3. HOÁN CẢI CÁ NHÂN VÀ HÒA GIẢI

Đức Giêsu rao giảng cho những người phải đưa ra quyết định triệt để đi vào Nước Trời, và Ngài đang làm việc đó để giúp họ đưa ra quyết định này; huấn giáo của các Tông Đồ nhắm đến những người đã vào Nước Trời, là những người đã hoán cải theo Phúc Âm và từ lâu đã ở trong Giáo Hội. Trong việc rao giảng này nảy sinh nhu cầu về một cuộc hoán cải thứ hai mà, cả chúng ta nữa, cũng nên suy nghĩ rất cẩn thận vì, trong nhiều khía cạnh, nó cũng liên quan đến chúng ta, những người đã luôn ở trong Giáo Hội và từ ít lâu nay ở trong công cuộc Canh tân. Nhưng không thể hiểu hoặc thực hiện sự hoán cải thứ hai này, nếu tiên vàn không hiểu sự hoán cải mà Phúc Âm nói đến.

Sự hoán cải trong Phúc Âm

Phúc Âm theo nghĩa đen – nghĩa là tin mừng do Đức Giêsu loan báo là Nước Thiên Chúa đã đến với con người – bắt đầu bằng những lời sau: “Thời kỳ đã mãn và Triều đại Thiên Chúa đã đến gần: anh em hãy sám hối (metanoéite) và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15).

Chủ đề hoán cải không mới; nó được nói đến bằng mọi cách trong Cựu Ước và đặc biệt là nơi các tiên tri. Ngay cả Do Thái giáo thời Đức Giêsu cũng rao giảng phải hoán cải và Gioan Tẩy Giả, vị tiên tri cuối cùng, rao giảng việc hoán cải để dọn đường cho Đức Kitô: “Anh em hãy sám hối,  vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 3,2), và: “Tôi làm phép rửa cho các anh trong nước, để giục lòng các anh sám hối” (Mt 3,11).

Chính việc so sánh với sự hoán cải của Cựu Ước và của Do Thái giáo, kể cả một phần sự hoán cải do Gioan Tẩy Giả rao giảng, cho thấy tính chất tuyệt đối mới mẻ của sự hoán cải do Đức Giêsu rao giảng. Điều mới chính là mối liên hệ chặt chẽ giữa sám hối và tin vào Phúc Âm. Mối liên hệ này có nghĩa là sự hoán cải phải dẫn đến đức tin; và hơn thế nữa, sự hoán cải hệ tại ở chỗ tin và đón nhận Phúc Âm.

Trước Đức Giêsu, hoán cải thường có nghĩa là thay đổi đời sống, thay đổi hạnh kiểm, “dọn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” (Mt 3,3), để Chúa có thể đến với con người. Nói cách khác: hoán cải có nghĩa là xứng đáng được cứu rỗi, hoặc đẩy nhanh sự cứu rỗi, với ý nghĩa khổ chế và luân lý. Người ta hoán cải trên hết bằng việc trung thành giữ luật, bằng nỗ lực riêng của mình; việc này luôn được đặt lên hàng đầu, ít nhất trong tâm trí của những người xung quanh Đức Giêsu (các kinh sư, người Pharisêu).

Đức Giêsu đã đảo ngược tương quan này; hoán cải và sự cứu độ đã được đổi chỗ. Không phải trước tiên là hoán cải và sau đó là sự cứu độ, nhưng trước tiên là sự cứu độ, sau đó mới là hoán cải. Hoán cải có nghĩa là tin vào tin mừng rằng sự cứu độ được ban cho con người như một ân huệ cho không của Thiên Chúa; hoán cải có nghĩa là chiếm lấy Vương quốc đã đến và đổi mọi sự để lấy Vương quốc này. Đây là lý do tại sao, trong lời rao giảng của Đức Giêsu, hoán cải có nghĩa là tự quyết định. Một “quyết định mang tính quyết định”, vì mọi sự đều tùy thuộc vào quyết định này.

Xuyên suốt Phúc Âm, ý nghĩa và nội dung của quyết định triệt để này dần dần rõ ràng hơn. Trong Phúc âm Matthêu, chương 13, chúng ta thấy hai dụ ngôn rất ngắn trong đó hành động này được so sánh với việc một người bán tất cả những gì anh ta có để mua kho báu mà anh ta đã tìm thấy trong thửa ruộng, rồi với việc một người lái buôn bán tất cả những gì mình có để mua viên ngọc quý (x. Mt 13,44-46). Cùng một giáo huấn như vậy trong câu chuyện về người thanh niên giàu có; người thanh niên này đã không có can đảm cho đi mọi sự mình có để đổi lấy Nước Trời; trong trường hợp này Nước Trời được đại diện bởi một người: Đức Giêsu; phải theo Đức Giêsu để tìm thấy Nước Trời. Chàng thanh niên đã bỏ lỡ cơ hội lớn của đời mình! (x. Mc 10,17 và các đoạn song song).

Những đòi hỏi của hoán cải Phúc Âm là triệt để: phải sẵn sàng từ bỏ mọi sự. Mọi sự, ngay cả sức khỏe và tính mạng thể xác: “Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi” (Mt 5,29). Từ bỏ mọi sự: ngay cả những tước hiệu, công trạng, lợi nhuận, mà một người đã có được trong Nước Trời; ngay cả những ân huệ của Thiên Chúa! Điều đáng chú ý là: Đức Giêsu minh nhiên nói về sự hoán cải lúc kết thúc lời rao giảng, cho các môn đệ đã theo Ngài; ở đó, hoán cải có nghĩa là “trở nên như trẻ nhỏ”: “Lúc ấy, các môn đệ lại gần hỏi Đức Giêsu rằng: ‘Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước trời?’ Đức Giêsu liền gọi một em nhỏ đến, đặt vào giữa các ông và bảo: ‘Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18,1-3).

Không dính bén với những ân huệ và đặc ân thiêng liêng, những bậc thầy tu đức biết rõ điều đó có nghĩa gì! Phải sẵn sàng để luôn bắt đầu lại mà không dựa dẫm và tin tưởng vào bất cứ điều gì khác ngoài tình yêu tinh tuyền của Chúa Cha. Giống như con cái ngỏ ý xin, không phải vì chúng thấy “xứng đáng” với những gì chúng xin qua việc làm của chúng, nhưng vốn sẵn tin chắc bố mẹ chúng yêu thương chúng: đó là sự bảo đảm của chúng và chúng không lầm.

Ân huệ có thể trở thành một sự bảo đảm, một tước hiệu vinh quang và ưu thế hơn những người khác, giống như chúng đang trở nên như thế nơi các Tông Đồ khi các ông tranh luận xem ai trong các ông là người lớn nhất. Đây là kiểu hoán cải cấp thiết nhất đối với một số người trong cuộc Canh tân: ngừng dựa vào những kinh nghiệm sống, vào các đặc sủng đã nhận được, vào các dịch vụ dành cho nhóm hoặc cho toàn bộ cuộc Canh tân và khởi sự lại từ đầu, mà chỉ có Thiên Chúa là sự giầu có của chúng ta…, “như trẻ sơ sinh” (x. 1Pr 2,2), như người để cho mình bị Nước Trời đang đến bắt chộp khi ở ngoài đồng và không trở lại phía sau lấy áo choàng của mình (x. Mt 24,18). Nhiều rắc rối trong các nhóm do những cạnh tranh tiềm tàng, những so sánh giữa con người với nhau sẽ tan đi và công việc của Thiên Chúa sẽ chiếu sáng nhiều hơn trên thái độ kiêu căng đang sụp đổ của chúng ta.

Vậy, đó là việc hoán cải trong Phúc Âm: bỏ mọi sự để có Nước Trời, tức là Đức Giêsu. Bỏ mọi sự để có Tất Cả!

Tông Đồ Phaolô cho chúng ta một mẫu gương về sự hoán cải hoàn hảo này theo Phúc Âm. Trong sự hoán cải của Phaolô, có một khía cạnh gây ấn tượng mạnh bên ngoài (Saun ngã xuống đất và nghe tiếng nói: “Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta?”) Và một khía cạnh nội tâm, ẩn giấu hơn và tiến bộ hơn, khía cạnh được dần dần xác định rõ. Trong thư Philípphê, chương 3, câu 3 và tiếp theo, chính vị Tông Đồ mô tả quá trình hoán cải nội tâm này như là con đường đưa ngài đến chỗ, vào một lúc nào đó trong đời, xem tất cả những gì ngài đã có và những gì ngài đã làm cho đến lúc đó, là “thiệt thòi”, là “rác rưởi” so với cơ may độc nhất vô nhị và chưa từng có là có được Đức Giêsu Kitô: “Từ nay tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi” (Pl 3,8).

Thánh Phaolô làm gương cho chúng ta về sự hoán cải lần thứ hai, ở chỗ không gắn bó với quá khứ của mình trong Giáo Hội, để phục vụ Đức Giêsu, phục vụ cuộc Canh tân. Đó là sự tách rời cần thiết để không bị giam hãm trong sự “công chính riêng” của mình, trái lại, để có thể tự do chạy theo bước chân của ân sủng và Thần Khí, Đấng muốn luôn làm những sự mới. Ngài lại nói: “Tôi không nghĩ mình đã chiếm được rồi. Tôi chỉ chú ý đến một điều, là quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước. Tôi chạy thẳng tới đích, để chiếm được phần thưởng tự trời cao Thiên Chúa dành cho kẻ được Người kêu gọi trong Đức Kitô Giêsu” (Pl 3,13tt).

Việc hoán cải mà Phúc Âm nói đến hệ tại ở chỗ phó thác hoàn toàn và vĩnh viễn vào ân sủng của Thiên Chúa, để Ngài dẫn dắt cuộc đời của mình (chính là hình ảnh đi kèm với quyết định của tôi nhận “phép rửa trong Thần Khí”); nó hệ tại ở chỗ nói với tất cả tấm lòng: “Tôi muốn Thiên Chúa và đó là tất cả!” Nói tắt, đó là nhường sự tự do của mình cho Thiên Chúa, bằng cách nói với Ngài: “Đối với mọi sự, dù sự gì đi nữa, con làm theo ý Chúa!” Con người cũ sẽ phản ứng. Phản ứng hết sức mạnh mẽ mà nói: “Tất cả, nhưng không phải sự tự do của con!” Thánh Augustinô đã biết cuộc đấu tranh giữa hai ý muốn này, và ngài đã phải dứt bỏ chính mình để nhờ Chúa che chở: “Đừng sợ, hãy lao vào vòng tay Chúa, Ngài sẽ không lui lại đâu. Ngài sẽ không để bạn gục ngã”[11]. Những gì thánh nhân nói có thể giúp những người ở trong tình huống tương tự: một đàng, họ bị lôi cuốn bởi ước muốn một cuộc sống mới và mong được dự phần vào niềm vui của các anh em, và đàng khác, những thói quen cũ và nỗi sợ bị buộc phải từ bỏ điều gì đó nếu họ hoán cải, cản họ lại. Để giúp những anh em này, tôi sẽ trích dẫn trang mà Augustinô mô tả cuộc chiến giữa xác thịt và tinh thần:

“Con đã buộc tội con kịch liệt hơn bao giờ hết, con đã quay lại và giẫy giụa trong xiềng xích của con cho đến khi con phá vỡ nó tất cả. Nó hầu như không cản được con, tuy vậy nó vẫn giữ con lại. Lạy Chúa, Chúa thúc bách con, trong nơi bí mật của linh hồn con, và lòng thương xót nghiêm nhặt của Chúa, khi tăng thêm gấp đôi cú đánh, Chúa đánh con bằng những cây roi sợ hãi và xấu hổ, để con không bỏ rơi một lần nữa, để xiềng xích mỏng manh nhẹ nhàng của con được phá vỡ, và nó không lấy lại được sức mạnh để quấn con chặt hơn.

“Trong thâm tâm, con tự nhủ: ‘Vào việc đi, đừng trì hoãn nữa, đừng trì hoãn nữa.’ Những lời này đưa con đến quyết định. Con đã chuẩn bị hành động mà lại không hành động. Sau một nỗ lực mới, con đã ở đó, chỉ một chút nữa thôi, vâng, chỉ một chút nữa thôi, con đã chạm tới đích, con đã giữ được nó, nhưng rồi con đã không ở đó, con đã không chạm tới đích, con không giữ được nó, do dự trước việc chết cho cái chết, sống bằng sự sống. Cái xấu thâm căn cố đế chiếm lĩnh con hơn là điều tốt mà con đã không quen; và, lúc trở thành một con người khác càng đến gần, càng khiến cho con sợ hãi, nhưng không làm cho con thay đổi thái độ, cũng không làm cho con đổi hướng đi; nó chỉ giữ con ở tình trạng lơ lửng.

“Điều đã kìm hãm con là những điều vụn vặt, những sự phù phiếm, những người bạn cũ của con: họ kéo áo xác thịt và thì thầm: “Mày đuổi chúng tao đi sao? Kể từ giây phút này, chúng tao sẽ không bao giờ ở với mày nữa, và từ giây phút này con sẽ không còn có thể làm điều này hay điều kia, không bao giờ nữa sao?” Và những gì chúng đã gợi ý cho con trong những gì con vừa gọi là cái này cái kia, lạy Chúa! Cầu xin lòng thương xót của Chúa loại bỏ ý nghĩ về điều đó khỏi tâm hồn tôi tớ Chúa! Những gợi ý này, đúng là rác rưởi! thật đáng xấu hổ. Con còn không nghe thậm chí một nửa những đề nghị của chúng: vì chúng không xuất hiện trước mắt, như những đối thủ thẳng thắn, nhưng chúng nói với con nhỏ tiếng từ phía sau, và nếu con cố di chuyển ra xa, chúng sẽ véo con một cách thô bạo để buộc con phải quay lại. Tuy nhiên, chúng làm cho con trì hoãn, vì con do dự tách ra khỏi chúng, gạt bỏ chúng để đáp lại tiếng gọi đã lôi cuốn con, và thói quen độc tài nói với con: “Mày có nghĩ rằng mày sẽ có thể sống mà không cần chúng không?”[12]

Trong cuộc đấu tranh nội tâm này, thánh Augustinô đã được giúp đỡ rất nhiều khi nghĩ đến đoàn chiên của những người đã theo Đức Kitô: thanh niên, thiếu nữ, binh lính, người già, và ngài tự nhủ: “Nếu họ đã có thể, sao tôi lại không? Suy nghĩ này có thể giúp ích cho tất cả những ai do dự và trì hoãn: “Trong bao nhiêu lần tôi sẽ nói: ngày mai, ngày mai sao? Sao không phải ngay bây giờ? Tại sao chính lúc này không phải là lúc kết thúc cuộc đời buồn bã và vô dụng của tôi, xa lìa Thiên Chúa? Có lẽ, nhiều lần bạn sẽ lấy đà nhảy qua mương, băng qua Biển Đỏ nhỏ bé của bạn, và sau đó thấy mình được tự do trong Đất Hứa, bên ngoài Ai Cập, nhưng dần dần đà tiến của bạn yếu đi và bạn đã dừng lại, trên vạch xuất phát, bên phía Ai Cập. Giờ đây Chúa mời gọi bạn bắt đầu lại bằng cách đặt tin tưởng không phải vào chính bạn, nhưng vào Thần Khí thánh của Ngài. Với Đấng ấy, bạn sẽ đạt tới điều đó. Hãy lấy đà và đừng dừng lại bao lâu bạn chưa ở trong vòng tay của Chúa Cha, Đấng đang chờ đợi bạn…”

Sự hoán cải trong huấn giáo của các Tông Đồ

Giờ đây chúng ta đi từ Đức Giêsu sang thời của Giáo Hội, từ bờ hồ Tibêria, nơi Đức Giêsu nói chuyện đúng giờ với các nhóm thính giả không thường xuyên, đến Tiểu Á. Ở đó, vào cuối thế kỷ I, có những tín hữu từ lâu đã được nghe loan báo Phúc Âm, đã hoán cải và đang sống đời sống mới trong Đức Kitô. Tôi chọn bối cảnh Tiểu Á vì tôi muốn dùng bảy lá thư gửi các Giáo Hội ở châu Á trong sách Khải huyền (x. Kh 2-3) làm khởi điểm cho những suy tư của mình.

Vấn đề hoặc mối quan tâm cơ bản của những bức thư này rất rõ ràng: làm thế nào để đánh thức sự nhiệt thành lúc khởi đầu, hoặc – như nói trong bối cảnh này – tình yêu thuở ban đầu, trong các cộng đồng Kitô giáo đã mất nhiệt tình và có nguy cơ chìm vào trong sự hâm hẩm (không nóng không lạnh). Chúng ta sẽ quan tâm đến vấn đề hoán cải trong tình huống rõ rệt này, bởi vì hiển nhiên điều đó liên quan chặt chẽ đến các nhóm Canh tân, những nhóm mà, sau một vài năm, nhận thấy nguy cơ mệt mỏi và hâm hẩm. Lời khuyên: “Ai có tai, thì hãy nghe điều Thần Khí nói với các Hội Thánh” (Kh 2,7), đọc thấy ở cuối mỗi lá thư, là nói với chúng ta, ở đây và lúc này: “Ai có tai thì hãy nghe điều Thần Khí nói với các nhóm Canh tân!”

Bảy lá thư của sách Khải huyền rất giống nhau về cấu trúc của bản văn. Nhưng trước khi bình giải, tiên vàn chúng ta lắng nghe một vài thư. Chúng ta hãy đọc thư gửi Giáo Hội Êphêsô và Giáo Hội Laođikia (x. Kh 2,1-7; 3,14-22).

Chính Đức Giêsu nói (Ngài được chỉ định bằng các tước hiệu “Đầu và Cuối”, “Con Thiên Chúa”, “Amen”, v.v.). Ngài bắt đầu bằng cách nói với từng Giáo Hội, “Ta biết các việc ngươi làm.” Sau đó là tán thành những việc tốt được thực hiện trong cộng đồng và phản đối những việc xấu. Trong năm lá thư, lời kêu gọi long trọng hoán cải xuất hiện ở chỗ này: “Metanóeson, hãy hoán cải!” hoặc, như chúng ta thường dịch: “Hãy ăn năn thống hối!”

Yếu tố này là mới. Trong khi Đức Giêsu nói trong Phúc Âm: “Hãy hoán cải và và tin”, thì sau khi sống lại, Ngài nói: “Hãy hoán cải và thực hiện việc làm!” Đây là một số câu trích từ những lá thư này: “Hãy nhớ lại xem ngươi đã từ đâu rơi xuống, hãy hối cải và làm những việc ngươi đã làm thuở ban đầu” (Kh 2,5); “Ta nhận thấy các việc của ngươi không được hoàn hảo trước mặt Thiên Chúa của Ta… Hãy hối cải” (Kh 3,2 tt); “Hãy nhiệt thành và hối cải ăn năn!” (Kh 3,19).

Sự hoán cải mà Phúc Âm nói đến là sự hoán cải từ việc làm tới đức tin; trái lại, sự hoán cải mà huấn giáo của các tông đồ nói đến, là sự hoán cải từ đức tin sang việc làm. Điều đó khiến chúng ta ngạc nhiên. Liệu chúng ta có trở lại thời Cựu Ước, liệu chúng ta có từ bỏ đức tin tinh tuyền vào Phúc Âm, để làm những việc tốt không? Tuyệt đối không! Như chúng ta biết Tông Đồ Phaolô, người bảo vệ xuất sắc sự cứu rỗi bởi đức tin chứ không phải bởi việc làm (x. Gl 2,16tt; Rm 3,28), chính ngài giải thích cho chúng ta sự hoán cải Kitô giáo hướng tới việc làm bao gồm những gì.

Ngài gọi những công việc năm xưa – những việc làm dưới chế độ lề luật – là “những việc làm của xác thịt”, trong khi những việc làm mà các tín hữu phải thực hiện giờ đây, dưới chế độ ân sủng, được gọi là “những hoa quả của Thần Khí” (Ep 5, tt; Gl 5,18tt). Có khác biệt lớn giữa hoán cải hướng tới các việc làm được rao giảng trong Giáo Hội và hoán cải được rao giảng trong Cựu Ước; trong Giáo Hội, các việc làm không còn được khuyến khích như điều kiện hay nguyên nhân của sự cứu rỗi, nhưng như hệ quả. Người ta không còn nói: “Hãy làm những việc như vậy bạn sẽ được cứu”, nhưng nói: “Hãy làm những việc như vậy bạn đã được cứu.” Việc làm tốt là hệ quả hợp lý, là biểu hiện tự nhiên của sự cứu rỗi nhận được từ Đức Kitô. Không làm những việc đó có nghĩa là từ điều kiện của đời sống mới trở lại với đời sống cũ, với tình trạng nô lệ.

Những việc làm này không còn là hoa quả của xác thịt, kết quả của nỗ lực riêng của con người, nhưng là hoa quả của Thần Khí. Thần Khí khơi dậy trong chúng ta ý chí và hành động và chỉ yêu cầu chúng ta ngoan ngoãn, đồng ý với các ý định của Ngài một cách hoàn toàn tự do, đòi hỏi theo Ngài. Cũng trong đoạn này, thánh Phaolô lên án những việc làm, như là nguyên nhân của ơn cứu độ, và cổ võ những việc làm, như là hệ quả và hoa quả của việc cứu độ được Đức Giêsu thực hiện: “Quả vậy, chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ: đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa; cũng không phải bởi việc anh làm, để không ai có thể hãnh diện. Thật thế, chúng ta là tác phẩn của Thiên Chúa, chúng ta được dựng nên trong Đức Kitô Giêsu, để sống mà thực hiện công trình tốt đẹp Thiên Chúa đã chuẩn bi cho chúng ta” (Ep 2,8-10).

Giáo lý này của thánh Tông Đồ về hoa quả của hoán cải, hay hoa quả của Thần Khí, dựa trên giáo huấn của Đức Giêsu, Đấng đánh giá chúng là những “hoa quả tốt”. Ngài đã nói: “Cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu” (Mt 7,19). Cây vả chỉ có lá, không có quả, bị Đức Giêsu nguyền rủa, tượng trưng cho kẻ dừng lại ở lần hoán cải thứ nhất, không đi đến lần thứ hai, tức là không sinh hoa kết quả (Mc 11,12tt). Ý tưởng này cũng được lặp lại trong diễn từ của Đức Giêsu về cây nho và cành nho: một khi đã tháp vào cây nho hoặc đã ra hoa thì cành nho phải kết trái, bằng không sẽ bị chặt: “Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi” (Ga 15,2).

Sự hoán cải thứ hai trong công cuộc Canh tân

Cần nhắc lại những nền tảng giáo lý này để tránh nhầm lẫn. Một số người tái khám phá chân lý vĩ đại của Phaolô: chúng ta được cứu một cách nhưng không, không phải bởi việc làm của chúng ta mà bởi tin nơi Đức Kitô, nhưng dừng lại ở đó, mà không thực hiện bước tiếp theo – là điều cần thiết – hướng tới hoa quả của sự hoán cải. Cái bẫy của sự hâm hẩm ẩn giấu ở đó. Người ta gạt bỏ những giá trị truyền thống luôn nuôi dưỡng sự thánh thiện đích thực của Giáo Hội, chẳng hạn như hành xác, từ bỏ mình, cảnh giác liên quan đến giác quan và bản năng, nỗ lực khổ chế để thanh tẩy tội lỗi. Người ta đã hiểu rằng không trở nên thánh “vì” những việc đó (và ở đây, người ta có lý), nhưng người ta đã không hiểu rằng không trở nên thánh “mà không có” những việc đó. Nhãn quan Công giáo về đức tin đòi hỏi người ta phải tính đến hai khía cạnh này. Đây là lý do tại sao tôi nói rằng sự hoán cải thứ hai là sự hoán cải từ đức tin sang việc làm, nghĩa là từ đức tin đơn thuần sang đức tin “hành động nhờ đức ái” (x. Gl 5,6), sang đức tin thể hiện bằng việc làm.

Mối nguy hiểm này đã được biết đến trong một thời gian dài dưới cái tên “thuyết tĩnh tịch” (quiétisme), hệ tại ở chỗ tin rằng mọi sự nơi chúng ta hoạt động chỉ nhờ ân sủng của Thiên Chúa, và chỉ cần phó mặc cho ân sủng một cách thụ động, trong một thái độ tĩnh lặng và không hoạt động, giống như trên một con thuyền để mặc cho sóng vỗ nhẹ.

Một nguy hiểm khác, tương tự như thuyết tĩnh tịch, là “thuyết thiên cảm” (illuminisme): người ta hành động dưới sự thúc đẩy của sự soi sáng bên trong được coi là do Thần Khí ban cho, mà không kể đến các tiêu chuẩn của chân lý và sự phân định của Giáo Hội.

Trong số những tai vạ của cộng đồng, trong các lá thư gửi cho các Giáo Hội châu Á, Gioan chỉ ra sự hiện diện của những người đi theo các giáo lý đặc biệt và kỳ lạ, không liên quan gì đến cốt lõi của đức tin. Đây là những người bảo vệ học thuyết của Balaam và của người phái Nicôla (là những học thuyết riêng của một số tâm trí được soi sáng cách giả tạo, những học thuyết này đã tàn lụi cùng với các tác giả của chúng). Các thư mục vụ mạnh mẽ tố cáo những tai vạ của các tiến sĩ giả dạy các học thuyết cá nhân và là những người đã thành công nơi những người chất phác, thiếu tiêu chuẩn phân biệt (x. 2Tm 2,16-18; 3,6-9).

Ngày nay người ta tìm thấy lại mối nguy hiểm của thuyết thiên cảm và những học thuyết sai lầm, quá chú ý đến những mặc khải tư và những việc sùng kính mới lạ, là những điều làm cho sự hoán cải chệch hướng và cuối cùng thường gây thiệt hại cho Giáo Hội; chúng giúp cho các hiện tượng cuồng tín và suy đoán về những sự việc thứ yếu làm cho các tín hữu đi chệch khỏi điều cốt yếu của đức tin.

Cùng với sự nguy hiểm của các tiến sĩ giả, người ta chỉ ra sự nguy hiểm của các tiên tri giả. Trong thư gửi Giáo Hội Thyatira, Đức Giêsu nói: “Ta trách ngươi điều này: ngươi dung túng Idêven, người đàn bà xưng mình là nữ tiên tri, mê hoặc các tôi tớ của Ta” (Kh 2,20). Lời khiển trách liên quan không phải với Idêven, nhưng với cộng đồng, có lẽ vì sợ người đàn bà này tố cáo gì đó hoặc những lời đe dọa bí hiểm của bà, hoặc đơn giản vì thích cuộc sống yên tĩnh. Lời nhắc nhở này cũng phải thức tỉnh các nhóm: chính là những thứ ngăn cản sự thức tỉnh thiêng liêng thực sự và khiến một cộng đồng phải chịu sự phán xét của Thiên Chúa (x. Kh 2,22tt).

Vậy đó là một số hoa quả xấu mà Gioan đã chỉ ra cho các Giáo Hội của ngài và là những hoa quả tôi thấy vẫn luôn có tính thời sự và rất khó phân biệt. Nhưng chúng ta không muốn tập trung vào khía cạnh tiêu cực này của vấn đề. Điều quan trọng đối với chúng ta là trên hết phải biết những hoa quả tốt của Thần Khí để có thể vun trồng chúng và hết lòng nhiệt thành với chúng.

Những hoa quả tốt này của Thần Khí đặc biệt là gì? Thật ra, tất cả đời sống mới trong Đức Giêsu Kitô đều là hoa quả của Thần Khí. Nhưng thánh Phaolô chỉ rõ hơn những hoa quả này, đó là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ (x. Gl 5,22). Hoa quả làm cho những hoa quả khác có phẩm chất là hoa quả được đặt lên hàng đầu: bác ái, agape. Bác ái là điều răn “mới” làm nên những con người mới, những người hát bài ca mới, những con người của Tân Ước. Nó là hoa quả tuyệt vời của Thần Khí, đến độ nó ở đâu thì mọi sự đều ở đó: “Anh em hãy cố đạt cho được đức ái” (1Cr 14,1).

Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, phải đi từ chương 12 sang chương 13 – từ các đặc sủng sang hoa quả của Thần Khí. Đi từ các đặc sủng sang hoa quả của Thần Khí không có nghĩa là rời bỏ các đặc sủng để cố gắng có được các hoa quả, nhưng là thêm các hoa quả vào các đặc sủng, tăng cường các đặc sủng bằng các hoa quả của Thần Khí! Vấn đề là đi từ việc thực hành đúng lúc một đặc sủng, hoặc thậm chí mọi đặc sủng, sang một đời sống đặc sủng, nghĩa là một đời sống được sống mỗi lúc theo Thần Khí. Sự thánh thiện tùy thuộc kiểu thái độ cuối cùng này, chứ không phải kiểu thái độ đầu tiên. Hoa quả của Thần Khí là một “gratia gratum faciens” làm cho con người đẹp lòng Thiên Chúa; đặc sủng là một “gratia gratis data” (ân sủng được ban không) mà, ở cực hạn, có thể thậm chí đưa tôi đến hỏa ngục. Với một số người tuy đã làm phép lạ, Đức Giêsu vẫn nói: “Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta” (x. Mt 7,23).

Có một sự khác biệt lớn giữa sức mạnh và sự rạng rỡ thiêng liêng của những người này và những người khác. Những người này – những người chỉ dựa vào việc thực thi các đặc sủng – có thể thực hiện các hành động trong quyền năng của Thần Khí. Nhưng những hành động này sẽ dần dần giảm bớt, nếu việc thực thi những đặc sủng này không dựa trên một đời sống thiêng liêng vững chắc. Những người khác, “y theo hình ảnh của Đức Kitô”, được biến hình trong Đức Giêsu Kitô, hoặc có xu hướng kết hợp với Đức Kitô, có được một quyền năng ổn định; trong mọi việc họ làm, trong mọi điều họ nói, họ tỏa ra sức mạnh của Thần Khí và người ta hoán cải khi thấy họ cầu nguyện. Chính đó là hoán cải, hoặc là bước tiến, cần thiết nhất cho cuộc Canh tân và đặc biệt cho những người đến nay đã ở trong cuộc Canh tân một thời gian.

Bao lâu chúng ta hài lòng đón nhận và sử dụng các ân huệ của Thần Khí, các đặc sủng, chúng ta sẽ giống như một cây thông Noel, treo đầy những món quà rực rỡ mà cha mẹ mang đến trong đêm. Nhưng sau một thời gian cây thông Noel khô héo và người ta vứt đi, vì nó không phải là cây thật; nó đã hoàn thành nhiệm vụ của mình nơi trẻ em.

Khi bắt đầu sống trong Thần Khí (nhờ bác ái, không ngừng sám hối, hành xác), người ta như một cây thật, trồng trong đất, sẽ sinh hoa kết trái vào thời kỳ của nó: “Người ấy tựa cây trong bên dòng nước, cứ đúng mùa là hoa quả trổ sinh, cành lá chẳng khi nào tàn tạ. Người như thế làm chi cũng sẽ thành” (Tv 1,3).

“Dòng nước” mà cây này mọc gần đó là nước mà Đức Giêsu đã ban: Chúa Thánh Thần (x. Ga 7,37-39). Cũng giống như cây ăn trái trong thiên nhiên, cây này, để có thể là cây thực và sống, phải trải qua mùa đông rụng hết lá, mùa xuân phải cắt tỉa, mùa hạ phải nóng bức, nói cách khác là phải qua thập giá. Tôi đang nghĩ đến một loại cây chỉ kết trái vào cuối mùa, khoảng cuối thu, đó là cây hồng. Để cho những quả vàng óng, nó rụng hết lá, tự lột xác hoàn toàn. Và ở vùng quê cằn cỗi, người ta nhìn thấy quả của nó từ xa. Nhưng có thể nói, cây đã sản sinh ra chúng không còn tồn tại nữa: nó đã mất hết vẻ đẹp và nét hoa mĩ… Nó nhắc chúng ta nhớ đến cây sinh hoa trái cứu rỗi toàn thế giới: cây thập giá! Ai có tai thì hãy nghe…

Và người ấy hãy chọn: cây thông Noel, thậm chí có thể bằng nhựa, hay cây sống đây? Bây giờ người ta biết sự khác biệt!

Phúc Âm đã nói với chúng ta về việc hoán cải như một quyết định; huấn giáo của các Tông Đồ về việc hoán cải như một sự thức tỉnh. Và chúng ta sẽ biết niềm vui! Là vì lời kêu gọi hoán cải là để làm cho chúng ta hạnh phúc. Hoán cải là niềm vui lớn nhất mà người ta có thể trải nghiệm. Người đã tìm thấy kho báu giấu trong ruộng mình, đã “vui mừng ra đi” để bán tất cả mọi sự; ngược lại, người thanh niên giàu có, không có can đảm bán hết của cải, đã “buồn rầu bỏ đi” (x. Mt 19,22). Hoán cải là ở lại với Chàng Rể, và làm sao người ta có thể buồn hay ăn chay, bao lâu Chàng Rể còn ở đó?

Nhưng có một điều còn lạ lùng hơn trong việc hoán cải so với niềm vui của con người: đó là niềm vui của Thiên Chúa! “Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (x. Lc 15,7). Đó là một mầu nhiệm: Tôi có thể làm cho Chúa của tôi hạnh phúc! Bởi vì Thiên Chúa không hạnh phúc trọn vẹn chừng nào phía sau cánh cửa có một người con không chịu vào, dù nó là đứa con hoang đàng hay người con cả.

Làm thế nào chống lại suy nghĩ này? Làm sao không nói ngay: “Hôm nay, chính hôm nay tôi muốn hoán cải.”

Trang Trước Trang Sau