4. TỪ CON NGƯỜI CŨ ĐẾN CON NGƯỜI MỚI
So sánh hai bản văn Tân Ước sử dụng cùng một kiểu nói “cởi bỏ con người cũ và mặc lấy con người mới”, chúng ta nhận thấy một sự khác biệt kỳ lạ. Thánh Phaolô nói: “Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4,22-24). Trong bản văn này “cởi bỏ con người cũ, mặc lấy con người mới” có tính chất mệnh lệnh, phải thực hiện trong đời sống chúng ta. Trái lại, nếu chuyển sang một bản văn khác của thánh Tông Đồ, chúng ta nhận thấy mọi sự được trình bày như một điều đã xảy ra và thuộc về quá khứ: “Anh em đã cởi bỏ con người cũ với những hành vi của nó rồi và anh em đã mặc lấy con người mới, con người hằng được đổi mới theo hình ảnh Đấng Tạo Hóa” (Cl 3,9-10).
Cùng một sự khác biệt khi nói đến “mặc lấy Đức Giêsu Kitô”. Đôi khi đó là một lệnh truyền, một việc phải làm: “Anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô” (Rm 13,14); những lần khác, được trình bày như điều đã xảy ra trong phép rửa tội. “Bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Kitô, đều mặc lấy Đức Kitô” (Gl 3,27).
Tại sao có hai kiểu nói này? Lời Chúa có mâu thuẫn với chính nó không? Không. Sự mâu thuẫn này là căn bản vì chuyển từ con người cũ sang con người mới, vừa là công việc của chúng ta vừa là công việc của Thiên Chúa, công việc phải thực hiện và công việc đã được thực hiện.
Trước khi trở thành một quyết định, hay một chương trình khổ chế, việc thực hiện con người mới là một biến cố trọng đại trong lịch sử, và có hiệu quả nơi từng cá nhân trong phép rửa tội. Trước khi là công việc của chúng ta, nó đã là công việc của Thiên Chúa. Thật vậy, nó trùng hợp với việc chuyển từ giao ước cũ đến giao ước mới, từ văn tự đến Thần Khí, từ lề luật đến ân sủng. Chúng ta phải khám phá điều chúng ta đã trở thành trong phép rửa tội, để biết điều chúng ta phải làm trong đời sống. Bổn phận của chúng ta phát sinh từ hữu thể của chúng ta: “Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước” (Gl 5,25).
Chính là điều mới lạ và ân sủng lớn nhất của cuộc Canh tân trong Thần Khí: giúp các tín hữu tái khám phá họ là gì, thực tại thần linh nơi họ, để thực hiện dễ dàng hơn những gì Phúc Âm đòi hỏi, không phải bằng sức mạnh nữa, nhưng bằng lòng biết ơn, không vì sợ hãi nữa, nhưng vì tình yêu.
Cuộc Canh tân không được coi như một giải pháp thay thế, càng không được coi như đối nghịch hoặc cạnh tranh với các sức mạnh khác thuộc Giáo Hội. Vai trò của nó không phải là chỉ ra các định hướng về cách sống đức tin và thể hiện nó bằng cách lựa chọn hành động trên bình diện văn hóa và chính trị, nhưng chỉ cho thấy nơi người ta tìm được sức mạnh để thực hiện tất cả các chương trình, nghĩa là trong Chúa Thánh Thần. Do đó, sự đóng góp của nó thật khiêm tốn, thậm chí tôi dám nói là khiêm tốn nhất, vì nó không có gì đặc biệt để cống hiến, không có gì là thành quả của sự phân định, phát minh và lập trình của nó. Những gì nó đề xuất là dành cho mọi Kitô hữu, theo cùng một cách; mọi người đều sở hữu nó. Nó là yếu tố Kitô giáo nguyên thủy, trước các tình huống lịch sử khác nhau và những đa dạng hóa địa phương của nó. Vì thế, nó “lợi ích mọi bề” như lòng mộ đạo (x. 1Tm 4,8). Nó thậm chí không phải là một chuyển động, như người ta quen hiểu; hơn nữa, nó không có người sáng lập hay lý thuyết gia. Hẳn là không nên có những con người đó. Chính vì thế chúng ta rất quý trọng và biết ơn những anh em đang đảm nhận gánh nặng khó khăn khi giúp thực hiện bước tiếp theo, bằng cách chỉ ra những cách cụ thể để thể hiện đức tin trong những tình huống khác nhau của cuộc đời.
Trong thư thứ nhất, thánh Gioan Tông Đồ nói với chúng ta: “Hỡi các bạn trẻ, tôi đã viết cho anh em: anh em là những người mạnh mẽ; lời Thiên Chúa ở lại trong anh em và anh em đã thắng ác thần” (1Ga 2,14). Tôi dám dùng những lời này để nói: Hỡi các bạn trẻ, tôi ngỏ lời với các bạn, để giúp các bạn nhận ra rằng các bạn mạnh mẽ, và “Đấng ở trong các bạn mạnh hơn kẻ ở trong thế gian” (x. 1Ga 4,4) và để khích lệ các bạn luôn mạnh mẽ hơn; để nhắc nhở các bạn rằng các bạn là những con người mới và để mời gọi các bạn trở nên con người ấy hơn nữa.
Từ con người cũ đến con người mới: bước vượt qua đã được hoàn tất
Chủ đề vượt qua từ con người cũ đến con người mới hoặc từ sống theo xác thịt đến sống theo Thần Khí, được thánh Phaolô bàn đến, đặc biệt trong thư Rôma 8,1-13. Chủ đề bắt đầu như sau: “Vậy giờ đây, những ai ở trong Đức Kitô Giêsu, thì không còn bị lên án nữa. Thật vậy, luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Kitô Giêsu, đã giải thoát tôi khỏi luật của tội vả sự chết.” Tất cả diễn từ về Thần Khí được quảng diễn ở đây đối lập với diễn từ về lề luật. Tôi dám nói thêm, chính Thần Khí được định nghĩa là luật: “Luật của Thần Khí” quả thực có nghĩa “luật là Thần Khí”.
Điều này có thể khiến chúng ta ngạc nhiên, vì thông thường luật pháp và tinh thần loại trừ lẫn nhau, và nếu đôi khi người ta nói “tinh thần của luật”, thì người ta sẽ không bao giờ nói “luật của tinh thần”. Đối với Kinh Thánh thì không như vậy. Và để thuyết phục chúng ta về điều này, chỉ cần nghĩ lại biến cố Thần Khí, lễ Ngũ Tuần.
Trong Cựu Ước, có hai cách giải thích cơ bản về ngày lễ Ngũ Tuần. Khởi đầu, lễ Ngũ Tuần là “lễ bảy tuần” (x. Tb 2,1), “lễ mùa màng” (x. Ds 28,26 tt), khi hoa trái đầu mùa được dâng lên Thiên Chúa (x. Xh 23,26; Đnl 16,9). Sau đó, vào thời Đức Giêsu, ý nghĩa của ngày lễ được phong phú nhờ gợi lại việc ban lề luật tại Sinai và giao ước; là lễ kỷ niệm các biến cố được mô tả trong sách Xuất hành 19-20. Theo những tính toán mà chúng ta thấy trong Kinh Thánh, lề luật thực sự đã được ban hành trên Sinai, năm mươi ngày sau khi cử hành lễ Vượt Qua, lúc ra khỏi Ai Cập. Trên núi Sinai, Thiên Chúa đã ban lề luật cho Môsê, thập giới, lập giao ước với dân và biến dân trở thành “một vương quốc tư tế, một dân thánh” (x. Xh 19,4-6). Trong sách Công vụ, Luca đã chọn cách mô tả việc Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các Tông Đồ bằng những dấu chỉ của thần hiện ở Sinai.
Vậy thì lễ Ngũ Tuần của chúng ta có ý nghĩa gì? Tại sao Chúa Thánh Thần xuống trên Giáo Hội đúng vào ngày dân Israel nhớ đến ân huệ lề luật và giao ước? Chúng ta thấy rõ câu trả lời: để chỉ ra rằng Chúa Thánh Thần là luật mới, luật thiêng liêng, đóng ấn giao ước mới và vĩnh cửu, là giao ước thánh hiến dân mới vương giả và tư tế, là Giáo Hội. Quả là một mạc khải tuyệt vời về lễ Ngũ Tuần và Chúa Thánh Thần! Bỗng chốc những lời tiên báo của Giêrêmia và Êdêkien về giao ước mới, trở nên rõ ràng: “Đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Israel sau những ngày đó – sấm ngôn của Đức Chúa. Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta” (Gr 31,33). Không còn trên những tấm bia bằng đá, nhưng là trong lòng, không còn là luật bên ngoài, nhưng là luật bên trong, Êdêkien xác định rõ luật bên trong hệ tại ở điều gì: “Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi” (Ed 36, 26tt). Luật mới là “thần khí mới”, Chúa Thánh Thần.
Thánh Phaolô ám chỉ rõ ràng lời các tiên tri này được ứng nghiệm khi ngài gọi cộng đồng giao ước mới là một “bức thư của Đức Kitô, không phải viết bằng mực đen, nhưng bằng Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống, không phải ghi trên những tấm bia bằng đá, nhưng trên những tấm bia bằng thịt, tức là lòng người” (x. 2Cr 3,3).
Lề Luật và ân sủng
Thánh Tông Đồ cho chúng ta biết sự khác biệt lớn giữa hai luật là luật mới ban sự sống, còn luật cũ thì không: “Luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Kitô Giêsu, đã giải thoát tôi khỏi tội và sự chết” (Rm 8,2). Luật Môsê – và cùng với nó là tất cả luật thiết định – bao trùm bên ngoài con người, không thay đổi tình huống bên trong, không làm mất đi tội lỗi, nhưng làm nó lộ ra; không ban sự sống, nhưng chỉ làm nổi bật tình trạng chết chóc của nó.
Đây là lý do tại sao tội lỗi, bắt đầu từ tội Ađam, là đã muốn nên như Thiên Chúa, ước ao và nghĩ rằng có thể hiện hữu mà không cần đến Ngài. Không phải tội bắt nguồn từ sự vi phạm luật, nhưng chính sự vi phạm luật bắt nguồn từ tội. Tội nguyên tổ có trước sự vi phạm lệnh truyền của Thiên Chúa; đó là đã tách mình ra khỏi Thiên Chúa, là mâu thuẫn với Ngài từ nơi sâu thẳm trong tâm hồn. Việc bất tuân luật không được ăn trái cấm là cách bày tỏ và hậu quả của mâu thuẫn nội tâm này, cũng như, cho đến lúc đó, việc tuân thủ luật này là hậu quả, chứ không phải nguyên nhân, của tình bạn bên trong với Thiên Chúa. Sự sống và sự chết có trước lề luật, đó là chuyện xảy ra trong sâu thẳm trái tim con người, và lề luật, trong trường hợp này cũng như trường hợp khác, nghĩa là trong việc tuân giữ cũng như vi phạm, chỉ là cách bày tỏ ra bên ngoài.
Đây là lý do tại sao tội căn bản, sự ích kỷ, yêu bản thân chống lại Thiên Chúa, không thể được xóa bỏ bởi lề luật, mà chỉ bằng cách khôi phục mối quan hệ yêu thương ban đầu. Và đó là điều mà Đức Giêsu đã mang lại cho chúng ta: “Điều mà Lề Luật không thể làm được…thì Thiên Chúa đã làm: khi sai chính Con mình đến mang thân xác giống như thân xác tội lỗi chúng ta… Thiên Chúa đã lên án tội trong thân xác Con mình” (Rm 8,3). Quả thật, nhờ sự chết và sự sống lại của mình, vào ngày lễ Ngũ Tuần và, cho mỗi người khi chịu phép rửa tội, Đức Giêsu đã ban Chúa Thánh Thần, là Thần Khí Đức Giêsu. Thần Khi biến đổi con người. Chừng nào con người muốn giống như Thiên Chúa và sống dưới ảnh hưởng của tội lỗi, thì Thiên Chúa chắc chắn xuất hiện trước người đó như một kẻ thù nghịch, như một chướng ngại vật. Giữa người đó và Thiên Chúa có một sự thù nghịch tiềm ẩn mà lề luật chỉ có thể cho thấy hiển nhiên. Con người ích kỷ “ham muốn”, trong khi Thiên Chúa là Đấng, qua các điều răn của mình, chống lại những ham muốn đó bằng những mệnh lệnh “Ngươi phải… Ngươi không được!” “Hướng đi của tính xác thịt là sự phản nghịch cùng Thiên Chúa, vì tính xác thịt không phục tùng luật của Thiên Chúa” (Rm 8,7).
Nhờ chế độ ân sủng, Thiên Chúa không còn là chướng ngại vật. Không phải vì con người có khả năng thay đổi chính mình, nhưng vì Thiên Chúa đến hủy bỏ sự thù nghịch nhờ máu Đức Giêsu. Đó là sự mới mẻ do Chúa Thánh Thần đem đến vào ngày lễ Ngũ Tuần: Người biến đổi tâm hồn con người và làm cho họ có khả năng yêu mến Thiên Chúa và tuân giữ các điều răn của Ngài. Thật vậy, Thần Khí chứng thực rằng Thiên Chúa yêu thương họ, Ngài là đồng minh chứ không phải kẻ thù của họ; Thần Khí cho thấy tất cả những gì Thiên Chúa Cha đã có thể làm cho họ trong Đức Giêsu Kitô và Ngài đã không tha Con mình vì họ như thế nào. Thiên Chúa lấp đầy trái tim của con người và Ngài không còn là Đấng ra lệnh phải làm hay không được làm, mà chính Ngài làm, cùng với con người và trong con người, những gì Ngài ra lệnh cho họ. Do đó, là Thần Khí, luật không chỉ là một chỉ dẫn của ý chí; nó là một hành động, một nguyên tắc sống và hoạt động. Luật mới là đời sống mới. Vì vậy luật mới được gọi đơn giản là ân sủng: “Anh em không còn lệ thuộc vào Lề Luật, nhưng lệ thuộc vào ân sủng” (Rm 6,14; x. Ga 1,17). Nếu Đức Giêsu định nghĩa luật của Ngài, so với luật Môsê, là “một ách êm ái và một gánh nhẹ nhàng” (Mt 11,30), không phải vì nó ít đòi hỏi hơn luật Môsê (luật Môsê không thể sánh bằng), nhưng vì nó không còn là ách và gánh mà con người phải một mình mang lấy.
Điều răn mới
Luật mới này là tình yêu. Đây là điều răn mới mà Đức Giêsu dạy chúng ta. Chúa Thánh Thần đã ghi khắc luật mới trong tâm hồn chúng ta bằng cách in sâu tình yêu vào đó. Quả thật theo Kinh Thánh, “Thiên Chúa đã đổ tình yêu vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Đây không chỉ là về tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta, nhưng còn là về tình yêu khiến chúng ta có khả năng yêu mến Thiên Chúa và người lân cận của chúng ta; chính là một khả năng mới để yêu. Tình yêu là dấu chỉ và là yếu tố mạc khải sự sống mới của Thần Khí. Thánh Gioan viết: “Chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em” (1Ga 3,14).
Sự mới mẻ của điều răn này chính là giờ đây nó không còn là “một” điều răn nữa, mà là điều răn. Không chỉ đối tượng của tình yêu được thay đổi (quả thực nó đã mở rộng đến tất cả mọi người, không chỉ với đồng hương hay bạn bè) nhưng là chính bản chất của nó. Thật vậy, vấn đề không phải là một tình yêu có được bằng những nỗ lực riêng, nhưng là một tình yêu được Thiên Chúa tuôn đổ vào lòng chúng ta một cách cho không. Không còn là văn tự nữa, nhưng là Thần Khí.
Đức Giêsu không chỉ ban điều răn mới bằng cách nói: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau” (Ga 13,34). Vào ngày lễ Ngũ Tuần, Ngài đã dùng Thần Khí ghi dấu tình yêu này vào lòng các môn đệ, và khi đó điều răn này trở thành luật mới, luật của Thần Khí ban sự sống. Điều răn này mới trong hai khía cạnh: trong cách nó được phát biểu và làm cho nên mới; không chỉ theo nghĩa thụ động, nhưng còn theo nghĩa năng động. Thánh Augustinô kêu lên: “Chính tình yêu này đã đổi mới chúng ta, để chúng ta trở thành những con người mới, những người thừa kế Tân Ước, những ca viên của bài ca mới. Tình yêu đó đổi mới các dân ngoại, và từ toàn thể nhân loại, rải rác trên khắp mặt đất, làm ra và quy tụ một dân mới, thân thể của hiền thê mới của Con Thiên Chúa…”[13].
Người nào đến với Phúc Âm với một não trạng thế tục đều thấy thật kỳ quặc khi người ta biến tình yêu thành một “điều răn”. Tình yêu nào vậy, nếu nó không được tự do nhưng được truyền lệnh? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải biết rằng có hai cách để con người bị thôi thúc làm hoặc không làm điều gì đó: hoặc bằng cách ép buộc hoặc bằng cách lôi cuốn. Luật hoạt động bằng cách ép buộc, bằng cách đe dọa trừng phạt, tình yêu hoạt động bằng cách lôi cuốn. Mọi người đều bị thu hút bởi điều mình thích, mà không phải chịu bất cứ ép buộc nào.
Hiểu theo nghĩa này, tình yêu là một luật, một điều răn: nó tạo ra nơi người Kitô hữu một sự năng động khiến người ấy làm bất cứ điều gì Thiên Chúa muốn, ngay lập tức, không cần nghĩ ngợi, vì từ đây, người ấy làm cho ý muốn của Thiên Chúa thành của mình và yêu tất cả những gì Thiên Chúa yêu. Tình yêu biết ý muốn của Thiên Chúa, trước khi ý muốn ấy được quy tắc hóa thành các luật và quy định thành văn. Tình yêu múc từ Thần Khí thánh ý sống động của Thiên Chúa.
Đó là một luật không thể cưỡng lại, thúc đẩy người ta làm những việc gian khổ nhất mà không luật thành văn nào có thể thực hiện được nếu không có đe dọa trừng phạt. “Người yêu thương, bay, chạy, vui mừng, là con người tự do và không gì có thể giữ chân anh ta lại… Tình yêu thường không có thước đo. Tình yêu không có trọng lượng, không lo mệt mỏi, muốn làm nhiều hơn có thể; nó không lấy lẽ là không thể, vì tin rằng mọi sự đều được phép và mọi sự đều có thể. Và vì vậy, nó có thể làm mọi sự, và làm nhiều việc đem lại mệt mỏi và kiệt sức một cách vô ích cho người không yêu.”[14]
Từ con người cũ đến con người mới : bước vượt qua phải thực hiện
Mô tả về sự hiện hữu mới này do Thần Khí mang lại, hoàn toàn dựa trên tình yêu, khơi dậy niềm khao khát. Đây chính là điều mà lời Chúa muốn có được: gợi lên trong ta niềm khao khát mãnh liệt thuộc về thế giới mới này. Cùng với khao khát, chúng ta cũng có thể hoài nghi và chán nản: ai đó có thể tự hỏi tìm thấy tự do, khả năng yêu thương và vâng lời này ở đâu. Cuộc sống mới này ở nơi nào? Phải chăng nó chỉ là một lý thuyết? Và tại sao một số người cuối cùng đạt tới cuộc sống mới và sự tự do này, trong khi những người khác thì không?
Thánh Phaolô trả lời tất cả những thắc mắc này bằng câu: “Nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi ích kỷ của con người anh em, thì anh em sẽ được sống” (Rm 8,13). Từ khóa được nêu rõ: hãm dẹp thân xác. Từ người cũ đến người mới chỉ có một cây cầu và cây cầu này được gọi là hãm dẹp thân xác. Đây là nơi mà vai trò của chúng ta bắt đầu. Thánh Tông Đồ nói với chúng ta ở đầu bản văn là: Thần Khí “ban sự sống”, nhưng nói ở cuối bản văn là: Thần Khí ban nó cho chúng ta “qua sự hãm dẹp thân xác”. Phép rửa đã làm cho chúng ta trở thành những con người mới; nhưng để tồn tại lâu dài, sự mới mẻ này cũng phải được đổi mới từng ngày (x. 2Cr 4,16). Origen viết: “Đừng nghĩ rằng chỉ cần đổi mới một lần là đủ. Ngày qua ngày, phải đổi mới chính sự mới mẻ (ipsa novitas innovanda est)”.[15] Điều kiện sống sự đổi mới liên tục này là hãm dẹp thân xác con người cũ.
Như vậy, Thần Khí ban sự sống, nhưng ban sự sống qua sự chết. Giống như đối với Đức Giêsu! Ngài “bị giết chết theo xác thịt” và vì đó Thiên Chúa đã làm cho Ngài “được sống theo Thần Khí” (x. 1Pr 3,18). Con người mới thực sự là Đức Giêsu; chúng ta chỉ có thể trở thành những con người mới bằng cách “trở nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người” (x. Pl 3,10). “Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người” (2Tm 2,11).
Khi nói về sự sống mới trong Thần Khí, chúng ta luôn có nguy cơ diễn giải nó theo cách của con người, như một cách đáp ứng với nhu cầu sống theo tự nhiên và theo bản năng của chúng ta, như một làn sóng yêu sự sống xâm chiếm chúng ta cả thân xác lẫn linh hồn. Đời sống mới là một cái gì đó hoàn toàn khác và triệt để hơn; đó là một đời sống mới, một đời sống bắt đầu lại, nhưng sau một cái chết. Giống như một người lữ hành có thể đi vào một con đường “mới” theo hai cách: hoặc vì con đường mà anh ta đang đi đã được làm lại, trải nhựa, thẳng tắp, hoặc nó đến một khúc cua và rẽ vào một con đường khác. Đời sống trong Thần Khí là mới theo khía cạnh thứ hai này.
Chúng ta hãy tập nhìn bằng một cách khác khía cạnh hãm dẹp thân xác rất đáng sợ này. Đức Giêsu nói: “Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho. Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn” (Ga 15,1-2). Hãm dẹp thân xác giống như cắt tỉa. Khi rửa tội, một mầm sống mới đã được cấy vào trong chúng ta. Chúng ta hãy quan sát những gì xảy ra trong nông nghiệp, khi người ta ghép cây. Trong một thời gian, người ta để một phần cây được sống, để cả cây cũ lẫn cây mới không chết, nhưng ngay khi cành ghép đã bén rễ và bắt đầu có những chồi đầu tiên, người nông dân cắt tỉa từng cành một của cây cũ, là những cành hút hết sinh lực của cây và chỉ cho những trái dại trước đó.
Nơi chúng ta cũng vậy, sau phép rửa, cây cũ tượng trưng cho con người cũ của chúng ta vẫn còn. Cành cây là những đam mê của nó và trái dại là những việc làm của xác thịt. Trong một đoạn văn khác, thánh Tông Đồ kể ra cho chúng ta một danh sách các loại hoa trái của thịt: “Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tị, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy” (x. Gl 5,19-21).
Sự thánh thiện, giống như tác phẩm điêu khắc, có được “bằng thuật loại bỏ”, có nghĩa là bằng cách loại bỏ những phần vô dụng. Người ta kể chuyện một hôm Michelangelo, khi đang đi dạo trong sân ở Firenze, đã nhìn thấy một khối đá cẩm thạch thô ráp đầy bụi và bùn. Ông dừng lại để nhìn, rồi như thể được một tia sáng bất ngờ rọi chiếu, ông nói: “Trong khối đá cẩm thạch này ẩn chứa một thiên thần: Tôi muốn đưa thiên thần đó ra ngoài!” Và ông bắt đầu đục đẽo để tạo hình dạng cho thiên thần mà ông đã nhận thấy.
Đối với chúng ta cũng vậy. Chúng ta còn là những khối đá thô. Thiên Chúa Cha nhìn chúng ta và nói: “Trong khối đá này có ẩn chứa hình ảnh của Con Ta; Ta muốn đưa nó ra, để nó sáng mãi bên cạnh Ta trên trời!” Nếu chúng ta nghe thấy tiếng đục và thấy các mảnh rơi xuống đất, thì đừng lầm! Chúng ta không còn phải nói: “Tôi đã làm gì sai? Tại sao Chúa lại trừng phạt tôi như thế này?” Nhưng: “Chính Thiên Chúa yêu tôi và muốn hình thành trong tôi hình ảnh Đức Giêsu của Ngài.” Thập giá chính là cái đục mà Thiên Chúa dùng để tạo nên những người được Ngài tuyển chọn. Mãi mãi là như thế.
Những người quảng đại nhất không chỉ chấp nhận những cú đục từ bên ngoài, mà còn cộng tác, khi có thể, bằng những việc hãm mình nhỏ hay lớn, và bằng cách từ bỏ ý riêng. “Vậy, nếu muốn được hoàn toàn tự do và giải phóng, chúng ta hãy tập từ bỏ ý riêng, và như vậy, khi được Thiên Chúa giúp đỡ mà dần dần tiến bộ, chúng ta sẽ đi đến chỗ không còn dính bén […]. Thế mà, trong một thời gian ngắn, có thể từ bỏ nhiều ý riêng. Đây là một cách: Một người anh em đang đi dạo chơi, nhìn thấy một cái gì đó, ý nghĩ bảo anh ta: “Nhìn kìa”, nhưng có tiếng trả lời: “Không, tôi không nhìn.” Anh ta từ bỏ ý riêng và không nhìn.”[16] Vị Giáo Phụ này lấy ví dụ từ cuộc sống đan viện dễ dàng thích nghi với cuộc sống của chúng ta. Có một chương trình không lành mạnh trên truyền hình, một quảng cáo khêu gợi trên tường, cầm trong tay một tạp chí khiêu dâm: con người cũ nói: “Nhìn đi!” và đồng thời sẽ viện dẫn hàng trăm cớ để làm như vậy. Nhưng bạn, bạn trả lời: “Không!” và bạn từ bỏ ý riêng. Có một cuộc tranh luận vô ích giữa bạn bè; người ta đang nói xấu ai đó: con người cũ nói với bạn: “Nói đi; nói những gì ngươi biết.” Nhưng bạn, bạn trả lời: “Không!” Và bạn hãm dẹp thân xác con người cũ. Bạn đi ngang qua một người mà bạn không ưa hoặc không ưa bạn và bạn không thấy thiện cảm; sự kiêu căng của bạn nói với bạn: “Tránh xa ra, đừng nói chuyện với anh ta!” Nhưng bạn lại mỉm cười với anh, chào hỏi anh, và như vậy bạn làm chủ mình bằng cách phá vỡ sự kiêu căng của mình. Bạn gặp một người nghèo, hoặc một người lạ, biết anh ta sẽ xin điều gì đó; bạn có lẽ muốn đi thẳng hoặc thay đổi lối đi, nhưng bạn đi về phía anh ta vì tình yêu của Đức Giêsu; bạn đã làm cho con người mới giành chiến thắng.
Ngày nay, có những trận chiến lớn phải thắng: trong cuộc chiến chống ma túy, nạn đói, bất công, ô nhiễm, chiến tranh… Đức Giêsu chỉ ra một trận chiến không giống như tất cả những trận chiến khác, mà nếu không có trận chiến đó thì tất cả những trận chiến khác chỉ là những biện pháp tạm thời: chiến tranh chống lại “cái tôi” của chúng ta, chống lại con người cũ. Chiến tranh chống lại chính chúng ta.
Khi chịu phép rửa tội và thêm sức (sau đó vào lúc tuôn đổ Chúa Thánh Thần, Đấng đã đổi mới các bí tích này cho nhiều người trong chúng ta), chúng ta đã là những người lính được thánh hiến của Đức Giêsu Kitô. Nhưng không được lẫn lộn. Trước hết chính vì cuộc chiến này mà chúng ta trở thành những người lính: “Anh em hãy đồng lao cộng khổ như một người lính giỏi của Đức Kitô Giêsu” (2Tm 2,3).
Trong cuộc Canh tân đặc sủng, chúng ta phải làm cho người ta không nghi ngờ về sự “hãm mình”, một sự nghi ngờ xung quanh nó. Ngày nay, người ta biện minh và thậm chí đề cao việc làm thỏa mãn những bản năng hoặc, như người ta nói, những thúc đẩy tự nhiên, khi coi đó là sự tự thực hiện (autoréalisation) của con người. Như thể, trong lãnh vực này, phải khuyến khích con người, chứ bản chất hư hỏng và ích kỷ là không đủ! Sự hãm mình là vô ích và trở thành một “việc làm của xác thịt”, nếu được thực hiện cho chính nó, không có tự do, hoặc tệ hơn, nếu nó được thực hiện để biện minh cho mình trước mặt Thiên Chúa hoặc để khoe khoang trước mặt người ta. Thật không may, chính như thế mà nhiều Kitô hữu đã hiểu về sự hãm mình và, khi đã hưởng sự tự do của Thần Khí, họ sợ lại rơi vào tình trạng đó. Nhưng như lời Chúa đã chỉ rõ cho chúng ta, chúng ta có thể thấy sự hãm mình theo một cách thức thiêng liêng và đặc sủng, vì nó từ Thần Khí mà đến: “Nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống” (Rm 8,13). Sự hãm mình này là hoa quả của Thần Khí và nó dành cho sự sống.
Thánh Phanxicô Assisi đã dung hòa những con người thời ngài với sự nghèo khó mà ai nấy đều ghê sợ, lấy tình yêu mà giới thiệu nó như một bà lớn, như “Bà Chúa Nghèo”. Tôi cũng muốn làm điều tương tự đối với sự hãm mình: giới thiệu nó như một hiền thê của Thần Khí, như người kết hiệp với Thần Khí để ban sự sống cho chúng ta. Như “Bà Chúa Hãm Mình”.
Sự hãm mình bảo vệ tình yêu. Kierkegaard viết: “Nếu một người nói một cách thực sự và chân thành: ‘Thiên Chúa là tình yêu’, thì vì lý do đó, anh ta chỉ có một ước muốn duy nhất: ước muốn yêu Thiên Chúa là tình yêu, hết lòng, hết sức. Khi Thiên Chúa thấy một người có ước muốn như vậy, Ngài nói ngay với anh: “Này con yêu dấu của Ta, Ta sẽ đến giúp con, Ta sẽ giúp con hãm mình, vì nếu không, con không thể làm được.” Cũng vậy, nếu một người yêu không thể nói ngôn ngữ của người mình yêu, thì một trong hai người phải học ngôn ngữ của người kia, dù điều đó có khó khăn, nếu không, mối quan hệ của họ sẽ không thể trở thành một mối quan hệ hạnh phúc, họ sẽ không bao giờ có thể nói chuyện với nhau. Vì yêu Thiên Chúa mà hãm mình thì cũng vậy. Thiên Chúa là Thần Khí; chỉ người nào hãm mình mới có thể, một cách nào đó, nói ngôn ngữ của Ngài. Nếu bạn không muốn hãm mình, khi đó bạn không thể yêu Thiên Chúa; quả thực, bất cứ sự gì bạn nói đều khác với Ngài”[17].
Hãy mang lấy ách của tôi
Giờ đây tôi muốn nghe tiếng gọi bắt nguồn từ tất cả những gì chúng ta đã nghe. Chính Đức Giêsu đưa ra lời kêu gọi này: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi” (Mt 11,29). Hình ảnh cái ách thường được sử dụng trong Kinh Thánh để chỉ lề luật. Ngay cả luật mới của Đức Giêsu, luật của Thần Khí, cũng là cái ách, là lễ hy sinh cho loài người sa ngã, là thứ “đè nặng” lên con người cũ, vì nó đòi hãm mình, chối bỏ mình. Nhưng đó là một cái ách “êm ái”, một cái gánh “nhẹ nhàng”. Điều gì làm cho ách này trở nên êm ái, đáng yêu và đáng mơ ước? Điều gì đã luôn khiến các thánh và những tâm hồn quảng đại chấp nhận ách hãm mình, thậm chí muốn nó, đến độ không thể sống mà thiếu nó? Chính vì ách này là ách của tình yêu, ách kết hợp với người yêu. Trong một tác phẩm vào thế kỷ thứ hai sau Đức Giêsu Kitô, được viết theo cùng một phong cách như các Thánh vịnh, người ta có thể đọc những lời kỳ diệu này được đặt vào miệng Đức Giêsu Kitô: “Ta đặt trên họ ách tình yêu của Ta, như cánh tay người chồng trên người vợ, ách của Ta trên những người biết Ta”[18]
Đúng vậy, sự hãm mình là cái ách kết hợp chúng ta với Thiên Chúa. Trước hết, Đức Giêsu đã đặt mình dưới ách thập giá, và ngay cả khi đã sống lại, Ngài vẫn ở đó để chờ đợi người muốn ở bên cạnh Ngài, để mang phần bên kia của ách; chờ đợi người chấp nhận cánh tay của phu quân đặt trên vai mình.
Sự hãm mình giúp chúng ta kết hợp với Đức Giêsu và với nhau; nhờ đó chúng ta có thể hiệp nhất với anh em mình. Chúng ta sẵn sàng chịu mất đi bằng nào, thì chúng ta cho đi bằng ấy; để chiều theo sở thích của người lân cận, chúng ta phải từ bỏ việc lúc nào cũng muốn chiều theo sở thích của mình (x. Rm 15,1-2). Vậy, “cái tôi” của chúng ta càng chết đi, thì sự hiệp nhất càng được thực hiện trong các nhóm của chúng ta, trong các giáo xứ của chúng ta, trong Giáo Hội.
Sự hãm mình làm cho vợ chồng trong hôn nhân kết hợp với nhau. Nó gạt bỏ tính ích kỷ và sự tự khẳng định mình vốn là kẻ thù chính. Trong hôn nhân, sự hãm mình bảo vệ tình yêu. Nó dạy chúng ta giữ miệng lưỡi khỏi nói điều xấu, chỉ nói những lời tốt đẹp, xây dựng cho nhau (x. Ep 4,29).
Vợ chồng là “phối ngẫu” hay “liên hợp”, nghĩa là “kết hợp với nhau dưới cùng một ách”. Nếu ách đó là ách của xác thịt, của vui khoái, hay chỉ là ách của bổn phận, nó sẽ nhanh chóng trở nên nặng nề và không thể chịu đựng. Đức Giêsu ban cho những vợ chồng Kitô hữu sống theo Thần Khí khả năng trở thành “phối ngẫu” theo một nghĩa hoàn toàn khác: phối ngẫu, vì mang cùng một ách, ách của Đức Giêsu Kitô, ách tình yêu của Ngài. Ngài lặp lại với họ cách rất đặc biệt: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,29).
Bạn sẽ tìm được sự an ủi. Đây là lý do tại sao thánh Phaolô mời gọi những người kết hôn hãy làm như vậy “trong Chúa” (1Cr 7,39). Kết hôn trong Chúa là đặt hôn nhân của mình dưới quyền làm chúa của Đức Giêsu Kitô, là quyết định cho một cam kết thuộc về vĩnh cửu. Nếu một người nào đó kết hôn mà chỉ tin tưởng vào tình cảm hoặc vào nhiệt huyết của tình yêu ở “tình trạng non trẻ”, nếu tình yêu cạn kiệt, người đó sẽ thấy mình đơn độc với nghĩa vụ phải yêu mãi mãi, và chỉ nghĩa vụ mà thôi sẽ không đủ để chịu đựng nổi. Ngược lại, nếu bạn đã sống dưới sự che chở của ân sủng, nếu bạn đã xây dựng trên đá tảng không thay đổi, thì bạn sẽ luôn có thể trở lại…; mỗi khi bạn đào bới, bạn sẽ tìm thấy những nền tảng của sự hiệp nhất. Lời của tiên tri Dacaria cũng nói với những người kết hôn: “Không phải nhờ quyền năng hay sức mạnh, nhưng nhờ Thần Khí của Ta – Chúa các đạo binh phán” (Dcr 4,6).
Đổi mới thừa tác vụ cũng vậy. Thánh Phaolô nói về một sự phục vụ Thần Khí (diakonà pneumatos), là sự phục vụ của các thừa tác viên của Tân Ước (x. 2Cr 3,8). Việc phục vụ này được thực hiện cụ thể qua chức tư tế và đời sống thánh hiến. Và Giáo Hội không ngừng kêu gọi: “Mùa màng bội thu, mà thợ gặt thì ít, ngày càng ít”.
Thiên Chúa đang kêu gọi ngày hôm nay qua Giáo Hội; Giáo Hội là tiếng nói của Chúa. “Ngày hôm nay nếu anh em nghe tiếng Chúa, thì đừng cứng lòng.” Các bạn, những người trẻ, các bạn cứu cuộc sống của mình bằng cách đánh mất nó. Đừng chán nản vì sự tầm thường của chúng ta; các bạn có thể là – và các bạn sẽ là – những linh mục tốt hơn chúng tôi: những linh mục mới của một Giáo Hội mới.
Hai ơn gọi – hôn nhân và đời sống thánh hiến – phát xuất từ cùng một thần trí; cả hai đều là một đặc sủng (x. 1Cr 7,7). Như bất cứ đặc sủng nào, mỗi đặc sủng đều “vì lợi ích chung”. Trong dân Thiên Chúa, một sự hiệp nhất mới đang được khai sinh, một sự bổ sung cho nhau giữa các cặp vợ chồng và những người độc thân được thánh hiến, để xây dựng lẫn nhau. Những người kết hôn là một dấu chỉ và một ân huệ cho các linh mục và tu sĩ, và các linh mục cũng như tu sĩ là dấu chỉ và ân huệ cho các cặp vợ chồng. Chúng ta cần nhau.
Có những quốc gia và nền văn hóa trong thế giới không phải Kitô giáo (nhưng cũng không may là trong thế giới Kitô giáo) nơi mà mối quan hệ giữa linh mục và dân chúng dựa trên sự phân chia giữa thiêng và tục: linh mục cầu nguyện, thực hiện các nghi lễ và hy sinh cho dân, chuyển đạt cho họ những gì của Thiên Chúa; còn dân thì có trách nhiệm lo cho linh mục và cung cấp cho ngài những gì của thế gian. Tôi nhận thấy điều này gần đây, trong một chuyến đi đến Đông phương, và tôi đã rất xúc động về nó. Tất cả việc tôn giáo của người dân trong làng quy về việc đổ đầy bát của nhà sư vào buổi sáng, người sau đó cầu nguyện và thiền định cho họ.
Đó không phải là mối quan hệ được thiết lập giữa chúng ta. Nói như Công đồng Vaticanô II: “Giáo dân thánh hóa dân Chúa”.[19] Thần Khí đặt chúng ta vào một mối tương quan hoàn toàn khác. Tất nhiên, giáo dân đôi khi góp phần vào việc nuôi dưỡng hàng giáo phẩm, vì Nhà Nước ngày càng ít hỗ trợ các ngài, nhưng sự đóng góp của họ cho Nước Trời và cho các linh mục chắc chắn không dừng lại ở đó. Chúa ngày càng kêu gọi các tín hữu cầu nguyện.
Chức tư tế vương giả hoặc phổ quát của tín hữu tìm ra một cách mới tự thể hiện và góp phần vào việc thánh hóa chức tư tế thừa tác. Chẳng hạn, có những tín hữu thuần túy ngày nay sống đời sống đan sĩ, vốn dành cho các đan sĩ nam nữ cho đến nay. Trong cuộc Canh tân Đặc sủng, thực tế này đang lan rộng, đó là một lời kêu gọi mà Thiên Chúa gửi đến cho nhiều người. Qua lời cầu nguyện, họ hỗ trợ cho việc loan báo Lời, gia tăng hiệu năng và hoa quả của Lời ấy. Chẳng hạn như tôi, lúc này, tôi được hỗ trợ nhờ lời cầu nguyện và sự đau khổ của nhiều người.
Để kết thúc, chúng ta hãy lắng nghe những lời sôi nổi của thánh Augustinô là bài bình giải hay nhất về chủ đề của chúng ta: “Hỡi anh em, hỡi con cái, hỡi những mầm Kitô giáo, những cây thánh thiện tuyệt vời, anh em là những người được tái sinh trong Đức Kitô và được sinh ra trên trời, hãy nghe tôi, hay đúng hơn, hãy nghe qua tôi: “Hãy hát lên mừng Chúa một bài ca mới!” (Tv 149,1).
“Hãy loại bỏ những vết nhơ cũ. Anh em biết bài ca mới này. Con người mới, giao ước mới, bài ca mới. Để biết cách hát nó, cần có những con người mới, được ân sủng đổi mới, được kéo ra khỏi những vết nhơ cũ, đã thuộc về giao ước mới, là giao ước mở cửa nước Trời […]. Hãy để con người mới hát bài ca này, không phải bằng môi miệng nhưng bằng cả cuộc đời […]. Hãy thỏa mãn với niềm hân hoan. Hát hay trước mặt Thiên Chúa chính là hân hoan. Nhưng đó là gì vậy? Đó là từ bỏ sự hiểu biết, từ bỏ việc nói thành lời những gì hát trong tim. Anh em hãy xem những người hát, những người thu hoạch, những người hái nho hay những người khác, niềm vui của họ sáng lên trước tiên nơi những lời của bài hát, nhưng sớm tràn ngập họ, và các lời ca sẽ không thể mở rộng nó nữa, khi đó bài hát bỏ lại từ ngữ và âm tiết, tất cả những gì nghe được là niềm hân hoan. Đó là nhạc không lời vì con tim muốn đưa ra ánh sáng điều không thể nói ra.
“Điều đó thích hợp với ai hơn là với Thiên Chúa khôn tả? Khôn tả: bạn không thể nói Ngài là gì. Bạn không thể nói Ngài là gì, và bạn cũng không thể im lặng. Vậy bạn có thể làm gì nếu không phải là hân hoan? Hãy mở rộng trái tim cho một niềm vui sẽ không còn phải tìm kiếm từ ngữ, mở rộng niềm vui vượt xa giới hạn các âm tiết. Hãy hát mừng Ngài một bài ca tuyệt đẹp bằng niềm hân hoan của bạn.”[20]
