những mầu nhiệm được giải thích cho các người tân tòng trong tuần lễ đó là mầu nhiệm xức dầu, bí tích thêm sức hiện nay, vào thời kỳ đó được thực hiện ngay sau phép rửa, giữa các nghi thức khai tâm Kitô giáo. Vào ngày thứ sáu của tuần bát nhật Phục Sinh, chúng ta thấy trong Phụng vụ các Giờ Kinh một đoạn trích trong các bài nhiệm huấn của thánh Cyrillô, giám mục Giêrusalem, trong đó ngài giải thích nghi thức và bí tích xức dầu hoặc thánh hiến. “Được thanh tẩy trong Đức Kitô và mặc lấy Đức Kitô, anh em đã trở nên đồng hình đồng dạng với Con Thiên Chúa […]. Vậy từ nay, là những người dự phần vào Đức Kitô, anh em được gọi chính xác là “những kitô” (những người được xức dầu) và chính về anh em mà Thiên Chúa nói: “Đừng chạm vào những kitô của ta”. Vậy là anh em đã trở thành những kitô, nhờ lãnh nhận dấu ấn Chúa Thánh Thần […].
“Về phần Đức Giêsu Kitô, khi Ngài được dìm trong sông Giođan và cho nước được tiếp xúc với thần tính của Ngài, Ngài đã lên khỏi nước và Chúa Thánh Thần xuống trên Ngài […] và về phần chúng ta, một cách tương tự, một khi lên khỏi hồ nước thánh, thì đó là xức dầu thánh, hình ảnh chính xác của hình ảnh Đức Kitô đã được xức dầu thánh: tôi muốn nói là Chúa Thánh Thần […]. Thân xác được xức dầu thánh bằng hương thơm hữu hình này, nhưng linh hồn được thánh hóa nhờ Chúa Thánh Thần làm cho sống[22]”.
Còn chúng ta, chúng ta đã không bao giờ có bài nhiệm huấn của chúng ta, nghĩa là một dẫn nhập sâu sắc vào các mầu nhiệm đức tin. Giờ đây chúng ta có nó! Sự canh tân trong Thần Khí thực sự là nơi giới thiệu cho mọi người những thực tại đức tin sâu sắc nhất và sống động nhất. Vào lúc này, chúng ta là những đứa trẻ sơ sinh khao khát dòng sữa tinh tuyền của Chúa Thánh Thần.
“Ngươi là một dân được thánh hiến cho Chúa”
Các thực tại lớn của Kitô giáo giáo đã được tiên trưng trong Cựu Ước, nghĩa là đã được loan báo trước và chuẩn bị bằng các biểu tượng và lời tiên tri. Lễ Vượt Qua Kitô giáo được tiên trưng bằng hy tế chiên vượt qua, phép rửa bằng phép cắt bì, Thánh Thể bằng manna, v.v. và cứ như vậy. Cũng thế là việc thánh hiến. Đó là hành vi mà một đối tượng, hoặc một người, hoặc cả một dân, được chọn, tách khỏi tất cả những thứ còn lại và được dành cách đặc biệt để thờ phượng và phụng sự Thiên Chúa, có quan hệ đặc biệt với Ngài, so với các dân khác, hoặc với những hạng người khác thuộc về dân này. Đó là hành vi mà nhờ đó họ “trở nên thánh” và làm nên một “bậc”, bậc của những người được thánh hiến.
Với tư cách là một dân, Israel được thánh hiến cho Chúa, và vì thế không giống như tất cả các dân khác. Môsê nói: “Anh em là một dân thánh hiến cho Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em. Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã chọn anh em từ giữa muôn dân trên mặt đất, làm một dân thuộc quyền sở hữu của Người. Đức Chúa đã đem lòng quyến luyến và chọn anh em, không phải vì anh em đông hơn mọi dân, thật ra anh em là dân nhỏ nhất trong các dân” (Đnl 7,6-7). Đức Chúa phán: “Vậy giờ đây, nếu các ngươi thật sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta, vì toàn cõi đất đều là của Ta. Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh” (Xh 19,5-6).
Trong dân được thánh hiến này, một số người được thánh hiến cách rất đặc biệt. Nghi thức thánh hiến bao gồm xức dầu thơm. Để hiểu cử chỉ này, phải nhớ rằng, đối với người xưa, dầu là một yếu tố quý giá được săn lùng. Một Thánh vịnh nói dầu “làm gương mặt sáng tươi”, cùng với rượu làm phấn khởi lòng người và bánh làm no lòng chắc dạ (x. Tv 104,15). Chúng ta đừng ngạc nhiên khi thấy yếu tố này được đưa vào thế giới tôn giáo, để chỉ phẩm giá và vẻ đẹp nhờ tiếp xúc với Thiên Chúa, và để tượng trưng cho Chúa Thánh Thần.
Ba hạng người được xức dầu: vua, tư tế và tiên tri. Chẳng hạn, chúng ta biết Samuel đã xức dầu thơm cho vua Saun, sau đó là Đavít, bằng cách đổ một sừng dầu thơm lên đầu họ (x. 1Sm 10,1; 16,13). Trong sách Xuất hành, chúng ta thấy mô tả việc xức dầu Aarôn, với chi tiết về tất cả các loại hương liệu cần thiết cho thành phần của dầu (x. Xh 30,22tt). Êlia đã xức dầu cho Êlisê làm tiên tri thay ông (x, 1V 19,16); tiên tri Isaia nói về Thần Khí của Chúa, Đấng đã xức dầu cho ông để đem tin mừng cho người nghèo khó (x. Is 61,1tt) và Giêrêmia nói mình đã được thánh hiến làm tiên tri ngay từ trong lòng mẹ (x. Gr 1,5).
Từ Cựu Ước sang Tân Ước, chúng ta thấy có lời quả quyết long trọng rằng Giáo Hội là dân thánh mới và vương quốc mới các tư tế: “Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người” (1Pr 2,9). Tất cả những người được rửa tội đã được xức dầu và được thánh hiến. Thánh Phaolô viết: “Đấng củng cố chúng tôi cùng với anh em trong Đức Kitô và đã xức dầu cho chúng ta, Đấng ấy là Thiên Chúa. Chính Người cũng đã đóng ấn tín trên chúng ta và đổ Thần Khí vào lòng chúng ta làm bảo chứng” (2Cr 1,21-22). Về phần mình, Gioan viết: “Phần anh em, anh em nhận được dầu, do tự Đấng Thánh” (1Ga 2,10). Mọi Kitô hữu đã được thánh hiến, hay được thánh hóa, nghĩa là đã được tuyên bố và trở nên thánh để phụng sự Thiên Chúa: “Anh em đã được tẩy rửa, được thánh hóa” (1Cr 6,11).
Đức Kitô, Đấng được thánh hiến
Nhưng tại sao chúng ta lại nói các Kitô hữu đã được thánh hiến? Họ đã nhận được loại xức dầu nào? Để thấy được điều này, chúng ta phải bắt đầu từ Đức Giêsu, Đấng đầu tiên được thánh hiến, Đấng mà tất cả những thánh hiến trong giao ước cũ hướng tới. Chính tên của Đấng Mêsia, Đấng Kitô, có nghĩa là Đấng được xức dầu, được thánh hiến. Chính nơi Ngài mà bước vượt qua từ văn tự đến Thần Khí, từ hình bóng đến thực tại, từ bên ngoài và thời gian đến bên trong và vĩnh cửu. Đức Giêsu coi những lời của tiên tri Isaia là của mình và tuyên bố: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi” (Lc 4,18).
Thời điểm Đức Giêsu gợi lên là lúc Ngài chịu phép rửa ở sông Giođan, khi “Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Nguời” (Cv 10,38).
Tertullianô giải thích tên Kitô có từ sự xức dầu này: “Kitô vì được Chúa Cha xức dầu cùng với Chúa Thánh Thần”.[23] Đó là một hành động mà cả Ba Ngôi cùng góp phần: “Trong danh xưng “Kitô”, có hiểu ngầm Đấng đã xức dầu, Đấng đã được xức dầu, và sự xức dầu mà nhờ đó Ngài đã được xức dầu: Đấng đã xức dầu là Chúa Cha, Đấng đã được xức dầu là Chúa Con, và Ngài đã được xức dầu trong Thần Khí, là sự xức dầu.”[24] Chúa Cha thánh hiến, Đức Giêsu được thánh hiến và Chúa Thánh Thần là sự thánh hiến. Chúng ta thấy rõ vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc thánh hiến: Người là dầu hoan lạc mà “người đẹp nhất trong số con cái loài người” đã được xức bằng dầu ấy (x. Tv 45,8).
Nhưng điều này có thể có nghĩa gì và tại sao Đức Giêsu chỉ được xức dầu tại sông Giôđan? Chắc chắn Đức Giêsu đã được đầy Thánh Thần ngay từ khi sinh ra. Đúng vậy, nhưng điều đó tùy thuộc vào ân sủng cá nhân, không thể chuyển đạt, gắn liền với sự ngôi hiệp giữa Lời và xác thịt Đấng Cứu Thế. Khi chịu phép rửa, Đức Giêsu cũng được xức dầu hoặc thánh hiến với tư cách là Đầu của nhiệm thể, vì sứ mệnh mà Ngài phải chu toàn; Ngài lãnh nhận xức dầu mà Ngài phải truyền đạt cho thân thể mình là Giáo Hội. Ngài được xức dầu làm Đấng Mêsia, Ngài lãnh nhận một loại phong ban chính thức. Chúng ta hãy nghe chân lý sâu sắc này từ những thầy dạy đức tin lâu đời nhất, là các Giáo Phụ, để được nuôi dưỡng một cách vững chắc. Thánh Ignatiô Antiokia viết: “Nếu Chúa được xức dầu trên đầu, thì đó là để đổ tràn trên Giáo Hội của Ngài một hơi thở của sự bất hoại”.[25] Thánh Irênê xác định rõ: “Quả thật, chính Thần Khí của Thiên Chúa đã ngự xuống trên Đức Giêsu và xức dầu cho Ngài, để khi nhận được từ sự dồi dào của việc Xức dầu này, chúng ta được cứu rỗi”.[26] Một vị đại tiến sĩ khác, thánh Athanasiô, cũng bày tỏ sự xác tín tương tự khi nói: “Việc Chúa Thánh Thần xuống trên Đức Giêsu ở sông Giôđan […] là để thánh hóa chúng ta, để chúng ta có thể tham dự vào việc xức dầu này và để người ta có thể nói về chúng ta: “Anh em không biết anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Chúa Thánh Thần ngự trong anh em sao?”[27]
Nhưng nếu việc xức dầu của Đức Giêsu Kitô là dành cho chúng ta, thì chúng ta phải trả lời câu hỏi này: Tại sao việc xức dầu không được chuyển đạt tức khắc cho chúng ta? Tại sao lại có khoảng thời gian dài như vậy giữa thời điểm Đức Giêsu lãnh nhận Thần Khí tại sông Giođan và thời điểm lễ Vượt Qua và lễ Ngũ tuần, Ngài mới đổ Thần Khí trên các môn đệ? Thánh Irênê cho biết Thần Khí phải “quen với việc ở giữa con người”, trước hết Ngài phải tìm một nơi nghỉ ngơi. Ngài đã hoàn toàn thu mình trong nhân tính rất tinh tuyền của Đức Kitô, giống như nước hoa trong một bình alêbat, nhưng không thể lan tỏa cho đến khi Đức Kitô được “tôn vinh” (x. Ga 7, 39). Trong cuộc khổ nạn, bình alêbat đã bị vỡ, nghĩa là nhân tính của Đức Giêsu đã bị xé nát, và hương thơm tràn ngập khắp ngôi nhà là Giáo Hội. Thánh Gioan nói: “Ngài đã trao thần khí” (Ga 19,30): hơi thở cuối cùng của Đức Giêsu trở thành hơi thở đầu tiên của Giáo Hội; chính buổi chiều ngày Phục Sinh, Đức Giêsu đã thổi hơi trên các môn đệ và nói: “Anh em hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần” (Ga 20,22).
Giữa chúng ta và Chúa Thánh Thần có ba bức tường ngăn cách: bản tính, tội lỗi và sự chết. Chúa Giêsu đã phá bỏ bức tường đầu tiên, bằng cách kết hợp nơi Ngài bản tính thần linh và bản tính nhân loại, Thần Khí và xác thịt, lúc nhập thể; Ngài đã phá bỏ bức tường thứ hai, tức tội lỗi, bằng cách chết trên thập giá để tha thứ tội lỗi thế gian; Ngài đã phá bỏ bức tường thứ ba, tức sự chết, bằng cách sống lại từ trong kẻ chết. Giờ đây không có gì ngăn cản dầu lan rộng. Dầu thơm từ trên đầu Aarôn, tức là từ trên đầu Vị Thượng Tế mới là Đức Kitô, tràn lan trên khắp thân thể, đến tận cổ áo chầu của Ngài (x. Tv 133,2). Giáo Hội, với tư cách là Giáo Hội, là nơi tuyệt hảo để thực hiện hình ảnh đẹp đẽ mà tác giả Thánh vịnh nói đến, nơi “anh em được sống vui vầy bên nhau”.
Kitô hữu là những người được thánh hiến
Phép rửa là lúc mà mỗi người chúng ta nhận được sự xức dầu thánh hiến này. Nguyên thủy, khi phép rửa được ban cho người lớn, có một nghi thức đặc biệt gọi là xức dầu, nói lên ý nghĩa của bí tích này. Dần dần vì việc rửa tội trẻ sơ sinh, nghi thức này được tách khỏi phép rửa và trở thành một bí tích riêng: bí tích thêm sức, có nghĩa chính xác là xức dầu bằng dầu thánh.
Trong bản văn vừa đề cập, thánh Cyrillô Giêrusalem ám chỉ nghi thức này gắn liền với phép rửa. Cũng như Đức Giêsu đã hoàn toàn trở thành Kitô, nghĩa là được thánh hiến, nhờ việc xức dầu phép rửa của Ngài tại sông Giođan, thì những người tin vào Ngài, trở thành và được gọi là “những kitô”, hoặc những Kitô hữu, bằng việc xức dầu khiến họ tham dự vào việc xức dầu của Đức Giêsu Kitô. Đối với các Giáo Phụ đầu tiên, “Kitô hữu” có nghĩa là “được xức dầu, được thánh hiến”, noi gương Đức Giêsu Kitô, người được thánh hiến tuyệt vời. “Chính vì vậy chúng ta được gọi là Kitô hữu (christianoi), vì được xức dầu (chriometha) bằng dầu của Thiên Chúa”.[28]
Như vậy, chúng ta có nơi mình cùng một Thần Khí đã có nơi Đức Giêsu Nadarét. Chúa Thánh Thần mà chúng ta đã lãnh nhận thực sự là Ngôi Ba trong Ba Ngôi, nhưng do việc nhập thể, Ngài đã trở nên Thần Khí của Chúa Con. “Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em” (Gl 4,6). Cùng một Thần Khí của Chúa Con, chứ không phải Thần Khí nào khác. Chúng ta như được thấm nhiễm bằng dầu của Ngài và do đó chúng ta là “hương thơm của Đức Kitô” (x. 2Cr 2,15).
Thật vui mừng khi nghĩ rằng trong tôi có cùng một Thần Khí đã có trong Đức Giêsu khi Ngài còn sống ở trần gian; rằng Đấng đã từng là “bạn đồng hành không thể tách rời của Ngài” (thánh Basiliô), giờ đây cũng là bạn đồng hành không thể tách rời của tôi, vị khách dịu dàng của linh hồn tôi. Khi chúng ta có một nguồn cảm hứng, thì đó là tiếng của Đức Giêsu nói với chúng ta, Ngài khuyến khích và khuyên nhủ chúng ta qua Thần Khí của Ngài. Trong sâu thẳm con người chúng ta, nhờ sự thánh hiến mà chúng ta đã lãnh nhận, chúng ta được ghi bằng một dấu ấn mầu nhiệm (x. Ep 1,13), được khắc bằng lửa của Chúa Thánh Thần, một dấu ấn vương giả. Nhờ Người mà chúng ta lại là hình ảnh của Thiên Chúa và là hình ảnh của Đức Giêsu Kitô. Người huy hoàng đến độ Catarina Siena, một hôm thị kiến thấy một linh hồn tràn đầy ân sủng Thiên Chúa, kể lại rằng bà sẽ ngay lập tức quỳ gối để tôn thờ linh hồn ấy, vì coi đó là chính Thiên Chúa nếu bà đã không được báo trước đây là một thụ tạo chứ không phải Thiên Chúa.
Vua, tiên tri, tư tế
Nhưng sự thánh hiến không bao giờ là một cứu cánh tự tại. Người ta luôn được thánh hiến cho một điều gì đó, cho một mục đích. Kitô hữu chúng ta được thánh hiến cho điều gì? Điều này chúng ta cũng khám phá ra nơi Đức Giêsu, nguồn mạch và khuôn mẫu cho sự thánh hiến của chúng ta. Đức Giêsu đã kết hợp và hoàn thành ba cuộc thánh hiến: làm vua, làm tiên tri và làm tư tế.
Lúc chịu phép rửa, Đức Giêsu đã được xức dầu trước hết với tư cách là Vua để chống lại Satan và thiết lập Nước Thiên Chúa. Ngài nói: “Nếu tôi dựa vào Thần Khí của Thiên Chúa, thì quả là Triều Đại của Thiên Chúa đã đến với các ông” (Mt 12,28). Trong Cựu Ước, các vua được xức dầu để chống lại những kẻ thù hữu hình: người Cananêa, người Philitinh, người Amorit v.v; trong Tân Ước, Đức Giêsu được xức dầu vương giả để đương đầu với các trận chiến thiêng liêng, chống lại kẻ thù vô hình: tội lỗi, sự chết, Satan, kẻ thống trị đế quốc của tử thần.
Đức Giêsu được xức dầu như một Tiên Tri để đem tin mừng đến cho người nghèo khó. Như chúng ta đã nhắc lại, Đức Giêsu đã áp dụng cho mình việc thánh hiến mà Isaia đã tiên báo: “Thần Khí của Đức Chúa ngự trên tôi, vì Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo tin mừng cho người nghèo hèn” (Is 61,1 và Lc 4,18).
Cuối cùng, Đức Giê-su đã được xức dầu với tư cách là Tư Tế khi nhập thể và khi chịu phép rửa, để dâng mình làm hy tế. Như viết trong thư Do thái, Đức Giêsu “nhờ Thần Khí hằng hữu thúc đẩy, đã tự hiến tế chính mình như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa, thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết.” (Dt 9,14).
Chúng ta cũng vậy, được thánh hiến làm vua, tiên tri và tư tế. Vào lúc được xức dầu bằng dầu thánh, trong cử hành nghi thức rửa tội, Giáo Hội công bố: “Thiên Chúa toàn năng, Cha của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã giải thoát con khỏi tội lỗi và làm cho con được tái sinh bởi nước và Thánh Thần. Giờ đây con thuộc thành phần dân của Người, Người ghi dấu con bằng dầu thánh để con mãi mãi là chi thể của Đức Giêsu Kitô, tư tế, tiên tri và là vua.”
Là vua, các Kitô hữu được xức dầu để chiến đấu chống lại tội lỗi, để “tội lỗi không còn ngự trị trong thân xác hay chết của anh em” (Rm 6,12), và chống lại Satan; họ được xức dầu cho cuộc chiến đấu thiêng liêng (Ep 6,10-20). Họ được thánh hiến làm tiên tri, vì được mời gọi để “loan truyền những kỳ công của Thiên Chúa” (1Pr 2,9), và để rao giảng Phúc Âm. Cuối cùng, họ được thánh hiến làm tư tế để thực thi chức tư tế vương giả của họ.
Đức Giáo Hoàng Lêô Cả đã nói cho các Kitô hữu đương thời về vấn đề này như sau: “Đối với tất cả những ai đã thực sự được tái sinh trong Đức Kitô, dấu Thánh giá làm cho họ trở thành vua, và việc xức dầu Thánh Thần thánh hiến họ làm tư tế. Như vậy, ngoài việc phục vụ riêng biệt của thừa tác vụ của chúng ta, mọi Kitô hữu sống theo Thần Khí và theo lôgic ơn gọi của họ phải nhìn nhận mình đang tham dự vào dòng giống vương giả và chức vụ tư tế. Quả thực có gì vương giả bằng một tâm trí quy phục Thiên Chúa, và biết điều khiển thân thể mình? Và có gì tư tế bằng việc dành cho Thiên Chúa một lương tâm trong sạch và dâng lên bàn thờ trái tim mình những hy lễ vô tì tích của lòng đạo đức? Điều đó đã do ân sủng của Thiên Chúa ban cho anh em, chung với mọi người”.[29]
Chức tư tế phổ quát của các Kitô hữu
Có một chức tư tế phổ quát kết hợp tất cả chúng ta, linh mục và giáo dân. Đó là tư tưởng xác thực nhất của Giáo Hội. Hiến chế Lumen Gentium của Vaticanô II nói: “Những người đã lãnh nhận phép Thánh tẩy, nhờ sự tái sinh và xức dầu của Thánh Thần, được cung hiến để trở thành chỗ ở thiêng liêng và nhận chức tư tế thánh, hầu qua mọi hoạt động của con người Kitô hữu, dâng của lễ thiêng liêng […]. Các môn đệ của Chúa Kitô, trong khi kiên trì cầu nguyện và ca tụng Thiên Chúa, họ phải dâng mình làm của lễ sống động, thánh thiện, đẹp lòng Thiên Chúa” (GH 10).
Theo một nghĩa nào đó, đối với sự thánh hóa cá nhân, chức tư tế phổ quát này quan trọng hơn sự thi hành thừa tác của linh mục. Tương tự như vậy là đối với đức ái và các đặc sủng mà Phaolô nói. Theo thánh Grêgôriô Nadian: “Hiến dâng thân xác Đức Giêsu Kitô có ích gì cho tôi, nếu tôi không hiến dâng chính mình với Đức Giêsu Kitô?”[30] Chức tư tế phổ quát, chính là hiến dâng chính mình với Đức Giêsu Kitô. Đó là “hy tế thiêng liêng” của dân tư tế. Thánh Phaolô viết: “Tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12,1). Thân mình là tất cả đời sống, đó chính là thuật ngữ được Đức Giêsu sử dụng khi lập phép Thánh Thể.
Tất cả đời sống, chứ không chỉ những khoảnh khắc nhất định. Cả niềm vui lẫn nỗi khổ. Hy tế sống động là cuộc đời của một người làm mẹ dệt bằng những việc rất nhỏ cho con cái và gia đình; Hy tế sống động là ngày của một công nhân Kitô hữu; Hy tế sống động là cuộc đời của một chị em, một linh mục, các tu sĩ, trong Giáo Hội, những người được thánh hiến với một danh hiệu rất đặc biệt; Hy tế sống động là cuộc đời của một thanh niên, một thiếu nữ phải chiến đấu để chống lại những quyến rũ của thế gian; Hy tế sống động là những ngày, thường là cô đơn, của một người cao tuổi. Hy tế, chính là cuộc sống của một bệnh nhân. Người đó có thể xin cho khỏi uống chén, như Đức Giêsu đã xin, và xin cho mình được khỏi bệnh. Nhưng nếu nhờ ân sủng mạnh mẽ của Thiên Chúa, người đó chấp nhận bệnh tật của mình, thì quả là hạnh phúc. Cuộc sống của người đó, bất chấp những gò bó và giới hạn, có thể mang lại hoa trái dồi dào. Mỗi cuộc sống có thể bứt ra khỏi sự tầm thường và phù phiếm, nhờ sự thánh hiến mà chúng ta sống.
Khi cùng với Đức Giêsu hiến dâng mình cho Thiên Chúa, thì ý nghĩa và mục tiêu cuối cùng của đời sống con người được thực hiện. Giống như trong Thánh Thể. Trong Thánh lễ, chúng ta dâng cho Thiên Chúa bánh mà chúng ta đã lãnh nhận do lòng nhân hậu của Ngài. Tất cả chúng ta đều được thánh hiến làm linh mục để hiến dâng đời sống chúng ta cho Thiên Chúa, “bằng cách thiêu hủy đời sống ấy” như một hương thơm ngào ngạt bay lên trước nhan Ngài.
Bằng cách này, thay vì làm một vài hy sinh trong đời, chúng ta biến đời sống mình thành một hy tế. Trong cuốn Gương Chúa Giêsu Kitô (IV, 9), chúng ta bắt gặp lời cầu nguyện tuyệt vời này, một lời kinh làm mới lại việc hiến dâng cho Thiên Chúa đời sống hằng ngày của chúng ta: “Lậy Chúa, mọi sự trên trời dưới đất là của Chúa. Con muốn dâng mình con cho Chúa làm của lễ tự nguyện và thuộc về Chúa luôn mãi. Lậy Chúa, với tâm hồn đơn thành, ngày hôm nay con dâng mình con cho Chúa để phục vụ Chúa luôn mãi, vâng ý Chúa trong hy lễ ca ngợi đời đời. Xin chấp nhận con cùng với của lễ thánh là thân xác quý giá của Chúa.”
Đừng rập theo thói đời này
Không có hy sinh nếu không có cái chết nào đó. Trong Thánh lễ, bài ca dâng lễ dẫn vào việc thánh hiến; tất cả lễ dâng trở nên hoàn hảo trong lễ toàn thiêu, nghĩa là khi lễ vật được sát tế và hy tế. Không thể tưởng tượng được rằng có thể dâng cả thế giới làm hy lễ, nếu chúng ta không chết cho thế gian. Thánh Phaolô tiếp tục lời khuyên hiến dâng thân mình làm của lễ sống động và thánh thiện khi nói: “Anh em đừng có rập theo thói đời này” (Rm 12,2) và ở chỗ khác ngài nói: “Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi và tôi đối với thế gian” (Gl 6,14).
Theo nghĩa nguyên thủy và nền tảng, “được thánh hiến và thánh” trong tiếng Do Thái là qadosh, nghĩa là khác nhau, tách biệt, để qua một bên. Phải khám phá lại ý nghĩa của qadosh. Tiên tri Isaia nói về người sẽ nói “tôi thuộc về Đức Chúa” và người sẽ viết trên tay dấu chỉ “thuộc về Đức Chúa” (44,5). Cũng như sách Khải huyền gợi lên khả thể thích dấu trên tay hoặc trên trán “tên Con Thú” (13,16) dấu thuộc về Satan.
Thế gian thâm nhập vào chúng ta và tấn công chúng ta bằng những sứ điệp của nó hoàn toàn trái ngược với những sứ điệp của lời Chúa. Lời cảnh báo của sách Khải huyền luôn mang tính thời sự: “Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi thành ấy đi, để khỏi thông đồng với tội lỗi của nó và hứng lấy những tai ương dành cho nó” (Kh 18,4). Thánh Augustinô giải thích rằng Babylon là thành phố đối lập với thành phố của Chúa; đó là thành phố của Satan, thành phố được xây trên sự yêu mình đến độ khinh mạn Thiên Chúa. Chúng ta phải ra khỏi Babylon này, nhưng không ra khỏi xã hội loài người và tình liên đới với anh em. Ngược lại, vì theo định nghĩa, nguyên lý của thế gian là tính vị kỷ, nên không rập theo thói đời này có nghĩa là yêu thương và gần gũi với tất cả mọi người.
Sự tách biệt này với thế gian phải được ghi dấu cụ thể bằng những hố ngăn cách rõ ràng. Chúng ta không thể cho mình là chết cho thế gian và tiếp tục như trước, khi tin vào tất cả những gì thế gian nói, nghĩ và làm; khi chạy theo những lời mời gọi và những phỉnh phờ của nó. Đức Giêsu nói: “Không ai có thể làm tôi hai chủ” (Mt 6,24).
Ngay cả thế gian cũng cần những “tách biệt” này, để không phải chìm vào sự phù phiếm và khô cằn thiêng liêng. Thế gian cần “muối đất”, để không bị hư hoại đè bẹp.
Thánh hiến và trong sạch
Có một khía cạnh của sự tách biệt khỏi thế gian, một trong những khía cạnh cấp bách nhất phải nhắc lại: sự trong sạch. Thánh Phaolô đã viết cho các Kitô hữu ở Corintô: “Anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền thờ của Thánh Thần sao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em. Như thế anh em đâu còn thuộc về mình nữa. Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em.” (1Cr 6,19tt).
Lý do của sự trong sạch Kitô giáo là ở trong sự thánh hiến. Chúng ta không thuộc về chúng ta nữa, chúng ta thuộc về Chúa; Vì thế chúng ta không còn có thể sử dụng thân xác theo ý muốn của chúng ta, để làm cho mình hài lòng như một mục đích tự tại. Đây là điều xúc phạm đến đền thờ của Thiên Chúa, là một “sự giải thiêng hóa” (désacralisation), hoàn toàn trái ngược với sự thánh hiến. Có biết bao nhiêu xúc phạm, bao nhiêu giải thiêng hóa nơi chúng ta, và trên thế giới hôm nay!
Sự trong sạch Kitô giáo không có nghĩa là từ chối hoặc miệt thị tình yêu, nhưng ngược lại, vun đắp tình yêu. Nhưng phải là tình yêu đích thực. Cái mà thế gian gọi là tình yêu, như chúng ta biết, rất thường chỉ là tính ích kỷ mở rộng. Người ta không sống một tình yêu mà không có hy sinh, không biết từ bỏ; khả năng trao ban theo mức độ khả năng từ bỏ chính mình. Thói dâm dục, tìm kiếm cuồng nhiệt về mình hoặc cho mình, là mồ chôn tình yêu.
Tôi đã mời gọi đặc biệt những người trẻ mà tôi dám ủy thác một lệnh truyền của Đức Giêsu: Hãy sống trong sạch, hãy yêu mến sự trong sạch! Hãy là hương thơm của Đức Giêsu Kitô. Lời Chúa đề nghị với bạn một lý tưởng: “Anh em sẽ trở nên trong sạch, không ai chê trách được điều gì, và sẽ trở nên những người con vẹn toàn của Thiên Chúa, giữa một thế hệ gian tà và sa đọa. Giữa thế hệ đó, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời, là làm sáng tỏ lời ban sự sống” (Pl 2,15).
Bạn có thể làm điều đó; nó không vượt quá sức bạn, vì có lời chép: “Đấng ở trong anh em mạnh hơn kẻ ở trong thế gian” (1Ga 4.4). Bạn không được để cho thế gian làm chủ bạn và nghĩ rằng không thể sống trong sạch. Tôi dám nhận về mình những lời của Tông Đồ Gioan gửi cho những người trẻ của cộng đồng Kitô giáo tiên khởi: “Hỡi các bạn trẻ, tôi đã viết cho anh em: anh em là những người mạnh mẽ; lời Thiên Chúa ở lại trong anh em và anh em đã thắng ác thần” (1Ga 2,14). Ngài nói: “vì anh em mạnh mẽ”, chứ không nói: “để anh em mạnh mẽ”; đây là điều nhận thấy, chứ không phải một mong muốn hoặc ước nguyện đơn thuần.
Một khía cạnh quan trọng của ơn gọi sống trong sạch là e thẹn. Chỉ mình nó mà thôi, sự e thẹn nói lên mầu nhiệm của thân xác ta kết hợp với một linh hồn; nói lên rằng chúng ta không thuộc về mình, rằng có một cái gì đó trong thân xác vượt quá nó. E thẹn là tự trọng và kính trọng người khác. Nơi nào không còn ý thức về sự e thẹn, nơi đó tình dục cũng trở nên tầm thường, hết phản xạ thiêng liêng, chỉ còn là một sản phẩm tiêu dùng. Thế gian chế nhạo sự e thẹn, khiến cho những người trẻ cảm thấy xấu hổ về điều mà lẽ ra họ phải tự hào nhất, tha thiết nhất. Đó là một hành vi hung bạo chống lại những người trẻ.
E thẹn là một chứng từ huy hoàng cho thế gian. Nó là nét trang điểm đẹp nhất của sự trong sạch. Dostoievski viết: “Thế giới sẽ được vẻ đẹp cứu rỗi” nhưng ông cũng nói thêm rằng “trên thế giới chỉ có một hữu thể tuyệt đối xinh đẹp là Đức Kitô”. Sự trong sạch cho phép vẻ đẹp của Đức Giêsu Kitô lộ ra trên khuôn mặt của một thiếu nữ hoặc của một thanh niên Kitô hữu. Sự trong sạch biểu hiện đặc tính “đẹp đẽ” của ơn gọi Kitô giáo. Đây là một vẻ đẹp không hoàn toàn đi đôi với tuổi tác và vì thế không tàn tạ như vẻ đẹp thể xác. Biết bao nhiêu khuôn mặt của nữ tu cao tuổi sống trong nơi kín cổng cao tường đã khiến cho vô số du khách ra về phải kêu lên: “Ôi, khuôn mặt quá đẹp, rạng ngời ánh sáng!”
Chớ gì Thiên Chúa làm mới nơi chúng ta, nhờ Thánh Thần của Ngài, sự thánh hiến nhận được nơi phép rửa tội và được xác nhận nơi phép thêm sức. Chúng ta hãy biến lời cầu nguyện mà Giáo Hội dâng lên Thiên Chúa khi làm phép dầu thánh trong Thánh lễ Thứ Năm tuần thánh thành lời cầu nguyện của chúng ta: “Xin cho dầu này thấm vào chúng con và thánh hóa chúng con, để khi được thoát khỏi sự hư hoại và được thánh hiến thành đền thờ của vinh quang Chúa, chúng con làm lan tỏa hương thơm bằng một đời sống thánh thiện.”
